Jan 4, 2026

Màu của chiến tranh

đúng hôm nay cách đây 9 năm

đừng nhìn Shiva, mù đấy


Giống mọi khi nào xảy ra tranh cãi trên diện rộng, vấn đề toàn bị nhìn nhận sai, thậm chí là hoàn toàn ngược lại: vấn đề không nằm ở chỗ Bảo Ninh dám, mà 

ở chỗ, Bảo Ninh đã không dám.

Nếu chỉ nhìn nhận riêng Nỗi buồn chiến tranh, thì đó, rất đơn giản, là our best novel (tôi cố tình viết như thế này, cũng như sẽ chủ yếu viết Vietnam War, nhưng sẽ có lúc "Chiến tranh Việt Nam": từ ngữ chưa bao giờ là chuyện đơn giản).

Không có gì so được với Nỗi buồn chiến tranh: đặt cạnh nó, những gì Chu Lai viết chỉ thuần túy là kitsch. Tất nhiên, không cần so sánh thì văn chương Chu Lai vẫn chỉ có kitsch.

Nỗi buồn chiến tranh là một cuốn tiểu thuyết lớn (our best novel) nhưng Bảo Ninh không phải là nhà văn lớn: nhà văn lớn duy nhất của Việt Nam là Nguyễn Huy Thiệp (mà Bảo Ninh cứ nhắc đến sẽ gọi là "anh Thiệp").

Bảo Ninh nói (đấy là vào khoảnh khắc thành thực hiếm hoi của Bảo Ninh - Bảo Ninh có thể thành thực, nhưng rất hiếm khi; rất nhiều nhà văn Việt Nam thậm chí còn không bao giờ thành thực được, như là, rồi như là etc.): lắm lúc báo này báo kia đặt bài mình lại ham lợi xé lẻ ra để viết cái này cái kia kiếm tiền. Tất nhiên, chuyện không chỉ có vậy.

Giờ, trước hết, việc cần làm là nhìn vào Nỗi buồn chiến tranh. Bảo Ninh và Nỗi buồn chiến tranh - điều này chẳng phải là không đáng kinh ngạc - trở thành đối tượng công kích cả từ phía lính Việt Nam Cộng hòa lẫn từ phía lính miền Bắc (với cùng một lập luận: trong chiến tranh, chúng tôi đã không như vậy). Rất có thể cùng sự phản đối cũng phát xuất cả từ lính Mỹ, nhưng tiếng nói của họ quá nhỏ và xa chúng ta không nghe được rõ, vả lại cũng không cần quá quan tâm. Tức là, Bảo Ninh bị cả bên địch thủ lẫn bên đồng đội lên án. Điều gì khiến một chuyện kỳ quặc như vậy có thể xảy ra?

Lý do rất đơn giản: vì đấy là văn chương.

Cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh làm được một điều (lần duy nhất chuyện này xảy ra): nó đến được cái gọi là equivocal, tức là văn chương đúng nghĩa. Văn chương tức là nói điều này nhưng đồng thời lại nói điều khác, và những gì nó nói không thực sự nắm bắt được ngay, thậm chí còn không được hiểu: văn chương là một thứ cứ thoát đi đâu mất. Ở dưới tôi sẽ còn nói thêm về điều dĩ nhiên là không dễ này.

