8/31/09

Tiểu thuyết là một tên xã hội sô vanh

[“tên xã hội sô vanh” dịch từ “social-traître”, từ thuộc hệ thống từ vựng rất đặc trưng của Lenin, xuất hiện từ khoảng Comintern, tức là Quốc tế Cộng sản III; từ này dùng tương đương với các từ chỉ những người theo thuyết dân chủ-xã hội, trong đó có “xã hội sô vanh” hay xuất hiện; nhân ngó thấy bài của bác Trần Thiện Huy cũng sử dụng một từ xuất phát từ Lenin, “fellow traveller”, tức là những người khi cần ta có thể dùng còn đến khi không cần nữa thì loại bỏ, ở Việt Nam hay được gọi là “những người có cảm tình với cộng sản”]

[bài nói của Olivier Rolin ngày 6/8/2009 tại abbaye Lagrasse nhân dịp Banquet du Livre; nội dung chủ yếu của bài này nằm trong một bài giảng tại séminaire của Alain Finkielkraut tại trường Bách khoa Paris trước đó; Olivier Rolin là tác giả cuốn tiểu thuyết này]

Văn chương, và đích danh hơn, văn chương tiểu thuyết, không được tạo ra để phục vụ một điều gì đó, nó đã tự mang trong mình mục đích của chính nó, thế nhưng té ra nó vẫn phục vụ cho một điều gì đó.

Một cách tự nhiên, nó không dành để thông tin, hay giải trí - ngay cả khi những điều ấy không bị ngăn cấm. Cái mà chúng ta sẽ cố gắng chỉ ra ở đây là nó cung cấp các phương tiện của tự do cho những người hay đến với nó. Nghĩa là bên trong nó có một sức mạnh “chính trị” hiểu theo nghĩa nó tác động đến cách thức mà con người ta sử dụng để hướng lối cuộc đời mình, hoặc để trở thành chủ nhân hoặc để gánh vác. Nhưng những cách thức nó đóng góp cho tự do không có gì chung với những cách thức chính trị vẫn hay dùng - diễn ngôn chính trị, lối nhìn thế giới theo chính trị - thậm chí ở rất nhiều phương diện hai loại cách thức đó còn đối lập hẳn với nhau. Hoàn toàn có thể có chuyện người ta đến với văn chương vì những nguyên do không hẳn là xa lạ với những nguyên do khiến người ta bước vào chính trị, tức một nỗi bất mãn trước trật tự thế giới nếu muốn nói vắn tắt, nhưng từ một điểm khởi phát này hai con đường lại tách hẳn khỏi nhau.

Để mào đầu, tôi muốn diễn đạt một nỗi e ngại hay một điều cảnh tỉnh, và tôi sẽ làm việc này qua giọng nói của Paul Valéry, người đã viết (“Rhumb”, trong Tel Quel 2): “Trong các nghệ thuật, lý thuyết […] không hề có giá trị phổ quát. Đó là những lý thuyết cho một người. Có ích cho một người. Được tạo ra cho anh ta, bởi anh ta.” Nỗi e ngại này, tôi không bao giờ quên nhớ tới trước mỗi lần thử suy tư về văn chương bằng giọng nói. Câu của Valéry đặt ra những gì mang tính cá nhân ở mức độ bất khả quy trong mọi thứ có liên quan ở đây - trong phê bình, nhưng dĩ nhiên là cả trong chính sự viết và sự đọc. Tính chất bất tương thích với cái phổ quát này ngay lập tức cho thấy rằng diễn ngôn của văn chương và về văn chương nằm cách xa đến thế nào so với diễn ngôn của chính trị, cái chỉ vận hành bằng cách định ra những điều phổ quát: các giai cấp, nhân dân, quốc gia, các giá trị, v.v… Vào một thời, chính cái thời tôi còn đi học, người ta cứ tìm cách tạo ra một “khoa học văn học”. Dĩ nhiên đây là một ý định lố bịch (tôi nói “dĩ nhiên”, nhưng đây là loại hiển nhiên mất cả đời mới hiểu ra được), nhưng mặt khác tôi cũng không hề coi nhẹ những gì lớn lao, những gì không lố bịch, trong cái ham muốn làm khoa học về mọi thứ này. Cứ cho rằng đó từng là một ý định không thích đáng). Văn chương không chịu để cho mình tuân phục các quy luật, về bản chất nó là “đứa con Digan”, giống như tình yêu theo cách hiểu của Carmen. Việc không có khoa học văn học không ngăn cản có thể có một tư tưởng, các tư tưởng ở đó. Những gì sắp được nói tiếp theo đây là các lý thuyết thuộc về tôi (thường xuyên lặt vặt, tất nhiên, xuất phát từ các lý thuyết do những người khác dựng lên). Với tôi chúng có ích. Chúng mang trở lại cho tôi một chút can đảm ở những thời điểm ngờ vực, chẳng thiết làm cái quái gì [aquoibonisme :)] Chúng làm cho tôi hiểu rằng các nhà văn chúng ta có tham gia chút ít trong công cuộc cứu trợ quần chúng [salut public, một khái niệm lịch sử, chủ yếu được dùng thời Cách mạng 1789].

Nghệ thuật của cái mù mờ

Thoạt tiên tôi gần như xấu hổ vì viết - chính xác hơn, viết tiểu thuyết. Tôi từng tin, hay đúng hơn là từng muốn, trở thành triết gia, đương nhiên là một triết gia Mác xít - tôi nói “đương nhiên” là bởi vì chủ nghĩa Marx dường như là, theo một cách nói lừng danh, “chân trời không thể vượt qua” của thời đại. Trong lần duy nhất gặp Louis Althusser, tôi đã trịnh trọng giảng giải cho ông rằng tôi tính cống hiến mình cho việc phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng trong lĩnh vực lý thuyết văn học và nghệ thuật, là nơi khỏi phải bàn cãi rằng nó vẫn hơi bị thiếu hụt. Rồi tôi trở thành một người tranh đấu cách mạng, hoặc là, dù thế nào đi nữa, tôi cũng từng cố gắng làm điều ấy. Là một môn đệ mác xít, một nhà cách mạng học việc, từng ấy hoạt động không thể nào diễn ra một cách mềm mại, chúng là những hoạt động rất gay gắt, hùng hổ và tự tin vào chính chúng, bị căng kéo bởi các tư tưởng cùng có chung những tính chất vừa nói, và mặt khác chúng lại mang một sự nghèo nàn nhất định khiến chúng ở cách xa sự nghi ngờ (tôi không nói tới chủ nghĩa Marx nói chung, mà là chủ nghĩa Marx từng là chỗ dựa cho chúng tôi). Không lâu sau đó khi tôi gia nhập, hay đúng hơn tôi phải nói khi tôi cam phận trước nó, văn chương với tôi giống như một hoạt động tinh thần rất xa tính chất cực đoan mà tôi từng theo đuổi dưới hai dạng, triết học mác xít và hành động lật đổ (dù cho, vì tôi không hình dung được tinh thần nào lại không cực đoan, hồi ấy tôi không chắc rằng đó là một hành động nơi tinh thần được huy động, hay chỉ là những sự vận hành thấp hơn, mang tính tình cảm, thống thiết…). Tôi đã không nhầm lẫn khi cảm thấy văn chương đưa tôi rời xa phạm vi những điều chắc chắn để đưa tôi tới phạm vi của những điều không chắc chắn, thế nhưng tôi lại nhầm lẫn khi nhìn thấy ở điều này dấu vết của sự thấp kém. Tôi từng ngờ đến khiếm khuyết về tri thức ở việc không phát ngôn ra cả các quy luật của thế giới lẫn những chỉ thị cho hành động, không hứa hẹn cả sự thật, công lý lần tương lai xán lạn, khi bản mệnh tinh tế của văn chương đang xuất lộ. “Tiểu thuyết không gây sức ép lên kẻ khác (độc giả); cấp độ của nó là sự thật về những nỗi xúc động, chứ không phải sự thật về các tư tưởng: do vậy nó không bao giờ cao ngạo, đe dọa.” Barthes vẫn còn chưa nói điều này, điều ông sẽ nói ngay trước khi kết thúc cuộc đời, trong một bài giảng tại Collège de France. Ông còn nói: “Tiểu thuyết là một diễn ngôn không có cao ngạo, nó không làm tôi e dè”. Thời ấy, tôi tin sự khiêm tốn này, sự nhã nhặn của tiểu thuyết này với ông hẳn cũng không đáng thích thú gì cho lắm. Cả với tôi nó cũng không đáng thích thú gì. Tất nhiên tôi có biết câu nói đã trở thành sáo ngữ của Marx (trong Tuyên ngôn [của Đảng Cộng sản], có phải vậy không?) theo đó các triết cho cho tới giờ mới chỉ diễn giải thế giới, kể từ nay cần phải biến đổi thế giới, và tôi thấy rằng văn chương, rất lạc hậu trong chương trình này, không đề nghị biến đổi thế giới, thậm chí nói cho đúng cũng không đề nghị diễn giải thế giới: thay vì thế nó đề nghị được nói về sự xa lạ, sự mờ đục của thế giới.

Tiểu thuyết, tôi đã chọn nó chỉ bởi vì với tôi nó là hình thức duy nhất thu nạp được suy nghĩ ngập ngừng của tôi khi ấy (và kể từ đó mọi chuyện không khác đi nhiều lắm). Tiểu thuyết là lãnh thổ của những suy nghĩ ngập ngừng, hoặc, nói như Kundera, “của tinh thần sự phức tạp”. Tiểu thuyết không ấn định, không ban bố, không quyết định gì hết. Nó không mang tính chuẩn tắc. Điều gì thúc đẩy hoàng thân Mychkine, nhân vật chính trong Thằng ngốc, hành động, và phải nghĩ gì về chàng? Và Nastassia Filipovna? “Trong tất cả những hình tượng đẹp của văn chương, Dostoievski viết cho người cháu gái trong một bức thư, hình tượng hoàn chỉnh nhất là Don Quichotte. Nhưng Don Quichotte đẹp bởi vì cùng lúc chàng thật lố bịch.” Câu này đi thẳng vào trung tâm của cái làm nên sức mạnh nghịch lý của tiểu thuyết: nghệ thuật của tính mù mờ. Emma Bovary đẹp hay lố bịch? Dĩ nhiên là cả hai, và đẹp cũng chính bởi vì lố bịch (mà người ta cũng có thể, theo một cách khác hẳn, nói như vậy về Bouvard và Pécuchet). Trên chuyến tàu nhỏ tới Balbec, Người Kể chuyện bắt gặp một người đàn bà thô thiển mà anh nghĩ là một mụ tú bà; trong chuyến sau đó, “tiểu thị tộc” Verdurin nói cho anh biết đó là công nương Sherbatoff rất mực cao quý: Barthes nhìn thấy trong sự đảo ngược này một trong các quy luật của Đi tìm thời gian đã mất. Và sự đảo ngược này không phải là chuyện lấy sự thật để thay thế vẻ ngoài, mà nó huy động cả một quá trình hoán vị bất tận: “Một trong những từ ngữ được hoán vị, ông phân tích, không “thật” hơn một từ ngữ khác. […] Cái cú pháp cổ điển nói với chúng ta rằng công nương Sherbatoff chỉ là một mụ chủ nhà chứa đã bị Proust đổi bằng một cú pháp mang tính đồng thời: công nương cũng là một chủ nhà thổ.”

