9/29/09

Thừa rồi lại thừa

+ Độ này thấy nhiều người quan tâm đến truyện ngắn. Chính tôi cũng vừa viết về một tập truyện ngắn. Nhưng nói thật thì tôi không quan tâm nhiều đến truyện ngắn. Tôi quan tâm tới văn chương của Bảo Ninh chứ không quan tâm đến truyện ngắn. Cả chục năm nay tôi không còn (gần như không) đọc truyện ngắn đăng trên báo. Nhiều lắm, nhiều vô tận, chắc là nước Mỹ và nước Việt Nam sản xuất truyện ngắn nhiều ngang ngửa với nhau. Được một lần ta (có thể) sánh vai được với nước Mỹ, mừng chưa.

Nói đến truyện ngắn lại nhớ một người, Daniel Grojnowski, tác giả cuốn sách Lire la nouvelle (Đọc truyện ngắn). Grojnowski được coi là chuyên gia về truyện ngắn, nhưng thật ra còn là chuyên gia nhiều cái nữa. Đó là một người gốc Ba Lan, một người bạn của Mme Lê Hồng Sâm. Trong Lire la nouvelle ngay mở đầu có đăng nguyên văn một truyện ngắn được cho là ngắn nhất trong lịch sử. Tác giả tên gì đó hình như có màu sắc Flamand, nghĩa là khó nhớ, còn nội dung truyện như thế này, đại ý chứ không chính xác tuyệt đối:

"Ông ấy là người lịch sự vô cùng, tới mức nhường cho bà vợ chết trước."

Nói "ngắn nhất trong lịch sử" cũng chỉ là một cách nói, nó thông báo rằng truyện ngắn có thể rất ngắn, một lời tuyên bố theo kiểu "ấn định" kiểu như "tin tôi đi, nếu tin thì sẽ có lợi đấy".

Kiểu truyện ngắn như trên có thể coi là một mô hình, đã là mô hình thì ta pastiche được, chẳng hạn như là "Vì rất căm ghét loài người nên hắn quyết định làm một vài điều tốt cho nó."

Cái dở là không tìm được chuyên gia truyện ngắn nào để ghi nhận tác phẩm vừa xong kia, chán thật.

+ Tôi không mấy để ý đến sự trông chờ một cuốn tiểu thuyết thứ hai của Bảo Ninh. Câu hỏi ở cuối bài trước của tôi là một tiến triển logic từ những gì viết ở trên đó thì đúng hơn là "gây thêm sức ép". Trong tập Chuyện xưa kết đi, được chưa? ai cũng nhìn ra nỗi ám ảnh, nhưng nhiều người nhìn ra và nói về thì điều đúng lại rất dễ trở thành điều sai :) Cái chính là ngôn từ không bao giờ đủ cả.

+ Áp lực của nói điều then chốt chưa chắc đã lớn bằng áp lực không nói điều then chốt. Với người viết lách, nhất là viết phê bình, một lần cho tất cả có thể là một lý tưởng, nhưng lại cũng có thể là một ảo tưởng, một cái bẫy tâm lý. Nhìn ra điều then chốt mà không nói là vi phạm lý tưởng, nhưng cắm đầu tìm cách không vi phạm lý tưởng lại là ảo tưởng. Đây không phải là chấp nhận sự đã rồi và sự trốn tránh, đây là đối mặt: đối mặt với tính chất mù mờ của cái bản chất. Thách thức cái bản chất, không tuân theo nó, chống lại nó đúng lúc nó không ngờ xứng đáng ngang hàng với một thách thức đã được nhiều người nói đến, nói tuyệt hay, như là Borges và nhất là Calvino: thách thức mê cung.

+ Một bài thơ tên là "Thừa" trong tập Ta thấy hình ta những miếu đền của Mai Thảo:

Một vũng trời cao đứng bóng trưa
Nhìn lên bỗng thấy nắng mây thừa
Thừa thêm ta nữa tâm tiền tiến
Mà khối đau buồn rất cổ xưa

9/27/09

Làm thế nào để sống

Không biết có phải nhà văn Bảo Ninh bị rơi vào một nông nỗi bồng bột (hay bí bách cảm hứng, hay cơ chế của ký ức của ông bị “mắc cạn” ở một điểm nào đó) mà ông lại đặt tên tập truyện ngắn mới nhất của mình là “Chuyện xưa kết đi, được chưa?” gồm 14 truyện, NXB Văn học ấn hành.

Từ đầu đến cuối cái câu hỏi đặt lên bìa sách này hóa ra lại là một câu hỏi tu từ. Bởi vì người viết ra các truyện ngắn ấy không thực sự tìm cách quên, và cũng còn bởi vì không còn gì để quên nữa cả. Những gì quên được thì đã quên mất rồi (nhiều nhân vật trong tập truyện này thực sự bị rơi vào trạng thái quên, như các nhân vật của truyện “Gọi con” phải lần hồi ráp nối ký ức mới “tìm lại được” một người thân trong gia đình). Những gì để quên đã được viết ra hoặc không cần được viết ra thì cũng tan biến, nhưng còn lại ở tập “Chuyện xưa kết đi, được chưa?” thì toàn điều không thể quên, cũng không thể kết.

Nếu chỉ tập trung vào truyện được lấy làm nhan đề chung cho cả tập, “Chuyện xưa kết đi, được chưa?”, và bị chi phối quá nhiều bởi câu hỏi khó nói được là chính xác cho tập truyện này, hẳn cái nhìn của người đọc sẽ phần nào bị thiên lệch đi: chỉ trong thời điểm hiếm hoi của truyện ngắn ấy Bảo Ninh mới viết về chiến tranh ở tư thế có liên hệ trực tiếp về ký ức với người đang sống hiện nay.

Còn ở phần lớn các truyện ngắn khác, chiến tranh không phải đối tượng chính, thậm chí không phải bối cảnh cơ bản. Cũng như trong “Nỗi buồn chiến tranh”, có các phần trước cuộc chiến đặc biệt quan trọng đối với cốt truyện chung cũng như tiến triển tâm lý các nhân vật, ở đây lại thêm một lần nữa người lính chiến Bảo Ninh không lấy chiến tranh làm trọng tâm cho tác phẩm của mình. Ở nhiều truyện của tập, nhất là những truyện đầu, chiến tranh chỉ giống như là một tiếng vọng; nhân vật của Bảo Ninh ở tập truyện này thuộc vào dạng nhân-vật-tiền-chiến-tranh: họ có thể được “nắm bắt” ở khoảnh khắc chuẩn bị cho cuộc chiến, nhưng họ cũng có thể chuẩn bị để trốn tránh khỏi cuộc chiến. “Nó sẽ đến”, nhưng nó sẽ đến theo cách vuột qua, sát bên cạnh; sự chờ đợi chính vì vậy giống như là một “nhân vật” quan trọng của cả tập.

Những kỷ niệm thuộc loại này (về thời đi học, về sơ tán, tình cảm đầu đời…) không phải là những kỷ niệm gây nên chấn thương tâm lý, nỗi ám ảnh, gọi tắt là nỗi đau, căn bệnh của chiến tranh. Bởi vậy mà thật đáng ngạc nhiên khi Bảo Ninh xếp tất cả các truyện ngắn ở đây vào dưới cùng một cái tên chung là một câu hỏi (tu từ, như đã nói): “Chuyện xưa kết đi, được chưa?” Những câu chuyện này đơn giản là không kết đi được, cũng không quên đi được - nếu quên thì tức là ký ức sẽ có những lỗ thủng nghiêm trọng không thể cứu chữa.

Cứ như thể trí nhớ của Bảo Ninh ở lần này đã vượt qua khoảng trống bao la là cuộc chiến tranh, vòng tránh nó, coi nó như không tồn tại để nhớ và viết về “rìa bên kia của ký ức”, những cuốn “sách cấm” truyền nhau trong ngăn bàn, những cuộc đạp xe chở bạn gái đi chơi (“Cái búng”), những cô bạn Thủy, Hiền, Giang, Loan… rồi các tình huống nhỏ bé tưởng chừng vô nghĩa nhưng làm thay đổi cuộc đời cả một con người (như trong “Mối ngờ”, “Thách đấu”), nơi sự hèn nhát lấn lướt lòng can đảm và dư vị ngậm ngùi là điều còn lại sau khi theo dõi mỗi thân phận. Tình cảm đầu đời ở các cô bé cậu bé học sinh cấp III (và đều lỡ dở) đều được Bảo Ninh miêu tả trong một cảm giác xộc xệch rất đặc trưng: nhân vật có xuất thân lý lịch khác nhau, nhân vật từ thành phố về nông thôn sơ tán, nhân vật có nguồn gốc tôn giáo lệch với nhau… Cảm giác buồn bã buông phủ lên cả tập truyện ngắn, điểm xuyết thêm bởi những câu văn chiêm nghiệm như “Thành phố chiến tranh, như bên bờ vực” hay “Đất nước sau chiến tranh trời đất bao la tiêu điều”.

Đó là những điều chừng nào còn sống, người ta còn chưa “kết” được: ký ức ở tập truyện ngắn của Bảo Ninh là ký ức ở dạng kết tinh, không thu nhỏ hơn được nữa. Đã viết xong một tập truyện về rìa bên này của ký ức (“Lan man trong lúc kẹt xe”) và lần này là về rìa bên kia, không biết lúc nào Bảo Ninh sẽ “kết” những bên lề để quay trở lại ký ức chính của ông?

Nhị Linh

+ Nghe nói NXB Văn học vẫn chồng chất quyển truyện này vì không bán được.

9/24/09

Châm ngôn của một ngày có thể

Ông Alain Rey ở mục định kỳ viết cho tờ Magazine Littéraire cách đây vài năm có một lần phàn nàn về việc các nhà sản xuất thuốc lá ở Pháp in lên bao thuốc lá dòng chữ (theo luật định) "Fumer tue" (đúng kiểu cấu trúc câu khó dịch đến hai lần: fumer là hút thuốc (lá) còn tue là chia từ động từ tuer nghĩa là giết, ý câu này là (cái việc) hút thuốc (lá) giết (người)); nếu tôi nhớ không nhầm thì ông Rey (đại gia về từ ngữ) nói fumer thì không giết được ai cả, mà phải dùng từ s'enfumer, nghĩa là hút khói vào người, như thế mới là hành động gây chết người.

