10/26/09

Mùa thu lá bay

Mùa thu, chắc chắc như vậy, là mùa của văn chương. Không phải vì rất nhiều lá vàng rơi tạo hậu phương vững chắc củng cố hình ảnh đầy nguy hại về thi nhân văn sĩ: “mắt đếm lá chân đá ống bơ”, cũng không chỉ vì thời tiết mang màu sắc đồng đội ủng hộ cho việc hưởng thụ một tách trà ấm bên trang sách. Mùa thu còn là thời điểm tập trung chú ý, nảy nở hy vọng và tràn lan tham vọng với các giải thưởng văn chương được trao đồng loạt khắp thế giới, kể cả ở Việt Nam. Đây không chỉ là chuyện thị trường, đây còn là chuyện ứng xử và, một phần không nhỏ, chuyện vinh dự và danh dự.

Khi sắp qua đời, người còn lại trong hai anh em Goncourt (tức Edmond; Jules de Goncourt, người em trai thân thiết của Edmond, cũng là người đầu tiên có ý tưởng về một giải thưởng văn chương không sa vào tật phiến diện như giải thưởng của Viện Hàn lâm Pháp, đã yểu mệnh qua đời vào năm 1870) đã di chúc để lại tài sản của mình cho một Viện Hàn lâm Goncourt với chức năng chính là mỗi năm trao giải thưởng cho một nhà văn có triển vọng. Di chúc này vừa được thực hiện đầy trách nhiệm (vì kể từ đầu thế kỷ XX năm nào cũng có giải thưởng, đều đặn như Rolland Garros) nhưng cũng vẫn là một “di chúc bị phản bội” phần nào (vì đã nhiều lần trao giải cho những người rất già, hoặc trao kiểu vuốt đuôi: khi Marguerite Duras còn trẻ thì không trao, đến khi tóc bà bạc phơ tuy vẫn có người tình, thì mới trao).

Giải Goncourt cho thấy hai ý nghĩa chính của một giải thưởng văn chương: phát hiện và công nhận, trong đó tiêu chí căn bản nằm ở phát hiện tài năng. Khi lỡ quên mất Duras để rồi mãi sau này (chính xác là năm 1984, tiểu thuyết “Người tình”) mới trao, thì yếu tố phát hiện đã không còn nữa. May mà vẫn còn tính chất công nhận.

Năm 2009 đã xong xuôi hai giải thưởng văn chương quan trọng: giải Booker, rồi giải Nobel. Booker năm nay tạm ngưng làn sóng mãnh liệt của các nhà văn trẻ gốc Ấn Độ mà quay trở lại với “chính quốc”: Hilary Mantel nhận giải cho một cuốn tiểu thuyết đồ sộ về một đề tài không thể “Anh quốc” hơn: Thomas Cromwell. Cuốn sách (mang tên “Wolf Hall”) mở ra bằng một danh sách dài dặc nhân vật lịch sử, kèm với bảng phả hệ nhà Tudor và nhà York, hứa hẹn cả một câu chuyện lịch sử kỳ thú, chiến tranh và chính trị, âm mưu và tình yêu.

Mantel đã có sau lưng hơn chục tác phẩm, nhưng đó vẫn là một phát hiện lớn của giới thưởng ngoạn văn chương quốc tế, bởi nếu Booker nghiêng về phía “công nhận” nhiều hơn, hẳn giải thưởng đã không thoát khỏi tay hai nhân vật nặng ký: A.S. Byatt và J.M. Coetzee.

Giải Nobel trao cho Herta Müller lại tiếp tục làm người Mỹ hét lên những câu kiểu như không biết bà nhà văn này là ai, chưa từng nghe nói tới, châu Âu thiên vị châu Âu vân vân và vân vân. Nước Mỹ đã nói thì chắc là đúng, nhưng ta cũng nhớ rằng năm ngoái khi một người như Le Clézio nhận Nobel người Mỹ cũng phát ngôn kiểu như vậy. Có thể thông cảm được với những phàn nàn này, tuy nhiên có lẽ nước Mỹ nên dịch nhiều tác phẩm nước ngoài hơn nữa thay vì tự đặt mình vào tình trạng thiếu hiểu biết như vậy, và cần hiểu rằng sự phát hiện có thể còn quan trọng hơn sự công nhận.

Còn lại chưa trao là các giải thưởng văn chương Pháp, trong đó mấy giải quan trọng đều được công bố vào đầu tháng Mười một tới. Người duy nhất được hưởng hơi ấm từ xa của anh em nhà Goncourt lừng danh sẽ được rút ra từ danh sách tám người của vòng bầu chọn thứ hai, trong đó chỉ có hai nhà văn nổi tiếng là Jean-Philippe Toussaint và Marie Ndiaye. Ở giải Medicis và Renaudot, rất hy vọng năm nay nhà văn trẻ như David Foenkinos (tiểu thuyết “La Délicatesse”, tạm dịch là “Sự tế nhị”, một cuốn sách vô cùng duyên dáng) hay Vincent Message với tác phẩm đầu tay sẽ được “trở thành” các phát hiện. Những điều mới mẻ làm ta tin vào tính chất rộng lớn của thế giới, và thông qua phát hiện, thông qua việc làm mọi người phải bất ngờ, giám khảo của các giải thưởng cũng chứng tỏ mình là độc giả xịn đến thế nào.