[xin xem tiếp kỳ sau; viết thế cho nó giống tạp chí văn chương mạng :) nguồn bài này ở đây]

8/27/09

Chẳng muốn cũng không xong

Qua vụ Sài Gòn tiếp thị, tuy không có đủ thông tin (chắc cũng chẳng ai có đủ thông tin) nhưng căn cứ vào những gì được hiển thị, tôi nghĩ rằng trước khi có một biến chuyển nào, tôi sẽ không cộng tác viết bài cho Sài Gòn tiếp thị nữa. Tôi đã viết chừng hơn mười bài, luôn đánh giá cao tờ báo vì chưa bao giờ cắt sửa, khi sửa gây ra lỗi thì nhanh chóng xin lỗi. Tôi cũng rất tiếc vì hiện nay trong số các tờ báo có tiếng nói ở Việt Nam chỉ Sài Gòn tiếp thị mới cho đăng những bài rất dài và có ý kiến riêng; tôi đã từng đăng một bài điểm sách gần 2.000 từ trên đó, một kỷ lục cá nhân.

Đây là quyết định của cá nhân tôi, không liên quan đến ai cả, chỉ xin được bày tỏ sự ủng hộ với anh Huy Đức.

-------------------

Cuối tuần mời các bác đọc bài điểm sách của anh Nguyễn Chí Hoan về Chuyện xưa kết đi được chưa? của Bảo Ninh, nhan đề bài viết là "Luôn luôn nhớ lại", đã đăng báo.

Tập truyện này tập hợp mười sáu truyện ngắn, trong đó có những truyện đã từng xuất bản trong Lan man trong lúc kẹt xe (Bảo Ninh, 2004), nhưng một sự nhất quán nổi bật về phong cách và chủ đề khiến người ta có thể đọc toàn bộ một cách mới mẻ đồng thời khiến các câu chuyện này bộc lộ tầng ý nghĩa mới mẻ của chúng.

Trước hết, sự nhất quán về chủ đề có thể gieo ấn tượng về sự trùng lắp đối với một cái nhìn thành kiến hay lơ đãng nào đó. Tất cả các truyện ở đây đều kể về việc nhớ lại và những tình huống suy ngẫm đối diện với việc nhớ lại; và các bối cảnh hay bản thân những hồi ức, ký ức đó đều là cảnh huống thời chiến và thời hậu chiến với những khắc khổ kỳ quặc bất thường.

Trong cái bề ngoài của cái đà sống phăng phăng trôi chảy của thời bùng nổ thông tin-truyền thông, một thời hiện đại đến muộn gần như đồng nhất với tâm lý cái mới và sự vồ vập với bất cứ cái gì có được vị thế là “Mới!”, thì những hồi ức gắn với chiến tranh đã hầu như mất hoàn toàn lợi thế so sánh.

Nhưng, đó là những hồi ức nào chứ?

Câu chuyện được lấy tên đặt cho tập này - “Chuyện xưa kết đi, được chưa?” - đã đưa ra một gợi ý phân biệt.

Truyện chỉ là một tình huống: “Tôi” đã cố hết sức để tránh việc “bác Lân”, đồng đội cũ của người cha liệt sĩ của “Tôi”, ôn kể những ký ức chống Mỹ của ông trong bữa cơm gặp mặt gia đình “Tôi” với gia đình “Loan” vị hôn thê của “Tôi”, bởi gia đình “Loan” toàn những người thuộc chính thể Sài Gòn cũ; nhưng cái điều cố tránh đã thành không tránh khỏi: nhân vật “anh của Loan”, một Việt kiều ở Mỹ về, vừa nói đến “Đường mòn Hồ Chí Minh” thì lập tức “bác Lân” nắm ngay lấy cửa mở đó để khai triển dòng nhớ lại quen thuộc của mình về thời đánh Mỹ trên Trường Sơn…

Phản ứng trước sự bộc lộ của hồi ức đó rất khác nhau.

“Tôi” với “các em tôi” thấy sốt ruột vì đã nghe nhiều đến thuộc. Nhưng cha và anh “của Loan” thì chăm chú và hỏi sâu vào các chi tiết. Và cuối cùng, khi “bác Lân” bị “Tôi” ngăn lại thì “mẹ tôi” òa ra khóc.

Có thể thấy ý tưởng ở đây không đơn giản. Không phải là chuyện xưa kể mãi rồi, “Người lính già kể mãi chuyện Nguyên Phong” rồi “kết đi, được chưa?”. Mà, với sự có mặt của những chứng nhân bên kia chiến tuyến một thời, hồi ức đó hiện lên như một chứng từ của lịch sử - cái vai trò đã bị những sự lặp lại khiến cho lu mờ. Đồng thời, tiếng khóc của “mẹ tôi” không chỉ là một cái lắc đầu phê phán đối với sự lãng quên, mà chủ yếu và sâu xa hơn là tiếng cảm thán đối với tình cảm thụ động của lớp con cháu đối với ký ức, với những chứng từ sống động của lịch sử đó - Tại sao các người chỉ thấy được cái nhàm chán trong sự lặp lại, trong việc không ngừng nhớ lại? Tại sao các người chỉ có một cách giương mắt ngồi nghe, xong bảo chuyện xưa lắm rồi? Tại sao các người chỉ biết nói như con vẹt ừ rằng thì là công ơn chúng con biết rồi? Tại sao các người đối xử với những chứng từ lịch sử chỉ như những bài học thuộc lòng, tại sao không thấy được trong sự nhớ lại không ngừng đó những bài học của lịch sử?

Sự lặp lại là một ấn tượng mạnh, gần như một ám ảnh ở đây, đến mức tác giả không ngại ngần - hoặc không kìm nén một cách có chủ ý - thể hiện nó trong những phép lặp và trùng ngôn biểu cảm không che đậy:

“Cố nhiên thời nay, bây giờ, nghe kể khổ kể xấu thời bao cấp đã mệt lỗ tai, nhưng xưa, khi đang ở ngay trong cái thời bao cấp đó của Hảo và Túc, có mấy ai nghĩ rằng mình đang trải qua một đoạn đời cực ơi là cực. Con người ta thuở ấy cũng như con người ta muôn thuở chỉ lo sống, cứ thế sống, sống và chỉ có sống mà thôi”. (tr. 38, “Mắc cạn”).

Đoạn văn này có hai câu. Nhưng nó có dáng dấp một tam đoạn luận và nét đặc biệt nhất ở đây là các ngữ đoạn chỉ thời không ngừng lặp lại và nâng cấp độ. Từ câu thứ nhất sang câu thứ hai, các ngữ đoạn chỉ thời đã đưa cả “thời nay” và “thời bao cấp” lên bình diện “muôn thuở”, và sự lặp lại của thời gian đó chính là nội hàm hay định nghĩa cho bốn từ “sống” cuối cùng mà đọc lên nghe như hư từ cảm thán.

Ta hãy xem một đoạn khác:

“Giao thừa năm nào tôi cũng lắng nghe, cũng chờ mong tiếng chuông nhà thờ. Giao thừa là phút giây lặng lẽ cho riêng ký ức cuộc đời tôi. Đêm trừ tịch đánh thức dậy một đoạn đời đã chết từ lâu, làm sống dậy trong tôi mảnh hồn ma gầy guộc mang gương mặt rỗ đậu mùa thân yêu hiền hậu. Hành và tôi, hai anh em, kể từ mùa xuân năm ấy đã sát cánh nhau dấn mình vào cơn cuồng phong lửa đạn và đã cùng nhau nhiều năm trời vui hưởng chết chóc cho mãi tới ngày Hành được cái chết rước đi trong trận quyết chiến ở xứ đạo Tân Cảnh bên bờ sông Pô Cô. Thế nhưng cả sau khi Hành đã chết, Hành và tôi vẫn như hình với bóng”. (tr. 188-189, “Đêm trừ tịch”).

Đoạn văn này, trong nguyên tác có bảy câu mà ở đây tôi trích năm câu, là một đoạn văn điển hình không chỉ về cú pháp và chương pháp, những mẹo mực và phép tắc hành văn đã khiến cho mỗi đoạn văn tạo thành một câu chuyện hoàn chỉnh - của cảm xúc hoặc của sự kiện, hoặc chân dung.

Nhưng điều tôi muốn nói ở đây là sự lặp lại, một phép lặp điển hình vừa rõ rệt vừa uyển chuyển và phong phú về từ vựng. Ai cũng sẽ lưu ý đến bốn từ “chết” trong vòng có năm câu này, nhất là trong ngữ đoạn cuối câu bốn “tới ngày Hành được cái chết rước đi” với ngữ đoạn “cả sau khi Hành đã chết” ở câu thứ năm liền kề.

Cao trào của đoạn ở ngay trước đó trong câu bốn: “đã cùng nhau nhiều năm trời vui hưởng chết chóc” (tất nhiên, trong một “cơn cuồng phong lửa đạn”!).

Đó là nghịch âm chói sáng trong bản balát này.

Đoạn văn trình bày trọn vẹn một toát yếu cảm xúc và ý nghĩa về một đời người, người chiến sĩ đã hy sinh đó.

Và, như một nhà tư tưởng lớn người Pháp thế kỷ XVII đã nói đại ý mỗi một đời người đều mang hình thái thân phận của tất cả con người, thì cái toát yếu thân phận người chiến sĩ tên Hành nói trên mang những nỗi niềm không của riêng ai.

Nhưng xin hãy lưu ý đến sự lặp lại những ngữ đoạn chỉ thời. Cũng như ở đoạn trích trước, phần đầu của đoạn trích này, gồm ba câu, nổi bật sự lặp lại của những “Giao thừa”, “Phút giây lặng lẽ”, “Đêm trừ tịch”, “Ký ức cuộc đời tôi”, “Một đoạn đời đã chết từ lâu”. Mà có thể thấy, ngay cả hình ảnh “mảnh hồn ma gầy guộc…” cũng là một hình ảnh ẩn dụ về thời gian, thời gian quá khứ gắn liền với hiện tại.

Lưu ý đến tính chất toát yếu cảm xúc - ý nghĩa đời người của đoạn văn, ta thấy rằng các ngữ đoạn chỉ thời ở hai câu còn lại cũng giữ vai trò nền tảng kể cả về mẹo mực và ý nghĩa - “kể từ mùa xuân năm ấy”, “nhiều năm trời”, “cho mãi tới ngày”, “cả sau khi”.

Đó là cái nhìn người xưa gọi là nhất lãm, bao quát một lượt và thấu suốt. Và, cũng giống như ở đoạn trích trước, cái nhìn đó phát lộ tính thời gian xuyên suốt con người cùng sự kiện, mà những sự lặp lại của thời gian đó cũng là nội hàm, là định nghĩa, nhưng lần này thì trái ngược: định nghĩa về “chết”.

Đó là gợi ý để hiểu vì sao lại có thể suốt “nhiều năm trời vui hưởng chết chóc”.

Một gợi ý khác tôi muốn nhắc đến là cái mệnh đề “Sống khó hơn là chết”, (Trung Trung Đỉnh, 2008). Hoặc xa hơn, gợi ý từ “điều mà Pushkin gọi là niềm hân hoan ta cảm thấy ở bất cứ điều gì kề cận với cái chết” (Frédéric Badré, Tương lai văn học, 2007).

Hẳn là tôi không đi quá xa. Bởi lẽ tất cả những câu truyện ở đây đều trình bày sự nhớ lại, nhớ lại không ngừng, dẫu rằng mỗi lần nhớ là một câu truyện khác nhau nhưng suy ngẫm từ đó thì đều đồng quy về ý nghĩa của sống và chết.