Trên bao thuốc lá Việt Nam phải ghi: Hút thuốc lá có thể gây ung thư phổi

Trên yên cái xe máy phải ghi: Đi xe máy có thể gây vỡ sụn mông

Trên vô lăng xe ôtô phải ghi: Đi ôtô có thể chẹt chết bốn mươi lăm con vịt

Trên nhà cao tầng phải ghi: Nhà cao tầng có thể ném bã mía qua cửa sổ, và nhà cao tầng có thể gây ngủng ngoẳng đầu gối

Trên mông đứa trẻ sơ sinh phải ghi: Sống có thể gây chết

Trên châm ngôn phải ghi: Ngắn gọn có thể gây hóc xương gà

Trên bút hoặc bàn phím phải ghi: Viết có thể gây bệnh mắt lác, và viết có thể gây ra mùi vị kinh khiếp

Trên bia mộ phải ghi: Chết có thể gây ra sự đầu thai

Trên cái đèn phải ghi: Ánh sáng có thể gây đứt dây tóc

Trên nỗi buồn chán phải ghi: Chán nản có thể gây hứng thú cách mạng

Trên quyển sách phải ghi: Đọc có thể gây rối loạn cơ quan thần kinh chức năng trung ương, hoặc là tuyến tiền liệt

và và và

Trên giọt mưa phải ghi: Mưa rơi có thể không cần phiên dịch, và có thể không

9/22/09

Gặt

Tối hôm qua đến giờ uống sữa và nghe Đô Rê Mi tự dưng tôi thấy bâng khuâng :)

Nghĩ là mình tươi tắn mãi rồi bây giờ cũng phải mốc đi một cái. Ý tôi là làm một cái điểm mốc cho nó vui và để make clear (dịch là “làm rõ” kẻo lại bị mấy bác mắng) tâm trí, chứ không phải người tôi bị mốc xanh mốc đỏ rồi phải đem ra ngoài trời phơi nắng, như khối bác đang nghĩ (tôi biết thừa, biết quá thừa luôn), hay khối bác đã từng bị.

Đợi cho quyển này in xong (lẽ ra phải xong rồi đấy; tôi cũng thích cái bìa trước hơn nhưng không vote được cho nó được chọn, chứ tên sách có “cuốn sách mở” thì bìa lại có hình cuốn sách mở là chân thực quá hehe) thì coi như là gặt xong một vụ. Vụ này gieo cấy cứ cho là trong vòng trên dưới hai năm vừa qua. Coi như là xong một vụ để còn gieo cấy tiếp xen canh cây trồng mở rộng canh tác bón phân tưới nước giải (Tía em là một người nông dân/Má em là một người nông dân/Cuộc sống trên đồng bao la).

Tôi không hề có ý định giấu là mình trồng cây còn sai lầm hỏng hóc nhiều lắm (nhiều cái cũng chưa làm được cũng như để khá nhiều người phải chờ đợi) và lúc nào cũng xác định tư tưởng sống là chiến đấu, có ai bảo mình sai nếu sai thật thì nhận và sửa, mình lại đúng thì hoặc cãi lại hoặc im luôn cho xong, nếu ở giữa sai và đúng thì hoặc tranh đấu tới cùng hoặc chuồn đi hỏi (không biết thì hỏi tự ti làm gì), chứ nhất định không hì hục chày cối nát hết cả gạo và nhất định không tự dưng lại đi nhận là mình sai :)

Tôi cũng không định đang yên đang lành lại đi cảm ơn lung tung cả lên như bác Goldmund ai lại thế hehe, nhất là với ý đồ xấu. Nhưng mới học được bên chỗ bác Hòa Thượng rằng hạnh phúc nằm ở đường đi chứ không phải đích đến (cái này thì nhiều người nói lắm rồi nhưng có thêm toán học vào nó cứ xạ ảnh lung linh hết cả lên) thành thử đến mùa gặt cũng muốn cảm ơn rất nhiều người đã hợp tác, làm cùng, chỉ giáo, chửi rủa etc. Chẳng hạn như quyển Lévai nói ở trên là phải cảm ơn rất nhiều mấy bác Hung Gia Lợi.

Cuối cùng chúc các bác hưởng thụ lành mạnh và không nên lợi dụng tình thân mà gợi ý lộ liễu như bác này, bác này hay bác này. Ở đây tôi chỉ nêu tên mấy bác nhà giàu thôi chứ các bác không giàu (bằng mấy bác này) thì cũng nên lợi dụng tình thân tội gì phải không ạ :) Mấy cái bác kia vừa phải thôi nhá, chứ trong loạt title 3 chữ của tháng này vẫn còn “Bòn” hay “Hút” chưa sử dụng đâu, báo trước cho các bác biết mà đề phòng hehe.

Cuối cùng bâng khuâng bonus các bác thêm cái này (không liên quan gì đâu, tất nhiên).

9/19/09

Vấn

Tôi quên chưa nói phỏng vấn là một thể loại, và cũng là một nghệ thuật :) Chừng nào thì nó (phỏng vấn, và, đặc thù hơn, phỏng vấn nhà văn) được coi là như vậy? Chắc có liên quan tới tập phỏng vấn của Jules Huret in năm 1891 với nhan đề chung Enquête sur l’évolution littéraire (Điều tra về tiến triển của văn học), có thể đọc toàn văn trên gallica tức là trang online của Thư viện Quốc gia Pháp (BNF). Cách đây vài năm giới đại học Pháp có cả một trào lưu nghiên cứu tập sách này.

Ở Việt Nam từng có hai tập phỏng vấn nhà văn nổi tiếng, một trước 1945 của Lê Thanh, một trước 1975 của Ngiễn Ngu Í; tiếc thật lần đọc quyển sách của NNI tôi không để ý lưu lại một bản nên đến nay chẳng nhớ rõ là có các nhân vật nào nữa, nhan đề của nó hình như là Sống và viết với…

Ngày nay thật chẳng có nhà văn Việt Nam nào trả lời phỏng vấn hay cả. Người duy nhất giữ được bí quyết trả lời phỏng vấn có lẽ là Tô Hoài :)

Còn đây là mấy câu trong bài Claudio Magris trả lời phỏng vấn Gérard de Cortanze, Magazine Littéraire số tháng Ba năm nay (người của ML vừa sang Việt Nam, chính là người lần trước tôi từng viết e-mail phàn nàn về việc ML thay đổi chán chết và đã không trả lời hehe). Tiêu đề bài phỏng vấn là “La littérature possède une dimension morale” (Văn chương có một kích thước đạo đức), nhân dịp ra mắt bản dịch một tác phẩm ngắn của Magris chủ đề huyền thoại Orphée; ở Việt Nam đã có bản dịch Không tưởng và thức tỉnh của Vũ Ngọc Thăng (cũng là người dịch Nam tước trên cây của Italo Calvino).

+ Tại sao ký ức có vị trí quan trọng như vậy trong tác phẩm của ông?

Ở tôi ký ức không gắn với một cảm giác về hoài nhớ, và chỉ có rất ít liên quan tới quá khứ. Đúng hơn là nó diễn tả tất cả những gì đã xảy ra, sự hiện diện của tất cả những gì với tôi có giá trị. Những người bạn đã quá cố của tôi đều vẫn luôn ở đó, vẫn ngồi ở hàng hiên quán cà phê ấy, chúng tôi cứ tiếp tục các câu chuyện sôi nổi và đối nghịch nhau chan chát. Ký ức giống như một cái cây đã bị chặt. Vết cắt trên thân cây kể lại câu chuyện của nó. […] Ta có thể lấy ngón tay chạm vào một kỷ niệm nào đó, một khoảnh khắc lịch sử nào đó. Ký ức là một bổn phận: nó cho phép không lãng quên các nạn nhân của bạo lực. Nhưng nó cũng có khía cạnh u tối của mình, khi bị ám ảnh bởi nỗi thù hận […]

+ Du hành có các điểm chung với văn chương không?

Việc viết, văn chương, phong cách luôn là một cuộc du hành. Viết, vốn không chỉ là một sự truyền đạt, thực hiện một chuyển dịch sự vật. Khi viết, tôi cảm nhận một cách thực thể, tôi khám phá một thế giới khác, tôi vượt một cái ngưỡng, tôi đi ngang qua. Theo định nghĩa, viết có nghĩa là đi qua bên kia bức tường. Khi viết xong một cuốn sách, tôi gần như không viết thêm gì nữa trong suốt một khoảng thời gian khá dài. Bởi vì khi ấy tôi cảm thấy nhu cầu rất lớn được nghỉ ngơi, quên đi hiểm nguy của sự viết.

+ Văn chương có phải là một luân lý không?

Không một kiệt tác nào cho phép thiếu vắng luân lý. Không phải bởi vì đã viết ra được Hài kịch thần thánh hay Hamlet mà tôi được quyền thiếu trung thực. Tôi ghét cái đạo đức quý tộc theo đó, như Milozs từng nói, chấp nhận các nhà thơ có một “trái tim lạnh lẽo”. Chắc chắn là văn chương không có bổn phận luân lý và tự nó phải tái hiện cuộc đời mà không cần để tâm tới mục đích sư phạm hay lo lắng đến các hậu quả. Nhưng chúng ta cũng biết rằng mặt trời chiếu xuống các đao phủ ở Auschwitz nhiều bằng xuống những nạn nhân của nó. Văn chương có bổn phận đặt chúng ta đối diện với con Méduse của cuộc đời, trên đầu là con rắn của mụ ta - chúng ta những kẻ chỉ muốn mặt trời chiếu sáng cho các nạn nhân. Ta không thể nào bắt Méduse đi cắt tóc được! Đó chính là cái phần tối tăm mà Ernesto Sábato từng nói đến khi ông bảo các sự thật sâu kín của nhà văn đôi khi hiện ra trong những cuốn sách có nhiều tính chất đêm nhất. Văn chương có một kích thước đạo đức khó tưởng tưởng nổi, bởi vì, dù không rao giảng gì cả, nó cho phép ta chỉ tận tay vào những gì có thể diễn đạt tốt hay xấu, chung thủy hay không chung thủy, trung thành hay phản bội […]

+ Một trong các tác phẩm của ông tên là Không tưởng và thức tỉnh [Utopie et désenchantement]. Ông có nghĩ rằng hai khái niệm này chiếm một vị trí đặc biệt trong các giai đoạn khủng hoảng?

