Đọc thấy câu "Tôi còn nói nhiều về Thơ nữa. Không vội, tôi mới 28 tuổi" của Trần Dần trích từ Nhật ký Trần Dần, 1954, đoạn mở đầu bằng "Vào chiến tranh, tôi muốn thơ tôi thế nào?" đặt ở đầu Đi! Đây Việt Bắc! (hùng ca - lụa, 1957), in lại năm nay (Nhã Nam và NXB Hội Nhà văn; cuối sách có lời bạt Lại Nguyên Ân mới viết, tiêu đề "Đôi dòng ghi sau tác phẩm Đi! Đây Việt Bắc! hùng ca - lụa của Trần Dần". Lại nhớ đến Vũ Trọng Phụng: 28 tuổi Vũ Trọng Phụng đã kịp chết, đã kịp "viết để không chết" (theo cách nói của Maurice Blanchot) xong xuôi. Nhớ đến Vũ Trọng Phụng là vì NXB Phụ nữ vừa cho in Hà Nội cũ nằm đây của Ngọc Giao, một trong các nhân vật quan trọng của Tiểu thuyết thứ bảy, tức là một trong những tờ báo "trẻ" ra đời nhằm lật đổ sự thống trị của tập đoàn Tự Lực (tức là Tự Lực văn đoàn) của Phong hóa và Ngày nay (triền miên trên Tiểu thuyết thứ bảy và Hà Nội báo, đều của Tân Dân Vũ Đình Long, đó là chưa kể đến Ích Hữu, ít nhất trong những số đầu, là các tranh cãi liên miên, nhiều khi xúc xiểm nhau nặng nề của hai phái).
Trong tập sách của Ngọc Giao có hai bài về Vũ Trọng Phụng (có lẽ nên coi Vũ Trọng Phụng là biểu tượng của phong trào chống Tự Lực, cũng như Tự Lực là biểu tượng của phong trào chống Nam Phong - bên nhóm Nhất Linh hồi ấy hay gọi Nam Phong là "bà già ở phố Hàng Da"; đúng là sóng sóng dập vùi, lớp sau đè lên lớp trước hehe), một bài là "Chiêu niệm Vũ Trọng Phụng" viết ngay từ hồi ấy, bài kia viết sau này (1989): "Đôi điều tôi biết về Vũ Trọng Phụng".
Đợt này đang kỷ niệm Thăng Long cái gì đó, rất chi nhiều sách vở tung bay phấp phới, trong đó đa phần đáng vứt đi cả, nhưng chịu khó tìm thì cũng có một vài cái hay.
Sách vở nói chung của dạo này thì để chút nữa viết tiếp.
+ Khá là khó nghĩ về không khí báo chí văn chương Việt Nam thời những năm 1930. Qua rất nhiều miêu tả và bút lục còn để lại thì Tự Lực văn đoàn và nhóm Tân Dân cạnh tranh nhau ác liệt vô cùng, thế nhưng trong "Chiêu niệm Vũ Trọng Phụng" thì Ngọc Giao lại có đoạn viết như sau:
"Đây là câu chuyện cũ: chúng tôi, một số lớn văn nghệ sĩ Bắc Hà - từ 1935 trở đi - đều giúp ông Vũ Đình Long mà dạo đó mặc dầu chúng tôi không nhận, người ta cũng cứ gọi là văn phái Tân Dân, nghĩa là một văn phái đối lập với anh em Tự lực văn đoàn. Sự thực đâu có thế, chúng tôi chỉ là những nhà văn độc lập, nhưng mảnh buồm tơi tả không bảo nhau mà giạt cả vào một bến, bởi vì không có gió để ra khơi!"
Thế thì thật ra là thế nào?
+ Một trong những cuốn hay gần đây là Triết học nhân sinh của tôi của Vương Mông, cựu bộ trưởng văn hóa Tàu, từng đi chăn cừu hay chăn dê ở Tân Cương mười sáu năm trời. Cái điều khoái là bản dịch của cô Phạm Tú Châu, người mà tôi nghĩ là dịch giả tiếng Trung đáng tin cậy hơn cả hiện nay.
11/30/09
11/27/09
Tự đặt tên cho mình
Chúng ta thử đọc đoạn văn sau đây trong cuốn tiểu thuyết rất đặc biệt mang tên “Lời hứa lúc bình minh” (của Romain Gary, Nguyễn Duy Bình dịch, Nhã Nam & NXB Văn học): “Mãi sau này, khi lần đầu tôi nghe tên Tướng de Gaulle trên đài phát thanh, lúc ông đọc lời kêu gọi lừng danh của mình, phản ứng trước tiên của tôi là tức giận bởi tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện lấy cái tên đẹp đẽ này mười lăm năm trước đó: Charles de Gaulle, cái tên hẳn sẽ làm mẹ tôi vừa lòng” (tr. 35). Đoạn văn này, ngoài việc nhắc tới de Gaulle là nhân vật có ý nghĩa quan trọng trong đời nhân vật chính, còn “định giọng” cho cả cuốn tiểu thuyết.
Bởi “Lời hứa lúc bình minh” là câu chuyện về công cuộc định danh, xác lập một sự nghiệp trên cơ sở một cái tên có đủ sức biến một con người thành một “nhân vật lịch sử”; nhưng ở đây có một điều rất hi hữu: logic của người mẹ và người con trai trong cuốn tiểu thuyết không dừng ở mức thông thường là xây dựng tương lai dựa trên những gì hiện có, mà là làm thế nào để xứng đáng được với cái tên do chính họ đặt ra.
Romain, con trai của một bà mẹ đơn độc, một người di dân với đầu óc được tráng một thứ men tráng lệ có tên gọi niềm tin ở thành công nhất định sẽ có của tương lai, đã thất bại thảm hại trong mấy nỗ lực tìm kiếm vinh quang bằng âm nhạc, hội họa hay các môn nghệ thuật khác, chỉ còn lại văn chương như hy vọng cuối cùng. Niềm thất vọng của Romain Kacew, Do Thái gốc Litva, muôn lần như một, sẽ sống dậy đầy đau đớn mỗi khi vấp phải những cái tên thiên tài âm nhạc như Menuhin hay Heifetz, như thể chính những cái tên riêng ấy có quyền năng gây đau khổ. Khi Romain còn nhỏ, người mẹ ấn đàn vào tay con và ấn cả niềm tin sắt đá rằng con trai bà sẽ ngang hàng với những thần đồng danh tiếng nhất. Niềm tin này không hề bình thường như một niềm tin đúng nghĩa - bà mẹ “biết” con trai mình sẽ kỳ vĩ; bà không hy vọng, mà bà bắt buộc tương lai phải quy thuận mình, vì một lẽ rất giản đơn: quá khứ đã khước từ bà.
Chúng ta sẽ thấy Romain Gary miêu tả cái cơ chế niềm tin kỳ quặc (nhưng cũng thật đẹp) này tài tình như thế nào trong một văn phong gây sửng sốt trong niềm sung sướng phát hiện rằng văn chương chẳng việc gì phải sầu khổ, nặng nề mà vẫn bộc lộ được tất cả những gì đặc quánh nhất, tinh chất nhất của tình cảm con người. Còn nhỏ, cậu bé Romain dành trọn những ngày dài để viết ra trên giấy các cái tên ngõ hầu tương xứng nổi với mình, hay nói đúng hơn là xứng nổi với cậu và mẹ cậu, người không một lúc nào tách khỏi cậu, người đã bằng một lời hứa ở bình minh của cuộc đời mà chi phối hoàn toàn con đường đời sau này của cậu, ngay cả khi bà đã không còn sống nữa.
Thường thì người ta đi từ cái nhỏ đến cái lớn, đôi khi may mắn thì đến được cái lớn lao (“tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tùy theo sức của mình”), còn mẹ con Gary lại từ một cõi lớn lao nào đó bước ra cuộc đời, giơ gậy và chỉ tay bắt cuộc đời phải tuân phục sự kỳ vĩ mà họ đã mang sẵn trong người. Với bà mẹ của Romain, Victor Hugo là Tổng thống Cộng hòa, và không thực tế nào đủ sức lay chuyển cái hình dung méo mó ấy; còn Romain thì đi đến một kết luận chắc hẳn làm sững sờ bất kỳ ai từng động tay vào viết văn: “Tôi gần như đi đến kết luận là với tư cách phương tiện biểu đạt văn chương, bút danh là chưa đủ, mà còn cần phải viết sách nữa” (tr. 24).
“Lời hứa lúc bình minh”, một cách xuất sắc như văn chương vốn phải như vậy, như thể nói rằng con người ta tuyệt đối có thể lấy hư cấu bao trùm lên thực tại, coi thực tại chỉ là một phản ánh nào đó nhất thời và ngẫu nhiên của trí tưởng. Romain của “Lời hứa lúc bình minh” tự đặt tên cho mình để lôi hẳn cõi sống bên trong ra làm “khuôn mẫu” cho đời thực, còn Romain Gary sau này cũng sẽ tự đặt tên cho mình thành Émile Ajar, bắt cuộc đời chấp nhận thêm một hiện thân khác nữa của ông; khi ấy cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất của “giai đoạn Ajar” sẽ là “Cuộc sống trước mặt” (1975), một cách viết lại chính “Lời hứa lúc bình minh”.
Nhị Linh
+ Lần này chẳng nghĩ ra một cái tít khác nữa, lấy đúng cái tít chính thức vậy.
Bởi “Lời hứa lúc bình minh” là câu chuyện về công cuộc định danh, xác lập một sự nghiệp trên cơ sở một cái tên có đủ sức biến một con người thành một “nhân vật lịch sử”; nhưng ở đây có một điều rất hi hữu: logic của người mẹ và người con trai trong cuốn tiểu thuyết không dừng ở mức thông thường là xây dựng tương lai dựa trên những gì hiện có, mà là làm thế nào để xứng đáng được với cái tên do chính họ đặt ra.