Mà dưới cái bề ngoài giản dị của truyện kể, của lời kể phóng khoáng một cách tinh tế, những khía cạnh của cái ý nghĩa đó lại phong phú lạ thường, sống động như hơi thở từ trong lồng ngực của chính ta.

8/25/09

Kim xỏ trúng vào lỗ

Có nhiều cách để làm cho một cuốn sách trở nên đặc biệt, nổi bật hẳn trong số những quyển tương tự nơi nó thường được xếp vào. Nói đúng ra là không phải rất nhiều cách, nhưng các tác giả tinh tế luôn tìm ra được, và thường xuyên qua việc sử dụng những chi tiết rất nhỏ. Ở lĩnh vực văn học trinh thám, Fred Vargas, dù mới chỉ xuất hiện chưa lâu, đã là một bậc thầy về chi tiết.

Dĩ nhiên, trong tiểu thuyết trinh thám, chi tiết là xương sống, thậm chí là “alpha và omega” làm nên hình dạng, kết cấu và quyết định sự đánh giá của độc giả đối với tác giả, và dõi theo cách xếp đặt của từng cuốn sách, ta có thể nhận ra được một số nhà văn rất tài năng ở phương diện huy động, triển khai, thậm chí là thao túng chi tiết. Không chi tiết nào ngang bằng với một chi tiết khác: điều này chắc hẳn các điều tra viên được hư cấu ra cũng như tác giả trinh thám đều nhất trí cao độ.

Cảnh sát trưởng Adamsberg ở “Trong những cánh rừng vĩnh cửu” (Lê Quang Toản dịch, Nhã Nam và NXB Văn hóa Sài Gòn) không săm soi các chi tiết giống như đồng nghiệp, mà anh vắt vẻo trên chúng, trong một bộ dạng không lấy gì làm “cớm” (Adamsberg hay lang thang, không mấy khi lập luận logic, và lại còn thích nhặt sỏi dưới suối). Từ mấy con chuột bị kẻ nào đó giết chết vứt ở một nhà kho, Adamsberg làm đảo lộn cả hướng điều tra của một vụ án tưởng như đã giải quyết xong. Adamsberg đặc biệt không phải ở chỗ anh tìm được rất nhiều chi tiết, mà là việc anh thấy những kết nối rất ít người hình dung ra giữa các chi tiết rời rạc nhưng thần kỳ. Nhiều khi đọc trinh thám ta sẽ rất mệt mỏi với quá nhiều chi tiết; nhà văn giỏi sẽ biết cách không gây hỏa mù vô lối.

Xuyên suốt câu chuyện là một lý thuyết đầy thẩm quyền của bác sĩ pháp y nổi tiếng nhất nước Pháp, Ariane Lagarde: lý thuyết về sự “phân ly”, theo đó những kẻ tội phạm tâm thần phân lập chia ra làm hai nửa con người, một Alpha và một Omega, hai nửa này có thể hoàn toàn đối nghịch với nhau, thậm chí không hay biết sự tồn tại của nhau, Omega tội phạm có thể giấu đồ sao cho Alpha người bình thường không thể tìm ra để rồi phát giác Omega. Những tên tội phạm thuộc dạng này hết sức nguy hiểm, và Adamsberg đang phải đối đầu với một trong số đó. Mà cũng rất có thể không chỉ có một, như dần dà độc giả sẽ nhận ra.

Chắc chắn kết cục của “Trong những cánh rừng vĩnh cửu” sẽ làm nhiều người phải bất ngờ, nhưng điều đáng nói hơn là trên con đường đi tới điểm kết ấy, Fred Vargas đã dẫn dắt chúng ta đi qua rất nhiều khu rừng và cánh đồng tuyệt đẹp, từ có thật đến tưởng tượng, nhất là những khu rừng và cánh đồng của các chi tiết.

Nhân vật Veyrenc, người mới xuất hiện trong Đội Hình sự của Adamsberg, nói chuyện bằng thơ, dạng thơ cổ điển mười hai “chân” mang tên “alexandrin”, từng được những thi sĩ lớn nhất trong lịch sử văn học Pháp đưa lên đến đỉnh cao. Ở đây, “Trong những cánh rừng vĩnh cửu”, là dấu ấn của Racine, một trong các nhà thơ vĩ đại nhất của thế kỷ XVII. Người đọc có chút hiểu biết về lịch sử văn học sẽ tán thưởng việc đưa Racine (và một đôi chỗ, cả Corneille) vào đây, bởi ngay lập tức cái tên Racine sẽ gợi đến những bóng ma, âm mưu, và nhất là những người đàn bà tội lỗi (đặc biệt trong các vở kịch “Athalie” và “Esther”), không thể hợp hơn với cốt truyện của Vargas.

Có thể mở một ngoặc đơn nhỏ ở đây: nhân vật của James Patterson đọc tiểu thuyết của John Updike, một nhà văn đương đại Mỹ, nhưng các nhân vật trong tiểu thuyết trinh thám chủ yếu là không đọc gì cả, vì thời lượng truyện được dành toàn bộ cho hành động, cái khá thiếu vắng ở truyện của Fred Vargas hay một người có cách viết không khác bà nhiều lắm: Henning Mankell (nhân vật thanh tra Wallander của Mankell thích nghe Maria Callas).

Xuất thân là một chuyên gia khảo cổ học, Fred Vargas không ngần ngại đưa rất nhiều yếu tố vùng miền vào tác phẩm (nhất là Normandie, Pyrénées và Bretagne), tạo ra các nhân vật nhà khảo cổ học, cũng như đưa vào tác phẩm của mình một lượng không nhỏ chi tiết thuộc các ngành khoa học khác nhau, ở “Trong những cánh rừng vĩnh cửu” là kiến thức về những mẩu xương ít người biết nằm ở một số bộ phận ít người để ý của vài con vật. Những chi tiết này, cùng một chi tiết xuyên suốt là cặp sừng hươu kiêu hãnh (nhan đề truyện còn có thể hiểu là “Trong những cặp sừng vĩnh cửu”) đã góp phần tạo nên một cuốn tiểu thuyết trinh thám có hạng, giữ nhịp rất tốt và đầy tính khai phá.

Nhị Linh

------------------------

+ Tôi đoán bác thơ ký sẽ lại nhảy vào nói tháng này (lại) ra báo muộn hehe.

+ Đã nói thì thôi ta nói tiếp :) Bài mới đây của Trần Nhã Thụy trên Tuổi Trẻ chắc nhiều bác đọc rồi. Ở đây tôi chỉ xin nói là tôi ủng hộ Phương Nam ở trường hợp Khách không mời. Lập luận chính của bài báo là bìa sách sao xài hình ảnh khêu gợi mà nội dung đâu có gì như thế. Bìa Khách không mời rất đúng với nội dung, tôi đã từng viết review quyển này và có thể khẳng định trong một số bữa tiệc mà cuốn sách miêu tả có chuyện cho thức ăn lên người phụ nữ rồi thực khách xơi. Bìa sách như thế là trang nhã, đúng ý đồ (theo tôi thì hơi đúng nội dung quá, nhưng kiểu gì cũng là sát với nội dung). Nó còn là một sự giảm nhẹ mức độ của sex trong truyện, vì trong đó liên tục có cảnh nhân vật Đan Đông đi nhà thổ (và không phải chỉ đi chơi). Tôi nghĩ Trần Nhã Thụy chưa hề đọc quyển này. Bìa sách Phương Nam trong khoảng một năm trở lại đây rất đẹp, nhất là hay sử dụng tranh vẽ hợp lý.

+ Về chuyện bìa sách nước ngoài giản dị sang trọng thì tôi không có ý kiến gì, chỉ xin được hé cho các bác xem mấy cái bìa sách mà tôi biết: như là đây, đây, đây, đâyđây.

+ Cũng xin bày tỏ sự thông cảm sâu sắc với anh Lê Quang. Tôi còn nhớ hồi làm bìa Tình ơi là tình, anh Lê Quang đã tìm kiếm và xin được bản quyền cái ảnh từ một nhiếp ảnh gia người Áo, chính là cái mà các bác bây giờ nhìn thấy đấy. Tiếp đó là một cuộc chiến funny nhất trong lịch sử, vì các bộ phận quản lý văn hóa đòi cắt mông cô gái, nhất quyết là cắt, không cần biết săn chắc bền bở thế nào. Kết quả là trên cái bìa bây giờ bộ mông bị mất đâu như 2,7 mi-li-mét. Bác LQ ạ, em đang rùng mình chờ xem khi quyển Feuchtgebiete của Charlotte Roche ra thì sẽ thế nào, báo chí chắc không phải mài dao đợi sẵn mà là cầm sẵn cưa máy, như trong phim ấy.

+ Cuối cùng là sự thông cảm cực kỳ sâu sắc với chị em phụ nữ bị kỳ thị khi thống trị xã hội là tinh thần purist hay puritan. Đồng chí biên tập viên lười đánh răng hôm trước cũng chứng kiến đấy, tôi vào quán mà không được phục vụ vì bị nhân viên kỳ thì, vì mắt tôi đẹp quá :) thành thử tôi hiểu kỳ thị là như thế nào. Tủi thân lắm. Xin được chia buồn với chị em phụ nữ nào sinh ra mà lại lỡ quá gợi cảm.

8/23/09

Mình nói chuyện gì khi mình chả nói chuyện gì

Đợt này tiều tụy quá, tiều tụy như một con khị chứ không có được uy nghi như cái tivi và phẳng lì như màn hình LCD giống dạo trước. Dù vậy thì vẫn có cái hay là khi tiều tụy như một con khị thế này thì lại dẫn tới tình hình "người chiến sĩ ấy ai đã gặp anh không thể nào quên" (Hoàng Vân, à hay là Hoàng Việt nhỉ, chịu không sao mà nhớ nổi).

Văn chương đợt này: tầm thường, sách vở đợt này: hơi dở. Không văn chương sách vở nữa vậy, hôm nay tôi sẽ nói về một thứ không văn chương cũng chẳng sách vở. Đó là cái Google Analytics, một công cụ rất chi là hay.

Các bác biết rồi thì không nói, các bác chưa biết có thể hình dung là khi có một trang web hay một trang blog, nếu copy cái code do GA cung cấp vào thì hàng ngày các bác có thể xem tình hình tiến triển trang của mình đến đâu. GA này có nhiều category, theo đó có thể xem bao nhiêu người truy cập, trung bình thời gian lưu lại, cái entry nào nhiều người xem nhất, vân vân và vân vân, nhưng tôi thích nhất là hai cái, xem người vào trang của mình từ đâu tới và xem người ta tìm ra trang của mình bằng từ/cụm từ nào khi sử dụng các search engine.

Về cơ bản thì trang blog của tôi cũng đơn sơ lắm, không có rất nhiều người xem, quanh đi quẩn lại cũng chỉ chủ yếu vài ba nước, nhưng có cái đặc biệt là ở Việt Nam chỉ có lèo tèo vài thành phố. À, cũng phải nói thêm là GA cho phép xem cụ thể người ở thành phố nào trên thế giới vào đây chơi. Cái này là thú vị nhất, đặc biệt thỉnh thoảng lại thấy tăng số lượng thành phố lên vài cái, vài chục cái. Tổng cộng hiện nay trong danh mục thành phố ở account của tôi có khoảng gần 400 cái tên, trong đó ngay top 10 thôi vài thành phố tôi hoàn toàn chưa từng nghe nói đến. Tôi cũng đã từng đi qua không ít thành phố, nhưng thử kiểm kê cá nhân một chút thì thấy rằng chắc hẳn mình chưa đi được đến 400 thành phố. Tất nhiên nhìn những cái tên lạ lẫm thì ham lắm, tuy rằng cũng biết thừa đa phần trong số đó sẽ không bao giờ mình đến cả.