Thức tỉnh và không tưởng không đối lập với nhau, mà bổ sung cho nhau. Không tưởng, với việc cho rằng mình sở hữu một công thức cho phép chạm được vào hạnh phúc, thường chỉ dẫn tới một xã hội toàn trị. Ngược lại, thức tỉnh là một điều gì đó rất tích cực [Magris nói như vậy bởi vì désenchantement hay disincanto trong tiếng Ý có hình thức negative: cũng không hoàn toàn là “thức tỉnh” như nghĩa chúng ta hiểu], bởi nó nhắc nhở chúng ta rằng mọi dự đồ đều phải liên tục được sửa chữa, xem lại, rằng không có công thức tất định nào, rằng sẽ luôn có các thất bại […]

+ chắc các bác đã bắt đầu thấy mệt mỏi với kiểu đặt title cắc bụp rồi đấy nhỉ hehe, thôi bonus một phát nhé

9/13/09

Sốt

Nếu đang sống ở Hà Nội, nguy cơ bị sốt xuất huyết của bạn là rất cao. Hà Nội bây giờ bẩn như Sài Gòn. Tôi bị mấy hôm vừa rồi, đến hôm nay mới giảm sốt một chút. Phiền một cái là sốt, sốt virus, sốt xuất huyết, H1N1 cứ hao hao giống nhau nên vớ vẩn là chẩn đoán nhầm, nhất là nếu tự chẩn đoán ở nhà thì dễ nhầm lắm. Thêm nữa là đồng bào ta cứ sốt là truyền nước, tự truyền luôn, hoặc mời y tá gần nhà đến truyền. Hôm qua tôi đi khám bác sĩ, thấy mặt bác sĩ tái mét nói vừa gặp trường hợp bệnh nhân hết xuất huyết rồi nhưng lại phải nhập viện khẩn cấp. Vì bị tràn dịch màng phổi. "Ba lít nước trong phổi", bác sĩ phập phồng. "May không chết".

Trước hết là con muỗi. Muỗi sốt xuất huyết cực kỳ khôn, chứ không lờ đờ như mấy con Apache, nó lại còn có lựa chọn mỗi khi săn mồi. Tôi còn không biết bị con điên đó đốt lúc nào nữa, nói thế để biết nó biệt kích ra làm sao, bây giờ mà bắt được nó tôi thề rút cái kim ra khỏi đít nó rồi đem bêu riếu. Nhưng con muỗi mới chỉ là phụ thôi, ghê chưa. Cái con mà con muỗi chuyên chở mới ác. Năm nay nó biến chứng ác liệt lắm, hôm trước tôi nghe một cô y tá nói: "cái con a virus sốt a xuất huyết a nó là một cái con a rất là tởm lợm a". Giới y tế mà còn phải nói thế thì các bác biết rồi đấy.

Gớm nhất khi bị sốt xuất huyết là đầu đau kinh khủng giống như liên tục có mấy chục con châu chấu béo múp nằm trên đầu thi nhau giật tóc, người thì đau hết chịu nổi, y như có hai hàng mỗi hàng 8 con bọ quờ qua quờ lại, mà lại theo đủ các hướng khác nhau. Và phải uống nhiều nước lắm (uống nhiều thì phải tè nhiều). Nhiếu đến mức tôi nghĩ sau đây khi đã khỏi tôi sẽ nghỉ uống nước một thời gian dài dài. Bây giờ bớt sốt rồi nhưng tiểu cầu trong máu vẫn tiếp tục down, cái đó đáng lo hơn cả, và trong đơn thuốc bác sĩ cũng ghi rõ: "Đau đầu nhiều, nôn, ý thức lơ mơ thì phải nhập viện ngay". Bác nào thấy tôi có ý thức lơ mơ ở chỗ nào bên trên thì bảo hộ nhé.

9/8/09

Hồi

Tại sao tôi lại cho bài trả lời phỏng vấn lên blog của tôi, nơi bình thường không chứa chấp những cái tương tự? Dĩ nhiên là bởi vì tôi muốn một số người đọc nó (tờ tạp chí đăng bài này không online). Một trong những người đó là Mr. Tin Văn. Không phải phách lối, tôi đã biết trước Mr. TV sẽ phản ứng, và tôi cũng biết chắc Mr. TV sẽ dùng một món mới thửa được, món "văn chương vô hại".

Vài đoạn trên TV:

"Theo tôi, không thể lấy cái sự được yêu thích ngang nhau giữa hai ông nhà văn Garcia Marquez và Kundera mà so sánh, như trên được, mà phải đặt câu hỏi, và sự trả lời, như sau đây, thí dụ:

Liệu có sự giống nhau, về chủ đề nào đó, khiến cả hai ông đều được độc giả Mít hồ hởi đón nhận?

Từ đó, ra câu trả lời:

Kundera, từ lò Đông Âu.

Garcia Marquez, từ thế giới thứ ba, thứ thế giới chỉ được "thực hiện có một nửa", nói theo Salman Rushdie:

Ở Mỹ Châu La Tinh, thực tại biến dạng do chính trị nhiều hơn là do văn hóa. Sự thực được bưng bít đến nỗi không còn biết đâu là sự thực. Cuối cùng chỉ còn một sự thực độc nhất, đó là lúc nào người ta cũng nói dối. Những tác phẩm của Garcia Marquez không có tương quan trực tiếp tới chính trị, nhưng chúng đề cập tới những vấn đề đại chúng bằng những ẩn dụ. Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo là một khai triển chiết ra từ chủ nghĩa siêu thực; một chủ nghĩa siêu thực diễn tả lương tâm đích thực của Thế Giới Thứ Ba, tức là của những xã hội được tạo thành "có một nửa", trong đó, cái cũ có vẻ như không thực chống lại cái mới làm người ta sợ, trong đó sự tham nhũng, thối nát "công cộng" của đám cầm quyền và nỗi khiếp sợ "riêng tư" của từng người dân, tất cả đều trở thành hiển nhiên. Trong thế giới tiểu thuyết của Garcia Marquez, những điều vô lý, những chuyện không thể xẩy ra, đều xẩy ra hoài hoài, ngay giữa ban ngày ban mặt. Thật hết sức lầm lẫn, nếu coi vũ trụ văn chương của ông là một hệ thống bịa đặt, khép kín. Nó không được viết ở trên mảnh đất nào khác mà chính là mảnh đất chúng ta đang sống. Macondo có thực. Và đó tính nhiệm mầu của ông."

"Có thể, độc giả Việt Nam đọc xã hội hiện tại Việt Nam, qua kinh nghiệm, cách viết của hai nhà văn trên. do đó mà có sự sùng bái, best seller, hai ông này chăng?

Hỏi và trả lời, kiểu 'cò mồi', trên đây, giữa tay phóng viên và địch giả NL, là, hoặc lệch ra ngoài nguyên tác, [biến hai tác giả trên, trở thành "vô hại"], hoặc, theo kiểu ẩn dụ của Rushdie, hoặc, theo chủ trương của nhà nước: Biến mọi tác phẩm "nhậy cảm" thành "lãnh cảm"."

""Mặt trời chân lý chiếu qua tim". (Tố Hữu). Tính chất trữ tình không thể thiếu, trong thế giới toàn trị (totalitarian world): Tự thân, thế giới đó không là ngục tù, gulag. Nó là ngục tù, khi trên tường nhà giam dán đầy thơ và mọi người nhẩy múa trước những bài thơ đó, (Kundera, sđd).

Câu này, có thể áp dụng cho những bài viết của NL: Chúng được dán lên đầy các tờ báo hàng ngày hàng tuần, như TTVH, SGTT… và dân Mít tự hào đọc nó, cảm thấy mình cũng trí thức [trữ tình] như ai, và quên đi số phần của mình."

------------

Tôi copy lại mấy đoạn trên đây, không phải vì sợ Mr. TV xóa mất, mà vì trang TV có cấu trúc rất lộn xộn, khi cần muốn tìm cái gì đó coi như là mò kim đáy bể.

Tôi khá quen với cách suy nghĩ của Mr. TV nên không lấy làm lạ về những gì ông viết trên đây. Tôi không có ý định "trả lời" từng ý một (trả lời về cái sự trả lời về trả lời, xét cho cùng là rất rối rắm và không thể nói là không vô vị). Tuy nhiên, cách Mr. TV áp "văn chương vô hại" vào lung tung mọi nơi tôi thấy chẳng hay ho gì. Một nhà văn đúng nghĩa không bao giờ là "vô hại" với một người đọc đúng nghĩa. Với tôi điều đó không có gì phải bàn cãi, và giữa việc đưa tác phẩm một nhà văn không vô hại đến công chúng tiếng Việt và việc giảng giải ông ta không vô hại ở chỗ nào để mà bắt người ta tin như vậy, tôi chọn cách thứ nhất. Ai chọn cách thứ hai thì tùy, nhưng ai không hiểu được điều tôi vừa nói cũng là "vô hại", tôi nghĩ thế.

Tôi lấy làm choáng ngợp trước hiện tượng các nhà văn, nhà trí thức, nhà chính trị của Việt Nam khi chuẩn bị hậu sự bỗng dưng đóng góp nhiều thế, sắc sảo thế, ưu thời mẫn thế thế. Còn trước đây thì các ông làm gì? Almost nothing. Chuyến tàu vét đi vào lịch sử bỗng thành chuyến tàu của Ấn Độ, người người chen lấn lên tận nóc tàu. Hai câu này chi phối hành động của các vị hơi nhiều, hoặc là quá nhiều: "Cuốn sổ bình sinh công với tội" và "Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà". Tất nhiên không ai chọn phe nước lèo, tất tật đều về phe công chính (Những người công chính, mượn đỡ Jean-Paul Sartre).

Tôi cũng nghĩ rằng bất kỳ ai có chút ý thức đều hiểu có nhiều thứ thật là thảm (từ "thảm" này mượn của chính Mr. TV). Có điều đừng cố bắt người khác phải nghĩ giống mình về cái gì là thảm nhất. Với tôi, thảm nhất là ở Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác người ta chẳng có gì tốt đẹp để truyền lại cho nhau.

Giữa làm ra cái để rồi bị chửi là ngu với chửi là ngu những gì mình không động tay vào, tôi chọn cách thứ nhất.

Cuối cùng, chúc sức khỏe và, để mượn lời Trần Trọng Vũ, chúc sống lâu.

9/6/09

Đáp

+ Tôi trả lời phỏng vấn anh Nguyễn Trương Quý, cho một tờ tạp chí trong Sài Gòn

Kundera là nhà văn có ý thức sâu sắc về lối viết và được hâm mộ từ lâu trên thế giới. Là người đã dịch một số tác phẩm của Milan Kundera, đến cuốn mới in ở VN là Những mối tình nực cười, anh đánh giá thế nào về ảnh hưởng của Kundera với đời sống viết lách VN?