Giải thưởng năm nay của Hội Nhà văn Hà Nội với ba “khôi nguyên” Ma Văn Kháng, Đỗ Lai Thúy và Nguyên Ngọc, cho thấy rằng sau vài lần dũng cảm phát hiện, lần này Hội đã chắc chắn, thậm chí rất chắc chắn, đứng về “phe” công nhận.

Nhị Linh

+ Mấy ngày nữa là công bố mấy giải thưởng của Pháp (rất rất nhiều, nhưng quan trọng nhất là Goncourt, Renaudot, Medicis và Fémina). Đoán mò cái cho vui nhỉ: năm ngoái tôi chỉ đoán một lần thế mà đúng luôn, đoán quyển Où on va, papa? của Jean-Louis Fournier được giải, sau đó được Fémina thật (bản quyền quyển này được mua trước khi có giải hehe, sau này như các bác đều biết đã thành Ba ơi mình đi đâu); năm nay hai nhân vật sẽ có giải thưởng là Marie Ndiaye và Vincent Message. Rất tiếc David Foenkinos không còn trên nhiều danh sách nữa, quyển sách năm nay của Foenkinos rất hay.

10/21/09

Lời hứa

Tôi thấy rất lạ là ở Việt Nam gần như không có dấu tích gì của Romain Gary, một trong những nhà văn tôi cho là tuyệt vời nhất của thế kỷ XX. Ở miền Bắc không thấy, miền Nam trước 1975 tôi cũng chưa thấy, cũng chưa nghe nói là có quyển nào được dịch. Search trên mạng thấy có một "truyện ngắn" mang tên "Những lời từ biệt của mẹ tôi", đọc kiểu liếc chéo thì hóa ra là lấy đoạn đầu đoạn cuối cuốn tiểu thuyết La Promesse de l'aube (Lời hứa lúc bình minh). Thế mà Gary đã có Giáo dục châu Âu in khi Thế chiến thứ hai chưa kết thúc, Rễ trời (Les Racines du ciel) được Goncourt 1956, sau này năm 1975 còn được thêm Goncourt thứ hai cho La Vie devant soi (Cuộc sống nơi tận cùng phía trước, hehe dịch bố láo đấy đừng tin), ký tên Émile Ajar. Bản thân Lời hứa lúc bình minh cũng đã in năm 1960.

Nói tóm lại cho đến giờ ngoài dịch giả của Lời hứa lúc bình minh (sách sắp in), chỉ có hai người hay nói đến Romain Gary/Émile Ajar là tôi và Mr. Tin Văn :)

Một trong những cú sốc lớn nhất trong đọc tiểu thuyết của tôi là lần vớ phải La Vie devant soi. Mọi thứ đều đảo lộn, đảo ngược và đảo vành hehe. Sau này đọc thêm mới vỡ lẽ La Vie devant soi là một cách viết lại Lời hứa. Vụ hai giải Goncourt cũng rất lùm xùm, chắc rồi sau này báo chí Việt Nam sẽ khai thác, chỉ có một chi tiết vui là khi bản thảo đầu tiên mà Gary ký tên đểu Ajar gửi tới cho Gallimard (tức quyển Gros-Câlin), ngay lập tức Raymond Queneau ở trong comité de lecture đã ngửi ra mùi vị của một cú fiasco nên đẩy nó sang cho Mercure de France là nhánh nhỏ của Gallimard in, đề phòng kiện tụng sau này.

Năm nay sự chú ý tới Gary tăng vọt (cho đến tận khi chết, năm 1980, thêm một vụ nhà văn tự sát, Gary vẫn chịu số phận hẩm hiu không được giới phê bình văn học Paris "công nhận", sự đen đủi này đã thấp thoáng trong Lời hứa, khi mà chàng phi công tập sự không được phong sĩ quan, người duy nhất trong một khóa đào tạo mấy trăm người không được phong sĩ quan, chỉ vì mới nhập quốc tịch được chưa lâu). Hồi ký của con trai Gary được in (con cùng Jean Seberg, ai rành lịch sử điện ảnh sẽ biết Seberg là ai), một chuyên đề về Gary được Magazine Littéraire thực hiện, có Pierre Assouline, Myriam Anissimov tác giả cuốn tiểu sử nặng trịch Romain Gary, le caméléon, Paul Audi chuyên gia về Gary, lần này phân tích về tính chất Do Thái của Gary, và cả BHL :) (tức Bernard-Henry Lévy). Quyển sách quan trọng của bộ Quarto (Gallimard) mang tên Légendes du jeu in gộp tám tác phẩm của Gary mới được phát hành. Tôi còn chưa kiếm được hồi ký của vợ đầu, Lesley Blanch, nghe giang hồ đồn đại là nói xấu ác liệt lắm.