Vụ tìm kiếm thì hay lắm hehe. Có rất nhiều ngả đường dẫn tới blog này, nhưng phải ghi nhận ngay là tinh thần thể thao của người sử dụng Internet Việt Nam đã lên cao lắm: rất nhiều người vào đến blog của tôi vì gõ cụm từ liên quan đến nhạc tập thể dục (nếu các bác còn nhớ thì đó là entry về chức năng tập thể dục của nhạc Trịnh Công Sơn). Sự ăn khách đến không ngờ này không che lấp được thực tế là nhiều bác tác giả, dịch giả đã đi tìm theo tên tác phẩm của mình và lọt vào đây. Thôi tôi sẽ giấu tông tích hộ các bác, nhưng cũng phải nói rằng một số bác tìm đi tìm lại hơi bị nhiều và hơi bị kỹ :) Và cũng không che lấp được việc rất nhiều bác tìm kiếm bằng những cụm từ cực kỳ bậy. Cụm từ hay nhất tôi thấy là "nam xap lay roi may danh vao dit" (nằm xấp - viết sai chính tả sấp - lấy roi mây đánh vào đít). Quá hay, không hiểu bằng cách nào mà lại lọt vào đây hế hế.

Những ngày tiều tụy ngồi nghĩ trên đời mình ghét nhất là đọc cái gì. Tất nhiên là ghét nhiều thứ, nhưng nhất của nhất chắc là những thứ mượn chuyện ngày xưa nói chuyện ngày nay (thuật ngữ thông dụng là "đá đểu"), chủ yếu là chuyện bên Tàu, đặc biệt Đông Chu liệt quốc. Còn loại người mình ghét nhất? Chắc là những cái bác hay nói kiểu sau này tôi sẽ... Nghĩa là một bác chẳng hạn đang làm chánh văn phòng một cơ quan cấp bộ nhé, bác ấy lại yêu văn chương nghệ thuật và bác ấy quyết khi nào về hưu bác sẽ viết một quyển tiểu thuyết đánh bạt mọi thứ tiểu thuyết bác đang đọc hàng ngày và thấy đến là vớ vẩn. Những người như thế đông hơn các bác tưởng, đông hơn cả tôi tưởng.

Một cái thế giới toàn những lời hứa dính nhão như đầm lầy, nơi người ta lội bì bõm và nghĩ tuy đang ở đây nhưng về bản chất ta là ngôi sao lấp lánh trên trời (Anh sẽ vì em làm thơ tình ái/Anh sẽ gom mây kết thành lâu đài, kiểu kiểu thế).

Còn thì về cơ bản tôi thấy tập truyện ngắn What We Talk About When We Talk About Love là một dạng "overhyped". Mà cũng bởi vì về cơ bản tôi thích các nhà văn lắm mồm :) chứ như Hemingway thì nể thật nhưng chả thích.

8/19/09

Gogol + Cheburashka

Theo như những gì tôi biết về các bác, thì chắc chắn các bác sẽ bỏ qua quyển này: Cộng hòa phi lý, của Gary Shteyngart, một người Nga gốc St-Petersburg, mà ông (anh cũng được, bác này sinh năm 1972) gọi là St-Leninsburg. Và, cũng như thường lệ, các bác lại đang bỏ qua một thứ có khi cả đời chỉ được chiêm ngưỡng vài lần (thậm chí một, thậm thậm chí không lần nào) :) Có thể nghĩ ngay đến một Borat béo ịch, nhưng không chỉ có vậy.

Nhan đề gốc là Absurdistan, quyển tiểu thuyết viết về nước Nga thời bây giờ này khiến cho đứng bên cạnh nó quyển Vô hồn đúng nghĩa là vô hồn :)

Những thứ râu ria các bác có thể tìm hiểu nhanh, còn cái làm tôi thích nhất khi đọc quyển này là xem diễn lại lịch sử văn học Nga, qua con mắt của một người Do Thái (bị cắt bao quy đầu sau tuổi 18, hic). Chỉ cần đọc mấy trang là tôi đã bắt đầu chờ đợi xem cái tên Gogol sẽ xuất hiện khi nào. Không thể tránh khỏi, khi mà người ta viết về St-Petersburg, đại lộ Nevsky, và với cái giọng văn như thế này, giọng văn, nói một cách đơn giản, của Gogol thời có Internet.

Thế nhưng (điều này mới hay), nhân vật nhà văn Nga đầu tiên xuất hiện lại là Pushkin, hahaha. Sẽ rất đáng thất vọng nếu sự xuất hiện của Pushkin không có màu sắc nham nhở như thế: nhân vật chính (Misha Borisovich Veinberg) nói với một thằng cha cũng nhà giàu mới nổi, là nếu sống thời bây giờ Pushkin sẽ là một tay rapper hehe.

Nhưng quả thực, Gogol đã xuất hiện, chỉ vài chục trang sau đó. Rồi sẽ có cả Turgenev, Dostoyevski, Tolstoy tác giả Chiến tranh và các thứ, một chương tên "Một ngày trong đời Misha Borisovich" mà nhiều bác biết là dùng để nhại ai.

Cheburashka thì sao? Sự kết hợp Gogol và Cheburashka mới thực sự tạo nên tính chất "absurd" của quyển truyện này. Cheburashka xuất hiện ở cuối chương 5, món đồ chơi thuở nhỏ của Misha đồ sộ: "Cheburashka, ngôi sao của chương trình truyền hình thiếu nhi Xô viết, một sinh vật màu nâu phi giới tính với giấc mơ được gia nhập đội Thiếu niên Tiền phong và xây Cung Hữu nghị cho mọi thú vật cô đơn trong thị trấn..."

Dĩ nhiên cũng phải thích đọc truyện thiếu nhi thì mới biết được Cheburashka là ai (ref.: Uspenski, Cá sấu Ghena và các bạn).

+ Nghe nói vừa có một quyển của Amos Oz xuất bản mà chưa kịp đi mua.

8/18/09

Strange

Những ghi chép đầu tiên về 2666. Lại xin lỗi các bạn vì bộ này cũng thuộc loại rất đắt :)

“An oasis of horror in a desert of boredom” (Une oasis d’horreur dans un désert d’ennui) câu thơ này là của Baudelaire, trong bài “Le voyage”, được Roberto Bolaño lấy làm đề từ cho cả bộ 2666. Một câu thơ nhưng có đến bốn hàm ý, ngoài nghĩa của chính câu ấy (“Một ốc đảo của kinh hoàng trên một sa mạc buồn chán”): horror và boredom, desert và oasis; theo đúng cách của Baudelaire, dùng horror để khỏa lấp boredom, và sự bao trùm của “sa mạc”. Câu thơ này làm tôi nhớ đến mối quan hệ giữa Sainte-Beuve và Baudelaire. Sainte-Beuve là nhà phê bình lớn nhất thế kỷ XIX của Pháp, với một đặc điểm rất kỳ quặc: là nhà phê bình lớn nhất, nhưng Sainte-Beuve gần như không quan tâm gì đến những nhà văn sau này sẽ được coi là lớn nhất. Công trình quan trọng của Sainte-Beuve là về nhóm Port-Royal, một cái nữa là Chateaubriand, còn lại đọc tuyển tập Sainte-Beuve thì sẽ thấy toàn những cái tên lạ hoắc, có đôi chút tiếng tăm thời ấy nhưng không phải là các tài năng lớn: ví dụ Labiche, do you know him or her? :) Baudelaire rất ngưỡng mộ Sainte-Beuve và có lần thậm chí còn viết thư gần như nài nỉ Sainte-Beuve viết về thơ mình. Ý kiến của Sainte-Beuve về thơ Baudelaire vô cùng nghiệt ngã: Sainte-Beuve so sánh nó với Kamchatka. Ai biết về vùng Siberia thì sẽ hiểu Sainte-Beuve định nói gì.

Cũng phải nhớ rằng bài “Le Voyage” này khác hẳn với “L’invitation au voyage” nổi tiếng (ở Việt Nam hay được biết đến với cái tên “Thỉnh du”). “Le Voyage” nghĩa là “Chuyến đi”, một bài thơ dài gồm nhiều phần, toàn văn đọc ở đây. Và cũng phải nhớ rằng bài thơ này nằm trong phần “La Mort” (Cái chết) của Les Fleurs du mal, ngay phần tiếp theo đã có hình ảnh trực tiếp của cái chết: “Ô Mort, vieux capitaine, il est temps! levons l’encre!” (Hỡi cái chết, vị thuyền trưởng già nua, đã đến lúc! nhổ neo thôi!). Tức là không được bỏ qua yếu tố cái chết khi đọc 2666, cả với nghĩa đây là tác phẩm cuối cùng của Bolaño, mà Bolaño biết là sẽ in sau khi ông đã qua đời, cũng như một nguồn cảm hứng lớn của 2666: những vụ giết hại phụ nữ (hơn 200 người) tại Mexico.

2666 cũng là một “di chúc bị phản bội”. NXB bên Mỹ của bộ sách là Farrar, Straus and Giroux (ở blog cũ tôi có lần đã nói đến, khi một trong ba người – Giroux – chết), đã in thành một bộ ba quyển, chừng 1.500 trang, trong khi ý nguyện của Bolaño là in năm phần thành năm tập, mỗi năm xuất bản một tập. Năm phần của sách trong bản tiếng Anh mang tên như sau: “The Part about the Critics”, “The Part about Amalfitano”, “The Part about Fate”, “The Part about the Crimes”, “The Part about Archimboldi”.

Bộ sách này tôi đọc rất chậm, đến giờ mới sang đến phần II. Phần I có thể coi như là một khúc dạo đầu tiết tấu nhanh, dồn dập, nhiều chủ đề, nhiều nhân vật, nhiều yếu tố vui, vài khoảnh khắc chùng xuống, có những lúc cay đắng, nhưng chắc chắn sẽ báo hiệu thảm họa. Bìa sách được design theo một bức tranh tôn giáo, đặc biệt dòng chữ 2666 bị lấp một phần ra đằng sau, chỉ lộ rõ (đỏ chói) ba số 6. 666, như mọi người đều biết, là con số hiện thân của Satan, đã từng được nhấn mạnh trong Margarita của Boulgakov. Đoạn kết phần I cũng bắt đầu xuất hiện một nhân vật mang tên Amalfitano, sẽ là nhân vật chính của phần tiếp theo. Riêng cái tên Amalfitano với ba thành tố “a”, “mal” và “fi” đã gợi lên các ý niệm về phủ nhận, đối nghịch, điều ác và lưu huỳnh – tức là địa ngục.

Phần I giống như một đối âm của The Savage Detectives, một bộ tiểu thuyết khác (cũng đồ sộ) của Bolaño. Ở đây các nhân vật học giả của châu Âu đi sang châu Mỹ (cụ thể là Mexico) chứ không phải ngược lại như trong bộ trước. Mối quan hệ giữa hai thế giới Mới và Cũ không bao giờ ngừng hiện ra đồ sộ và ám ảnh trong tiểu thuyết của Bolaño, kể cả trong cuốn nhỏ nhất, đã có bản tiếng Việt – Đêm Chi lê – với hình ảnh Ernst Jünger. Các học giả châu Âu, ba đàn ông (Pelletier, Espinoza và Morini, Pháp, Tây Ban Nha và Ý, như ai cũng có thể dễ dàng nhận ra) và Norton, một phụ nữ (người Anh) đều là chuyên gia về một tác giả kỳ bí người Đức, tên là Benno von Archimboldi. Những cuộc hội thảo và mối quan hệ tình cảm kỳ cục không kém của bộ tứ này đã làm nên một phần I tiết tấu nhanh nhưng không gấp gáp, vui vui nhưng không tươi tắn, và đã có một số chuẩn bị cho điều tồi tệ, nhất là những giấc mơ và bản năng bạo lực lúc nào cũng như sắp bùng phát.