Một mặt, tôi nhận thấy cái tên Milan Kundera được nhiều nhà văn nhắc tới. Nếu như đó là dấu hiệu của ảnh hưởng thì chắc chắn Kundera có ảnh hưởng không nhỏ ở Việt Nam, theo tôi là ngang với Garcia Márquez, mặc dù Kundera và Garcia Márquez rất khác nhau: nếu một người là biểu tượng của tư duy phân tích lạnh lùng, thậm chí ác độc thì người kia hay được coi là một bậc thầy phóng túng và nồng nhiệt, đầy nhân tính. Ở một số nhà văn lớn tuổi có yếu tố “phản tỉnh” như Nguyễn Khải hay Nguyên Ngọc dấu ấn của Kundera là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, cũng phải nhấn mạnh rằng một nhà văn chỉ thực sự lớn khi không ai có thể bắt chước được.

Mặt khác, nếu nói trung thực thì tôi thất vọng với sự tiếp nhận Kundera ở Việt Nam. Không phải ở chỗ Kundera có ít người Việt Nam đọc, mà là vì việc đọc Kundera dẫn tới hai thái cực: hoặc là người ta sùng kính Kundera đến mức cuồng tín, hoặc là người ta hời hợt đến mức giống như nói mình đọc Kundera để không bị mang tiếng là “đi sau trào lưu”. Cuồng tín dẫn tới lố bịch, còn hời hợt là con đường đi thẳng tới “kitsch”, cả hai đều là đích ngắm lớn của Kundera trong suốt đời viết văn. Khi gặp phải những trường hợp ấy, tôi thấy rất tiếc, tiếc cho Kundera ít hơn là tiếc cho độc giả của ông.

Theo tôi, cái làm cho Kundera trở nên khác biệt và nổi bật nằm ở đặc điểm: ông là người tỉnh táo. Nếu muốn tiếp thu tinh thần Kundera thì có lẽ đó là điều quan trọng hơn cả. Nội dung và hình thức tất nhiên không thể phân biệt rạch ròi, nhưng sau một thời gian dài tiếp cận đủ các tác phẩm của Kundera theo hướng phân tích “chiến lược văn bản Kundera”, tôi nghĩ rằng văn phong không phải mặt mạnh của ông, mà tài năng của ông chủ yếu nằm ở ý tưởng, cách nhìn và khả năng phân tích, dẫn dắt, thậm chí thao túng tâm trí người đọc. Đọc Kundera cũng cần đặc biệt tỉnh táo.


Đọc Những mối tình nực cười, tôi thấy có những khía cạnh cười cợt trào lộng tưng tửng như truyện cổ châu Âu kiểu Andersen, Grimm hay Perrault. Không có khía cạnh chiến thắng hả hê kiểu Thiện-Ác phân minh hay đòi công lý sát sạt, mà những con người nạn nhân ở đây cũng không đau buồn quá mức trong bối cảnh những tình huống có tính ngụ ngôn. Liệu đấy có phải là ảnh hưởng của một vùng địa-văn hóa chịu ảnh hưởng qua lại của các thuyết triết học vốn cung cấp cho con người một thái độ cởi mở mà hiện sinh?

Người đọc tinh ý hẳn sẽ nhận ra trong Những mối tình nực cười có một độ chênh nhất định. Hai truyện đầu (“Sẽ không ai cười” và “Quả táo vàng của ham muốn vĩnh cửu”) rất giống với giọng văn Đông Âu mà người đọc Việt Nam đã quá quen, nói chính xác là Đông Âu xã hội chủ nghĩa, với những tình huống trái khoáy “vừa phải”. Năm truyện còn lại khác hẳn, và đó mới là Kundera nhà văn lớn mà chúng ta vẫn được thưởng thức. Cách lựa chọn và sắp xếp của tập truyện hẳn có nhiều phần bắt nguồn từ ý đồ xây dựng cấu trúc và niềm ham mê con số 7 của Kundera. Tuy nhiên, giới phê bình thế giới đều nhất trí coi tập truyện ngắn này có giá trị ngang bằng mọi tiểu thuyết khác của Kundera, và điều đó rất chính xác, nhất là khi đọc những truyện như “Chơi trò xin đi nhờ xe” hay “Edouard và Chúa”, hai kiệt tác nho nhỏ.

Độ chênh đó cũng là một điều đáng lưu tâm: có một Kundera Đông Âu, có một Kundera Tây Âu, nhưng còn có thêm một Kundera nữa, và đây mới là nhân vật đáng nói nhất: Kundera không Đông Âu cũng không Tây Âu, một con người vừa ở giữa vừa không thuộc về đâu, một người châu Âu thực thụ với đầy đủ những phẩm chất tiêu biểu nhất, và cũng không phải là một người châu Âu đơn giản.


Nói về Kundera, ông được xem như thuộc về dòng văn học (hay văn hóa) nào, Séc hay là Pháp? Slavic hay Latin? Anh đã dịch những tác phẩm văn học Pháp do những tác giả Pháp viết khác thì có sự khác biệt nào với Kundera không?

Như trên đã nói, xác định Kundera thuộc về đâu là một việc rất không đơn giản, và theo tôi còn không mấy ý nghĩa. Kundera chế nhạo (chế nhạo vốn là sở trường của ông) tính cách Séc, nhưng ông cũng chế nhạo cung cách Pháp, ông bỏ đất nước Séc nhưng cũng không mấy thoải mái khi ở Pháp (rất nhiều năm nay Kundera từ chối trả lời phỏng vấn báo chí Pháp và có lần thậm chí còn cho xuất bản sách của mình tại các nước khác trước khi in ở Pháp, dù ông viết bằng tiếng Pháp). Cách viết của Kundera cũng không giống nhà văn Pháp nào khác. Cũng không dễ tìm được một tương đồng nào ngoài cái vòng Séc-Pháp ấy. Tôi thích coi Kundera là một nhà văn thường trực hướng tới cái phổ quát, một con người quá sáng suốt thành thử không thể thực sự thoải mái ở đâu, trong một đường biên giới cụ thể nào. Tôi cũng thích coi Kundera là một nhà văn thiên tài trong việc lật mặt nạ: mặt nạ của con người và cả mặt nạ văn hóa, người ngay tức khắc nhìn ra sự xấu xa của chế độ toàn trị nhưng cũng không tốn nhiều thời gian để hiểu các khiếm khuyết của xã hội dân chủ. Một người như vậy, nếu bạn hiểu điều này, không có nơi nào để thuộc về. Cảm giác này sẽ càng rõ hơn khi đọc tiểu thuyết gần đây nhất của ông mang tên L’Ignorance.


Mặc dù có những giá trị phổ quát, nhưng ở VN, tôi cảm giác sách của Kundera vẫn chỉ hợp với một số ít những người đọc thành thị như Hà Nội, những người có “điệu tâm hồn” hợp với các nhân vật của ông - những trí thức lỡ nhịp. Vắt sang chuyện phê bình, có gì khác biệt giữa cách cảm thụ cũng như đánh giá Kundera giữa người phê bình/người đọc châu Âu với người Việt không?

Giới phê bình đã viết rất nhiều về Kundera, và cũng có rất nhiều điều khác nhau được viết ra (điều này cũng là bình thường). Trong khi các nhà phê bình châu Âu quan tâm tới mặt triết học trong tư tưởng Kundera cũng như cách tiến hành công việc viết văn, mối liên hệ giữa ông và các nhà văn khác, thì tôi cũng đã từng đọc vài chuyên luận của giới nghiên cứu Mỹ chỉ tập trung phê phán cách nhìn phụ nữ không được trân trọng cho lắm của ông, và quan điểm khó xác định của ông về tôn giáo. Điểm thứ hai này bạn đọc Việt Nam có thể hiểu được nếu đọc tiểu thuyết Điệu valse giã từ, nơi trái với đạo đức Thiên chúa giáo thông thường, kẻ gây tội ác giết người lại không phải chịu trừng phạt, thậm chí còn không sám hối, một thứ âm bản kỳ dị và vô cùng phá cách của Tội ác và hình phạt. Đây cũng là tác phẩm tôi thích nhất của Kundera.

Quả thực nhân vật người trí thức không mấy được ưu ái trong tác phẩm của Kundera. Thường xuyên có chuyện trí thức phải đi lau cửa kính hay tự lố bịch hóa trong một cuộc hội thảo khoa học ở các tiểu thuyết của ông. Còn lại, việc cách viết của Kundera hướng tới sự phổ quát không đồng nghĩa với việc những điều phổ quát ấy là phổ quát như nhau với mọi người. Tôi tin rằng người đọc Việt Nam cần có cái nhìn phê phán lớn hơn nữa ngay cả trong tiếp nhận các kiệt tác văn chương thế giới.


Gần đây, có thể thấy dòng văn học Trung-Đông Âu được giới thiệu lại và dịch khá rầm rộ ở VN, từ Cô đơn trên mạng, Xin cạch đàn ông (Ba Lan), Những ngọn nến cháy tàn (Hungary), Tình ơi là tình, Cô giáo dương cầm (Áo)… Bối cảnh của Kundera cũng là từ nước Tiệp Khắc những năm Chiến tranh Lạnh. Người đọc băn khoăn là, cái chân dung xã hội Tiệp Khắc hay là Séc đó có phản ánh trung thực không? Vì một nhà văn khác, Cao Hành Kiện, dù được giải Nobel, nhưng trước đó ít ai biết và ở Trung Quốc cũng không ghi nhận ông cùng Linh Sơn.

Các tác phẩm được kể tên trên đây mới chỉ là khúc dạo đầu ngắn ngủi của rất nhiều tác phẩm khác sẽ được ra mắt trong thời gian tới đây. Văn học Trung-Đông Âu là một mối quan tâm đặc biệt của tôi, tôi được biết rằng sắp tới không ít nhà văn danh tiếng sẽ được dịch ra tiếng Việt, với sự góp sức của nhiều dịch giả nhiều năm sống ở các nước như Hungary, Ba Lan hay Áo. Liên quan tới Kundera, tôi rất mong hai nhà văn mà Kundera coi là bậc thầy, Robert Musil và Hermann Broch, sớm được dịch.