Đây cũng là một cơ hội lớn cho những ai quan tâm tới "autofiction": Lời hứa chính là cuốn tiểu thuyết autofiction trước khi có khái niệm autofiction (Fils của Serge Doubrovsky mãi 1977 mới in), Tây gọi là "avant la lettre". Để mà tìm hiểu lý thuyết thông qua tác phẩm thì tôi sẵn sàng chọn Gary hơn nhiều so với Robbe-Grillet :) Trong lời nói đầu quyển Légendes du jeu, Mireille Sacotte viết một câu có lẽ tóm gọn được đầy đủ vấn đề tại sao lại khó xác định rạch ròi autofiction như thế: "Giới hạn giữa tiểu thuyết và hư cấu không rõ nét: tác giả trở thành một nhân vật tiểu thuyết hay tiểu thuyết trở thành một hình thức tự hư cấu?"

Lời hứa còn có tác dụng cảnh tỉnh những cô gái trẻ (hoặc không trẻ lắm) trước khi họ quyết định trở thành single mom. Tôi nói nghiêm túc đấy, chứ không phải để bới chữ ra ý nghĩa.

Vấn đề của chúng ta là: khi ở bình minh của cuộc đời, nếu có một lời hứa thật huy hoàng, thì rốt cuộc rồi sẽ ra sao?

10/19/09

Cọp Trắng trong rừng rậm

Cọp Trắng, Aravind Adiga, Thi Trúc dịch, dtbooks và NXB Trẻ

Thỉnh thoảng tôi cũng mang tâm lý giống như bác Goldmund hehe, nghĩa là đọc sách mà cứ săm săm soi soi, giống như giai thoại về nhà thơ Hữu Thỉnh, làm tổng biên tập báo Văn Nghệ chuyên môn giơ bản in thử báo lên ánh sáng để xem nhỡ có đùi cô gái nào ở trang này ăn trúng vào mặt ông to nào ở trang khác hay không. Đọc quyển Cọp Trắng (chờ mãi mới kiếm được) tức The White Tiger, giải Man Booker 2008 cũng thế, thậm chí tôi còn định mang bản tiếng Anh ra xem.

Nhưng rồi lại thôi, vì mấy trang đầu dịch cực oách, người dịch để ý đến từng chi tiết nhỏ nhặt mà tôi nghĩ là chỉ có... tôi mới thèm quan tâm :) "Những" và "các" mới chỉ là một trong số khoảng vài trăm cái luôn phải để ý nếu thực sự muốn viết tốt tiếng Việt. Không biết dịch giả Cọp Trắng là ai, chắc một cao nhân giấu mặt.

Sau mấy trang đầu thì vẫn xuất hiện những cách giải quyết không hợp lý lắm, nhưng bản dịch này phải nói là xịn, ngôn từ phong phú dồi dào đúng giọng của Balram. Cọp Trắng là quyển tiểu thuyết đáng đọc nhất của tháng này. Nói vậy nhưng cũng có vài chỗ khá loạn: "Thượng đế đang dang bàn tay Người xuống đồng bằng phía dưới" (tr. 111) chẳng hạn (gốc là "God spreads His palm over the plains below"); "dang" chỉ dùng cho cánh tay, bàn tay thì có những từ như "chìa", "đưa", "xòe", "thò" etc.

Cuối đêm thứ ba, trong thư Cọp Trắng viết cho thủ tướng Ôn Gia Bảo bắt đầu xuất hiện chủ đề dân chủ, "một khái niệm mà người Trung Quốc các ngài, theo tôi được biết, chưa quen lắm". Chủ đề này vắt sang buổi sáng thứ tư:

"Theo tôi được biết thì những người da vàng các ngài, cho dù đã đạt nhiều thành tựu trong hệ thống cống rãnh, nước uống, và huy chương vàng Olympic, vẫn không có dân chủ. Một chính trị gia nọ từng nói trên đài phát thanh rằng đó là lý do vì sao người Ấn Độ sẽ đánh bại các ngài: chúng tôi có thể không có cống rãnh, nước uống, và huy chương vàng Olympic, nhưng lại có dân chủ.

Nếu tôi tạo dựng một đất nước, tôi sẽ lắp đặt ống cống trước, sau đó đến dân chủ, rồi mới tính đến chuyện tặng sách mỏng và tượng Gandhi cho người khác, nhưng tôi thì biết gì? Tôi chỉ là một kẻ sát nhân!"

Nhân vật Cọp Trắng nói như vậy để rồi sau đó mổ xẻ "dân chủ" của Ấn Độ; trước đó anh ta đã kể về vùng mình sống, có ba viên gạch đầu tiên đặt để xây bệnh viện nhưng không có bệnh viện nào hết: mỗi lần có một "đảng viên Đại Xã hội" (Great Socialist Party) ứng cử thì ông ta lại hứa một bệnh viện, rốt cuộc là không có cái nào.