Mối quan hệ giữa Thế Giới Mới và Thế Giới Cũ được Bolaño tập trung miêu tả khi bốn người nói trên đi sang Mexico theo một manh mối mù mờ của Archimboldi, người chưa từng bao giờ xuất hiện ở đâu, chỉ có vợ chồng nhà xuất bản Bubis ở Đức từng gặp, và nhiều lần suýt giành giải Nobel Văn chương. Không biết câu chuyện sẽ xoay qua hướng nào vì tôi không hứng thú đọc trước synopsis hay review, nhưng có thể thấy rõ rằng tuy là người Chilê nhưng Bolaño rất hay lấy Mexico làm bối cảnh. Amulet, một tiểu thuyết khác nữa, đã như vậy. Trong 2666 này có lời miêu tả các nhà văn Mexico chỉ biết làm một việc là làm việc cho nhà nước, và say mê đọc Paul Valéry. Tôi cũng chưa thấy có hứng thú đi tìm hiểu tiểu sử Bolaño để biết cụ thể mối quan hệ của ông với Mexico là như thế nào.

Điều cuối cùng của các ghi chép đơn giản này: mọi thứ đều điên rồ.

+ Hôm qua đã họp báo ra mắt Nỗi cô đơn của các số nguyên tố của Paolo Giordano, nghe nói là giật gân lắm vì các bạn nữ cứ trầm trồ sao anh giai đẹp trai thế hehe. Tôi không đi mặc dù là người lo liệu cho quyển này kể từ mức độ tiền ý tưởng. Không phải nhà văn nào cũng làm tôi hứng thú muốn gặp. Tuy vậy cũng phải nói rằng cuốn tiểu thuyết của Giordano rất xuất sắc, mà tôi xếp vào một trilogy cùng Bí ẩn về con chó lúc nửa đêm của Haddon và Giáo sư và công thức toán của Ogawa. Lý thuyết chính của quyển này là “các cặp số nguyên tố sinh đôi” (numéros premiers jumeaux), tức các cặp số nguyên tố cách nhau hai.

8/16/09

Vũ Hoàng Chương vs Nguyễn Bắc Sơn

“Nhổ neo rồi thuyền ơi! Xin mặc sóng” - Vũ Hoàng Chương bắt đầu bài thơ mang tính “cương lĩnh tinh thần” của tuổi trẻ một thời như vậy. Bài thơ “Phương xa” mang âm hưởng trực tiếp từ “Con tàu say” của Rimbaud ngoài miêu tả tâm trạng hoang mang chán nản ở những con người độ tuổi đôi mươi còn phát biểu một mơ ước nơi đáy lòng của thanh niên: Đi.

Khi ở đây người ta luôn ngóng đến nơi khác, điều này rất thông thường và cũng không kém phần dễ hiểu. Số lượng đặc biệt lớn của tác phẩm văn chương hướng về xa xăm chứng nhận rằng người ta (và cả chúng ta) chung nhau cảm giác chán ghét cái chốn mình đang ở và mong muốn thoát khỏi, đi xa, thậm chí là rời bỏ. Một trong những tác phẩm đầu tiên làm nên tên tuổi cho Milan Kundera có nhan đề Cuộc sống không ở đây, trong đó có đoạn nhà thơ trẻ Jaromil (trạc độ tuổi của Rimbaud khi bắt đầu nổi tiếng trên văn đàn Pháp) bỏ chạy trên bãi biển, bởi vì mọi thứ có ý nghĩa đều không ở đây, đều ở đâu đó khác. Giai đoạn thuộc địa hóa, nhất là cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, làm phát sinh cả một dòng văn học xê dịch, trong đó cái tên cuốn sách của Blaise Cendrars có lẽ đã nói lên tất cả trạng thái tâm hồn con người thời ấy: Emmène-moi au bout du monde! (Hãy mang tôi đi tới tận cùng thế giới!)

Thế nhưng, cũng cần đưa ra một nhận xét là phần nhiều văn chương xê dịch được ký tên các nhà văn thời họ còn trẻ, hoặc miêu tả các nhân vật tuổi trẻ. Cái nôn nóng bồn chồn đầu đời theo thời gian sẽ được thay thế bằng những tâm thế khác, rất lắm khi là ngược hẳn chiều. Thời gian mang lại sự già nua, dĩ nhiên, nhưng nó cũng dẫn tới sự chín chắn, tỉnh táo và giải mộng. Tuy vậy, sự ra đi bao giờ cũng quyến rũ hơn nhiều, nó rộn ràng lanh lảnh tiếng lên đường, còn trở về lại thường trầm lắng và im lìm. Ulysses của Homer ra đi trong đoàn quân ồn ào đẹp đẽ và trở về hòn đảo Ithaca quê hương âm thầm không một tiếng vang. Chặng đường phiêu lưu giống như miếng giấy thấm hút đi thời gian sống của con người và cả các âm thanh rộn rã đã từng có lúc ngập tràn bầu không khí.

Các nhân vật trẻ tuổi của văn chương (và cả của đời thường) hay bỏ quê nhà ra thành phố. Rất nhiều anh chàng trẻ tuổi trong tiểu thuyết của Balzac hay Stendhal bỏ Tours bỏ Rennes bỏ Grenoble để lên Paris, phần lớn mang trên vai gánh nặng của tham vọng “chinh phục thế giới”, hoặc ít nhất là “chinh phục Paris” (như Rastignac). Thời của những viễn cảnh to lớn rồi qua đi, nhiều người lại tìm đường quay về tỉnh lẻ (với ảo mộng tan tành, nếu muốn mượn thêm tên một tiểu thuyết của Balzac). Rất có thể tổng lượng của hai chiều dịch chuyển là ngang bằng với nhau, và xét cho cùng con người cũng chỉ quẩn quanh trong một hoặc vài vòng tròn, dù có lúc vòng tròn rộng lớn bằng cả thế giới (thầy trò Phileas Fogg bỏ ra tám mươi ngày để hoàn thành vòng tròn mang tính chất lý tưởng ấy, trong tác phẩm kinh điển của Jules Verne). Một trong những tiểu thuyết đầu tiên của Kundera là Cuộc sống không ở đây, còn tiểu thuyết gần đây nhất (L’Ignorance - Ngu dốt) lại lấy đề tài là sự trở về: nhân vật chính sau một thời gian dài sống ở Pháp quyết định quay trở về Séc, cuộc trở về mang hơi hướng của người anh hùng Ulysses xa xưa.

Người ở trong nước muốn ra nước ngoài, người ở nước ngoài lại muốn về trong nước, người nông thôn quyết tâm ra thành phố, người thành phố lại mơ mộng về nông thôn, cái ước vọng rời bỏ thật là khó đạt được đến mức độ tuyệt đối. Các nhân vật trẻ tuổi của tiểu thuyết cứ lao về Paris, còn nhà bác học chín chắn Pascal trong tập cuối bộ sách Gia đình Rougon-Macquart của Émile Zola lại bỏ hẳn về quê sinh sống; Montaigne rồi Rousseau rồi cũng đến lúc rời bỏ cung điện thành quách để về giữa các loại cây cỏ.

Tất nhiên rất khó (và rất không nên) nói với những người mười tám hai mươi tuổi là nơi khác không hẳn chắc chắn có những điều mà họ chờ đợi, trông mong. Mọi trải nghiệm về cuộc đời đều cần phải trực tiếp, cái khó nhọc của chúng ta chính là ở chỗ không ai có thể “truyền kinh nghiệm sống” cho ai được cả. Nhu cầu đi khỏi, rời bỏ cũng vĩnh viễn như chính hai chữ “nhu cầu” vậy.

Dù vậy cũng nên nhớ, khi The Beatles hát: “She’s leaving home, bye bye” thì Chuck Berry đã ngay lập tức ngao ngán: “No particular place to go”, và như một lời đáp của trải nghiệm chín chắn cho sự say mê rạo rực của Vũ Hoàng Chương thời trẻ, Nguyễn Bắc Sơn từng viết hai câu thơ bất hủ không kém: “Về đâu, đâu cũng là đâu đó/Đâu cũng đìu hiu đất Hán Hồ”.

Nhị Linh

8/13/09

Nơi cái chết mới chỉ là sự bắt đầu

Các ngăn sách trinh thám trĩu nặng ở mọi hiệu sách trên thế giới, vô số sách được du khách mang theo khắp nơi rồi bỏ lại, giúp cho hoạt động “book exchange” luôn nhộn nhịp… sách trinh thám lúc nào cũng có vị trí đặc biệt của mình. Để làm nên điều ấy, luôn cần các tác giả cự phách. Stieg Larsson là tác giả lớn gần đây nhất của thế giới văn học trinh thám.

Ngay sau khi qua đời vào năm 2004, Larsson trở nên nổi tiếng toàn thế giới với bộ ba tiểu thuyết mang tên chung Millennium (tên tạp chí nơi nhân vật chính Mickael Blomqvist làm việc). Dày đến 3000 trang, bộ sách làm cả thế giới phát hiện một tác giả trước đây cũng đã nổi tiếng nhưng là ở một khía cạnh khác: tại Thụy Điển, Larsson là một người tranh đấu không mệt mỏi chống lại chủ nghĩa phát xít.

Câu chuyện về sự ra đời bộ sách cũng góp phần làm tăng danh tiếng của nó. Larsson bất ngờ qua đời vì bệnh tim khi mới 50 tuổi, ngay sau khi chuyển cho nhà xuất bản lớn nhất của Thụy Điển (Norstedts) bản thảo đầy đủ ba tập của bộ Millennium. Ông còn dự định viết tới mười tập cho loạt sách này nhưng có vẻ như là bản thảo dang dở của tập bốn cũng sẽ không được những người thừa kế cho in. Như vậy Larsson là nhà văn thành danh sau khi mất, rất giống với một trường hợp khác gần đây: nhà văn người Chilê Roberto Bolaño và bộ tiểu thuyết (cũng khổng lồ không kém) mang tên 2666.

Nối tiếp những nhà văn danh tiếng của trinh thám thế giới như Graham Greene, John Le Carré, Michael Connelly, Harlan Coben… Stieg Larsson làm say mê độc giả trên toàn thế giới và cho thấy sức mạnh phổ biến của thể loại đặc biệt này. Với Larsson, Thụy Điển cũng có thêm một nhà văn trinh thám nổi tiếng nữa, sau Henning Mankell vĩ đại. Ngay sau khi bộ tiểu thuyết được xuất bản bằng tiếng Thụy Điển, NXB Actes Sud của Pháp đã mua bản quyền và nhanh chóng dịch ra tiếng Pháp. Actes Sud nhân dịp này cũng lập riêng một tủ sách mang tên “Actes Noirs”, và thành công vang dội.