Kundera chưa bao giờ là một nhà văn hiện thực, nên vấn đề phản ánh trung thực có lẽ không nên đặt ra, hoặc cần đặt ở một góc độ khác. Nếu sinh ra ở một đất nước khác chứ không phải Séc, chắc hẳn Kundera cũng sẽ nhìn ra và miêu tả tài tình những gì nực cười, những gì lố bịch, những gì xấu xí ở đó. Nhưng bởi vì đó là nước Séc, nên chúng ta có thể nghĩ rằng qua một nhà văn như Kundera, cái xã hội Séc đã được cộng thêm một không gian mới, không gian văn chương. Cái đó mới là đáng kể, và rất khó nói xã hội hiện thực hay xã hội như trong văn chương Kundera là “chân xác” hơn.

9/4/09

Nốt

Cái tạo ra các hình dung về sự không chắc chắn, các hình dung thuộc về cuộc đời con người ngay khi người ta coi cuộc đời không chỉ là một đại lượng giản đơn, một loại lực, một quân cờ trên một bàn cờ hoặc trong một chiến lược, không phải là một khiếm khuyết về tri thức, mà ngược lại, một tri thức tinh tế. Sự không chắc chắn này là sự không chắc chắn của tâm hồn, nếu ta dám nói tới một từ không nhất thiết hàm ý tính siêu vượt - ngay khi ta tin nó không thể được điều chỉnh bởi tay các kỹ sư. Nói chính xác tri thức mà tiểu thuyết truyền cho chúng ta, và cũng là điều duy nhất có thể được truyền cho chúng ta - cả lịch sử lẫn mọi khoa học nhân văn đều không thể làm được - là tri thức sau đây: số phận của tất cả chúng ta đều thấm đẫm sự nước đôi [équivoque], ngay cả những số phận có vẻ đi đường thẳng nhất cũng đều có thể được hướng tới theo nhiều cách, có khả năng cho nhiều sự thật khác nhau. Strum, nhà vật lý người Nga, có dòng máu Do Thái, một trong những nhân vật chính của Cuộc đời và số phận - tác phẩm đồ sộ của Vassili Grossman, và một trong những cuốn sách vĩ đại của thế kỷ XX - là một người yếu đuối và phò chính thống - anh ta đã xúc động tột cùng khi được Staline gọi điện, và đã vì hèn nhát mà chấp nhận ký vào một tài liệu chống lại các bác sĩ Do Thái bị buộc tội đầu độc Gorki - hay một người phản kháng, một Sakharov trước khi có Sakharov - anh ta từ chối tự kiểm thảo khi bị tố cáo là đã vận dụng các lý thuyết vật lý duy tâm xa lạ? Anh ta là cả hai, cũng như công nương Sherbatoff vừa là công nương vừa là tú bà. Lord Jim, nhân vật cuốn sách của Conrad, có phải là một kẻ hèn nhát hay không? Là thuyền phó trên một con tàu sắp đắm, anh ta đã chạy trốn trên một chiếc xuồng, bỏ lại các hành khách cho một cái chết chắc chắn. Anh ta có phải là một con người can đảm hay không? Duy nhất trong số các sĩ quan, anh ta lại là người đối đầu với phiên tòa và “địa ngục” của tội lỗi. “Đó là một trường hợp, Marlow người phát ngôn của Conrad nói, vượt rất xa các năng lực của một hội đồng điều tra. Đó là một cuộc tranh cãi tinh tế và nền tảng về bản chất đích thực của con người; nó không hề cần đến các thẩm phán. […] Điều này buộc tôi xem xét cái quy ước ẩn trốn trong mọi sự thật, cũng như sự thành thực cốt tử của một phản sự thật. Cùng một lúc nó kêu gọi hai phần của tâm hồn: phần thường trực nhìn vào ánh sáng ban ngày, và phần ranh mãnh thu mình trong một bóng tối vĩnh hằng, giống như phần khuất của mặt trăng.” Tôi sẵn sàng nói rằng địa hạt tiểu thuyết chính là cuộc “tranh cãi tinh tế và nền tảng về bản chất đích thực của con người” này. Một cách tinh tế, tiểu thuyết tiến về cái nền tảng, và cái nền tảng này, cái “bản chất con người” này, chính là cái để lộ tính mù mờ của nó: điều thật không sao nghĩ được trong diễn ngôn chính trị, cái ngược hẳn lại luôn muốn có các vai cố định, những “vị thế”. Chính trị sắp xếp [ranger] […], còn tiểu thuyết thì vứt bỏ sự sắp xếp [déranger] [khó dịch cách chơi chữ này: ranger và déranger, hai từ cùng căn].

(Tới đây, tôi muốn rẽ ngang qua một tác giả và một cuốn sách mà tôi chưa từng hình dung được sẽ có lúc mình viện đến, bởi đó là Sartre và cuốn Văn chương là gì? [như mọi người đều thấy, ở đây tôi không dùng tên bản dịch của Nguyên Ngọc, Văn học là gì?, chính là bởi sự phân biệt giữa “văn học” và “văn chương” mà tôi từng nói đến], tác phẩm viết năm 1947, nơi thế hệ của tôi đã rút ra được nhiều lập luận hỗ trợ cho việc vứt bỏ thứ văn chương mà ông gọi là “tư sản”, và rồi là cả văn chương nói chung, cuốn sách mà tôi từng đọc lại, tôi thú nhận điều này, để tìm các minh họa cho một hình dung mang tính chính trị về tiểu thuyết, đối nghịch với hình dung mà tôi đang bảo vệ; và chắc chắn là tiểu luận ấy mang một hình dung như thế, rất dễ trích dẫn từ đó, nhất là từ phần cuối cùng được trình bày như là một dạng Làm gì? [lại là cái bóng của Lenin] dành cho nhà văn thời ấy sử dụng, những lời khẳng định ví như “số phận văn chương gắn liền với số phận giai cấp công nhân”, hay “những vận hội của văn chương gắn liền với thắng lợi của một châu Âu xã hội chủ nghĩa, tức một nhóm Nhà nước theo cấu trúc dân chủ và tập thể”. Tuy vậy, xét cho cùng đó không phải điều tôi muốn rút ra từ tác phẩm xuất chúng và đầy tính chiến đấu, và rất “lạc hậu”, mà là một câu văn dài trong đó Sartre chỉ ra kế hoạch tiểu thuyết của các nhà văn thế hệ ông, mà ta có thể thấy rất rõ là trùng hợp nhiều với kế hoạch chính trị của họ, nhưng điều này không quan trọng: “Chúng ta sẽ phải, nếu muốn nhìn nhận rõ thời đại của chúng ta, chuyển kỹ thuật tiểu thuyết từ mức độ cơ học Newton sang thuyết tương đối tổng quát, phủ lên những quyển sách của chúng ta ý thức nửa sáng suốt nửa tối tăm, trong hai loại ý thức đó chắc rằng chúng ta có cảm tình với một loại hơn nhưng sẽ không loại nào được có một quan điểm ưu tiên cả về sự kiện lẫn về bản thân, bày ra những tạo vật với cái thực tế chính là tập hợp rối rắm và trái ngược các đánh giá mà mỗi tạo vật có đối với mọi tạo vật khác - ngay cả chính nó - và mọi tạo vật đối với một tạo vật, và chúng sẽ không bao giờ có thể đoan chắc liệu những đổi thay về số phận của mình xuất phát từ các nỗ lực, các sai lầm hay dòng chảy của thế giới; cuối cùng chúng ta sẽ phải để lại ở khắp nơi những nghi ngờ, những chờ đợi, cái chưa hoàn tất và buộc độc giả tự đi mà phỏng đoán lấy, bằng cách truyền cho anh ta cảm giác những cách nhìn của anh ta về cốt truyện và các nhân vật chỉ là một ý kiến trong số rất nhiều ý kiến khác, mà không bao giờ hướng dẫn hay để cho anh ta đoán được tình cảm của chúng ta.” [ouf ouf ouf] Không có gì để nói lại ở đây hết, nếu có thì cũng chỉ có chuyện cả Sartre cũng tỏ ra mù mờ và sự mù mờ này đã biến ông trở thành một nhân vật tiểu thuyết…)

Tiểu thuyết không phán xét

Giờ đây tôi muốn quay trở lại với một ý đã được trích từ Marlow trong Lord Jim, câu này là: “[Cuộc tranh cãi tinh tế và nền tảng này] không hề cần đến các thẩm phán.” Tôi vẫn thấy ý này mang tính biểu tượng cao độ cho loại tương quan với thực tế ở tiểu thuyết, và điều này khiến cho mối tương quan ấy trở thành một hoạt động tinh thần hoàn toàn đối nghịch với hình dung mang tính chính trị về thế giới. Tiểu thuyết, Barthes từng nói, không phán xét. Ngược lại diễn ngôn chính trị, ở hình thức sơ đẳng của nó, là một diễn ngôn của thẩm phán. Toàn bộ, tất tất, theo diễn ngôn ấy, đều mời gọi sự phán xét. Thế giới, tổng thể thế giới cũng như từng yếu tố của nó, trong hình dung này, đều là thiện hoặc ác, tích cực hoặc tiêu cực, tiến bộ hoặc phản động, cách mạng hoặc phản cách mạng, v.v… Không có gì thoát được ra khỏi sự phân đôi này. Ở đây tôi không chỉ nói tới các diễn ngôn chính trị cực đoan, thuộc vào loại tôi từng gắn bó trước khi chuyển sang văn chương: mọi diễn ngôn chính trị, cho dù là các diễn ngôn mà người ta gọi là “ôn hòa”, đều vận hành theo nguyên tắc tuyển chọn/loại trừ này, đều là những động cơ hai kỳ [đúng không nhỉ: moteurs deux temps]. Tất thảy đều lờ đi những gì lóng lánh, cái ánh ngũ sắc. “Phong cách, ngược lại Barthes viết trong La Préparation du roman [nghĩa đen là “Sự chuẩn bị của tiểu thuyết”, sẽ được nói rõ hơn ở đoạn sau], chính là cách sử dụng ở dạng viết của sắc thái.” Quả vậy, theo nghĩa ấy, diễn ngôn chính trị nhất thiết phải “thiếu phong cách”.