Romain, con trai của một bà mẹ đơn độc, một người di dân với đầu óc được tráng một thứ men tráng lệ có tên gọi niềm tin ở thành công nhất định sẽ có của tương lai, đã thất bại thảm hại trong mấy nỗ lực tìm kiếm vinh quang bằng âm nhạc, hội họa hay các môn nghệ thuật khác, chỉ còn lại văn chương như hy vọng cuối cùng. Niềm thất vọng của Romain Kacew, Do Thái gốc Litva, muôn lần như một, sẽ sống dậy đầy đau đớn mỗi khi vấp phải những cái tên thiên tài âm nhạc như Menuhin hay Heifetz, như thể chính những cái tên riêng ấy có quyền năng gây đau khổ. Khi Romain còn nhỏ, người mẹ ấn đàn vào tay con và ấn cả niềm tin sắt đá rằng con trai bà sẽ ngang hàng với những thần đồng danh tiếng nhất. Niềm tin này không hề bình thường như một niềm tin đúng nghĩa - bà mẹ “biết” con trai mình sẽ kỳ vĩ; bà không hy vọng, mà bà bắt buộc tương lai phải quy thuận mình, vì một lẽ rất giản đơn: quá khứ đã khước từ bà.
Chúng ta sẽ thấy Romain Gary miêu tả cái cơ chế niềm tin kỳ quặc (nhưng cũng thật đẹp) này tài tình như thế nào trong một văn phong gây sửng sốt trong niềm sung sướng phát hiện rằng văn chương chẳng việc gì phải sầu khổ, nặng nề mà vẫn bộc lộ được tất cả những gì đặc quánh nhất, tinh chất nhất của tình cảm con người. Còn nhỏ, cậu bé Romain dành trọn những ngày dài để viết ra trên giấy các cái tên ngõ hầu tương xứng nổi với mình, hay nói đúng hơn là xứng nổi với cậu và mẹ cậu, người không một lúc nào tách khỏi cậu, người đã bằng một lời hứa ở bình minh của cuộc đời mà chi phối hoàn toàn con đường đời sau này của cậu, ngay cả khi bà đã không còn sống nữa.
Thường thì người ta đi từ cái nhỏ đến cái lớn, đôi khi may mắn thì đến được cái lớn lao (“tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tùy theo sức của mình”), còn mẹ con Gary lại từ một cõi lớn lao nào đó bước ra cuộc đời, giơ gậy và chỉ tay bắt cuộc đời phải tuân phục sự kỳ vĩ mà họ đã mang sẵn trong người. Với bà mẹ của Romain, Victor Hugo là Tổng thống Cộng hòa, và không thực tế nào đủ sức lay chuyển cái hình dung méo mó ấy; còn Romain thì đi đến một kết luận chắc hẳn làm sững sờ bất kỳ ai từng động tay vào viết văn: “Tôi gần như đi đến kết luận là với tư cách phương tiện biểu đạt văn chương, bút danh là chưa đủ, mà còn cần phải viết sách nữa” (tr. 24).
“Lời hứa lúc bình minh”, một cách xuất sắc như văn chương vốn phải như vậy, như thể nói rằng con người ta tuyệt đối có thể lấy hư cấu bao trùm lên thực tại, coi thực tại chỉ là một phản ánh nào đó nhất thời và ngẫu nhiên của trí tưởng. Romain của “Lời hứa lúc bình minh” tự đặt tên cho mình để lôi hẳn cõi sống bên trong ra làm “khuôn mẫu” cho đời thực, còn Romain Gary sau này cũng sẽ tự đặt tên cho mình thành Émile Ajar, bắt cuộc đời chấp nhận thêm một hiện thân khác nữa của ông; khi ấy cuốn tiểu thuyết xuất sắc nhất của “giai đoạn Ajar” sẽ là “Cuộc sống trước mặt” (1975), một cách viết lại chính “Lời hứa lúc bình minh”.
Nhị Linh
+ Lần này chẳng nghĩ ra một cái tít khác nữa, lấy đúng cái tít chính thức vậy.
Labels:
gary
11/26/09
Pô beau
+ Thằng nhóc láo toét nhất của truyện tranh phương Tây cuối cùng cũng đặt được chân tới đây: thằng Titeuf. Thật là tiếc vì không in được dạng truyện tranh khổ to, chỉ in được loại truyện viết lại (có nhiều minh họa, kiểu Cédric). Truyện này trước đây mỗi lần ra tập mới là tôi phải khẩn trương đi tìm, vào thư viện mượn sách cũng chỉ chăm chăm cướp giật (lấy được về nhà đọc cũng khó vì nhiều người thích đọc quá). Hình như truyện nguyên gốc lắm "zizi" quá nên bị coi là vi phạm thuần phong mỹ tục thì phải, hic. Titeuf không nói "pas beau" mà "pô beau", dịch thành "kóc đẹp".
+ Ra hiệu sách bỗng giật mình kinh hãi vì thấy có một quyển tên là Muôn dặm không mây, đầu tiên được Tôn Thư Vân viết bằng tiếng Anh (Ten Thousand Miles without a Cloud) rồi xuất bản tiếng Tàu. Tên tiếng Tàu là Vạn lý vô vân; sách của NXB Tri thức, Tâm Hiếu dịch. Quyển này viết lại cuộc Tây du thỉnh kinh của Huyền Trang. Phiền một nỗi là Lý Nhuệ cũng lại có một quyển tiểu thuyết tên đúng là Vạn lý vô vân luôn.
+ Quyển Gomorra (Roberto Saviano, Hàn Hoa dịch - có vẻ từ tiếng Ý gốc, Vân Khánh hiệu đính, Hà Giang Books & NXB Thanh niên): chắc không phải nói gì về quyển này nữa. Chỉ tức là toàn bộ đống sách bị vào bìa hỏng, lệch lên lệch xuống. Pô beau, Titeuf :(
+ Trần Vàng Sao:
tôi yêu đất nước này như thế
tôi yêu đất nước này xót xa
tôi yêu đất nước này cay đắng
tôi yêu đất nước này khôn nguôi
tôi yêu đất nước này những buổi sớm mai
tôi yêu đất nước này áo rách
tôi yêu đất nước này như thế
tôi yêu đất nước này và tôi yêu em
tôi yêu đất nước này rau cháo
tôi yêu đất nước này lầm than
tôi yêu đất nước này chân thật
+ Ra hiệu sách bỗng giật mình kinh hãi vì thấy có một quyển tên là Muôn dặm không mây, đầu tiên được Tôn Thư Vân viết bằng tiếng Anh (Ten Thousand Miles without a Cloud) rồi xuất bản tiếng Tàu. Tên tiếng Tàu là Vạn lý vô vân; sách của NXB Tri thức, Tâm Hiếu dịch. Quyển này viết lại cuộc Tây du thỉnh kinh của Huyền Trang. Phiền một nỗi là Lý Nhuệ cũng lại có một quyển tiểu thuyết tên đúng là Vạn lý vô vân luôn.
+ Quyển Gomorra (Roberto Saviano, Hàn Hoa dịch - có vẻ từ tiếng Ý gốc, Vân Khánh hiệu đính, Hà Giang Books & NXB Thanh niên): chắc không phải nói gì về quyển này nữa. Chỉ tức là toàn bộ đống sách bị vào bìa hỏng, lệch lên lệch xuống. Pô beau, Titeuf :(
+ Trần Vàng Sao:
tôi yêu đất nước này như thế
tôi yêu đất nước này xót xa
tôi yêu đất nước này cay đắng
tôi yêu đất nước này khôn nguôi
tôi yêu đất nước này những buổi sớm mai
tôi yêu đất nước này áo rách
tôi yêu đất nước này như thế
tôi yêu đất nước này và tôi yêu em
tôi yêu đất nước này rau cháo
tôi yêu đất nước này lầm than
tôi yêu đất nước này chân thật
11/23/09
Hai bài thơ không mới
Tờ Văn nghệ trẻ số 46 (15/11/2009) đăng bài "Tìm thấy "Bài thơ của đêm 19-12" của Văn Cao" của Nhật Hoa Khanh. Theo tác giả kể thì phải mất rất nhiều năm, hỏi từ Phù Thăng, Nguyễn Đình Thi qua tới Trần Độ rồi Cao Pha thì mới ra được, mà ông tướng Cao Pha lại thừa hưởng văn bản bài thơ từ một số nhân vật khác là Khuất Duy Tiến và Vương Thừa Vũ.
Bài thơ tên là "Bài thơ của đêm 19-12-1946" in báo Vệ Quốc quân, liên khu 3, số 14 tháng 12/1949. (Giai đoạn này Văn Cao làm rất ít thơ). Tất nhiên là rất khác, nhưng tôi vẫn thấy có không khí của "Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc". Là "Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc" cộng với "Nhận đường" của Nguyễn Đình Thi rồi đem chia hai?
Bài thơ của đêm 19-12
Em mười bẩy tuổi ra đi
Xa nhau giữa đêm mười chín
Mất [chắc là "mắt"] anh còn quyến luyến
Em không ngờ phân ly
Ánh sáng hàng mi
Nhìn anh lấp lánh
Bóng tinh cầu đêm đó đã lên ngôi
Xác mới Hoa niên hồn trưởng thành rồi
Dạt xóm cỏ lênh đênh vào xóm thợ
Bước không bỡ ngỡ
Thân của vỉa hè
Em là dân lao khổ
Mồ hôi thấm búa đe
Lòng nghẹn gửi miền quê
Chúng ta còn người mẹ
Và anh còn các em
Đời vắng từ lâu hạnh phúc êm đềm
Trong gian khổ sát vào nhau trỗi dậy
Em đi vừa mười bẩy
Tay mang súng hiên ngang
Áo xanh khoác ngày vàng
Bước dẫn đầu đoàn thợ
Hà-Nội rợn mình súng nổ
Cả cửa ô sôi nổi chống quân thù
Đêm oai hùng lửa đốt xóm Âm-u
Ôi Hà-Nội, ôi Việt Nam thân ái
Xứ hiền hậu đất thanh bình Bác-Ái
Xứ sơ khai như cửa ngõ Thiên đường
Sóng nhỏ sông đào cồn lấp trùng dương
Nghe từ thuở đất mang tên Tháng Tám
Ôi mắt xanh quái đản
Em từ nhỏ mang thù
Trên bờ đường đói khổ
Hồn bơ vơ cổ phố
Em bỡ ngỡ bao lâu
Cách mạng du tuổi trẻ một tình đầu
Là xóm nhỏ thê lương là Việt-Nam Nhân Loại
Em say mê trong lửa đêm điên dại
Giữ mảnh vườn hoa trắng nở ngoại thành
Lặng hy sinh ngàn chiến sĩ vô danh
Máu đổ xuống đọng khắp đài hoa trắng
Hôm nay trời reo nắng
Một năm đã qua rồi
Sương buông rơi lãng đãng
Người em cũ xa tôi
Trong lòng đất tơi bời
Em không phải con mẹ
Ôi người em nhỏ bé
Em không phải em anh
Rụng giữa mùa xuân xanh
Giữa tuổi xanh tổ quốc
Em là con, là Em là tình nhân đất nước
Của cần lao, của nhân loại, dựng ngày Mai
Chút khinh thanh sau cuộc đấu tranh dài
-----------------
Định gõ luôn bài "Tình thủ đô" của Hữu Loan, làm cũng đại khái khoảng thời gian với bài thơ trên, nhưng thấy dài quá :(
Bài thơ tên là "Bài thơ của đêm 19-12-1946" in báo Vệ Quốc quân, liên khu 3, số 14 tháng 12/1949. (Giai đoạn này Văn Cao làm rất ít thơ). Tất nhiên là rất khác, nhưng tôi vẫn thấy có không khí của "Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc". Là "Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc" cộng với "Nhận đường" của Nguyễn Đình Thi rồi đem chia hai?