Độc giả tiếng Anh phải chờ lâu hơn một chút. Các câu chuyện xoay quanh Mickael Blomqvist và cô gái Lisbeth Salander mới được ấn hành hai tập đầu: The Girl with the Dragon Tattoo (Cô gái xăm hình con rồng; nhan đề gốc có nghĩa “Những người đàn ông ghét đàn bà”) và The Girl Who Played with Fire (Cô gái đùa với lửa; nhan đề gốc có nghĩa “Cô gái mơ tưởng đến can xăng và que diêm). Dịch giả Reg Keeland cũng đã giải thích lý do việc đổi tên này trên blog riêng của mình. Tập cuối sẽ được ra mắt vào tháng Mười này tại Anh và giữa năm 2010 tại Mỹ.

Hai tập Millennium quả thực thuộc vào hạng nhất của tiểu thuyết trinh thám, với cái năng lực tiên quyết: không cho phép độc giả bỏ sách xuống trong quá trình đọc. Mickael Blomqvist, nhân vật nhà báo với nhiều điều rút từ chính Stieg Larsson vừa thua cuộc trong một vụ kiện; cùng lúc đó nhà tài phiệt Vanger từng mất một đứa con cách nay hơn bốn chục năm vẫn tiếp tục nhận được bó hoa khô thường niên bí ẩn từ một kẻ nào đó cũng bí ẩn không kém. Vanger vẫn muốn biết con gái mình liệu có bị giết hay không, và Blomqvist bắt đầu cuộc điều tra. Đồng sự của anh là Lisbeth Salander, nhân vật được cho là độc đáo bậc nhất trong lịch sử trinh thám, cũng chính là “cô gái xăm hình con rồng”. Cuốn truyện sẽ là cuộc đi sâu vào lịch sử một gia đình giàu có với nhiều bí ẩn hơn người ta có thể tưởng lúc đầu.

Cũng giống như nhà văn đồng hương Henning Mankell, Stieg Larsson không lơ là với các vấn đề của xã hội Thụy Điển. Trong tập hai, The Girl Who Played with Fire, cả tòa soạn tờ Millennium lao vào một cuộc điều tra về đường dây buôn bán tình dục dính dáng tới rất nhiều nhân vật quan trọng. Rồi đột ngột các nhân viên của tờ báo bị giết đầy bí ẩn, và nghi phạm lại chính là Lisbeth Salander (giờ đây đã không còn hình xăm rồng trên vai nữa). Đến lúc này Salander đã thực sự trở thành nhân vật chính, một trong những nhân vật phức tạp và hấp dẫn nhất từng xuất hiện trên các trang sách trinh thám. Là một người có rất nhiều kỹ năng đặc biệt, một hacker rất tài năng, một nhà điều tra siêu hạng, nhưng Salander cũng có một quá khứ rất nhiều bí ẩn mà cô không muốn một ai trên đời biết được. Blomqvist là người duy nhất tin Salander không phải thủ phạm những vụ giết người đang huy động toàn bộ cảnh sát Thụy Điển vào cuộc, nhưng tìm cách chứng minh điều ấy cũng tốn của anh rất nhiều công sức, trải qua vô số nguy hiểm, và đến cả nghìn trang sách.

“Cái chết chỉ là sự bắt đầu”, câu nói trong một bộ phim hành động dường như rất đúng ở trường hợp tiểu thuyết trinh thám. Cuộc sống của các nhân vật trinh thám chỉ bắt đầu sau (khi có) cái chết; sự kết hợp của hai mặt đối cực lớn nhất, sống và chết, có lẽ chính là điều đảm bảo lớn nhất cho sự quyến rũ của thể loại trinh thám, bởi xét cho cùng chúng là các mối bận tâm lớn nhất của con người.

----------------

+ Lần này làm chung với hai đồng chí, Trần Thanh Hà và Yên Ba. Gọi là đồng chí vì cả hai bác ấy đều có quân hàm rất oách :)

+ Bài lên đến mặt trận thì bị cắt gọt khá nhiều. Cảm tạ bác đã cho em hai quyển sách ấy, bao giờ có quyển thứ ba bác nhớ cho nữa nhá :)

+ Đã có nơi ở Việt Nam mua bản quyền bộ này, tiếc thế :(

+ Blog của bác dịch giả tiếng Anh ở đây. Nói trước là không có gì nhiều đâu để các bác đỡ bị thất vọng. Bác này cũng là người dịch một số tiểu thuyết của Mankell hehe. Nhân tiện khoe cái này hì hì.

+ Lâu lắm mới được đọc một quyển trinh thám đã đời thế: Trong những cánh rừng vĩnh cửu, Fred Vargas, Lê Quang Toản dịch. Có thể so được với The Fifth Woman của Henning Mankell. TFW (không phải WTF) là quyển đầu tiên của Mankell mà tôi đọc, ám ảnh đến tận bây giờ.

8/11/09

Bọn Marcel

+ Nói rõ hơn về giai đoạn Hoài Thanh viết cho Tràng An: đó là sau khi Hoài Thanh bật khỏi Hà Nội, bị mật thám mang về Vinh, ở Vinh một thời gian (thay Tôn Quang Phiệt làm gia sư cho một nhà giàu) thì tình cờ gặp Bùi Huy Tín chủ nhà in Đắc Lập và theo BHT vào Huế làm thợ sửa mo-rát, đến 1935 (Hoài Thanh sinh năm 1909) khi Tràng An bắt đầu được ấn hành thì Hoài Thanh đã có mặt trong những số đầu tiên.

Một số điều tôi rút ra từ các bài phê bình văn học (cả điểm tin tức văn nghệ) trên Tràng An (cũng cần nhắc lại: hồi Tràng An này Hoài Thanh không viết nhiều về văn học):

- Bài đầu tiên của mục "Phê bình văn nghệ": viết về tiểu thuyết Cô Lâu mộng của Võ Liêm Sơn (ai đọc lịch sử thời này rồi đều biết Võ Liêm Sơn, một nhân vật có nhiều quan hệ thân thiết với gia đình Hồ Chí Minh).

- Đánh giá Trông dòng sông Vị của Trần Thanh Mại có giá trị ngang ngửa Phê bình và cảo luận của Thiếu Sơn đã in trước đó, nhưng cùng lúc lại nói Tú Xương không phải thi sĩ, mà chỉ là một "người làm thơ".

- Coi Thế Lữ có vai trò giống như Nguyễn Du xưa kia.

- Một bài rất đáng chú ý: "Cụ Phan Sào Nam còn viết báo làm gì?" ý nói Phan Bội Châu lẩm cẩm, làm cách mạng xong rồi thì cứ ngồi đó mà hưởng danh tiếng, sao lại còn viết văn làm thơ xong rồi còn đăng lên báo làm những người yêu mến cụ rất lấy làm "khổ tâm".

- Những ai quan tâm đến Hoài Thanh với tư cách dịch giả có thể tập trung vào bản dịch bài diễn văn của Gide mà Hoài Thanh cho đăng vào cuối năm 1935.

- Mấy chi tiết tôi cho là rất quan trọng ở bài viết về Henri Barbusse (dịp Barbusse mất; dịp này Hoài Thanh trách cứ các báo ở Việt Nam im tịt không tưởng niệm gì). Chỉ là mấy từ mà tôi nhặt ra: "bọn Marcel Proust và Fernand Gregh", "thơ của bọn Parnasse và Symbolisme kiểu cách và xa tự nhiên". Hoài Thanh có vẻ rất dị ứng với chính phái "nghệ thuật vị nghệ thuật" (Parnasse tức là Thi Sơn, Symbolisme tức là Chủ nghĩa Tượng trưng). Cái gu của Hoài Thanh hướng tới cái dễ hiểu, cái đẹp nhưng là cái đẹp dễ hiểu (nói đúng hơn là cái đẹp hiểu được, cắt nghĩa được). Có tương đồng gì giữa Hoài Thanh tây học và Hoài Thanh trong cốt cách một nhà nho, ưa "kính nhi viễn chi" không nhỉ? Rất khó nói.

- Điều trên, cộng với một điều nữa: Hoài Thanh là một người hết sức thành thật (cái này trước đây thực sự tôi không tin lắm dù nhiều người nói, nhưng ngày càng tin hơn), đã khiến Hoài Thanh sẽ thực sự là người đầu tiên "đánh" Nhân Văn-Giai Phẩm, dù bài viết của Hoài Thanh không có trong tập Bọn Nhân Văn trước tòa án dư luận in dưới sự chủ trì của Như Phong sau này. Hoài Thanh chính là người ngồi chủ tọa cuộc phê phán "Nhất định thắng" ngay đầu năm 1956. Toàn thể các tài liệu liên quan đều có thể tìm thấy trên Internet, talawas cũng như một số trang cá nhân, Nguyễn Trọng Tạo, Trần Nhương... Với tôi đây cũng là một lần "bị lựa chọn" lớn nữa. Và vẫn chưa hết.

- Trước đây một lần tôi nhắc đến Hoài Thanh và so sánh Hoài Thanh với Sainte-Beuve, chủ yếu là do trực cảm. Với các tài liệu mới công bố này tôi nghĩ là so sánh ấy đã có cơ sở hơn hẳn. Cụ thể như thế nào thì... nói sau.

+ Tôi đã từng đối chiếu từng câu giữa nguyên bản tiếng Anh A Moveable Feast và bản dịch tiếng Pháp mang tên Paris est une fête của Marc Saporta, một bản dịch được in rất nhiều lần và có vẻ chưa bao giờ gây điều tiếng gì. Tôi có thể nói rằng bản tiếng Pháp làm biến dạng Hemingway ghê gớm, thường xuyên viết lại câu, đoạn, thêm bớt, sai mấy chỗ rất nặng, nhìn chung là một bản dịch khó nói là tốt.

Tôi cũng đã từng đối chiếu không ít như thế. Có thể nói rằng nhìn chung các dịch giả tiếng Pháp đáng tin cậy hơn các dịch giả tiếng Anh (khá nhiều bản tiếng Anh cắt đến khoảng 10% văn bản; cái này còn liên quan tới quan điểm dịch thuật và xuất bản chung), nhưng không phải cái nào cũng tuyệt vời cả. Dùng một bản dịch khác để nói về một bản dịch từ một thứ tiếng khác nữa là việc không có giá trị. Trong phạm vi tôi biết, bản dịch tiếng Việt của A Moveable Feast tốt hơn bản dịch tiếng Pháp. Chuyện Hemingway là nhà văn khó thì tôi không bàn đến vội.

+ Blog tôi hiện nay trong dashboard không thấy hiện mục "blogs I follow" nữa, các bác có bị thế không?

8/10/09

Tiếp tục

+ Nhìn chung là nên hiểu tại sao tôi đặt title cho entry trước là "Bỏ qua". Tôi thực sự bỏ qua đấy.

+ Hoài Thanh trên báo Tràng An (Huế 1935-1936)

Quyển sách này do Từ Sơn (con trai Hoài Thanh, cũng là người làm Toàn tập Hoài Thanh, 4 tập). Có đủ toàn văn trên viet-studies, cùng toàn văn Tìm hiểu Hoài Thanh, cũng của Từ Sơn. Hai quyển sách này in ra trong đợt kỷ niệm 100 năm ngày sinh Hoài Thanh (buổi lễ đã được thực hiện nghe nói rất đông đảo ở Hội Nhà văn Việt Nam).

Không có các tư liệu này thì gần như không thể nói gì đầy đủ về Hoài Thanh và phê bình văn học của Hoài Thanh trước 1945 (nói đúng hơn là trước Thi nhân Việt Nam và trước Văn chương và hành động: cuốn sách thứ hai chưa kịp in đã bị chính quyền tịch thu, đúng vào giai đoạn Hoài Thanh viết cho Tràng An, gần đây nó đã được in lại). Ở mảng tư liệu này vẫn còn thiếu các bài báo Hoài Thanh đăng trên hai tờ báo ở Hà Nội, viết khi Hoài Thanh còn rất trẻ (tầm 20, 21 tuổi) là Phổ ThôngLe Peuple. Một tờ nữa (bằng tiếng Pháp) mà Hoài Thanh viết khi ở Huế cùng thời gian viết Tràng An tên là La Gazette de Hué nghe nói đang được dịch để chuẩn bị in. Các tài liệu đợt này tìm được đều nhờ công lớn của Lại Nguyên Ân.