Bản mệnh tinh tế của tiểu thuyết, đương nhiên là khi nó không bị lầm lạc, biến chất thành một công cụ tuyên truyền, là một đối cực với tính đơn giản của tinh thần nhị nguyên ở diễn ngôn chính trị, và với tư cách ấy là một phương tiện giải thoát, giải phóng tư tưởng mà chúng ta đang cần hơn bao giờ hết. Ý tưởng này theo tôi rất gần với điều Flaubert từng nói tới trong một bức thư: “Cái chứng cứ chăm chăm đòi kết luận là một trong những thứ bệnh tai hại nhất và cằn cỗi nhất thuộc về con người. Mỗi tôn giáo và mỗi triết học lại khăng khăng mình có Chúa, đo đạc cái vô tận và biết đến công thức mang lại hạnh phúc. Một sự ngạo mạn và một sự hư vô mới lớn làm sao! Ngược lại tôi thấy rằng những thiên tài lớn và những tác phẩm lớn chưa từng bao giờ đưa ra kết luận.” Tiểu thuyết không “cao ngạo”, không phán xét, tiểu thuyết không kết luận, tiểu thuyết không dạy dỗ.

Sự cô đơn của phong cách

Và bởi vì từ “phong cách” đã xuất hiện, nên chúng ta sẽ nán lại một chút, để thấy rằng cả ở đây nó cũng đánh dấu một sự đối nghịch cùng cực giữa diễn ngôn của văn chương và diễn ngôn của chính trị. Phong cách là một thiên hướng, một phẩm chất phân biệt những gì thuộc văn chương và những gì không, những gì là nghệ thuật ngôn từ và những gì là sự chuyển dịch ngôn từ giản đơn - hoặc nữa, nói như Mallarmé, phân biệt giữa “ngôn ngữ cốt yếu” [langue essentielle] và “phóng sự phổ thông” [l’universel reportage]. Định nghĩa phong cách là một việc không dễ, nhưng dù sao thì gần như mọi nhà văn từng nghĩ đến chuyện này cũng đều nhất trí rằng cái đó khởi đầu từ một gián cách, một trệch hướng so với cách sử dụng ngôn ngữ thông tục. “Phong cách, Barthes viết, là sự sai lệch của một cách sử dụng thông tục”, và được một lần, tả và hữu đồng ý với nhau bởi vì Céline không nói điều gì khác: “Phong cách, nó được tạo ra từ một cách thức nào đó nhằm buộc các câu văn thoát ra khỏi cách biểu nghĩa quen thuộc của chúng, tức là thoát ra khỏi những cái gông.” Và trước họ Flaubert cũng đã nói giống hệt. Phong cách là một kẻ quấy rối, một kẻ bên lề, thậm chí một kẻ ngoài vòng pháp luật. Kẻ tử thù của văn chương chính là lối mòn, cách biểu đạt cũ kỹ phát xuất từ sự trơ ì của suy nghĩ và thiên hướng của ngôn ngữ, nhất là cái thứ ngôn ngữ hoại tử khổng lồ ngày càng áp bức hơn, ngôn ngữ của các phương tiện truyền thông.

Trong phong cách, cái tách biệt hẳn với những lối mòn của thứ ngôn ngữ bị tầm thường hóa và là một cuộc ly khai, có sự chấp nhận, thậm chí sự đòi hỏi, hơn thế nữa là sự cao ngạo của cô đơn. Ngược lại sẽ là hữu lý khi người ta tự hỏi liệu có phải sáo ngữ là thứ cấu thành nên lý tưởng của diễn ngôn chính trị hay không. Tôi không định gây tranh cãi ở đây, tôi không nhắm đến đích danh người nào: nếu về phương diện này một số chính trị gia tài giỏi hơn những người khác, thì hẳn nhiên là, điều này là chắc chắn, có một điều gì đó giống như một sự cần thiết mang tính chính trị về sáo ngữ. Còn có gì đồng thuận hơn thế, còn có gì liên kết [fédérateur] hơn cái từ ấy nữa? Sự thật là tôi kinh ngạc vì chưa từng có ai nghĩ tới chuyện lập ra một đảng mang cái tên ân cần đến xuất chúng ấy: “Sáo ngữ”. Văn chương có thể và phải vô phép mà có phong cách bởi vì nó không nhằm đến việc tập hợp hay trấn áp, mà ngược lại, vẫn theo Barthes, lần này trong Le Plaisir du texte [Khoái cảm văn bản], nó “đặt người ta vào tình thế thua cuộc, nó làm nản lòng” (tôi nghĩ tới lời giới thiệu của Maurice Nadeau cho Au-dessous du volcan [tức Under the Volcano của Malcolm Lowry mà tôi nghĩ chắc chưa bác nào đọc]: “Kiệt tác không hề mở những cánh cửa của mình cho mọi cơn gió. Nó hiện ra như một thế giới đóng kín, tua tủa phòng ngự. […] Trong các môn nghệ thuật tạo hình như văn chương, kiệt tác luôn khởi sự bằng việc truyền tới một dạng hoảng hốt.”) Ngược lại diễn ngôn chính trị lại vận hành theo một chuyển động kép, thứ nhất là phán xét, và do vậy là chia tách, loại bỏ, thứ hai là tập hợp. Sự dính kết mà văn chương gợi ra xuất phát từ một sức mạnh phát nổ [discruptif], còn ở diễn ngôn chính trị lại là sự uể oải mang tính lè nhè [litanique].

Tụng ca cá nhân

Tôi vừa nói đến sự chấp nhận, thậm chí sự đòi hỏi cô đơn dính chặt với nỗ lực phong cách như cái bóng. Điều này khiến tôi phải nói vài lời về sự nhất trí sâu sắc, cái hiệp ước nối tiểu thuyết với cá nhân. Trong một cuốn sách mang tên Sens unique [Một chiều], Walter Benjamin nói đến “cái mang tính Âu châu nhất trong số mọi của cải, sự mỉa mai ít nhiều rõ rệt mà cuộc đời con người cá nhân hay sử dụng để có thể được triển khai trên một bình diện khác với tồn tại cộng đồng, dù cho có là cộng đồng như thế nào, nơi nó bị ném vào”. Tôi thấy câu này gần như vẽ ra cả một chương trình cho tiểu thuyết. Tiểu thuyết, quan điểm của tiểu thuyết, nhằm xem xét cá nhân với tư cách cái thoát khỏi cộng động hoặc ít ra là khẳng định một sự đặc thù tách biệt nó khỏi cộng đồng và làm cho nó tồn tại chính xác giống như nhân vật. Sự kiện khởi sinh tiểu thuyết chính là dạng clinamen [khái niệm của vật lý, có nghĩa đại khái là khoảng giãn cách, trệch hướng] làm cho cá nhân thoát đi, làm cho đường số mệnh của anh ta không còn được ghi chung vào với cộng đồng nữa. Đương nhiên đây là điều ngược hẳn lại với những gì cái mà người ta từng gọi là văn chương “dấn thân” kêu gọi, cái văn chương thấm đẫm diễn ngôn chính trị (trong phần kết luận một bài điều tra in năm 1953 trên L’Observateur, Roland Barthes khi ấy còn trẻ măng vẫn còn tin là có thể nói rằng một trong năm nguyên tắc của một “văn chương cánh tả” - cái kết hợp từ dĩ nhiên dành để gây cười - là “đặt lại cá nhân vào môi trường của anh ta, nhóm xã hội của anh ta, hình thức xã hội mà anh ta thuộc về”. Thật sửng sốt, thậm chí là cảm động, khi dõi theo tiến trình phát triển của Barthes kể từ đầu, giai đoạn ông không mấy xa cách với những quy ước của một giai đoạn khi suy tư buộc phải ghi nhận cho chính trị, cho đến những năm cuối, những năm dành cho các bài giảng và xêmina với đống ghi chép được tập hợp lại dưới nhan đề La Préparation du roman. Câu chuyện của ông, vị trí của ông dĩ nhiên là rất đặc biệt, nhưng tôi nghĩ là cũng không có gì sai trái khi nói rằng cái quỹ đạo ngày càng khiến cho suy tư của ông thoát khỏi lực hút của chính trị là một quỹ đạo mẫu mực của một chuyển động mà rất nhiều người trong thế hệ chúng tôi từng trải qua). Nam nước de Charlus không phải là một đại diện cho giới quý tộc khu ngoại ô Saint-Germain, cuộc đời ông ta, nói như Walter Benjamin, “được triển khai trên một bình diện khác với tồn tại cộng đồng”, chủ yếu bởi vì sự đồng tính của ông, cái đã mang ông, tính khinh khỉnh và tinh thần giai cấp hiện thân ở ông, đến với Morel, con trai người hầu phòng, và đến với Jupien cựu thợ may. Cuộc đời và cái chết của Emma Bovary cũng diễn ra “trên một bình diện khác với tồn tại cộng đồng”. Anna Karenine, với tôi là một trong những nhân vật đẹp nhất của toàn bộ nền văn học, không “đại diện” cho cái gì ngoài nỗi đam mê, cái mang ít tính chất chung nhất, nếu không nói là ít tính cộng đồng nhất.

Trong Cuộc đời và số phận mà tôi đã nhắc tới ở trên, có một cảnh rất đặc biệt: một đoàn xe tăng T34 từ trong rừng đi ra, nắp tháp pháo mở tung, lao về phía mặt trận Stalingrad, và đại tá Novikov, tư lệnh, nhìn chúng đi qua. Còn có gì ít mang tính chào đón đối với sự đơn chiếc của cá nhân hơn là một đoàn xe tăng nữa? Thế nhưng Novikov lại nghĩ tới hàng loạt giấc mơ bị nhốt kín trong cái đám ồn ào bọc thép này: “Có nhiều biết bao suy nghĩ dưới những cái mũ sắt! Có những suy nghĩ chung với toàn thể nhân dân: tình yêu đất nước, nỗi bất hạnh của cuộc chiến tranh, nhưng cũng có cả sự đa dạng đặc biệt, cái khiến cho cộng đồng con người trở nên đẹp đẽ biết mấy.” Tiếp theo đó là một cuộc kiểm kê những mơ mộng cùng lúc đó đang xâm chiếm đầu óc các chiến sĩ xe tăng: một người nghĩ tới cái sandwich kẹp xúc xích mà anh ta đang nhai, một người khác nghĩ tới con chim đậu trên một cành cây, người thứ ba tới cặp vú một cô gái, một người nữa tới những gì anh ta sẽ làm sau chiến tranh, lại thêm một người nữa nghĩ tới anh lính lái chiếc T34 đi phía trước, kẻ mà anh ta rất muốn đấm vỡ mũi, v.v… Và đoạn này kết thúc ở cái suy nghĩ tuyệt diệu này: “Một mục tiêu duy nhất định ra ý nghĩa của những tập hợp người khổng lồ: giành cho những con người ấy cái quyền được khác biệt, cảm nhận, suy nghĩ, sống theo cách riêng của mỗi người. Để đoạt được quyền đó, hoặc để bảo vệ nó, hoặc nữa là để mở rộng nó, những con người kia đã tập hợp lại. Chính từ đây đã nảy sinh một định kiến đáng sợ nhưng mạnh mẽ; cái thành kiến làm cho người ta tin rằng các tập người nhân danh dòng giống, nhân danh Chúa, nhân danh một đảng, nhân danh Nhà nước ấy tạo thành ý nghĩa cuộc sống chứ không phải chỉ là một phương tiện thuần túy.” Thật đáng ngưỡng mộ khi mà suy tư này đã được phát ngôn tại Liên Xô ngay sau thời kỳ Staline; thật là vô cùng ý nghĩa, từ quan điểm của tôi, khi mà một cuốn tiểu thuyết đã tạo cho nó một định dạng, cái cớ và sự minh họa, khi mà một suy tư như vậy nằm trong một cuốn tiểu thuyết (chứ không phải chẳng hạn như trong một tuyên ngôn chính trị), cái vị trí tự nhiên của nó.

