Paul Valéry sinh ngày 30 tháng Mười năm 1871 tại Sète (Cette): ông ngoại của Valéry, Giulio Grassi, trở thành consul Ý tại Sardaigne rồi chuyển đến Cette, làm cùng chức vụ. Ở Cette, năm 1859 vợ Giulio chết, được chôn ở nghĩa trang Saint-Charles (sẽ trở thành "Cimetière marin"); năm 1861, Fanny, con gái út của Giulio, lấy Barthélémy Valéry (Valerj).
Những địa danh quan trọng của quãng đầu đời: ngoài Cette còn có Montpellier và Genoa, cũng như London. Rồi Paris.
"Hồi tháng Mười năm 93": đấy là thời gian Valéry ở Paris, rue Gay-Lussac. Nhưng tháng Mười năm trước đó, 1892, đã có cái đêm kỳ dị: đấy là nhân vật giống Franz Kafka, có riêng cho mình một đêm (không phải chỉ những người thần bí mới có các kinh nghiệm như thế).
Tôi từng nhiều lần nhìn thấy tấm biển gắn ở mặt tiền một tòa nhà trên phố Gay-Lussac nói Paul Valéry từng ở đó. Lúc ấy, tôi chưa thực sự biết về Valéry. Nhưng đã có một sức hấp dẫn to lớn.
"Fontaine, ma fontaine, eau froidement présente,/Douce aux purs animaux, aux humains complaisante/Qui d'eux-mêmes tentés suivent au fond la mort,/Tout est songe pour toi, Soeur tranquille du Sort!" ("Fragments du Narcisse", Charmes)
Valéry sống ở rue Gay-Lussac từ 1894 đến hết năm 1899: ở thời điểm này, Valéry đã gặp - do Degas giới thiệu (Degas đã từ chối, không chỉ một mà hai lần, lời đề tặng Teste cho mình) - Jeannie Gobillard, cháu gái của Berthe Morisot. Cuốn sách ấy đã kể không ít điều về mấy chị em Gobillard cũng như cô con gái của Manet. Năm 1900 là đám cưới của Paul Valéry với Jeannie: đó là đám cưới kép, tổ chức cùng đám cưới Ernest Rouart-Julie Manet. Buổi tối hôm ký "contrat" tại ngôi nhà nổi tiếng, số 40 phố Villejust, có Pablo Casals biểu diễn.
Sau đám cưới, Valéry bỏ công việc đang làm ở Bộ Chiến tranh, trở thành thư ký riêng cho Édouard Lebey - việc mà Valéry sẽ làm suốt nhiều năm.
"De ton front voyageur les vents ne veulent pas;/La terre tendre et sombre,/O Platane, jamais ne laissera d'un pas/S'émerveiller ton ombre!" ("Au platane")
"Ton front, qui cachait l'infini,/N'est plus qu'une claire vigie,/A qui pèse même le nid/Où l'oeil perdu se réfugie!" ("Pour votre hêtre "suprême"")
Rilke phát hiện được Valéry không sớm lắm: tác giả của Malte Laurids Brigge mãi
đâu đó có kể lại là từ tháng 9 năm 1989, ông ấy đã đọc cuốn ‘À rebours’ của Huysmans; tác phẩm này đã để lại trong ông ấy ấn tượng vô cùng sâu sắc, vì nó giống như một cuốn cẩm nang về nghệ thuật và nền văn học "tiên phong" nhất thời bấy giờ với cả tên tuổi của Verlaine, Mallarmé và Villiers xuất hiện trong đó, đi kèm với những trích dẫn từ các tác phẩm của họ.
ReplyDelete"Les optimistes écrivent mal" (Valéry) - "Mais les pessimistes n'écrivent pas." (Blanchot)
ReplyDelete