Mấy điểm có thể rút ra ngay khi đọc các bài báo trên Tràng An: Hoài Thanh không viết nhiều về văn học, mà các mục chủ yếu 1. Miêu tả và thể hiện sự cảm thông với người dân quê 2. Phản đối các chính sách của chính quyền thực dân (mảng này chắc chắn sẽ đậm nét hơn trên La Gazette de Hué, vì như chúng ta đã biết thời đó chỉ báo tiếng Việt mới bị kiểm duyệt chứ báo tiếng Pháp không bị) 3. Thuật lại thông tin nước ngoài qua báo chí Pháp.

Không viết nhiều về văn học, nhưng đây lại chính là giai đoạn Hoài Thanh bị kéo vào cuộc tranh luận nổi tiếng "Nghệ thuật vị nghệ thuật-Nghệ thuật vị nhân sinh" (chủ yếu cãi nhau với Hải Triều và Phan Văn Hùm). Đọc xong quyển này (rất nhiều tài liệu trước đây chưa có) thì có thể thấy rõ cái tên cuộc tranh luận trên đúng là vớ vẩn, chẳng có cái gì là "nghệ thuật vị nghệ thuật" cả (Hoài Thanh chỉ viết loạt bài "Văn chương là văn chương"). Đây chính là lần đầu tiên Hoài Thanh bị lựa chọn (trước đó cái đích ngắm của các ông phê bình bên cộng sản là Thiếu Sơn, nhưng một thời gian ngắn thì Thiếu Sơn chạy mất, đành quay sang Hoài Thanh khi ấy vừa dại dột đăng một bài về Kép Tư Bền trên Tràng An: bài báo này hình như cũng là lần đầu tiên được công bố).

Loạt bài trên Tràng An cũng cho thấy rất nhiều về gu thẩm mỹ của Hoài Thanh. Nó là một cái xuyên suốt, và góp phần giải thích tại sao Thi nhân Việt Nam thiếu vắng một số nhà thơ xuất sắc, cũng như ác cảm của Hoài Thanh đối với một số người (nhất là Nguyễn Vỹ).

Đây mới chỉ là lần thứ nhất Hoài Thanh "bị lựa chọn". Sẽ còn nhiều lần nữa, nhất là sau 1945.

+ Nửa mặt trời vàng, tiểu thuyết của Chimamanda Ngozi Adichie, Nguyễn Thị Hải Hà dịch, Bách Việt & NXB Lao động. Cuốn tiểu thuyết khá dày lấy bối cảnh nội chiến Nigeria, đầu rơi máu chảy và thảm họa về sắc tộc, màu da.

Chúc mừng bác... (:)

8/8/09

Bỏ qua

Tôi sẽ cố gắng nói tới những quyển sách mà tôi biết là rất dễ bị độc giả bỏ qua. Ở Việt Nam dần dần tôi nhận ra hết sức rõ ràng, sách vớ vẩn thì nhiều người đọc và bàn luận xôn xao, sách thực sự có giá trị thì ma nó đọc. Cái đó là một fact, và xét cho cùng cũng dễ hiểu ở cái kiểu xã hội như thế này.

+ Những bài dã sử Việt của Tạ Chí Đại Trường. Đã tới quyển thứ ba của TCĐT in ở Việt Nam rồi mà gần như không được ai nhắc đến, giới sử học cũng như ngoài giới sử học. Tệ hại thật. Tôi đang nghĩ sẽ làm một cái gì đó: để một sử gia chân chính hiếm hoi như thế này rơi tõm vào sự thờ ơ thì dù mình chẳng liên quan cũng thấy xấu hổ ngượng đỏ cả mặt và một số thứ khác.

+ Biển và chim bói cá, tiểu thuyết của Bùi Ngọc Tấn. Nó không chìm lấp hẳn nhưng có vẻ như người ta rất ngại nhắc đến tên BNT. Sau Chuyện kể năm 2000 mà vẫn viết thêm được một tiểu thuyết như thế này, thực sự không hề dễ dàng.

+ Đặc biệt là tập truyện ngắn Chuyện xưa, kết đi, được chưa? của Bảo Ninh (NXB Văn học, 2009).

16 truyện trong này hẳn phần nhiều đã được in đâu đó, nhất là trên báo. Tôi cũng đã từng đọc hai trong số đó: "Bội phản" và "Cái búng". Đây cũng là tập hợp các truyện ngắn lại thành một tập, nhưng nó vẫn có một cấu trúc, và vẫn có một hơi hướng rõ rệt. Tôi không thực sự rành văn của Bảo Ninh, nhưng cái hơi Bảo Ninh thì thật là rõ; chưa bao giờ trong văn học Việt Nam có một sự day dứt kéo dài và nồng độ đậm đặc như thế. Trong tập truyện lần này, ngoài "Mắc cạn" (truyện thứ hai) cứ cố gắng viết kiểu đểu đểu, thị dân, câu cú gập lại co ra, thì 15 truyện còn lại thuần chất đến đáng ngạc nhiên. Nói thêm, sự tình thị dân (chứ không phải sự tình Hà Nội xưa cũ) rất rõ trong Lan man trong lúc kẹt xe. Cũng có thể là do có một chút chịu ảnh hưởng của kiểu văn Nguyễn Việt Hà :)

Ngay cái nhan đề chung đã rất rõ: Chuyện xưa, kết đi, được chưa? (cũng là tên một truyện, đại ý chê trách các cụ khốt suốt ngày xưa kia chúng tao chiến đấu gian khổ etc). Đó là ám ảnh, ám ảnh như một sự quán xuyến cả tập sách. Nhưng sự ám ảnh này cũng có một nét đặc biệt, nó không thể hiện trong nỗi nhớ, niềm tiếc nuối, mà lại thể hiện nhiều hơn ở sự quên. Rất nhiều nhân vật trong các truyện không thực sự nhớ mình đã như thế nào, cuộc đời xưa kia của mình ra sao. Chỉ thỉnh thoảng mới le lói một chút ký ức, và chỉ cần một hạt bụi nhỏ (nhỏ và tầm thường như một "cái búng") cũng đủ khơi dậy day dứt, day dứt trộn lẫn với sự quên, day dứt cũng chính vì đã quên những điều lẽ ra không quên.

Cả tập truyện lặp đi lặp lại một số chi tiết: lớp 10A 10B 10C, trung tâm huấn luyện lính mới Bãi Nai Hòa Bình. Tức là giống như thể Bảo Ninh bảo với quá khứ của mình: Chuyện xưa, kết đi, được chưa? Những cái chuyện xảy ra vào cái thời còn đi học, tuổi dậy thì ở bọn con trai và những ham muốn, người lính trẻ trong ký ức của một người đàn ông trung niên, thường xuyên có một sự vụ ái tình thoảng qua nào đó với một cô gái cách nay đã nhiều năm.

"Đất nước sau chiến tranh trời đất bao la tiêu điều". Cái buồn của Bảo Ninh nó không thảm, nó không bùng nổ, mà nó cứ suỗng ra.

Một kết cấu chung nữa là kết cấu của quan hệ con người: toàn bộ nhân vật trong tập truyện này đều có mối quan hệ tình cảm ở tư thế chênh và tư thế lệch: tư sản và bần nông, việt cộng và tề ngụy, lương và giáo. Cuộc đời nó cứ xộc xệch thế thôi.

+ Không muốn nói nhưng phải nói là báo Tuổi Trẻ viết điểm sách rất bực mình. Chẳng hạn như bài này: tác giả (hẳn là Trần Nhã Thụy) làm một người giả dụ chưa biết gì về Kundera hẳn sẽ nghĩ đó là một nhà văn ngộ nghĩnh, tầm thường, nông cạn và dớ dẩn. Cũng được thôi, if you think so.

+ Chuyện người tùy nữ quả đúng là nên ghi chống chỉ định cho phụ nữ mang thai hoặc nhạy cảm về tinh thần, nhưng mà đã đọc được sách trên kindle thì chắc cũng chẳng làm sao hehe.

8/5/09

Khởi sự là buồn

Hôm qua được tặng một quyển sách và một cái bút, bút thì Mont Blanc dĩ nhiên rồi còn sách thì hiểm lắm, thôi các bác đừng biết làm gì. Cái hay là nhân tiện như thế lại mượn được quyển sách của Linda Lê, Au fond de l’inconnu pour trouver du nouveau. Đoạn mào đầu như thế này:

Michel Leiris, dans Biffures, parle de l’indéniable plaisir qu’il avait à posséder des livres, satisfaction à laquelle s’ajoutait toujours une part de gêne devant les choses non lues qui tapissaient ses cloisons. Les laissés-pour-compte de nos bibliothèques gémissent, les livres de chevet sont des raretés encore à décrypter. N’empêche, nous continuons à écumer les librairies, passons le plus du temps possible à nous pénétrer des aperçus d’autrui, espérant beaucoup de ceux que René Char appelle les alliés substantiels, et tenant pour assuré que l’art est ce qu’il y a de plus réel, dès lors que nous mettons entre parenthèses notre non-croyance pour entre de plain-pied dans un monde qui s’impose avec force. Ce sont ces alliés substantiels, dont l’absence ferait souffrir, qui viennent ici toquer à la vitre de l’homo lisens afin de l’accompagner le long d’un chemin hérissé d’obstacles, s’il sait, dirait Baudelaire, plonger au fond de l’Inconnu pour trouver du nouveau.

Một đoạn văn đẹp đến ngẩn ngơ, tôi chỉ gắng gượng mà thô thiển chuyển sang như thế này:

Michel Leiris, trong Biffures, nói đến cái khoái cảm không thể chối cãi khi ông sở hữu những quyển sách, sự thỏa mãn luôn trộn lẫn với một chút nỗi phiền muộn trước những thứ chưa đọc chất đầy các vách tường nhà. Những thứ không ai đoái hoài trong các thư viện của chúng ta đang rên rỉ, những cuốn sách gối đầu giường là những của báu vẫn còn phải khám phá. Điều này cũng không ngăn cản chúng ta tiếp tục nháo nhào ở các hiệu sách, bỏ ra thật nhiều thời gian để xâm nhập những gì người khác viết ra, đặt rõ nhiều hoài vọng vào những thứ René Char gọi là các đồng minh cốt yếu, và cứ đinh ninh rằng nghệ thuật là những cái gì thực nhất, ngay khi chúng ta tạm bỏ quên cái thói vô tín ngưỡng của mình để chân trần mà bước vào một thế giới đầy sức mạnh áp đặt. Ở đây chính những đồng minh cốt yếu gây đau khổ khi vắng mặt này đến gõ vào cửa kính nhà homo lisens rồi đi cùng anh ta trên một con đường dựng đầy chướng ngại vật, nếu anh ta biết, như Baudelaire sẽ nói, chìm sâu xuống đáy cái chưa biết để tìm ra cái mới.