Bài thơ của đêm 19-12
Em mười bẩy tuổi ra đi
Xa nhau giữa đêm mười chín
Mất [chắc là "mắt"] anh còn quyến luyến
Em không ngờ phân ly
Ánh sáng hàng mi
Nhìn anh lấp lánh
Bóng tinh cầu đêm đó đã lên ngôi
Xác mới Hoa niên hồn trưởng thành rồi
Dạt xóm cỏ lênh đênh vào xóm thợ
Bước không bỡ ngỡ
Thân của vỉa hè
Em là dân lao khổ
Mồ hôi thấm búa đe
Lòng nghẹn gửi miền quê
Chúng ta còn người mẹ
Và anh còn các em
Đời vắng từ lâu hạnh phúc êm đềm
Trong gian khổ sát vào nhau trỗi dậy
Em đi vừa mười bẩy
Tay mang súng hiên ngang
Áo xanh khoác ngày vàng
Bước dẫn đầu đoàn thợ
Hà-Nội rợn mình súng nổ
Cả cửa ô sôi nổi chống quân thù
Đêm oai hùng lửa đốt xóm Âm-u
Ôi Hà-Nội, ôi Việt Nam thân ái
Xứ hiền hậu đất thanh bình Bác-Ái
Xứ sơ khai như cửa ngõ Thiên đường
Sóng nhỏ sông đào cồn lấp trùng dương
Nghe từ thuở đất mang tên Tháng Tám
Ôi mắt xanh quái đản
Em từ nhỏ mang thù
Trên bờ đường đói khổ
Hồn bơ vơ cổ phố
Em bỡ ngỡ bao lâu
Cách mạng du tuổi trẻ một tình đầu
Là xóm nhỏ thê lương là Việt-Nam Nhân Loại
Em say mê trong lửa đêm điên dại
Giữ mảnh vườn hoa trắng nở ngoại thành
Lặng hy sinh ngàn chiến sĩ vô danh
Máu đổ xuống đọng khắp đài hoa trắng
Hôm nay trời reo nắng
Một năm đã qua rồi
Sương buông rơi lãng đãng
Người em cũ xa tôi
Trong lòng đất tơi bời
Em không phải con mẹ
Ôi người em nhỏ bé
Em không phải em anh
Rụng giữa mùa xuân xanh
Giữa tuổi xanh tổ quốc
Em là con, là Em là tình nhân đất nước
Của cần lao, của nhân loại, dựng ngày Mai
Chút khinh thanh sau cuộc đấu tranh dài
-----------------
Định gõ luôn bài "Tình thủ đô" của Hữu Loan, làm cũng đại khái khoảng thời gian với bài thơ trên, nhưng thấy dài quá :(
11/20/09
Locomotive
Bao nhiêu năm nhớ mãi không ra ai là người nói đến từ "locomotive" và miêu tả nó giống hệt cái đầu máy tàu hỏa thật, thì đọc Võ Phiến thấy nguyên cả đoạn trích dẫn luôn, thật là khoái chí.
Đoạn trích rút ra từ Chúng ta qua cách viết, Giao Điểm, 1972. Khi bàn tới chuyện văn chương để xem hay để đọc, Võ Phiến viết nguyên văn:
"Paul Claudel tưởng tượng chữ Oeil giống hình con mắt, chữ Coeur giống trái tim. "Và chữ Locomotive là một bức vẽ đúng hình con tàu với ống khói, bánh xe, pít-tông, còi, đòn bẩy và mũi chỉ hướng, ấy là chưa nói tới đường rầy! Chữ Rêve là cả một biểu tượng. Có dấu mũ hình con bướm. Có kẻ đi săn cầm còi, xoạc chân chạy đuổi theo cái dấu nhỏ hay lẩn tránh ấy. Kẻ nọ dùng chữ E làm một chiếc thang để leo lên bắt! Hắn vươn tay ra, với không tới cái chữ tắt lộn ngược, và đó là chữ V. Nhưng hoài công! Chỉ còn lại chiếc thang"."
Những suy tưởng kiểu này thuộc vào dạng chống lại lý thuyết về ngôn ngữ của Ferdinand de Saussure, theo đó nghĩa và hình thức từ chỉ có mối quan hệ võ đoán. Lý thuyết về tương liên thực sự có giữa từ và nghĩa đã có từ thời Platon, do Platon phát biểu trong một tác phẩm ngắn. Từ "rêve" ví dụ ở trên nghĩa là "dream".
Hình như Võ Phiến trích từ một nguồn không nói rõ từ "Locomotive" phải có một đường gạch chân ở dưới nữa, vì có cái ý nói tới "đường ray". (Võ Phiến chú thích là trích câu này từ Jérôme Peignot, De l'écriture à la typographie).
Đoạn trích rút ra từ Chúng ta qua cách viết, Giao Điểm, 1972. Khi bàn tới chuyện văn chương để xem hay để đọc, Võ Phiến viết nguyên văn:
"Paul Claudel tưởng tượng chữ Oeil giống hình con mắt, chữ Coeur giống trái tim. "Và chữ Locomotive là một bức vẽ đúng hình con tàu với ống khói, bánh xe, pít-tông, còi, đòn bẩy và mũi chỉ hướng, ấy là chưa nói tới đường rầy! Chữ Rêve là cả một biểu tượng. Có dấu mũ hình con bướm. Có kẻ đi săn cầm còi, xoạc chân chạy đuổi theo cái dấu nhỏ hay lẩn tránh ấy. Kẻ nọ dùng chữ E làm một chiếc thang để leo lên bắt! Hắn vươn tay ra, với không tới cái chữ tắt lộn ngược, và đó là chữ V. Nhưng hoài công! Chỉ còn lại chiếc thang"."
Những suy tưởng kiểu này thuộc vào dạng chống lại lý thuyết về ngôn ngữ của Ferdinand de Saussure, theo đó nghĩa và hình thức từ chỉ có mối quan hệ võ đoán. Lý thuyết về tương liên thực sự có giữa từ và nghĩa đã có từ thời Platon, do Platon phát biểu trong một tác phẩm ngắn. Từ "rêve" ví dụ ở trên nghĩa là "dream".
Hình như Võ Phiến trích từ một nguồn không nói rõ từ "Locomotive" phải có một đường gạch chân ở dưới nữa, vì có cái ý nói tới "đường ray". (Võ Phiến chú thích là trích câu này từ Jérôme Peignot, De l'écriture à la typographie).
11/17/09
Xây dựng huyền thoại
Lịch sử là một câu chuyện giật gân.
Nếu không giật gân, một sự kiện nào đó thật khó lòng có vị trí trong câu chuyện (narrative) lịch sử. Một trong những bộ sử Hy Lạp còn được đọc và nghiên cứu nhiều hiện nay là Chiến tranh Péloponnèse của Thucydide, và rất nhiều bộ sử danh tiếng khác đều như thể khẳng định lịch sử được làm nên từ những thời khắc lớn, với rất nhiều máu và mưu mẹo, và cả tình sử thuyền quyên anh hùng. Để giữ được mức độ giật gân, rất nhiều khi có cảm tưởng như lịch sử buộc lòng phải tự làm cho mình trở nên giật gân. Đọc sách của trường phái Annales, như Georges Duby chẳng hạn, tức là trường phái đi ngược lại xu hướng chính nói trên của viết sử, quả thực là chán rất nhanh :) Lịch sử cũng tìm cách đáp ứng nhu cầu tâm lý của con người, chắc vậy.
Mà muốn giật gân hóa, ít phương pháp nào hiệu quả hơn là xây dựng huyền thoại. Dĩ nhiên huyền thoại (ở đây muốn nói là các câu chuyện có những mục đích rõ ràng về phương diện lịch sử) cũng có nhiều tác dụng phụ ngoài ý muốn, mang tính khách quan (side effect) như là khi Phan Huy Lê nói rõ về huyền thoại Lê Văn Tám thì người ta tức khắc sẽ đâm ra nghi ngờ những gì Viện Sử học Việt Nam nói về lịch sử, nhất là giai đoạn hiện đại.
Huyền thoại có vai trò rất lớn trong những thời khắc lớn của lịch sử, nhất là khi yêu cầu hợp thức hóa, tạo thẩm quyền cho một thể chế trở nên bức thiết, đặc biệt những khi lịch sử có biến động thay đổi đến nền tảng. Trong công cuộc này, văn học là vũ khí vô cùng hữu hiệu. Suốt một thời gian từ khoảng 1950 đến giữa những năm 1980, văn học miền Bắc là cả một ví dụ mênh mông về chuyện hợp thức hóa cho những gì được phát ngôn từ các tầng bậc thuộc thống hệ chính trị [cho đến tận những năm 1930, người ta vẫn dùng thông dụng "thống hệ" hơn "hệ thống"]. Từ ngữ mang màu sắc ý hệ cũng là một đặc điểm tối quan trọng: một số từ ngữ có hàm nghĩa chính trị nặng đến mức khó có thể dùng ở một nghĩa nào khác, chẳng hạn như "lập trường" (hình như Phan Khôi là người nói cái gì cũng lập trường; chắc chắn Phan Khôi là người nói tại sao lại cứ bắt hoa cúc nở hết ra thành cúc vạn thọ), "quốc gia", "nhân dân", "bất cập"...
Chẳng hạn như truyện về Âu Cơ sinh trăm trứng: nhìn từ khía cạnh mục đích, có thể nói đây là câu chuyện phục vụ mục đích chỉ ra người Việt Nam là "đồng bào". Tìm hiểu xem huyền thoại này được nhấn mạnh, được diễn giải mạnh mẽ vào thời điểm nào trong lịch sử sẽ rút ra được rất nhiều điều.