Cách đây một năm tôi đã review cuốn tiểu thuyết này, cùng hai tác phẩm Ấn Độ khác. Đến bây giờ đọc bản dịch tiếng Việt của cuốn sách vẫn không thấy giảm sút niềm hứng khởi.

NB. Bài review kia tên đúng là "Lộn trái Ấn Độ", còn bài review tập truyện ngắn của Bảo Ninh tên là "Chưa kết được". Đó là cách của tôi: khi post lên blog tôi hay đặt một cái tên khác, tùy tâm trạng lúc đó, cũng là một dạng "bài tập về đặt tên". Tôi không chịu trách nhiệm về các trích dẫn từ đây, trừ khi được sự đồng ý của tôi. Những người trích dẫn từ đây để viết bài đăng báo có nhiều khả năng sẽ dẫn không đúng nguồn, thậm chí không đúng văn bản đã công bố của tôi.

10/18/09

Người ta chết vì nước vì non

Nước mắt một thời (Nguyễn Khoa Đăng, NXB Hội Nhà văn 2009) kể lại về Cải cách ruộng đất tại một xã ở tỉnh Thái Bình, chủ yếu là các sự kiện năm 1955 ("năm Mùi", như trong sách liên tục nhắc đi nhắc lại), tức là khoảng thời gian cuối của Cải cách ruộng đất miền Bắc, những đợt thảm khốc nhất. Quyển tiểu thuyết này là cái nhìn ở phía bên kia, phía nạn nhân, chứ không phải từ phía đao phủ, phía các "ông Đội" hoặc "ông bà nông dân" như chẳng hạn Ba người khác của Tô Hoài.

Cái giá trị của cuốn sách này không phải là cách viết, cách kể chuyện, mà chủ yếu là vấn đề trong Cải cách ruộng đất những chuyện gì đã xảy ra, đúng hơn là những chuyện gì đã có thể xảy ra. Câu chuyện trong này có một phần rút từ cuộc đời tác giả Nguyễn Khoa Đăng, nhưng theo tác giả thì phần lớn là những gì xảy ra ở trong xã ông (xem phỏng vấn Nguyễn Khoa Đăng); theo mấy lời ghi ở sách thì Nguyễn Khoa Đăng quê Vũ Thư, Thái Bình, một trong những tỉnh có nhiều xã bị đưa ra làm "cải cách" nhất của miền Bắc.

Ai đã đọc Ba người khác rồi (tôi sẽ phải tìm đọc Sắp cưới của Vũ Bão) sẽ biết cái kiểu tình thế trở ngược sau một đêm, "tôm lộn đầu", rồi những chuyện nông dân mang ra tố, bịa đặt, thêu dệt, rồi giết người, đeo gông, nhốt tù... Đây là ghi chép của Trần Dần về vụ "đấu Nguyễn Văn Nga" mà Trần Dần trực tiếp chứng kiến tại Bắc Ninh vào năm 1956.

Trong Nước mắt một thời, vì không nặng về văn chương tuy cũng có cố gắng lồng câu chuyện cải cách vào một mối tình oan trái kéo dài cả một đời, có nhiều chi tiết về đời sống nông dân, mối quan hệ hàng xóm họ tộc, đặc biệt là đưa lại những câu khẩu hiệu hồi đó hay dùng: "Có khổ tố khổ, nông dân vùng lên" hay "Tố khổ nhiều, đấu tranh mạnh", ngoài ra câu mà các ông bà nông dân thường nói khi trực tiếp tố ai đó là "Mày cúi mặt xuống, mày vểnh tai lên".

Trong sách có một đoạn miêu tả một hiện tượng xảy ra ngay sau khi hòa bình lập lại: thời đó có món "nhảy kết đoàn", tức là người nông dân cứ nghe tiếng hát là nhảy, cứ có từ hai người trở lên là nhảy, nhảy say mê, nhảy phát cuồng, rồi từ nhảy nhót mà sinh ra bụng to, thành thử có câu vè: "Người ta chết vì nước vì non/Con gái tôi chết vì son đố mì".

Vì tôi đọc quyển này cùng thời gian với tập bút ký Canh bạc của Võ Đắc Danh nên thấy có một sự tương đồng về cách miêu tả ấn tượng tình dục đầu đời ở các cậu bé. Rất giống nhau: trong bài "Rơm rạ dại khờ" VĐD tả "chị Vân" làm cậu bé con xao xuyến vì một lần đứng trên cao xúc lúa, áo chị rộng nên cậu bé nhìn thấy xuyên suốt từ dưới lên. Cậu bé trong Nước mắt một thời thích cô Én, một lần cô cúi người làm đồng, cậu bèn nhìn xuyên suốt được từ trên xuống dưới. Mô típ này còn có trong rất rất nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn khác nữa.