Tiểu thuyết: một diễn ngôn về những con người “sống theo cách riêng của mỗi người”, khác nhau, chứ không phải thành một đám đông. Có một truyện của Edgar Poe tên là Người của đám đông [tên tiếng Pháp là L’Homme des foules, tôi lười đi tra tên gốc]: trong truyện người kể chuyện ngắm nhìn đám đông trên một phố London, và trên mỗi gương mặt, mỗi phong thái, anh ta nhận ra một loại người, thầy ký, tay chơi, gái điếm, kẻ say rượu, v.v… Đột nhiên có một gương mặt làm anh ta sửng sốt “vì tính chất đặc ứng tuyệt đối trong cách biểu hiện của nó: cho đến khi ấy, tôi chưa hề thấy một cái gì tương tự như cách biểu hiện này, thậm chí là ở một cấp độ rất xa xôi”. Việc khuôn mặt này không để cho người ta giải mã, không để cho người ta xếp vào một nơi chốn hoặc một nghề nghiệp, gây phấn khích đến nỗi người kể chuyện sẽ đi theo nó suốt một đêm rồi một ngày. Tôi sẵn sàng nhìn thấy trong các suy nghĩ của đại tá Novikov một bản hiến chương về hình dung mang tính tiểu thuyết, đối lập với cách thức của chính trị, về thế giới, và trong cái khuôn mặt tuyệt đối đặc thù ở truyện của Edgar Poe một phúng dụ về nhân vật tiểu thuyết.

Phép hoán dụ

Giờ sẽ là ba đoạn ngắn để minh họa cho một khía cạnh khác của bản mệnh tiểu thuyết. Cả ba đều được rút ra từ Cuộc đời và số phận (nếu cần phải nhớ được một điều gì đó từ bài nói chuyện của tôi hôm nay, các vị chỉ cần nhớ: hãy đọc Cuộc đời và số phận). Mùa đông năm 1943. Tập đoàn quân số 6 của Đức, bị bao vây bên trong Stalingrad, sắp đầu hàng. Trong đêm giá lạnh, những đường đạn ngừng lại, một sự im lặng khó tin, một sự im lặng mà cơn ầm ào của chiến tranh từ nhiều tháng nay đã làm người ta quên bẵng đi:

“Sự im lặng cũng có những tiếng động riêng của mình. Sự im lặng đã làm sinh ra rất nhiều tiếng động, những tiếng động mới và lạ lẫm: tiếng động khi người ta đặt một con dao lên mặt bàn, tiếng một trang sách lật giở, tiếng két của thanh ván sàn, tiếng những bàn chân trần, tiếng tích tắc của đồng hồ treo trên bức tường nơi trú ẩn, tiếng lướt của một ngòi bút.”

Đoạn thứ hai. Trong boongke của mình, thống chế von Paulus, tư lệnh tập đoàn quân số 6, chuẩn bị ra đầu hàng. Sĩ quan cần vụ của ông ta ném vài bộ quần áo lót vào một cái va li, sẵn sàng cho sự cầm tù đang chờ sẵn ông ta.

“Những chiếc tất của Feldmarshall, được vội vã ném vào vali, đều bị thủng ở gót; điều làm Ritter buồn bã và lo lắng không phải ý nghĩa Paulus điên rồ và hay sốt ruột phải đi tất thủng, mà là các lỗ thủng này sẽ bị nhìn thấy bởi những cái nhìn thù địch của người Nga.”

Đoạn thứ ba. Vẫn ở Stalingrad, trong những ngày tiếp theo trận đánh, các tù nhân Đức lôi những xác chết từ cái hầm từng thuộc về Gestapo. Khi nhìn thấy thi thể một thiếu nữ với “khuôn mặt nhỏ nhắn đáng sợ màu nâu xỉn của con chim bị hành hạ”, một người phụ nữ lao vào ôm lấy cô bé như thể đó chính là con gái chị.

“Người phụ nữ đứng bật dậy và bước về phía tay người Đức. Mọi người có mặt ở đó đều nhận thấy rằng chị ta vừa nhìn hắn vừa liếc mắt tìm một viên gạch không bị băng giá làm đông lại trong đống gạch, mà bàn tay bệnh tật và biến dạng vì một công việc phi nhân tính, vì nước đóng giá và bột giặt, có thể giật ra được. Người lính gác hiểu rằng điều sẽ xảy ra là không thể tránh khỏi, nhưng không có khả năng ngăn người phụ nữ lại, bởi vì chị ta khỏe hơn anh lẫn khẩu súng của anh. […] Người phụ nữ không còn nhìn thấy gì khác ngoài mặt của tên lính Đức đang buộc khăn mùi soa [không hiểu rõ mô tả này lắm]. Không hiểu được điều gì đang xảy đến với mình, đang trong cơn điên giận khiến mọi người xung quanh tê liệt, chị rút từ trong túi áo một mẩu bánh mì hôm trước vừa được một người lính Nga đưa cho, chìa về phía tên Đức và nói: “này, cầm lấy, ăn đi”.”

Sự im lặng ồn ã những tiếng động kỳ cục, những cái tất thủng của viên Feldmarschall, hành động không thể hiểu nổi của người phụ nữ Nga: ba bức ảnh chụp chớp nhoáng, ba hình ảnh sáng lóe qua đó có thể đoán định được chiến thắng, thất bại, bước ngoặt của cuộc tranh đấu khổng lồ với thế giới là sàn diễn, và cả, và nhất là sự kháng cự của con người trong những điều kiện khủng khiếp nhất, tính chất vĩ đại của nó, tính chất nhỏ nhặt (những cái tất) của nó, tính chất bất khả đoán định của nó. Ba cảnh nhỏ, ba chi tiết trên bức tranh phi thường, nhưng lại là những thứ điều chỉnh toàn thể. Tôi tin bản mệnh hoán dụ của tiểu thuyết còn nằm ở chỗ nó cho thấy những điều to lớn thông qua những cái bé nhỏ, rằng nó ấn định những cái nhìn lớn vào lóe chớp ngắn ngủi nhưng đáng nhớ của một hình ảnh. Nó là nghệ thuật của sự mù mờ, nghệ thuật của cá nhân, nó cũng là nghệ thuật của chi tiết. Nó không làm cho chúng ta hiểu Lịch sử thông qua các quy luật mạo xưng, mà làm cho chúng ta “tìm thấy lại” Lịch sử thông qua “một bùng nổ các hình ảnh” (Proust). Ulysse quay trở về Ithaque, giả trang thành người ăn mày, con chó Argos của chàng nhận ra chàng, Ulysse quay mặt đi để giấu một giọt nước mắt: đôi tai rũ xuống của Argos, vụ khóc lóc của Ulysse, những cái đó kết tinh lại thành một trong những hình tượng chủ chốt của tưởng tượng con người, hình tượng sự trở về, nostos, từ đó mà chúng ta có từ nostalgie [hoài nhớ]. Chính bởi vì Homère đã sáng tạo ra cái đó, bởi vì “con chó già của chàng vẫn còn nhớ” như Apollinaire từng viết, mà chúng ta nhớ và sẽ còn nhớ mãi cuộc trở về này. Sức mạnh sáng lóa của văn chương nằm ở chỗ nó giúp chúng ta nhìn thấy sự trở về thông qua đôi tai cụp xuống của một con chó, sự thất bại thông qua một đôi tất thủng.

Ở đây, sẽ cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng hơn mối liên hệ của tự sự, nội dung mà nó đề nghị, với hình thức ngắn và đáng nhớ - đặc biệt là thông qua các phân tích của Barthes về thơ haiku, mà ông gọi là “tilt” [quên mất đã từng dịch là gì lol] hay hiệu ứng của “chính thế!” Số phận của mọi cuốn sách là từ biến hóa, trong tâm trí người đọc, thành một loạt memorabilia ấy, một chuỗi, hay nói đúng hơn là một sự chia nhỏ của những cảnh tượng đứt đoạn và không có trật tự: “Trình tự của thời gian, Valéry nói, biến mọi tác phẩm - và do đó là mọi con người - thành các phân mảnh.” Sẽ rất thú vị khi so sánh, ở nhiều độc giả, di chứng từ những sự đọc của họ: di chứng về Những người khốn khổ của bạn là gì? Về Giáo dục tình cảm? Điều gì lúc nào cũng đứng vững? Khi vẽ nên một phù điêu nào, những hình tượng nào? Điều gì làm nên khác biệt của các di chứng từ một cuốn sách, từ một bức tranh, từ một bản nhạc? Vân vân và vân vân.