Còn trong thế kỷ XX, công cuộc xây dựng huyền thoại được tiến hành sâu sắc nhất có lẽ ở các thời điểm: quãng những năm 1910 khi Pháp muốn bình định Việt Nam về văn hóa và tri thức; quãng 1954 khi miền Bắc bắt đầu xây dựng nền học thuật "mới"; quãng đầu 1960 khi miền Nam tìm cách khẳng định tính hợp thức của thể chế (ở đây là "Đệ nhất Cộng hòa"); quãng ngay sau 1975 khi một sự "thống nhất về tinh thần" cần được đề cao, và một quãng thời gian hải ngoại, khi văn học được coi như một sự tiếp nối của văn học miền Nam trước 1975.
Các huyền thoại ở những mức độ này tựu trung xoay quanh chuyện nhấn mạnh tính chất liên tục hay đứt đoạn, từ đó mang lại tính chất thẩm quyền và tính chất hợp thức cho một giai đoạn đang mở ra (mấy khái niệm này rút ra từ Michel Foucault và vài người khác).
Ví dụ như khi người Pháp bắt đầu muốn đô hộ Việt Nam ở một bình diện có tính chất tinh thần hơn là cướp bóc vật chất, mấy tờ tạp chí đã được lập ra, là Đông Dương tạp chí, và Nam Phong sau đó một thời gian. Nguyễn Văn Vĩnh từng tuyên bố người Pháp đang giáo hóa dân bản xứ, nhưng không phải cố tình nhỏ giọt để đến nỗi các nhà Nho phải đi đọc sách Tân thư thật là dấm dớ, mà nguyên do là vì "ăn dần sợ nghẹn". Nhưng Nam Phong mới là đỉnh cao của công cuộc này. Bìa sau tờ tạp chí lừng danh và có lịch sử lâu dài (17-18 năm) này có hình con rồng và dòng chữ "Rồng Nam phun bạc diệt Đức tặc".
Tờ tạp chí quan trọng của miền Nam những năm đầu 1960 phải chăng là Phổ Thông? còn ở hải ngoại, xu hướng tìm cách tạo cảm giác về một sự tiếp nối không đứt đoạn phải chăng là các tạp chí trước khi có Hợp Lưu? ngay sau 1975, có thể đọc các tiểu thuyết của Nguyễn Khải như Gặp gỡ cuối năm và Thời gian của người. Còn ở miền Bắc, chắc chắn vị trí quán quân của thời kỳ 1954 phải đặt vào Tập san nghiên cứu Văn Sử Địa.
Trần Huy Liệu chính là tác giả của huyền thoại Lê Văn Tám, như ai cũng biết. Đây cũng là một trong những cây bút quan trọng nhất của Văn Sử Địa giai đoạn đầu tiên. Nhìn vào mấy chục số đầu, các đề tài mà Trần Huy Liệu quan tâm là Anh hùng dân tộc, Dân tộc Việt Nam thành hình từ bao giờ, chửi Trần Trọng Kim... Cũng trong những số ấy, các nhà nghiên cứu khác cũng chọn đề tài mang tính mục đích cao độ: văn hóa Đông Sơn, trống đồng, vấn đề ruộng đất, truyện cổ tích, phân kỳ lịch sử văn học, Nguyễn Du, cụm Hồ Xuân Hương-Tây Sơn-Lê Ngọc Hân...
Và cả chuyện diễn giải truyện cũ cũng quan trọng. Mấy số đầu có cuộc tranh luận về cách hiểu bài thơ dân gian "Thằng Bờm", trước hết là Trần Thanh Mại, nói rằng tên địa chủ "Phú ông" đã thất bại trong âm mưu lừa bịp em Bờm, Ngô Quân Miện thì nói luận điệu của Phú ông chỉ là để xỏ lá người nông dân, còn Trần Đức Thảo thì đặt câu hỏi: "phải chăng hai ông bạn đã thực sự đứng trên lập trường bây giờ?"
Nếu không giật gân, một sự kiện nào đó thật khó lòng có vị trí trong câu chuyện (narrative) lịch sử. Một trong những bộ sử Hy Lạp còn được đọc và nghiên cứu nhiều hiện nay là Chiến tranh Péloponnèse của Thucydide, và rất nhiều bộ sử danh tiếng khác đều như thể khẳng định lịch sử được làm nên từ những thời khắc lớn, với rất nhiều máu và mưu mẹo, và cả tình sử thuyền quyên anh hùng. Để giữ được mức độ giật gân, rất nhiều khi có cảm tưởng như lịch sử buộc lòng phải tự làm cho mình trở nên giật gân. Đọc sách của trường phái Annales, như Georges Duby chẳng hạn, tức là trường phái đi ngược lại xu hướng chính nói trên của viết sử, quả thực là chán rất nhanh :) Lịch sử cũng tìm cách đáp ứng nhu cầu tâm lý của con người, chắc vậy.
Mà muốn giật gân hóa, ít phương pháp nào hiệu quả hơn là xây dựng huyền thoại. Dĩ nhiên huyền thoại (ở đây muốn nói là các câu chuyện có những mục đích rõ ràng về phương diện lịch sử) cũng có nhiều tác dụng phụ ngoài ý muốn, mang tính khách quan (side effect) như là khi Phan Huy Lê nói rõ về huyền thoại Lê Văn Tám thì người ta tức khắc sẽ đâm ra nghi ngờ những gì Viện Sử học Việt Nam nói về lịch sử, nhất là giai đoạn hiện đại.
Huyền thoại có vai trò rất lớn trong những thời khắc lớn của lịch sử, nhất là khi yêu cầu hợp thức hóa, tạo thẩm quyền cho một thể chế trở nên bức thiết, đặc biệt những khi lịch sử có biến động thay đổi đến nền tảng. Trong công cuộc này, văn học là vũ khí vô cùng hữu hiệu. Suốt một thời gian từ khoảng 1950 đến giữa những năm 1980, văn học miền Bắc là cả một ví dụ mênh mông về chuyện hợp thức hóa cho những gì được phát ngôn từ các tầng bậc thuộc thống hệ chính trị [cho đến tận những năm 1930, người ta vẫn dùng thông dụng "thống hệ" hơn "hệ thống"]. Từ ngữ mang màu sắc ý hệ cũng là một đặc điểm tối quan trọng: một số từ ngữ có hàm nghĩa chính trị nặng đến mức khó có thể dùng ở một nghĩa nào khác, chẳng hạn như "lập trường" (hình như Phan Khôi là người nói cái gì cũng lập trường; chắc chắn Phan Khôi là người nói tại sao lại cứ bắt hoa cúc nở hết ra thành cúc vạn thọ), "quốc gia", "nhân dân", "bất cập"...
Chẳng hạn như truyện về Âu Cơ sinh trăm trứng: nhìn từ khía cạnh mục đích, có thể nói đây là câu chuyện phục vụ mục đích chỉ ra người Việt Nam là "đồng bào". Tìm hiểu xem huyền thoại này được nhấn mạnh, được diễn giải mạnh mẽ vào thời điểm nào trong lịch sử sẽ rút ra được rất nhiều điều.
Còn trong thế kỷ XX, công cuộc xây dựng huyền thoại được tiến hành sâu sắc nhất có lẽ ở các thời điểm: quãng những năm 1910 khi Pháp muốn bình định Việt Nam về văn hóa và tri thức; quãng 1954 khi miền Bắc bắt đầu xây dựng nền học thuật "mới"; quãng đầu 1960 khi miền Nam tìm cách khẳng định tính hợp thức của thể chế (ở đây là "Đệ nhất Cộng hòa"); quãng ngay sau 1975 khi một sự "thống nhất về tinh thần" cần được đề cao, và một quãng thời gian hải ngoại, khi văn học được coi như một sự tiếp nối của văn học miền Nam trước 1975.
Các huyền thoại ở những mức độ này tựu trung xoay quanh chuyện nhấn mạnh tính chất liên tục hay đứt đoạn, từ đó mang lại tính chất thẩm quyền và tính chất hợp thức cho một giai đoạn đang mở ra (mấy khái niệm này rút ra từ Michel Foucault và vài người khác).
Ví dụ như khi người Pháp bắt đầu muốn đô hộ Việt Nam ở một bình diện có tính chất tinh thần hơn là cướp bóc vật chất, mấy tờ tạp chí đã được lập ra, là Đông Dương tạp chí, và Nam Phong sau đó một thời gian. Nguyễn Văn Vĩnh từng tuyên bố người Pháp đang giáo hóa dân bản xứ, nhưng không phải cố tình nhỏ giọt để đến nỗi các nhà Nho phải đi đọc sách Tân thư thật là dấm dớ, mà nguyên do là vì "ăn dần sợ nghẹn". Nhưng Nam Phong mới là đỉnh cao của công cuộc này. Bìa sau tờ tạp chí lừng danh và có lịch sử lâu dài (17-18 năm) này có hình con rồng và dòng chữ "Rồng Nam phun bạc diệt Đức tặc".
Tờ tạp chí quan trọng của miền Nam những năm đầu 1960 phải chăng là Phổ Thông? còn ở hải ngoại, xu hướng tìm cách tạo cảm giác về một sự tiếp nối không đứt đoạn phải chăng là các tạp chí trước khi có Hợp Lưu? ngay sau 1975, có thể đọc các tiểu thuyết của Nguyễn Khải như Gặp gỡ cuối năm và Thời gian của người. Còn ở miền Bắc, chắc chắn vị trí quán quân của thời kỳ 1954 phải đặt vào Tập san nghiên cứu Văn Sử Địa.
Trần Huy Liệu chính là tác giả của huyền thoại Lê Văn Tám, như ai cũng biết. Đây cũng là một trong những cây bút quan trọng nhất của Văn Sử Địa giai đoạn đầu tiên. Nhìn vào mấy chục số đầu, các đề tài mà Trần Huy Liệu quan tâm là Anh hùng dân tộc, Dân tộc Việt Nam thành hình từ bao giờ, chửi Trần Trọng Kim... Cũng trong những số ấy, các nhà nghiên cứu khác cũng chọn đề tài mang tính mục đích cao độ: văn hóa Đông Sơn, trống đồng, vấn đề ruộng đất, truyện cổ tích, phân kỳ lịch sử văn học, Nguyễn Du, cụm Hồ Xuân Hương-Tây Sơn-Lê Ngọc Hân...