10/15/09

Trẻ tuổi và tranh đấu

+ Một bài còn sót lại chưa đăng báo được, giờ cũng chẳng đăng nữa.

Sự kiện có ý nghĩa nhất của dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Hoài Thanh vừa rồi nằm ở việc xuất bản cuốn sách Hoài Thanh trên báo Tràng An (NXB Hội Nhà văn). Những bài báo do Hoài Thanh viết ở thời tuổi trẻ ấy hứa hẹn sẽ làm cho cách hiểu về ông cũng như các sự kiện quan trọng của lịch sử văn học Việt Nam trước 1945 có thay đổi không nhỏ.

Quả thực, lễ kỷ niệm lớn cùng rất nhiều bài báo ca ngợi tài năng và con người Hoài Thanh không đóng góp được điều gì đáng nói cho nhu cầu tìm hiểu sâu hơn một nhân vật lớn, một nhà phê bình luôn ở trung tâm nền văn học Việt Nam trong suốt nhiều năm. Được nhà nghiên cứu Từ Sơn thực hiện cùng giúp đỡ về tư liệu của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, Hoài Thanh trên báo Tràng An đăng lại các bài Hoài Thanh viết đăng trên báo Tràng An của Bùi Huy Tín tại Huế trong hai năm 1935, 1936, giai đoạn quan trọng trong sự nghiệp của Hoài Thanh: cùng khoảng thời gian cuốn Văn chương và hành động (Hoài Thanh ký tên cùng Lưu Trọng Lư và Lê Tràng Kiều) bị chính quyền thực dân tịch thu, đồng thời với cuộc tranh cãi giữa Hoài Thanh và nhóm Hải Triều, Phan Văn Hùm, và cũng là không lâu trước khi Hoài Thanh viết Thi nhân Việt Nam cùng Hoài Chân.

Cuộc tranh luận nổi tiếng “vị nghệ thuật-vị nhân sinh” bắt nguồn giữa Hải Triều Nguyễn Khoa Văn và Thiếu Sơn Lê Sĩ Quý đang diễn ra thì Hoài Thanh khi ấy đang viết cho Tràng An lên tiếng ủng hộ mặt nghệ thuật của Kép Tư Bền (Nguyễn Công Hoan). “Chiến tuyến hợp nhất” liền được phía “vị nhân sinh” lập ra chĩa mũi dùi công kích Hoài Thanh suốt trong một thời gian dài. Các tài liệu mới công bố (tuy chưa đầy đủ vì hiện còn chưa tìm được những bài Hoài Thanh viết cho các tờ Phổ ThôngLe Peuple ở Hà Nội; trong thời gian sắp tới các bài ông viết cho tờ La Gazette de Hué sẽ được xuất bản) cho thấy ngay từ giai đoạn ấy Hoài Thanh đã kịch liệt phản đối việc mình bị gọi là “nghệ thuật vị nghệ thuật”; điều quan trọng hơn là những bài báo trên Tràng An (ký “Hoài Thanh” và “Nhà Quê”) quả thực cho thấy cái nhãn “vị nghệ thuật” đeo đẳng ông suốt bao nhiêu năm là cả một sự hàm hồ to lớn.

Trên Tràng An, Hoài Thanh rất ít viết phê bình văn học mà chủ yếu bình luận xã hội và phản biện các chính sách của nhà nước bảo hộ, đồng thời đưa thông tin nước ngoài. Bắt đầu bằng bài báo “Một sự hoang phí ghê gớm: Dân quê”, Hoài Thanh viết về thân phận người dân nghèo trong xã hội (cùng mạch này sẽ còn có “Nghề trồng bắp ở Trung Kỳ” hay “Tình cảnh dân làm muối rất đáng thương”), phê phán cường hào ở nông thôn, châm biếm các chức sắc, và thể hiện sự ưu tư rất đáng chú ý về lịch sử dân tộc (bài viết dài “Hai ba tháng Năm ngày kinh đô thất thủ”). Trước khi là một nhà phê bình văn học (Thi nhân Việt Nam xuất bản năm 1942), Hoài Thanh cần được nhìn nhận là một người trẻ tuổi đấu tranh xã hội bằng ngòi bút.

Nhiều người đã nói tới đặc điểm bùng nổ của tuổi trẻ ở giai đoạn trước 1945 và điều này đúng: Thơ Mới ngay sau “phát súng lệnh” của Phan Khôi trung niên đã thuộc về lớp trẻ, thậm chí rất trẻ (như Chế Lan Viên hay Đinh Hùng). Các nhà phê bình thời đó cũng trẻ, cả Hoài Thanh lẫn Trương Tửu đều xuất hiện trên văn đàn rất sớm, và đã đấu tranh vì xã hội, vì văn minh một cách chân thành (từ khi chưa đầy 20 tuổi Hoài Thanh đã bị chính quyền bắt giam, và đó không phải là lần duy nhất). Những gì thế hệ này làm được không chỉ là cái mới, mà còn là cái tốt, không chỉ là cái đẹp, mà còn là lý tưởng đấu tranh.