Chính vì thế, kể cả những người đã đọc Nỗi buồn chiến tranh (và đọc hết) vẫn có thể tưởng những người hiếp Phương trên chuyến tàu là bộ đội. Nhưng đâu phải thế: đấy là vì độc giả bị đánh lừa, không hề cố tình nhưng một cuốn tiểu thuyết thực sự phức tạp (Nỗi buồn chiến tranh là một tiểu thuyết như vậy) làm người ta bị ấn tượng mạnh về một số điều và không hiểu nhiều thứ, vì nó không nói rõ ra - nói rõ mọi sự ra là một trong những con đường chắc chắn nhất dẫn đến kitsch (kể cả khi Chu Lai có tạo ra một câu chuyện tình tiết vô cùng lắt léo như Ăn mày dĩ vãng thì cũng chẳng ai nhầm về điều gì hết: mọi thứ cứ rõ mồn một). Và người ta sẽ dùng những điều như vậy để công kích, công kích mà không thực sự biết mình công kích gì (để tôi nói luôn cho: sự công kích đó có mục đích là để thoát khỏi nỗi đau đớn mà họ cảm thấy khi đọc - tôi sẽ trở lại điều này ở dưới). Thêm một điều nữa: các cựu chiến binh nếu biết Kiên đã bị một vết thương ra sao, thì hẳn họ sẽ không thấy quá mức khó chịu, ít nhất là không lên án tác giả một cách dữ dội (vì - thêm một thao tác rất đặc trưng - người ta đồng hóa Kiên với Bảo Ninh). Kiên phải gánh chịu một điều đối với rất nhiều người thuộc vào số những thứ thà chết còn hơn phải chịu. Nhưng ngay cả điều đó (Kiên bị làm sao), không phải độc giả nào của Nỗi buồn chiến tranh, kể cả những người đã đọc hết, cũng biết. Vì muốn biết nhiều điều thì cần phải đoán: những ai không phải độc giả văn chương (người biết đọc chữ, lại còn đọc rất nhanh, thì nhiều, chính vì thế người ta đổ xô đi mua tiểu thuyết Chu Lai - điều này cũng giống người ta đổ xô đi mua truyện Nguyễn Nhật Ánh - nhưng độc giả văn chương thì vô cùng hiếm) thì không biết là cần phải đoán, nhưng cùng lúc, họ cũng bị ấn tượng mạnh bởi một số điều: những người không quen đọc vẫn có thể có nhiều cảm xúc, nhưng (và đây chính là chỗ buồn cười nhất) các ấn tượng của họ không tạo ra một tổng thể. Nhưng đấy lại chính là việc của văn chương: văn chương thì chuyển hóa, làm cái này biến thành cái kia, tức là, chẳng hạn, biến vài thứ vặt vãnh thành cả một thế giới. Bằng không, thì đó là best-seller. Thái độ mà ta đang gặp hiện nay là thái độ điển hình của những người được đào tạo trong một thời gian quá dài về đọc best-seller. Nhưng đọc best-seller thì không phải là đọc, đấy là ăn KFC.

Lời chứng của Nguyễn Cảnh Toàn: điều bất ngờ (và chẳng phải là không ngộ nghĩnh) là chính nhờ đó ta tưởng tượng được thời điểm Hoàng Ấu Phương bắt đầu trở thành nhà văn Bảo Ninh. Một câu chuyện đã tương đối nhàm chán: khi một thằng bé mục đồng hớt hải chạy về gào to với những người khác, "Có chó sói", thì nếu có chó sói thật, đấy sẽ là câu chuyện bình thường, thậm chí tầm thường của thế giới mục đồng, nhưng nếu không có chó sói, đó lại là bắt đầu của văn chương. Vả lại, khi Bảo Ninh nói về Hoàng Vân, hoàn toàn có khả năng Bảo Ninh tưởng thế thật (do nghe nhầm từ ai đó, họ hàng chẳng hạn, hoặc do nghe đúng từ ai đó nhầm) - thêm nữa, nếu muốn khoe người có họ nổi tiếng thì Bảo Ninh đâu có thiếu, như Hoàng Thiếu Sơn chẳng hạn. Câu chuyện làm chết một số con gà thì rất nhiều người ở các viện nghiên cứu tại Hà Nội biết (thậm chí, ai cũng biết: một anecdote hay như thế); những người ở các viện, thuộc cả hai Ủy ban (ngày nay gọi là "Viện Hàn lâm") từng làm những việc ngu ngốc hơn như vậy nhiều, điều này thì tôi có thể đảm bảo; người ta cũng cần có thời gian để tìm ra con đường của mình chứ, nếu con đường đấy không liên quan đến gà thì cần phải tìm đường khác, chuyện rất đơn giản, cho dù nguy cơ lớn là trên đường mới gặp phải chó.