Và cả chuyện diễn giải truyện cũ cũng quan trọng. Mấy số đầu có cuộc tranh luận về cách hiểu bài thơ dân gian "Thằng Bờm", trước hết là Trần Thanh Mại, nói rằng tên địa chủ "Phú ông" đã thất bại trong âm mưu lừa bịp em Bờm, Ngô Quân Miện thì nói luận điệu của Phú ông chỉ là để xỏ lá người nông dân, còn Trần Đức Thảo thì đặt câu hỏi: "phải chăng hai ông bạn đã thực sự đứng trên lập trường bây giờ?"
Labels:
hist
11/15/09
"hãy", "cả", "chính"
Mấy từ nho nhỏ này có thể làm xấu xí tiếng Việt đi nhiều lắm.
Chẳng hạn đang ngồi ở bàn ăn, đứa con nói với bà mẹ: "Mẹ ơi, hãy đưa cho con lọ hạt tiêu".
"Cả" và "chính" cũng thường xuyên được đưa vào một cách không hợp lý, người dịch hay có thói tự động thấy "both" là dịch thành "cả", thấy "-self" (-même) là tương "chính" vào.
Rất nhiều khi ở các thứ tiếng khác mấy từ kia không hề có ý nhấn mạnh, mà dùng để phân biệt trong một sự liệt kê chẳng hạn.
Mấy từ này khi bị dùng theo lối lạm dụng, tôi gọi là hiện tượng nêm quá nhiều hạt tiêu :)
Chẳng hạn đang ngồi ở bàn ăn, đứa con nói với bà mẹ: "Mẹ ơi, hãy đưa cho con lọ hạt tiêu".
"Cả" và "chính" cũng thường xuyên được đưa vào một cách không hợp lý, người dịch hay có thói tự động thấy "both" là dịch thành "cả", thấy "-self" (-même) là tương "chính" vào.
Rất nhiều khi ở các thứ tiếng khác mấy từ kia không hề có ý nhấn mạnh, mà dùng để phân biệt trong một sự liệt kê chẳng hạn.
Mấy từ này khi bị dùng theo lối lạm dụng, tôi gọi là hiện tượng nêm quá nhiều hạt tiêu :)
Labels:
ling
11/12/09
"Hai năm sau"
Lấy hai ví dụ (tôi nghĩ ra, nhưng mô hình thì cũng phổ biến):
VD1: "Mãi hai năm sau tôi mới biết là mình đã nhầm."
VD2: "- Anh sắp làm xong luận án tiến sĩ chưa?/- Chưa, tôi nghĩ là hai năm sau."
Chắc nhiều người cũng đã thấy tôi định nói điều gì. Trong cách dùng ngôn ngữ, có một hiện tượng rất rộng rãi, tôi tạm gọi là "sự lây nhiễm" với một nội hàm rất rộng. Ở VD1, câu văn thuộc loại câu trần thuật, cụm từ "hai năm sau" chắc không ai thấy có vấn đề gì; ở VD2, trong một đối thoại (nghĩa là ngôn ngữ nói), sẽ có một số người thấy "hai năm sau" không được ổn cho lắm. Tôi thuộc loại người nghĩ như vậy, và nghĩ thêm một chút, tôi cho rằng ở đây có sự lây nhiễm từ lối văn này sang lối văn khác (trong ngôn ngữ học có thuật ngữ register of language/registre de langage, không rõ dịch là gì).
Chưa nói gì đến quy kết tội lỗi :) tôi nhận thấy nhiều người thay vì nói "sang năm" lại nói "năm sau", thay vì nói "năm kia" lại nói "hai năm trước". Việc lây nhiễm này còn có thể nằm ở chỗ ngôn ngữ bình dân lọt vào một văn bản được mặc định là nghiêm túc (thuộc một "regime" cao hơn), hoặc các từ chuyên môn, thuật ngữ lại được dùng trong ngôn ngữ hàng ngày (một chị nông dân nói đến "lập trường giai cấp" chẳng hạn). Rất nhiều khi đây là một yếu tố phong cách quan trọng, và sự lây nhiễm cùng có chỗ đứng dưới ánh mặt trời chứ không phải là không.
Mở rộng thêm một chút nữa suy nghĩ này về phía một vấn đề khác, sẽ thấy lý thú hơn nhiều: hiện tượng chêm từ nước ngoài vào câu văn của tiếng Việt.
Ở đây tôi không bàn đến sự lai căng. Tôi không có nhiều định kiến về điều này, vì xét cho cùng ngôn ngữ vay mượn cũng luôn có chỗ đứng hợp pháp à quên hợp thức. Tôi chỉ quan tâm đến một chi tiết: các từ thuộc một số ngôn ngữ phương Tây được người ta cho vào tiếng Việt như thế nào.
Theo tôi sự lây nhiễm là rất trầm trọng khi người ta viết: "Tôi thấy rất bị shocked trước cái tình hình ghê gớm này" hay "Dù sao thì anh vẫn còn nhiều options cơ mà nhỉ". (Kiểu viết thế này tôi thấy ở cả rất rất nhiều người có công việc gắn bó cực kỳ mật thiết với ngôn ngữ, như là nhà văn, và kể cả nhà ngôn ngữ học).
Điều gì là vấn đề mấu chốt ở đây? Sự lây nhiễm đã đạt đến một trình độ rất cao, và gần như được hợp thức hóa, nhưng khi viết thế kia, tức là người ta đã mặc nhiên coi tiếng Việt là ngôn ngữ có biến hình, và các đơn vị từ khi chuyển sang một ngữ cảnh khác vẫn giữ nguyên tính chất của nó ở trong ngữ cảnh nguồn. Viết như vậy không khác nào phủ nhận sự tồn tại của các từ "bị" và "nhiều", coi như là chúng không còn chức năng ngữ pháp nữa. Khi ấy thì thật là không logic; vấn đề là tại sao tiếng Việt không chấp nhận "Dù sao thì anh vẫn còn options cơ mà nhỉ".
Từ tiếng nước ngoài khi đi vào tiếng Việt cũng chịu các quy luật về ngữ pháp như từ có sẵn trong tiếng Việt, nếu không thì thật là khó nghĩ quá đi :)
Đến khi viết "người Persian" chẳng hạn, thì về bản chất đâu có khác lỗi trùng ngôn dạng "người Ý nhân" nữa.
VD1: "Mãi hai năm sau tôi mới biết là mình đã nhầm."
VD2: "- Anh sắp làm xong luận án tiến sĩ chưa?/- Chưa, tôi nghĩ là hai năm sau."
Chắc nhiều người cũng đã thấy tôi định nói điều gì. Trong cách dùng ngôn ngữ, có một hiện tượng rất rộng rãi, tôi tạm gọi là "sự lây nhiễm" với một nội hàm rất rộng. Ở VD1, câu văn thuộc loại câu trần thuật, cụm từ "hai năm sau" chắc không ai thấy có vấn đề gì; ở VD2, trong một đối thoại (nghĩa là ngôn ngữ nói), sẽ có một số người thấy "hai năm sau" không được ổn cho lắm. Tôi thuộc loại người nghĩ như vậy, và nghĩ thêm một chút, tôi cho rằng ở đây có sự lây nhiễm từ lối văn này sang lối văn khác (trong ngôn ngữ học có thuật ngữ register of language/registre de langage, không rõ dịch là gì).
Chưa nói gì đến quy kết tội lỗi :) tôi nhận thấy nhiều người thay vì nói "sang năm" lại nói "năm sau", thay vì nói "năm kia" lại nói "hai năm trước". Việc lây nhiễm này còn có thể nằm ở chỗ ngôn ngữ bình dân lọt vào một văn bản được mặc định là nghiêm túc (thuộc một "regime" cao hơn), hoặc các từ chuyên môn, thuật ngữ lại được dùng trong ngôn ngữ hàng ngày (một chị nông dân nói đến "lập trường giai cấp" chẳng hạn). Rất nhiều khi đây là một yếu tố phong cách quan trọng, và sự lây nhiễm cùng có chỗ đứng dưới ánh mặt trời chứ không phải là không.
Mở rộng thêm một chút nữa suy nghĩ này về phía một vấn đề khác, sẽ thấy lý thú hơn nhiều: hiện tượng chêm từ nước ngoài vào câu văn của tiếng Việt.
Ở đây tôi không bàn đến sự lai căng. Tôi không có nhiều định kiến về điều này, vì xét cho cùng ngôn ngữ vay mượn cũng luôn có chỗ đứng hợp pháp à quên hợp thức. Tôi chỉ quan tâm đến một chi tiết: các từ thuộc một số ngôn ngữ phương Tây được người ta cho vào tiếng Việt như thế nào.
Theo tôi sự lây nhiễm là rất trầm trọng khi người ta viết: "Tôi thấy rất bị shocked trước cái tình hình ghê gớm này" hay "Dù sao thì anh vẫn còn nhiều options cơ mà nhỉ". (Kiểu viết thế này tôi thấy ở cả rất rất nhiều người có công việc gắn bó cực kỳ mật thiết với ngôn ngữ, như là nhà văn, và kể cả nhà ngôn ngữ học).
Điều gì là vấn đề mấu chốt ở đây? Sự lây nhiễm đã đạt đến một trình độ rất cao, và gần như được hợp thức hóa, nhưng khi viết thế kia, tức là người ta đã mặc nhiên coi tiếng Việt là ngôn ngữ có biến hình, và các đơn vị từ khi chuyển sang một ngữ cảnh khác vẫn giữ nguyên tính chất của nó ở trong ngữ cảnh nguồn. Viết như vậy không khác nào phủ nhận sự tồn tại của các từ "bị" và "nhiều", coi như là chúng không còn chức năng ngữ pháp nữa. Khi ấy thì thật là không logic; vấn đề là tại sao tiếng Việt không chấp nhận "Dù sao thì anh vẫn còn options cơ mà nhỉ".
Từ tiếng nước ngoài khi đi vào tiếng Việt cũng chịu các quy luật về ngữ pháp như từ có sẵn trong tiếng Việt, nếu không thì thật là khó nghĩ quá đi :)
Đến khi viết "người Persian" chẳng hạn, thì về bản chất đâu có khác lỗi trùng ngôn dạng "người Ý nhân" nữa.
Labels:
ling
11/10/09
Chủng tộc?