Hoài Thanh trên báo Tràng An có ý nghĩa kép: cuốn sách vừa hé lộ một phần tuổi trẻ đáng tự hào của nhà phê bình nổi tiếng nhất của Việt Nam, vừa giúp đính chính lịch sử: trong cuộc tranh luận hồi ấy, “nghệ thuật vị nghệ thuật” chỉ là một đối tượng ảo, và trong guồng quay của lịch sử, Hoài Thanh đã bị lựa chọn làm đối tượng công kích (khi ấy người đầu tiên tranh luận với Hải Triều là Thiếu Sơn đã lặng lẽ rút lui). Trong đời Hoài Thanh, đây mới chỉ là lần “được lựa chọn” đầu tiên.

10/11/09

Để chào thi sĩ Bùi Chát

Bùi Chát là người thi sĩ nhất trong số các thi sĩ của Mở Miệng (nói điều này tôi thấy không cần phải kèm theo lời xin lỗi các thành viên khác). Bài thơ một vần (One-rhyme Poems, bản tiếng Anh của Lê Đình Nhất-Lang) là tác phẩm riêng thứ sáu của Bùi Chát kể từ năm 2003. Tác phẩm lần này vẫn do Giấy Vụn Publishing House ấn hành, một quyển sách đủ đẹp để làm ghen tị toàn bộ hệ thống xuất bản Việt Nam từ trong nước đến ngoài nước, từ chính thống đến ngoài luồng. Dường như Bùi Chát và Giấy Vụn làm được một điều cực kỳ khó trong in sách: chỉ in những gì thật đẹp. Hớt váng chứ không hớt bùn, chỉ hớt váng chứ không tranh thủ hớt tí bùn kèm theo.

Trong tập thơ, bài "Không đề" là Bùi Chát của những tập thơ cũ:

Những cây gì trên đường nào không biết nữa
Tự dưng thu về trổ rực hoa đỏ
Và chiều nay đương kẹt xe ở đó


Nhưng có những điều rất khác với Bùi Chát thông thường. Bài "Hoa sữa" không biết có phải kết quả của mấy chuyến Bắc hành?

Đến từ đâu
Nồng, tanh. Hoa sữa
Nào phải ai cũng đều được biết

Trông thấy dáng cây từ xa, tôi thiệt sự muốn chết
Hoa sữa gợi nỗi đau chuyện bị chèn ép
Chúng cướp dưỡng khí, dường cô lập tôi giữa rừng người

Trong những bài thơ và những bài hát
Ngợi ca hoa sữa. Khiến thời gian nực cười
Vẻ lãng mạn tồi tàn
Mùi hoa nhắc nhớ mùa thu đương trị

Đã quen với việc hiện diện của chúng
Người ta có thể dễ chấp nhận. Trên mảnh đất này
Một kiểu chánh trị đậm mùi. Hoa sữa


Bài "Hiện thực xã hội chủ nghĩa" kết lại cả tập:

Anh chị em hãy nhớ
Chúng ta có mặt nơi đây không phải để khóc
Không phải để cân nhắc
Im lặng
Rồi quay đầu
Chúng ta ở đây để sống
Để thể hiện bổn tánh chúng ta

Đâu nhất thiết phải quan tâm
Nhắc nhở lời đe dọa
Bởi, với chúng ta
Sợ hãi - không bao giờ là mục đích


Có thể nhiều người nghĩ Bùi Chát của Bài thơ một vần khác lạ so với trước đây là vì lần này không thấy ở đâu một Bùi Chát bông đùa. Tôi lại nghĩ đây là lần để Bùi Chát nói rằng: thi sĩ chưa bao giờ bông đùa cả.

10/9/09

IP của Viện Hàn lâm

Pierre Assouline cũng chưa bao giờ đọc Herta Müller, nhưng trên blog hôm nay có một thông tin rất buồn cười: trước khi Nobel Văn chương được công bố, chỉ có trang The Literary Saloon thực sự nghiêm túc nghĩ tới khả năng Müller được giải (ngoài một hãng cá cược ở Anh), vì chủ trang này, Michael Orthofer, thấy trong số những người vào trang của mình có một IP truy cập rất nhiều lần, và đó là IP của Viện Hàn lâm Thụy Điển, sau khi Orthofer dựa theo tỉ lệ cá cược mà đưa tin về Müller. Đó là trang này (ngày 6 tháng Mười).

Trên The Literary Saloon cũng có nhiều thông tin tổng hợp.

Assouline cũng đưa vài comment của người đọc blog lên, trong đó có mấy người Rumani, họ nói cho tới giờ Müller vẫn bị ám ảnh bởi hệ thống cảnh sát, mật vụ thời Ceausescu, vẫn nghĩ rằng Securitate còn hoạt động. Một người cho rằng như vậy là không đúng tình hình, một người khác (sống tại Rumani) thì khẳng định là đúng. Securitate vẫn tồn tại ở Rumani dù chế độ đã thay đổi.