Mètis

“Nếu ai đó không thể sống nhiều cuộc đời khác ngoài cuộc đời của mình, Paul Valéry nêu nhận xét trong Variété, thì anh ta sẽ không thể sống cuộc đời của mình.” Tiểu thuyết giúp chúng ta sống cuộc đời của chúng ta đồng thời làm cho nhiều cuộc đời khác ngoài cuộc đời của chúng ta sống được. Sống cuộc đời của chúng ta, nghĩa là không phải chịu đựng nó, mà là sáng tạo nó, suy nghĩ nó, dẫn dắt nó. Tôi có thể sống cuộc đời của tôi là bởi vì cả tôi nữa, giống như Flaubert, tôi cũng là Madame Bovary, và hoàng thân Mychkine, và lord Jim, và thậm chí cả nam tước Charlus - mặc dù làm được như vậy cũng khó khăn hơn - tôi là kẻ đào ngũ Bardamu của Hành trình tới tận cùng đêm và Magnin, phi công của L’Espoir [tiểu thuyết của Malraux, đã dịch sang tiếng Việt chưa nhỉ? nghĩa đen là “Hy vọng”], và hoàng thân André nằm chờ cái chết dưới bầu trời Austerlitz mênh mông, và Fabrice ở Waterloo, và Grégoire Samsa bị biến thành bọ và K khi bị đâm con dao vào tim, viên lãnh sự trong Au-dessus du volcan bị ném xuống hẻm núi [barranca] cùng một con chó đã chết, Gimpei Momoi, tay giáo viên có đôi bàn chân khỉ trong Hồ của Kawabata, người đi theo một nữ sinh trung học vào Tokyo hoang tàn sau chiến tranh, Eguchi già nua trả tiền để được vầy vò những nàng công chúa ngủ trong rừng, Anna Karenine ở thời điểm nàng sắp lao mình vào đoàn tàu. Tôi là đàn ông và phụ nữ, chết và sống lại cả nghìn lần. “Một điều hoặc một vô hạn các điều đều chết trong mỗi cơn hấp hối”, Borges viết như vậy trong một truyện có tên El Testigo (Nhân chứng), “trừ khi có tồn tại một ký ức của vũ trụ, như các nhà thần trí học [théosophe] từng giả định”. Cái ký ức của vụ trụ này, mà nếu không có nhân loại cứ mỗi thế hệ lại rơi trở về trạng thái ấu thơ, điều tới gần được nó nhất, chính là văn chương, cái mời chào chúng ta kho báu các kinh nghiệm đã qua: không phải các sự kiện, không phải những quy luật do Lịch sử đặt giả định, mà là hàng nghìn cách thức nhân loại từng có để là nhân loại. Nó không rao truyền một “thông điệp” hiển ngôn, có tính chất chính trị, rằng văn chương có tính khai phóng, mà thông qua sự khuếch đại, sự nhân lên gần như ở mức vô tận của trải nghiệm chúng ta (Sartre nói trong cuốn sách đã được nói đến ở phần trên, về “trụ đỡ cho những tư tưởng của chúng ta bằng các trải nghiệm hư cấu và cụ thể này, những quyển tiểu thuyết”). Không phải thông qua các mệnh lệnh mà nó có thể ban ra, thậm chí cũng không phải thông qua các diễn giải mà nó mang tới, mà nó có tính giải phóng, mà là bởi cái thế giới quan không cao ngạo mà nó ngầm mời gọi chúng ta.

Kiểu tri thức mà nó sở hữu và chào mời chúng ta chia sẻ không phải là một tri thức về khái niệm hay giáo điều, đúng hơn thì nó nằm về phía cái mà một quyển sách cũ của Marcel Detienne và Jean-Pierre Vernant từng đặc trưng hóa như là mètis của Hy Lạp. Mètis là một tên riêng và cũng là một danh từ chung. Đó là tên một trong những người vợ của Zeus, người được ông ta nhập vào, rồi sáp nhập các sức mạnh (ông ta ăn thịt nàng, Théogonie [Thần hệ] của Hésiode kể điều đó…) để trở thành vua của các vị thần. Nàng cùng Thémis, một người vợ khác của Zeus tạo thành một cặp. Lời nói của Thémis mang tính phán đoán thực tế hay nhất quyết, nó phát ngôn một tương lai quy chuẩn, đã được ấn định, nàng ra lệnh hoặc cấm đoán. Lời nói của Mètis lại mang tính giả thuyết hay bấp bênh, nàng khuyên nhủ nhằm làm trệch hướng dòng chảy của một tương lai chưa biết, không chắc chắn. Thémis sinh ra từ Đất, nàng là đại diện cho những gì ổn định, quy chuẩn; Mètis xuất thân từ Biển, nàng ở về phía cái chuyển động, cái uốn lượn. Tiểu thuyết nằm về phía Mètis, chứ không phải phía Thémis, phía đó là nơi của diễn ngôn chính trị. Với tư cách là danh từ chung, mètis chỉ một trí tuệ tinh tế, khôn khéo, mưu mẹo, không thể luật lệ hóa, không thể hình thức hóa, không phải là không đối lập với épistémè [hello, Foucault :)], hiểu biết mang tính khoa học, hay dianoïa, suy nghĩ phản tư, nhưng khác với chúng, đó là tri thức vừa khít với Ulysse polumètis, từ thường được dịch là “hàng nghìn mưu mẹo” hoặc “hàng nghìn trò khéo”. “Mètis, Vernant và Detienne viết, quả đúng là một hình thức trí tuệ và tư tưởng, một dạng thức của sự hiểu biết; nó hàm ý một tổng hợp phức tạp nhưng rất đồng nhất của các thái độ tinh thần, những cách hành xử trí thức kết hợp sự nhạy bén, tính khôn ngoan, sự nhìn xa trông rộng, sự mềm dẻo của trí khôn, sự giả đò, tính chất xoay xở khéo léo, sự chú tâm đầy cảnh giác, ý thức về cơ hội, những ngón nghề khác nhau, một kinh nghiệm có được sau một thời gian dài; nó được áp dụng cho các thực tế nhanh nhạy, chuyển động, gây rối trí và mù mờ, những gì không sẵn sàng chịu giải pháp chính xác, tính toán chỉn chu hay lập luận chặt chẽ.” Tiểu thuyết nằm về phía mètis, chứ không phải épistémè. “Khoa học là thứ thô thiển, Barthes từng viết, cuộc sống thì tế nhị, và chính là để sửa chữa cái giãn cách này mà với chúng ta văn chương thật quan trọng.” Người của tiểu thuyết, do tiểu thuyết tạo ra, là polumètis, giống như Ulysse. Anh ta sẽ rất khó là một kẻ cuồng tín. Anh ta sẽ rất khó là người tình của cái chết hay của ngai vương, Achille hay Agamemnon. Người của tiểu thuyết tinh tế. Anh ta là một người điều khiển con tàu, một người chuyên khám phá. Hãy dè chừng một thế giới nơi tiểu thuyết bị biến mất.

9/2/09

New

Trước hết là một bài mới của bác Nguyễn Chí Hoan về Chuyện người tùy nữ, đọc ở đây.

Những quyển sách cuối cùng của mùa hè năm nay cuối cùng cũng đã tới nơi. Như là đi một chuyến tàu chợ đi thì ít lắc thì nhiều. Nghe mẹ tôi kể ngày trước từng đi một chuyến tàu chợ có ông lái tàu đến cái ga xép bỏ thẳng về nhà ngủ một giấc, tỉnh dậy mới quay lại lái tiếp. Nghĩ cũng khiếp.

Trong những quyển ấy quyển mà tôi trông chờ nhất (như đã nói) là hồi ký của Claude Lanzmann, Le Lièvre de Patagonie. Về tác giả: Lanzmann là người làm bộ phim Shoah đồ sộ, chắc chắn là một trong những nhân vật có thẩm quyền nhất về Thế chiến thứ hai, đặc biệt là vấn đề tiêu diệt người Do Thái; những người có uy tín khác hay được nói tới là Anthony Beevor và William Shirer; một nhân vật nữa, có vai trò quan trọng trong Shoah, là Raul Hilberg. Về tên quyển sách: sở dĩ có tên này là vì Lanzmann trích dẫn một đoạn viết về những con thỏ của Silvina Ocampo (những ai rành về Borges chắc chắn biết bà nhà văn này - nghĩa đen cái nhan đề là "Con thỏ vùng Patagonie"). Về cách viết cuốn sách: Lanzmann đọc cho hai người (đều là nữ và đều thuộc tạp chí Les Temps modernes, nơi Lanzmann làm sếp sòng) gõ máy tính lại.

Đọc ngấu nghiến chương đầu. Quả là danh bất hư truyền, một giọng văn tuyệt hảo, một sự làm chủ văn phong và ý tưởng rất đáng nói. Và một chủ đề (của riêng chương một) ám ảnh mạnh mẽ: nó viết về cái chết. Và không phải bất kỳ cái chết nào, cụ thể là cái chết do bị hành hình. Mở đầu là hình ảnh máy chém (guillotine, biệt danh "la veuve" nghĩa là "bà góa"), sản phẩm của Cách mạng Pháp. Rồi những cách thức giết người khác nhau mà Lanzmann từng chứng kiến hoặc nhìn thấy hình ảnh khắp nơi trên đời, Nhật, Pháp, Úc etc.

Lanzmann là người đấu tranh chống án tử hình. Trong chương đầu tiên này ông kể hồi những năm 1960 đã từng đấu tranh đòi chính phủ Tây Ban Nha hủy quyết định xử tử một người. Mãi rồi hơn chục năm sau Tây Ban Nha bỏ án tử hình. Mọi việc đều có thể thay đổi. Một tranh đấu khác (lần này kéo dài) của Lanzmann là tìm cách cứu những người FLN (ai từng đọc về chiến tranh Algérie đều biết nghĩa là gì). Nhân vật lịch sử duy nhất có quan hệ mật thiết với Lanzmann được nhắc tới trong chương này chính là Le Castor, tức Simone de Beauvoir (như tôi đã có lần nói, de Beauvoir là người tình của Lanzmann). Nhiều lần khi được tin có người sắp bị tử hình, de Beauvoir và Lanzmann lại lật đật chạy đôn chạy đáo gọi điện khắp nơi tìm ai đó dám đánh thức tướng de Gaulle dậy giữa đêm để ký lệnh ân xá vào phút chót, vì de Gaulle là người duy nhất có thể làm được như vậy. Có vẻ như là chưa bao giờ cặp tandem này thành công cả.

Đó là các nỗ lực nhằm cứu vãn. Vấn đề là đối diện với một số thứ, câu hỏi không phải là làm thế nào để cứu vãn, mà là còn có thể cứu vãn được hay không. Rất nhiều lúc câu trả lời là không. Cái chết là một điểm cực quá lớn, đứng trước nó đã từng có rất nhiều sự suy tư. Lanzmann chỉ là một người tiếp nối trong mạch đó mà thôi.

Một chương khởi đầu thật là nặng nề, không biết hai người (phụ nữ) gõ máy tính hộ Lanzmann cảm thấy thế nào. Trong tâm trạng nặng nề đó, tôi đọc các tin tức về Phạm Đoan Trang, một người bạn. Tôi tin Đoan Trang vô tội, và tôi mong mọi chuyện sẽ sớm ổn thỏa.