Cách mở đầu một quyển sách của Claude Lévi-Strauss luôn để lại dư vị. Câu nổi tiếng của Nhiệt đới buồn đã vậy, câu đầu tiên của Race et Culture cũng không kém cạnh: "Một nhà dân tộc học không có trách nhiệm tìm cách nói chủng tộc là gì hay không là gì" (cần phải phân biệt Race et Culture sau này và "Race et Culture" chương đầu tiên của Race et Histoire; quyển Race et Histoire thì đã có bản dịch tiếng Việt của Huyền Giang, Hội Khoa học Lịch sử ấn hành - Huyền Giang là một trong các yếu nhân của công việc dịch các sách thuộc bộ Que sais-je? của NXB PUF sang tiếng Việt).
Lévi-Strauss chống lại quan niệm của nhánh nhân học mà ông gọi là "anthropologie physique" (chẳng biết dịch là gì, "nhân học thô thiển" à?), coi chủng tộc như là một thực tế (réalité). Có lẽ Lévi-Strauss muốn bày tỏ sự phản đối với các nhà nhân chủng học theo lối Quốc xã, đo sọ người để xếp loại chủng tộc.
Quan điểm của Lévi-Strauss về chủng tộc phức tạp, nhưng có thể hiểu cái đích mà ông hướng tới chủ yếu là dung hòa khái niệm "tiến bộ" (progrès) với một chủ nghĩa tương đối về văn hóa.
Nảy sinh một điểm nữa: Lévi-Strauss có cổ súy cho "đa dạng văn hóa" không? Theo tôi biết là hoàn toàn không. Quan điểm của Lévi-Strauss còn có chỗ đặc biệt, và điều này gây tranh cãi nảy lửa, khi ông đề nghị cần phân biệt chủ nghĩa phân biệt chủng tộc theo nghĩa đen với các thái độ bình thường, hợp thức và thậm chí không tránh khỏi. Cách nhìn này là một cách nhìn phản lý tưởng về phân biệt chủng tộc, và tất nhiên gây ra nhiều thắc mắc.
Thôi, viết mãi về Lévi-Strauss cũng mỏi tay rồi. Chỉ nói thêm là sẽ rất chi thú vị nếu đọc Nhiệt đới buồn song song với quyển tiểu thuyết Là où les tigres sont chez eux của Jean-Marie Blas de Roblès, giải thưởng Médicis năm 2008.
Đây là trích vài câu từ Lời hứa lúc bình minh của Romain Gary (Nguyễn Duy Bình dịch) vừa in xong, chương đầu, đoạn nói về các vị thần xấu xa đối thủ của chúng ta trong cuộc đời (cũng có tí chút chủng tộc hehe):
"Còn có Filoche, thần ti tiện, thần định kiến, khinh bỉ và hận thù - thường từ nhà gác cổng thế giới loài người ló đầu ra mà kêu "Tên Mỹ bẩn thỉu, tên Ả-rập bẩn thỉu, tên Do Thái bẩn thỉu, tên Nga bẩn thỉu, tên Trung Quốc bẩn thỉu, tên Da Đen bẩn thỉu...""
Lévi-Strauss chống lại quan niệm của nhánh nhân học mà ông gọi là "anthropologie physique" (chẳng biết dịch là gì, "nhân học thô thiển" à?), coi chủng tộc như là một thực tế (réalité). Có lẽ Lévi-Strauss muốn bày tỏ sự phản đối với các nhà nhân chủng học theo lối Quốc xã, đo sọ người để xếp loại chủng tộc.
Quan điểm của Lévi-Strauss về chủng tộc phức tạp, nhưng có thể hiểu cái đích mà ông hướng tới chủ yếu là dung hòa khái niệm "tiến bộ" (progrès) với một chủ nghĩa tương đối về văn hóa.
Nảy sinh một điểm nữa: Lévi-Strauss có cổ súy cho "đa dạng văn hóa" không? Theo tôi biết là hoàn toàn không. Quan điểm của Lévi-Strauss còn có chỗ đặc biệt, và điều này gây tranh cãi nảy lửa, khi ông đề nghị cần phân biệt chủ nghĩa phân biệt chủng tộc theo nghĩa đen với các thái độ bình thường, hợp thức và thậm chí không tránh khỏi. Cách nhìn này là một cách nhìn phản lý tưởng về phân biệt chủng tộc, và tất nhiên gây ra nhiều thắc mắc.
Thôi, viết mãi về Lévi-Strauss cũng mỏi tay rồi. Chỉ nói thêm là sẽ rất chi thú vị nếu đọc Nhiệt đới buồn song song với quyển tiểu thuyết Là où les tigres sont chez eux của Jean-Marie Blas de Roblès, giải thưởng Médicis năm 2008.
Đây là trích vài câu từ Lời hứa lúc bình minh của Romain Gary (Nguyễn Duy Bình dịch) vừa in xong, chương đầu, đoạn nói về các vị thần xấu xa đối thủ của chúng ta trong cuộc đời (cũng có tí chút chủng tộc hehe):
"Còn có Filoche, thần ti tiện, thần định kiến, khinh bỉ và hận thù - thường từ nhà gác cổng thế giới loài người ló đầu ra mà kêu "Tên Mỹ bẩn thỉu, tên Ả-rập bẩn thỉu, tên Do Thái bẩn thỉu, tên Nga bẩn thỉu, tên Trung Quốc bẩn thỉu, tên Da Đen bẩn thỉu...""
Labels:
gary,
lévi-strauss
11/6/09
Lévi-Strauss và các mối quan hệ
Người ta hay coi Anthropologie structurale (1958) của Claude Lévi-Strauss là giấy khai sinh của cấu trúc luận. Cái này tôi không tin lắm nhưng cũng không có gì quá sai trái. Quyển Nhân học cấu trúc này tập hợp một số tiểu luận của Lévi-Strauss, trong đó có Race et Histoire (Chủng tộc và lịch sử, một trong hai công trình "theo đơn đặt hàng của UNESCO", cái thứ hai sau này là Race et Culture, Chủng tộc và văn hóa, sẽ gây xì căng đan hồi đầu những năm 1970, cụ thể thế nào thì sẽ nói sau). Theo cách nhìn của tôi thì vai trò cổ thụ trong cấu trúc luận của Lévi-Strauss còn thể hiện ở các mối quan hệ cá nhân.
Trên con tàu biển được miêu tả ở đoạn đầu Nhiệt đới buồn, Lévi-Strauss ngoài gặp Victor Serge còn gặp André Breton, và hai người sẽ còn giao thiệp thư từ trong nhiều năm. Nhưng sang đến New York mới là cuộc gặp "định mệnh": gặp Roman Jakobson khi ấy đang làm người lưu vong. Đó là năm 1946, New York đang trở thành thủ đô lưu vong thế giới. London cũng là một thủ đô của người Pháp lưu vong, nhưng chủ yếu là của lực lượng de Gaulle, còn New York thì đông đặc trí thức châu Âu. Jakobson và Lévi-Strauss gặp nhau, cuộc gặp hơi giống như khi Freud gặp Jung lần đầu, tức là kéo rất dài, rất khuya. Không biết Lévi-Strauss có hài lòng không, nhưng Jakobson thì bực mình lắm, vì hóa ra tay người Pháp không biết uống rượu, không hiểu vodka là cái gì. Jakobson là con người nồng nhiệt (nhưng có nồng nhiệt mấy thì cũng không gặp được Bakhtine, vì Bakhtine không muốn gặp, như Todorov từng viết trong một bài trên tạp chí Esprit).
Cuộc gặp này quan trọng ở chỗ nó sẽ có kết quả mấy năm về sau là bài nghiên cứu viết chung của Lévi-Strauss và Jakobson, phân tích "một cách cấu trúc" bài thơ "Mèo" ("Les Chats") của Baudelaire. Việc nảy sinh cấu trúc luận còn bắt nguồn từ những người như Émile Benveniste hay Maurice Merleau-Ponty, nhưng mang tính quyết định (một cách trực tiếp, một cách kỹ thuật, nguồn cảm hứng, và cách thức thao tác) chính là cặp Lévi-Strauss và Jakobson. Một mối quan hệ cũng quan trọng không kém nữa và sau này một chút (trong những năm 1960) là quan hệ Todorov-Genette.
Quan hệ giữa Lévi-Strauss với Jakobson có thành tựu là bài nghiên cứu mèo, nhưng một mối quan hệ khác của Lévi-Strauss tuy không có thành tựu nhưng cũng lại tác động mạnh mẽ đến lịch sử cấu trúc luận.
Lần này là quan hệ Lévi-Strauss và Roland Barthes. Nghe kỳ cục nhỉ, nhưng Lévi-Strauss chính là người tàn phá tương lai khoa bảng của Barthes. Hồi đó Barthes mang đề cương tiến sĩ của mình tới gặp Lévi-Strauss thì bị Lévi-Strauss từ chối thẳng thừng không nhận hướng dẫn (chắc chẳng hiểu thằng chả định làm gì). Luận án đó chính là Le Système de la mode (Hệ thống mốt) sau này.
Vì không có một con đường học vấn "chính thống" (do có bàn tay Lévi-Strauss, ít nhất là một phần) mà Roland Barthes trở thành Roland Barthes chăng?
Dù gì thì Roland Barthes cũng luôn thể hiện sự ngưỡng mộ và tình cảm trìu mến với Lévi-Strauss. Hình như ngay cả trong Critique et Vérité (Phê bình và sự thật; "sự thật" chắc là chính xác hơn "chân lý") cũng có một số đoạn vinh danh Lévi-Strauss.
+ Cập nhật: vừa kiểm tra lại thì không phải Barthes nói tới Lévi-Strauss trong Critique et Vérité, mà nói rất nhiều trong tập Essais critiques. Trong toàn bộ tác phẩm của Barthes, Lévi-Strauss là một trong những cái tên trở đi trở lại nhiều lần nhất; mãi cho tới giai đoạn cuối đời (giai đoạn Barthes-nhà văn), tức là khoảng 1977-1980 thì Lévi-Strauss mới thôi ám ảnh Barthes.
+ Chủng tộc và lịch sử không nằm trong Nhân học cấu trúc 1958, mà nằm trong Nhân học cấu trúc II (Anthropologie structurale deux, 1973).