Điều này không khác mấy so với các chi tiết ở cuối bộ phim "Đời kẻ khác" (sao các nơi cứ gọi là "Cuộc sống của những người khác" nhỉ?): nhân vật bộ trưởng có bị làm sao đâu.

10/7/09

Ứng xử với cái chết

Ở hình ảnh nam tước Cosimo xứ BóngRâm (rất bực là các báo đều tưởng viết sai nên sửa hết BóngRâm thành Bóng Râm, Gian ChùmThạchThảo thành Gian Chùm Thạch Thảo, con chó biệt danh GiỏiGiắn thành Giỏi Giắn... hình như có một tờ viết đúng nhưng không nhớ là tờ nào) túm lấy khinh khí cầu bay lên không trung ở phần kết Nam tước trên cây, tôi thấy ý muốn của Calvino: thử một lần cho cái chết bay lên trời. Không chui xuống đất, cái chết của Calvino về thực chất là không tồn tại, bị đẩy bay ra khỏi cuốn sách. Không có cái chết, tác phẩm văn chương mới có thể thực sự nhẹ, đồng thời tiếp nối được truyền thống lớn của viết lách: truyện cổ tích, kịch hài, rồi ngay cả Lucky Luke: thời kỳ đầu đối thủ của chàng lonesome cowboy chết như ngả rạ, nhưng phải sau khi chẳng có ai chết trong những trang sách ấy thì Lucky Luke, thời kỳ của Morris và Goscinny, mới trở thành một truyện tranh vĩ đại.

Cũng chỉ một cái kết như thế mới tương xứng với câu chuyện của Nam tước trên cây.

Viết, là chuẩn bị cho cái chết, cũng có thể, nhưng theo tôi đúng hơn thì Viết, là không chuẩn bị cho cái chết. Từ chối chuẩn bị, trong tinh thần của sự tận dụng cái vắng mặt.

Tôi nảy ra những ý nghĩ trên khi đọc bài báo của Nhã Thuyên, "Văn chương của sự nhẹ nhõm sâu xa", đăng trên tờ Văn Nghệ Trẻ số 40, 4/10/2009. Bài viết được xếp vào phần diễn đàn về văn học thiếu nhi, trong đó chỉ ra một điều mà từ lâu tôi rất muốn tìm được sự xác nhận: "Nhiều người viết, bởi không quen tiếp nhận sách nước ngoài, rơi vào tình trạng không thể đọc sách dịch, nhiều người lại có thể dễ dàng bị cuốn theo".

Một bài mới nữa của Nhã Thuyên mà tôi cũng thích là bài về Chinatown: "Trò chơi văn bản và những tương tác". Nhưng, nhìn từ khía cạnh thuần túy lý thuyết thì có vẻ như là có nhầm lẫn ở đây: tuy Nhã Thuyên đưa ra các bệ đỡ lý thuyết khác hẳn nhưng tôi vẫn nghĩ ý Nhã Thuyên muốn nói đến hai hiện tượng: autofiction và mise en abyme.

Thứ nhất là autofiction mà nhiều người dịch thành "giả tự truyện" nhưng tôi nghĩ "tự hư cấu" thì chính xác hơn. Tự hư cấu về bản thân mình, dựa trên một số/nhiều yếu tố tiểu sử có thật, làm lạc lối, rối trí người đọc, gây ra những bất ổn về cảm nhận/nhận biết/đạo đức về sự thật.

Khi bài viết nói đến Bọn làm bạc giả của André Gide thì giá trị về lý thuyết của nó bị giảm đi rất nhiều: nhắc Bọn làm bạc giả trong đoạn bàn về tự thuật là không ổn: Bọn làm bạc giả không phải là dẫn chứng tốt cho tự thuật (mà có tí chút tự thuật nào trong đó đâu nhỉ). Cái "ranh giới thật giả" ở đây nằm ở vấn đề lý thuyết thứ hai: "mise en abyme", mà từ trước đến nay tôi vẫn đề xuất dịch thành "truyện trong truyện".

Tuy nhiên, "truyện trong truyện" này khác với việc trong một tiểu thuyết lại có một truyện ngắn chẳng hạn, trường hợp Les Sélections électives của Goethe (tên tiếng Đức là gì lại quên rồi, nhờ bạn Marcus một lần nữa vậy :), nôm na là các lực hút lực đẩy như trong vật lý hay hóa học của các yếu tố ở cùng một không gian). Mise en abyme là bởi vì trong Bọn làm bạc giả có nhân vật Édouard nhà văn đang viết một quyển Bọn làm bạc giả. Kỹ thuật này mượn từ hội họa, khi bức tranh vẽ một họa sĩ đang vẽ bức tranh (có thể tiếp tục mãi như vậy) thì đó là "mise en abyme". Hiện tượng có truyện ở trong truyện nhưng không có yếu tố chủ thể sáng tạo và con đường sáng tạo (như ở quyển sách của Goethe) thì có thể gọi là "truyện nằm trong truyện" chẳng hạn.