Lâu lắm rồi mới thấy có người nhắc tới Michel Leiris. Biffures là tập đầu trong bộ bốn tập La Règle du jeu (Luật chơi, cũng là tên một bộ phim rất nổi tiếng, của Jean Renoir thì phải), cả ba quyển kia đều có nhan đề rất kỳ cục: Fourbis, FibrillesFrêle Bruit. Hồi ấy Leiris cùng Georges Bataille và Roger Caillois là các nhân vật khủng (và khỉnh) nhất. Quả “Alliés Substantiels” chỉ biết là tên một phần trong một tập thơ của René Char, tạm dịch là “đồng minh cốt yếu”, không thì lẽ nào lại là “đồng minh bổ dưỡng” :)

Trong cuốn sách cuối cùng à quên mới nhất này, Linda Lê viết về toàn tác giả rất ít người biết, đến tôi (hehe) cũng chỉ biết tên Robert Walser, Georges Perros, từng đọc qua Márai Sándor, Bohumil Hrabal, Louis Calaferte, còn thì mù tịt về Wilcock, Felisberto Hernandez, Tommaso Landolfi hay Osamu Dazai, các “đồng minh cốt yếu” của homo lisens, nếu dám tự coi mình là homo lisens, mà tại sao lại không?

+ Vẫn hết sức recommend các bác quyển Chuyện người tùy nữ, có lẽ là tiểu thuyết xuất chúng nhất của Margaret Atwood, bản dịch (của An Lý) cũng tốt. Cái cảm giác đứng trên một thang máy lao vùn vụt mà không có vách bốn bên được miêu tả ở mức độ chính xác như khâu vá. Cũng phải là Atwood với cái khí chất ấy thì mới có chuyện có thêm chương cuối, vĩ thanh, cái hội thảo kỳ cục, người khác (như Kazuo Ishiguro, vì The Handmaid’s Tale gợi nhớ Never Let Me Go) chắc chắn sẽ cho kết thúc ở lúc Offred biến mất theo đường dây giải cứu đàn bà. Nhìn chung giới nghiên cứu thật kỳ cục :)

Tất nhiên là trong khi chờ đợi A Moveable Feast.

8/2/09

Sống để kể lại

Khi đọc Tự thú (Confessions) của Jean-Jacques Rousseau, cuốn tiểu thuyết-tự truyện đầu tiên trong lịch sử văn học, người ta nghĩ tự truyện phải được viết giống như cách của Rousseau. Khi đọc Chữ (Les Mots) của Jean-Paul Sartre, người ta lại nghĩ hẳn đó mới là lối viết tự truyện hay hơn cả. Nhưng khi đọc đến Sống để kể lại (Vivir para contarla) của G. G. Marquez, dường như tự truyện còn có một lối khác nữa, vẫn còn khả năng khác để đi theo.

Khi Marquez viết Trăm năm cô đơn vào năm 1967, ông viết cuốn tiểu thuyết của đời mình, còn khi ông viết Sống để kể lại, ông viết cuốn tiểu thuyết về đời mình. Khó nói được là giữa thế giới Macondo trong tưởng tượng của chàng thanh niên Marquez và thế giới thật, trải từ Barranquilla, Aracataca, Sucre cho đến Bogota của ông già Marquez, thế giới nào hấp dẫn hơn. Trăm năm cô đơn ghi danh đất nước Colombia vào bản đồ văn học thế giới, còn Sống để kể lại ghi tên Marquez với tư cách một con người lên lịch sử nhỏ của gia đình và lịch sử lớn của đất nước. Ngoài ra, cuốn tự truyện không hoàn toàn tách biệt khỏi hệ thống tiểu thuyết của Marquez; quả thực ông lấy con người ông ra làm đối tượng để mổ xẻ, để tìm hiểu, và cả để cười cợt, không những thế ông còn phân nhỏ cuộc đời mình thành những mảnh thời gian, nghĩa là ông vẫn trung thành thực hành cái kỹ thuật xử lý thời gian đã từng đưa ông lên hàng nhà văn lớn nhất của thế giới, chứ không hề tuyến tính như những cuốn hồi ký nhàm chán khác, lỗi lầm mà ngay nhiều nhà văn nổi tiếng cũng từng phạm phải.

Đọc tự truyện của các nhà văn lớn, có lẽ không hẳn độc giả đi tìm các chi tiết cuộc đời, mà cái thu hút hơn cả là cách ứng xử của họ với cuộc đời. Marquez cười và đùa cợt trước mọi người, mọi sự kiện của cuộc đời, từ cái tên của cô em gái, vụ ngoại tình bị ông chồng bị cắm sừng phát hiện, cho đến cuộc gặp gỡ vị tổng thống của đất nước. Nhưng đó là cái cười của một người hiểu đời, thâm thúy và cũng đầy bao dung. Đọc các tự truyện cũng hấp dẫn ở điểm chúng cho độc giả thấy cả cách nhà văn ứng xử với nghề nghiệp của mình; nói nôm na đó là thái độ của họ đối với sách vở. Cả Rousseau, rồi Sartre, và giờ đây là Marquez, đều trải qua một tuổi thơ rất giống nhau, đều là những “con nghiện” sách vở, thậm chí nhiều khi đến phát điên phát rồ vì đọc bất cứ cái gì rơi vào tay. Trước khi trở thành các nhà văn lớn, trước hết họ đã từng là các Don Quixotte mê man với những thế giới hư ảo, những thế giới khác.

Và nếu ai muốn đi tìm một quan niệm văn học của Marquez, họ cũng sẽ tìm được ở trong cuốn sách này: “Tôi đã nghĩ rằng những điều kỳ lạ mà nàng Sêhêrazat kể là có thật trong đời thường vào thời đó, và sau này không còn xảy ra nữa vì người ta không tin và cũng vì sự hèn nhát của phái hiện thực chủ nghĩa của các thế hệ tiếp theo. Cũng vì lẽ đó, tôi thấy ngày nay khó có ai lại tin rằng mình có thể ngồi trên các tấm thảm bay qua các thành phố và núi rừng, hoặc là tin có những người nô lệ bị phạt nhốt trong chai suốt hai trăm năm trừ phi tác giả của truyện ngắn đủ khả năng làm độc giả tin vào điều mình viết như vậy” (tr. 290). Giờ đây khi đã đi qua cả sự nghiệp và cả cuộc đời, có lẽ câu phát biểu này của Marquez tổng kết hàm súc hơn cả dòng văn mà ông đã góp công tạo ra và đi theo trong suốt hàng chục năm qua.

Không thể phủ nhận công lao của dịch giả Nguyễn Trung Đức trong việc giới thiệu tác phẩm của Marquez ở Việt Nam, nhưng tôi chắc rằng cho đến nay chưa tác phẩm nào của nhà văn Colombia được dịch sang tiếng Việt tốt như bản dịch Sống để kể lại. Lê Xuân Quỳnh là cử nhân văn chương Tây Ban Nha và Mỹ Latin, nhưng hơn thế nữa, ông cảm nhận được và chuyển tải được tài tình mọi sắc thái hài hước tràn ngập từng trang sách. Cũng hiếm khi nào ở Việt Nam có một bản dịch “sạch sẽ” như thế: lỗi typo rất ít, câu văn được biên tập đến từng chi tiết. Người ta có thể không đồng ý với dịch giả về một số điểm, chẳng hạn khi ông dịch từ lost generation chỉ thế hệ nhà văn Mỹ hoang mang, mất định hướng thành “thế hệ đã mất”, hoặc những khi ông dịch không thật chuẩn các đoạn Marquez viết về các nền văn học Anh hoặc Pháp, vốn không phải là sở trường của dịch giả (cụm từ phương pháp “tiểu vi lượng đồng căn” hay xuất hiện trong sách cũng không thật sự chính xác, vì “tiểu” và “vi” trên thực tế đã đồng nghĩa với nhau). Nhưng từng ấy lỗi nhỏ nhặt không thể phủ nhận sự thật rằng nhà văn Colombia đã có được sự xuất hiện toàn vẹn nhất, gây nhiều say mê nhất trong tiếng Việt qua bản dịch Sống để kể lại.

* Đọc Sống để kể lại, Gabriel Garcia Marquez, NXB TP. Hồ Chí Minh, 2004, Lê Xuân Quỳnh dịch

--------------

+ Thỉnh thoảng đọc lại những gì mình viết từ lâu cũng có ích, với tôi luôn là việc ý thức mình đã từng "peremptory" đến thế nào, vẫn còn như vậy đến thế nào. Hồi viết bài này tôi cũng chưa biết chỉ "Gabriel" là tên riêng, còn hai cái sau là họ kép của bác này.

+ Hôm nay lại xin khất chronicle, lại có một lý do :(

8/1/09

Suite

+ "Ta mới có thêm một Nguyễn Huy Thiệp. Vừa đọc xong một cái 29 trang của ông ấy tên là "Giọt máu" do Nguyễn Khải đưa, bảo đọc. Nhìn bản thảo đánh máy, lại nhìn cách chữa một vài chữ trong bản thảo rồi đọc. Chợt nghĩ: Người cầm bút này trọng chữ. Một nong thóc không to nhưng hột nào ra hột nấy, thường hột nào cũng chắc. Lại nghĩ: Người cầm bút mới xuất hiện này đã làm chú mục thiên hạ vì có một giọng điệu văn. Tôi không muốn bình phẩm sâu vào giọng điệu văn của Nguyễn Huy Thiệp (tôi có nghe Khải bàn và có góp bàn nhưng thôi, không nên cướp việc các nhà phê bình) mà chỉ muốn nói rằng: Cái nghề này, xét cho cùng nó có cái gì na ná công việc người làm hương. Cả một đời toát mồ hôi giã giã, nghiền nghiền, lại chẻ tre, phơi sương nhuộm sương, quần quật, vất vả thế mà rồi cuối cùng chỉ để nhằm mục đích thu hoạch lấy một chút mùi hương tan vào trong không khí. Mà rồi cả người mua cũng thế, cầm đồng tiền đi mua một cái gì vô hình. Vì là vô hình cho nên nó tinh vi. Có người suốt đời chỉ mua hương của một nhà hàng. Cũng như có những nhà văn người đời chỉ đọc thấy tên đã cầm lấy đọc, bất kể viết về cái gì, thể loại gì, dù đó chỉ là một bài báo.

Giọng điệu văn cũng chẳng phải là tất cả nhưng nó lại là cái ánh phản chiếu của tất cả, nó vừa là cái hiện ra bề ngoài, hiện ra một cách thường xuyên, vừa là cái kết tinh lại của tất cả mọi yếu tố làm nên một cái thể nhà văn, từ quan niệm, triết lý đến trình độ học vấn, thể trạng cơ thể, cho đến cái quan trọng nhất là tài năng."

(Di cảo Nguyễn Minh Châu, NXB Hà Nội 2009, tr. 393-394)

+ Hôm trước viết linh tinh về các bài hát Pháp, viết một lúc thì quên phéng mục đích ban đầu là giới thiệu một ban nhạc mà tôi mới biết.

Hồi ấy hỏi Manolito, à quên Marcelino :) (là người vẽ cái tranh trên bìa quyển Lần đầu tiên - của ai đố các bác :) là có gì gần đây đáng nghe không. Sau một thời gian, giờ cũng không nhớ bằng con đường lắt léo nào nữa, Marcelino gửi cho tôi đĩa nhạc Chevrotine của Holden. Quả thực là nhạc hay, nhất là bài này ("Madrid"), nghe không khác gì ma túy, như là nghe Lou Reed (ý tôi là cảm giác như ma túy chứ không định so sánh gì).

Serge Gainsbourg không phải là một người dễ nghe, thành thử nếu muốn tìm hiểu các bác nên nghe những bài hấp dẫn một chút, theo tôi có thể là bài này.