Trên con tàu biển được miêu tả ở đoạn đầu Nhiệt đới buồn, Lévi-Strauss ngoài gặp Victor Serge còn gặp André Breton, và hai người sẽ còn giao thiệp thư từ trong nhiều năm. Nhưng sang đến New York mới là cuộc gặp "định mệnh": gặp Roman Jakobson khi ấy đang làm người lưu vong. Đó là năm 1946, New York đang trở thành thủ đô lưu vong thế giới. London cũng là một thủ đô của người Pháp lưu vong, nhưng chủ yếu là của lực lượng de Gaulle, còn New York thì đông đặc trí thức châu Âu. Jakobson và Lévi-Strauss gặp nhau, cuộc gặp hơi giống như khi Freud gặp Jung lần đầu, tức là kéo rất dài, rất khuya. Không biết Lévi-Strauss có hài lòng không, nhưng Jakobson thì bực mình lắm, vì hóa ra tay người Pháp không biết uống rượu, không hiểu vodka là cái gì. Jakobson là con người nồng nhiệt (nhưng có nồng nhiệt mấy thì cũng không gặp được Bakhtine, vì Bakhtine không muốn gặp, như Todorov từng viết trong một bài trên tạp chí Esprit).
Cuộc gặp này quan trọng ở chỗ nó sẽ có kết quả mấy năm về sau là bài nghiên cứu viết chung của Lévi-Strauss và Jakobson, phân tích "một cách cấu trúc" bài thơ "Mèo" ("Les Chats") của Baudelaire. Việc nảy sinh cấu trúc luận còn bắt nguồn từ những người như Émile Benveniste hay Maurice Merleau-Ponty, nhưng mang tính quyết định (một cách trực tiếp, một cách kỹ thuật, nguồn cảm hứng, và cách thức thao tác) chính là cặp Lévi-Strauss và Jakobson. Một mối quan hệ cũng quan trọng không kém nữa và sau này một chút (trong những năm 1960) là quan hệ Todorov-Genette.
Quan hệ giữa Lévi-Strauss với Jakobson có thành tựu là bài nghiên cứu mèo, nhưng một mối quan hệ khác của Lévi-Strauss tuy không có thành tựu nhưng cũng lại tác động mạnh mẽ đến lịch sử cấu trúc luận.
Lần này là quan hệ Lévi-Strauss và Roland Barthes. Nghe kỳ cục nhỉ, nhưng Lévi-Strauss chính là người tàn phá tương lai khoa bảng của Barthes. Hồi đó Barthes mang đề cương tiến sĩ của mình tới gặp Lévi-Strauss thì bị Lévi-Strauss từ chối thẳng thừng không nhận hướng dẫn (chắc chẳng hiểu thằng chả định làm gì). Luận án đó chính là Le Système de la mode (Hệ thống mốt) sau này.
Vì không có một con đường học vấn "chính thống" (do có bàn tay Lévi-Strauss, ít nhất là một phần) mà Roland Barthes trở thành Roland Barthes chăng?
Dù gì thì Roland Barthes cũng luôn thể hiện sự ngưỡng mộ và tình cảm trìu mến với Lévi-Strauss. Hình như ngay cả trong Critique et Vérité (Phê bình và sự thật; "sự thật" chắc là chính xác hơn "chân lý") cũng có một số đoạn vinh danh Lévi-Strauss.
+ Cập nhật: vừa kiểm tra lại thì không phải Barthes nói tới Lévi-Strauss trong Critique et Vérité, mà nói rất nhiều trong tập Essais critiques. Trong toàn bộ tác phẩm của Barthes, Lévi-Strauss là một trong những cái tên trở đi trở lại nhiều lần nhất; mãi cho tới giai đoạn cuối đời (giai đoạn Barthes-nhà văn), tức là khoảng 1977-1980 thì Lévi-Strauss mới thôi ám ảnh Barthes.
+ Chủng tộc và lịch sử không nằm trong Nhân học cấu trúc 1958, mà nằm trong Nhân học cấu trúc II (Anthropologie structurale deux, 1973).
Labels:
barthes,
jakobson,
lévi-strauss
11/3/09
Những người đi
Vào mạng hôm nay thấy thật nặng nề. Bác Văn Ngọc (Phạm Ngọc Tới) đã qua đời. Tôi gặp bác Văn Ngọc đúng một lần, nhưng rất quý mến phong cách nhẹ nhàng cả trong cử chỉ lẫn tiếng nói. Xin được gửi lời chia buồn từ xa tới gia đình và nhóm bạn thân của bác.
Một người nữa cũng vừa mất là Claude Lévi-Strauss. Tôi không làm về dân tộc học hay nhân học, nhưng Lévi-Strauss là một trong những người đầu tiên khơi gợi ý muốn nghiên cứu ở tôi. Hồi đó, khi còn khá nhỏ, tôi đọc được một tập tài liệu do mấy nhà nghiên cứu người Pháp sang Việt Nam giảng cho giới nghiên cứu ở đây, trong đó tập trung vào các nhân vật Émile Durkheim, Marcel Mauss và Claude Lévi-Strauss (có thêm cả Louis Dumont). Tôi vẫn còn nhớ những cái tên này được gắn vào dòng chính, dòng quan trọng nhất, xuất chúng nhất của dân tộc học Pháp. Từ Émile Durkheim tôi học được về sự ra đời của ngành dân tộc học, sau này là thêm lý thuyết về tự tử. Từ Marcel Mauss tôi biết được người ta đã từng nghiên cứu sâu sắc như thế nào về potlatch, voodoo, nhất là "le don" (sự trao tặng) ở các tộc người.
Nhưng từ Lévi-Strauss tôi mới học được nhiều thứ, từ cách tổ chức hôn nhân ở các tộc người sao cho tránh được loạn luân (công trình đầu tay của Lévi-Strauss đã lái ngược chiều dân tộc học cho đến khi ấy vẫn có quan niệm rất khác về hôn nhân ở người man dã). Phần hai của La Pensée sauvage nghe nói chính là một tranh luận của Lévi-Strauss phản đối lý thuyết của Jean-Paul Sartre, nhưng không nói rõ ra. Cái lớn nhất tôi học được từ Lévi-Strauss, tuy vậy, lại là một điều khá vô hình, không phải kiến thức. Tôi vẫn còn rất nhớ một lời miêu tả Lévi-Strauss: ngay từ khi còn nhỏ, đứng trước mọi sự hỗn loạn của cuộc sống tự nhiên hay xã hội lúc nào ông cũng hình dung ra, cũng tin rằng có một cấu trúc bề sâu nào đó, vấn đề là phải nắm được nó.
Nhiệt đới buồn như vậy là đã được in ở Việt Nam. Bản dịch của Ngô Bình Lâm, Nguyên Ngọc hiệu đính, Olivier Tessier viết lời giới thiệu, NXB Tri Thức in. Hôm trước ở buổi ra mắt sách gần như các diễn giả không trả lời được tại sao nhiệt đới thì lại buồn. Cái buồn này, biết đâu, lại là cấu trúc tầng sâu mà Lévi-Strauss suốt đời tìm kiếm. Trước đây quyển sách này hay được nhắc tới trong các văn bản tiếng Việt, hoặc dưới cái tên "Nhiệt đới buồn", hoặc dưới cái tên "Chí tuyến buồn".
Ngô Bình Lâm, như hôm ở buổi ra mắt sách Đỗ Lai Thúy có nói, chính là dịch giả quyển sách Hungary nổi tiếng nhất ở Việt Nam: Những ngôi sao Ê-ghe, cuốn sách một thời tôi say mê đọc đi đọc lại, cùng Tô-mếch và thủ lĩnh Tia Chớp Đen, và nữa là Oskeola thủ lĩnh da đỏ.
Ở ngay đoạn đầu Nhiệt đới buồn có nhắc tới Victor Serge. Muốn hiểu tâm trạng của các trí thức châu Âu những năm 1950 thì cần phải nắm được dù chút ít lịch sử hai cuộc thế chiến trước đó, những cuộc chạy trốn của trí thức Nga sang Pháp, những cuộc du hành của trí thức Pháp sang Nga, rồi cái ham muốn thoát khỏi, trước tiên thể hiện ở sự du hành, từ Nerval, Gautier hay Flaubert, sau đó là ở sự thám hiểm vì mục đích nghiên cứu, mà Lévi-Strauss là một đại diện. Victor Serge là một trong các nhân tố đặc biệt của giai đoạn ấy. Một người vô chính phủ, một người thuộc Comintern, từng bị bắt giam ở Pháp nhưng rồi được thả qua trao đổi tù binh (với một nhân vật rất đặc biệt khác là Bruce Lockhart, khi ấy đang bị giam ở Liên Xô vì là nghi can trong một vụ ám sát Lenin, cũng như bị nghi làm gián điệp). Sau này Victor Serge lại bị chính quyền Liên Xô giam, phải nhờ Hội nghị Nhà văn Quốc tế Bảo vệ Văn hóa tại Paris (1935) can thiệp mới được thả. Sự xuất hiện của Victor Serge hay Ilya Ehrenburg ở Paris là một phần quan trọng tạo nên không khí trí thức hồi đó, cái không khí làm nên những con người như Lévi-Strauss.
Một người nữa cũng vừa mất là Claude Lévi-Strauss. Tôi không làm về dân tộc học hay nhân học, nhưng Lévi-Strauss là một trong những người đầu tiên khơi gợi ý muốn nghiên cứu ở tôi. Hồi đó, khi còn khá nhỏ, tôi đọc được một tập tài liệu do mấy nhà nghiên cứu người Pháp sang Việt Nam giảng cho giới nghiên cứu ở đây, trong đó tập trung vào các nhân vật Émile Durkheim, Marcel Mauss và Claude Lévi-Strauss (có thêm cả Louis Dumont). Tôi vẫn còn nhớ những cái tên này được gắn vào dòng chính, dòng quan trọng nhất, xuất chúng nhất của dân tộc học Pháp. Từ Émile Durkheim tôi học được về sự ra đời của ngành dân tộc học, sau này là thêm lý thuyết về tự tử. Từ Marcel Mauss tôi biết được người ta đã từng nghiên cứu sâu sắc như thế nào về potlatch, voodoo, nhất là "le don" (sự trao tặng) ở các tộc người.