Trong lý thuyết sau này, người ta ghi nhận André Gide là cha đẻ của "mise en abyme" - trước Bọn làm bạc giả đến 30 năm Gide đã viết thuật ngữ này vào sổ tay và thể hiện là mình say mê kiểu viết đó.

Chinatown có thể coi là tiểu thuyết sử dụng mise en abyme (hoặc ít nhất là mise en abyme ở một dạng gần đầy đủ), và cũng không phải quyển duy nhất: Khải huyền muộn của Nguyễn Việt Hà cũng là một ví dụ tốt cho kỹ thuật này.

+ Bài của bác Nguyễn Chí Hoan về Phía sau nghi can X.

10/4/09

Thu vén cho im lặng

+ “Không bài thơ nào hướng tới độc giả, không bức tranh nào hướng tới người xem, không bản giao hưởng nào hướng tới khán giả”, câu này là của Walter Benjamin. Một câu cần được vang lên vào những lúc người ta, vì không còn biết làm gì, quay trở lại nhấn mạnh vào thông điệp của tác phẩm văn chương, coi đó là cứu cánh cho đầu óc thích dừng lại khoanh vùng hơn là đi tiếp, đi nữa, qua đó cho thấy những niềm tin luôn không có sức mạnh. “Tác phẩm văn chương “nói” cái gì? Nó truyền đạt cái gì? Rất ít, với người hiểu văn chương”, Benjamin, người cùng Roland Barthes tạo ra một đường lối hiểu và nói về văn chương riêng của thế kỷ XX, một đường lối đến giờ nhìn lại cũng không lấy gì làm thắng thế, nhưng cũng cho thấy một sức mạnh kiên trì của một niềm tin mỏng.

+ Miêu tả sự im lặng: Dacia Maraini đã chứng tỏ là làm được điều này trong Nữ công tước Marianna Ucrìa (La lunga vita di Marianna Ucrìa). Một nữ công tước bị câm (và điếc) từ nhỏ. Trước một hiện tượng như vậy, một cái gì đó khác văn chương sẽ tập trung vào việc làm thế nào mà nhân vật vượt qua tật nguyền hoặc bị bệnh tật đánh gục, còn văn chương là chuyện bị câm nghĩa là gì, sự câm lặng nghĩa là gì, và bị câm thì có làm sao.

Dacia Maraini từng là bạn đời (không phải vợ) của Alberto Moravia trong khoảng hai mươi năm, sắp sang đến Việt Nam.

+ Đọc Phía sau nghi can X của Higashino Keigo, tôi thấy không có gì cần phải bàn về tài năng lắt léo (nhưng lại ở trong một môi trường chữ nghĩa và tâm lý rất bình dị) của tác giả. Một tiểu thuyết trinh thám đích thực, cao thủ, đến mức điều duy nhất tôi muốn nhớ (như một sự bấu víu? cũng có thể) là một hình ảnh nào đó không liên quan chút nào tới câu chuyện. Tìm ra được cái này cũng khó lắm, vì Keigo xếp được tất tật những gì xuất hiện vào bức tranh, cái nào cũng có chỗ. Cuối cùng chắc chỉ còn hình ảnh bà già dẫn chó đi dạo vào buổi sáng, ba con, mỗi con một sợi dây buộc cổ màu khác nhau.

+ Về sự im lặng cấp độ khác: những bức thư. Thứ nhất là bức thư của Hemingway gửi Maxwell Perkins, các bạn bên déjà vous đã chịu khó dịch ra. Đấy, người ta viết thư cho editor như thế chứ :) Không hiểu câu “Điều đó khiến việc được có tên trong danh mục Who’s Who thật đáng giá”.

Bức thư thứ hai: Céline gửi Mauriac. Bác Pierre Assouline này đưa nó lên là vì thật kỳ cục khi nghĩ đến việc Céline lại giao thiệp thư từ với Mauriac. Tài liệu mới, được Henri Godard công bố trên NRF mới đây. Thư gửi để cảm ơn mà Céline như chửi Mauriac hehe: “Tuy vậy không gì xích chúng ta lại gần nhau, không gì có thể xích chúng ta lại gần nhau; ông thuộc về một giống loài khác, ông gặp những người khác, ông nghe thấy những giọng nói khác. Với tôi, kẻ giản đơn, Chúa là một thứ trò vè có tác dụng làm người ta suy nghĩ tẹt ga hơn về bản thân mình, khỏi phải nghĩ đến bọn người nữa, nói tóm lại là để đào thoát luôn cho xong.”

Từ phát hiện này đến một công bố khác: có vẻ như thời điểm bắt đầu của Thơ Mới đã phải tính lại sau bài này của Lại Nguyên Ân.