Các công kích nhằm vào Bảo Ninh quên mất một điều: đấy (Bảo Ninh) lại chính là người không thể bị vướng vào những cáo buộc tương tự. Trong số những người công kích, phần lớn thế nào cũng từng phản đối một điều gì đó (hoặc, đến tận mức của "chống đối" - nếu muốn dùng biệt ngữ), trong khi Bảo Ninh thì không hề. Hoàn toàn có thể gọi Bảo Ninh - vẫn theo biệt ngữ - là một nhân vật trung kiên. Ít nhất thì Bảo Ninh trung kiên với hai thiết chế không thể nói là ít ý nghĩa với nhiều thứ: thứ nhất là Trường viết văn Nguyễn Du, thứ hai là Hội Nhà văn Việt Nam.

Thêm nốt một điều nữa, rồi ta sẽ đi thẳng vào Nỗi buồn chiến tranh cùng ý nghĩa của nó (ý nghĩa mà tôi nghĩ chưa ai thấy - tôi từng định viết về điều này cách đây đã nhiều năm, nhưng cuối cùng lại thôi): có bản thân Bảo Ninh trong Nỗi buồn chiến tranh hay không, tức là (giống ở trên đã lướt qua), có cá nhân Bảo Ninh ở trong đó hay không? Chắc chắn là có - bất kỳ độc giả văn chương nào cũng biết, không thể không có chính tác giả trong tác phẩm, vấn đề chỉ nằm ở chỗ hiện diện ấy như thế nào, ở liều lượng ra sao, và có thể nói rõ ràng hay không - chỉ cần nhìn ngay vào tên nhân vật là thấy. Nhưng cả ở đây chuyện cũng gây rối trí: không phải Kiên, mà Phương mới là nhân vật mang tên thật của Bảo Ninh. Như vậy thì tức là thế nào? Để lại câu hỏi này cho phần sau, lúc này chỉ cần khẳng định thêm, đấy là một cuốn tiểu thuyết phức tạp, và nó phức tạp là vì tạo ra nhiều lớp chồng lên nhau. Bởi vì cần phải như vậy.

Viết Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh được đặt vào một vị trí duy nhất: đấy là khoảnh khắc nhìn vào một cuộc chiến tranh, nhưng không phải là bất kỳ cuộc chiến tranh nào. Vietnam War là cuộc chiến tranh cuối cùng.

(cần phải xem văn chương có thể làm gì với chiến tranh: tất nhiên ta nghĩ ngay đến Chiến tranh và Hòa bình của Tolstoy)

Trong Chiến tranh và Hòa bình, Tolstoy, ngoài việc kể những câu chuyện (vô cùng nổi tiếng) về Natasha Rostova, prince Andrei Bolkonsky, Pyotr Bezukhov hay Dolokhov, nói điều sau đây - ở những gì liên quan tới chiến tranh: chẳng có gì như người ta tưởng hết.

Đi ngược lại tất tật các sử gia, Tolstoy thiếu điều thì nói hẳn ra, rằng Napoléon là một thằng ngu, ít nhất thì Tolstoy cho thấy bắt đầu từ thời điểm rời khỏi Matxcơva, quân đội Pháp dưới sự chỉ huy của Hoàng đế, làm đúng những việc ngu nhất. Nhưng ngược lại, Tolstoy trình hiện một Kutuzov ngu ngốc không kém, nhất là chỉ một mực tránh đánh nhau, thậm chí còn ra sức kìm hãm quân của chính mình lại. Nhìn chung hơn, trong mắt Tolstoy, hoàn toàn không có cái gọi là nghệ thuật chiến tranh và thiên tài quân sự. Ở một trường đoạn chiến trận, Nicolai Rostov, anh trai của Natasha, có một ý thức hoàn toàn mới: đường phân ranh giữa quân mình và quân đối thủ tuy vô hình nhưng chỉ một giây lát trước còn cảm thấy rất rõ bỗng tan biến đâu mất ngay ở cú đụng độ đầu tiên.

Tìm những điều đấy rất dễ, chỉ cần đọc Chiến tranh và Hòa bình là thấy - tất nhiên sẽ mất thời gian; tôi mất cả tháng để đọc lại nó, nhưng tất nhiên đấy là vì tôi đã không tập trung lắm.