Nhưng từ Lévi-Strauss tôi mới học được nhiều thứ, từ cách tổ chức hôn nhân ở các tộc người sao cho tránh được loạn luân (công trình đầu tay của Lévi-Strauss đã lái ngược chiều dân tộc học cho đến khi ấy vẫn có quan niệm rất khác về hôn nhân ở người man dã). Phần hai của La Pensée sauvage nghe nói chính là một tranh luận của Lévi-Strauss phản đối lý thuyết của Jean-Paul Sartre, nhưng không nói rõ ra. Cái lớn nhất tôi học được từ Lévi-Strauss, tuy vậy, lại là một điều khá vô hình, không phải kiến thức. Tôi vẫn còn rất nhớ một lời miêu tả Lévi-Strauss: ngay từ khi còn nhỏ, đứng trước mọi sự hỗn loạn của cuộc sống tự nhiên hay xã hội lúc nào ông cũng hình dung ra, cũng tin rằng có một cấu trúc bề sâu nào đó, vấn đề là phải nắm được nó.
Nhiệt đới buồn như vậy là đã được in ở Việt Nam. Bản dịch của Ngô Bình Lâm, Nguyên Ngọc hiệu đính, Olivier Tessier viết lời giới thiệu, NXB Tri Thức in. Hôm trước ở buổi ra mắt sách gần như các diễn giả không trả lời được tại sao nhiệt đới thì lại buồn. Cái buồn này, biết đâu, lại là cấu trúc tầng sâu mà Lévi-Strauss suốt đời tìm kiếm. Trước đây quyển sách này hay được nhắc tới trong các văn bản tiếng Việt, hoặc dưới cái tên "Nhiệt đới buồn", hoặc dưới cái tên "Chí tuyến buồn".
Ngô Bình Lâm, như hôm ở buổi ra mắt sách Đỗ Lai Thúy có nói, chính là dịch giả quyển sách Hungary nổi tiếng nhất ở Việt Nam: Những ngôi sao Ê-ghe, cuốn sách một thời tôi say mê đọc đi đọc lại, cùng Tô-mếch và thủ lĩnh Tia Chớp Đen, và nữa là Oskeola thủ lĩnh da đỏ.
Ở ngay đoạn đầu Nhiệt đới buồn có nhắc tới Victor Serge. Muốn hiểu tâm trạng của các trí thức châu Âu những năm 1950 thì cần phải nắm được dù chút ít lịch sử hai cuộc thế chiến trước đó, những cuộc chạy trốn của trí thức Nga sang Pháp, những cuộc du hành của trí thức Pháp sang Nga, rồi cái ham muốn thoát khỏi, trước tiên thể hiện ở sự du hành, từ Nerval, Gautier hay Flaubert, sau đó là ở sự thám hiểm vì mục đích nghiên cứu, mà Lévi-Strauss là một đại diện. Victor Serge là một trong các nhân tố đặc biệt của giai đoạn ấy. Một người vô chính phủ, một người thuộc Comintern, từng bị bắt giam ở Pháp nhưng rồi được thả qua trao đổi tù binh (với một nhân vật rất đặc biệt khác là Bruce Lockhart, khi ấy đang bị giam ở Liên Xô vì là nghi can trong một vụ ám sát Lenin, cũng như bị nghi làm gián điệp). Sau này Victor Serge lại bị chính quyền Liên Xô giam, phải nhờ Hội nghị Nhà văn Quốc tế Bảo vệ Văn hóa tại Paris (1935) can thiệp mới được thả. Sự xuất hiện của Victor Serge hay Ilya Ehrenburg ở Paris là một phần quan trọng tạo nên không khí trí thức hồi đó, cái không khí làm nên những con người như Lévi-Strauss.
Labels:
lévi-strauss,
vanngoc
11/2/09
Đấy biết ngay
Giải Goncourt năm nay đã được trao cho Marie Ndiaye, tiểu thuyết Trois femmes puissantes. Thế là đoán đúng được một bác hehe.
Đợi xem nốt Vincent Message có được cái giải gì không. Sẽ cập nhật thông tin và đi một đường (chết thật, cái này lại đi thuổng :) về Trois femmes puissantes, tức Ba người đàn bà hùng hậu (à lại dịch lăng nhăng đấy).
Cập nhật: Frédéric Beigbeder, nhà văn thời thượng, đã đoạt giải Renaudot năm nay. Cuốn tiểu thuyết Un Roman français (Một tiểu thuyết Pháp) mở đầu bằng một câu đại ý năm nay tôi già hơn cả cụ cố tôi. Sắp tới gần đây thôi các bác sẽ được đọc một quyển của Beigbeder, là quyển này.
Giải Renaudot về non-fiction cuối cùng không về tay Alain Finkielkraut, người quen của bạn Đỗ Quốc Anh :) Quyển Un coeur intelligent của Finkielkraut đọc rất ngon.
Cập nhật nữa: Quyển sách của Marie Ndiaye có vẻ như được đặt tên như vậy, Ba người phụ nữ mạnh mẽ/quyền lực, là vì tham vọng của nó nằm ở hai chữ: mạnh mẽ. Đây là một bộ ba tiểu thuyết, triptyque thì đúng hơn là trilogie, về ba người phụ nữ châu Phi ở trong ba hoàn cảnh khác nhau. Mới đầu Ndiaye định chỉ viết một phần, nhưng xong rồi thì thấy chưa đủ (chưa đủ mạnh mẽ?) nên viết tiếp hai phần sau đó.
Sau đây là incipit (tức là đoạn mở đầu) của Trois femmes puissantes:
Và người đón cô hoặc chỉ như thể ngẫu nhiên mà ở trên ngưỡng cửa ngôi nhà lớn xây bằng bê tông, trong cường độ của luồng sáng đột ngột mạnh mẽ tới mức cơ thể tắm trong ánh sáng của ông ta vẻ như tạo ra và trải rộng luồng sáng ấy, cái người đàn ông đang đứng ở kia, thấp lùn, nặng nề, phát ra một chùm sáng trắng như một bóng đèn nê ông, cái người đàn ông hiện ra ở ngưỡng cửa ngôi nhà ngoại cỡ không còn lại gì, ngay lập tức Norah tự nhủ, sót lại của dáng hình, của tuổi trẻ trước kia từng bất biến đầy kỳ diệu đến nỗi cô thấy như là không thể lụi tàn.
+ Tôi thấy hãi hùng với trình độ của tờ evan, tờ báo mạng văn chương của Việt Nam: đưa tin về giải Goncourt đã muộn (mồng 4 mới đưa) mà dám liệt kê một số các nhà văn nữ từng đoạt giải Goncourt như sau: "Marguerite Duras với The Lover, Georges Duhamel với Civilization và Simone de Beauvoir với The Mandarins". Georges Duhamel, tác giả của bộ Chronique des Pasquier (10 quyển) mà là phụ nữ ậc ậc. Chẳng cần nghĩ cũng ra Elsa Triolet và hai nhà văn mới có sách dịch sang tiếng Việt: Pascale Roze và Paule Constant.
+ Cập nhật nữa nữa: như vậy là năm nay chỉ đoán đúng được một cái, Vincent Message chẳng được cái giải rút nào cả. Giải Médicis thuộc về Dany Laferrière, tiểu thuyết L'énigme du retour, còn Femina cho quyển Personne của Gwenalle Aubry.
Đợi xem nốt Vincent Message có được cái giải gì không. Sẽ cập nhật thông tin và đi một đường (chết thật, cái này lại đi thuổng :) về Trois femmes puissantes, tức Ba người đàn bà hùng hậu (à lại dịch lăng nhăng đấy).
Cập nhật: Frédéric Beigbeder, nhà văn thời thượng, đã đoạt giải Renaudot năm nay. Cuốn tiểu thuyết Un Roman français (Một tiểu thuyết Pháp) mở đầu bằng một câu đại ý năm nay tôi già hơn cả cụ cố tôi. Sắp tới gần đây thôi các bác sẽ được đọc một quyển của Beigbeder, là quyển này.
Giải Renaudot về non-fiction cuối cùng không về tay Alain Finkielkraut, người quen của bạn Đỗ Quốc Anh :) Quyển Un coeur intelligent của Finkielkraut đọc rất ngon.
Cập nhật nữa: Quyển sách của Marie Ndiaye có vẻ như được đặt tên như vậy, Ba người phụ nữ mạnh mẽ/quyền lực, là vì tham vọng của nó nằm ở hai chữ: mạnh mẽ. Đây là một bộ ba tiểu thuyết, triptyque thì đúng hơn là trilogie, về ba người phụ nữ châu Phi ở trong ba hoàn cảnh khác nhau. Mới đầu Ndiaye định chỉ viết một phần, nhưng xong rồi thì thấy chưa đủ (chưa đủ mạnh mẽ?) nên viết tiếp hai phần sau đó.
Sau đây là incipit (tức là đoạn mở đầu) của Trois femmes puissantes:
Và người đón cô hoặc chỉ như thể ngẫu nhiên mà ở trên ngưỡng cửa ngôi nhà lớn xây bằng bê tông, trong cường độ của luồng sáng đột ngột mạnh mẽ tới mức cơ thể tắm trong ánh sáng của ông ta vẻ như tạo ra và trải rộng luồng sáng ấy, cái người đàn ông đang đứng ở kia, thấp lùn, nặng nề, phát ra một chùm sáng trắng như một bóng đèn nê ông, cái người đàn ông hiện ra ở ngưỡng cửa ngôi nhà ngoại cỡ không còn lại gì, ngay lập tức Norah tự nhủ, sót lại của dáng hình, của tuổi trẻ trước kia từng bất biến đầy kỳ diệu đến nỗi cô thấy như là không thể lụi tàn.
+ Tôi thấy hãi hùng với trình độ của tờ evan, tờ báo mạng văn chương của Việt Nam: đưa tin về giải Goncourt đã muộn (mồng 4 mới đưa) mà dám liệt kê một số các nhà văn nữ từng đoạt giải Goncourt như sau: "Marguerite Duras với The Lover, Georges Duhamel với Civilization và Simone de Beauvoir với The Mandarins". Georges Duhamel, tác giả của bộ Chronique des Pasquier (10 quyển) mà là phụ nữ ậc ậc. Chẳng cần nghĩ cũng ra Elsa Triolet và hai nhà văn mới có sách dịch sang tiếng Việt: Pascale Roze và Paule Constant.
+ Cập nhật nữa nữa: như vậy là năm nay chỉ đoán đúng được một cái, Vincent Message chẳng được cái giải rút nào cả. Giải Médicis thuộc về Dany Laferrière, tiểu thuyết L'énigme du retour, còn Femina cho quyển Personne của Gwenalle Aubry.
Subscribe to:
Posts (Atom)