Nhưng văn chương tức là như thế, nếu không thì sẽ là hoặc best-seller hoặc tuyên truyền, hoặc cũng có thể là cả hai: nó ngáng chân.


(Con đường Nguyễn Du

Nguyễn Tuân Một Cột Đèn)


6 comments:

  1. 9 năm trôi qua…

    ReplyDelete
  2. Rất có thể, chính, vì kitsch nên mới “nổi tiếng” như thế

    ReplyDelete
  3. “Trở lại với tác phẩm "Nỗi buồn chiến tranh" mua được, tôi hăm hở đọc bạn mình, xem "cái thằng Thần Sầu" nó viết cái gì về chiến tranh... Khi tôi đọc "Nỗi buồn chiến tranh", tôi giật mình: BN viết về chính nó, chính tôi, chính chúng tôi, đồng đội của chúng tôi trong chiến tranh nhưng rất rất nhiều sự việc bịa đặt, sai sự thật đến mức không thể chấp nhận. Đành rằng văn học có hư cấu nhưng hư cấu như Phương viết, nó mang đến cho tôi và bạn đọc là đồng đội khó đồng tình, còn những ai không qua chiến trận thì có thể có nỗi buồn, bi lụy, ủy mị, mất niềm tin...trái ngược với lớp người chúng tôi cầm súng khi đó. Nhưng mà cái
    "khẩu vị" này rất được Mỹ & phương Tây yêu thích, săn đón.”

    ReplyDelete
  4. nếu mà thực sự Kiên bị hiếp còn Phương đứng nhìn, thì

    ReplyDelete
    Replies
    1. Đọc Nỗi buồn chiến tranh lâu rồi, quên sạch, chỉ nhớ ấn tượng ngay lúc đó, tôi đã nghĩ Phương như biểu tượng cho sự trinh trắng trong tâm hồn của Kiên, của tác giả, bị hãm hiếp/vấy bẩn từ thực tế chiến tranh, và có thể là quá trình huấn luyện trước khi ra trận. Cả từ 2 phía: tôi đã nghe một người lính VNCH (đoạn cuối, 74-75), tốt nghiệp đại học ở SG rồi vẫn bị bắt lính, lúc huấn luyện có một quan niệm: huấn nhục tân binh, đặc biệt là tân binh xuất thân trí thức để họ mau chóng tuân thủ mệnh lệnh cấp trên. Bạn đại học của ông, không chịu nổi nên đã tự sát.

      Cựu chiến binh cũng tùy, đám ầm ĩ trên FB (không chỉ CCB) nhiều khi chỉ muốn tìm cảm giác tồn tại thôi, tội nghiệp. Hồi nhỏ, có lần cô chủ nhiệm lớp yêu cầu học sinh nào có người thân là CCB về hỏi chuyện chiến công, chép lại rồi nộp lên nhân dịp lễ lạt nào đó, chắc cô cũng được yêu cầu vì sau đó không thấy nhắc lại; nhưng lúc đó, tôi không biết nên háo hức lấy giấy bút ra "phỏng vấn" ba tôi, một CCB. Ông trả lời: "Chiến tranh không có gì hay." Chuyện duy nhất ông kể là vào cuối cuộc chiến, nhờ tính lề mề, ông còn cách mâm cơm giữa rừng của trung đội chừng 10m khi bom Mỹ ném xuống. Ông mất mấy ngón tay, trung đội không còn ai.

      Đọng lại duy nhất trong tôi về Nỗi buồn chiến tranh sau bao năm, chắc là ám ảnh còn lại của Kiên về Phương vào cuối truyện, cô gái tắm, thân thể trắng nuột, những sợi lông mu đen xoăn mịn mượt. Mang máng thế, nhớ lúc đọc câu đó, không hiểu sao tôi mới thấy buồn, suốt cuốn tiểu thuyết này. Dầu sao thì tôi cũng không nghĩ nhiều, vốn tôi không biết gì về văn chương.

      Delete
  5. Hà Nội chắc lạnh lắm nhỉ? Trời lạnh quá khiến cháu phải lục mấy đoạn phê bình cũ của bác Cao Việt Dũng: “ Ở ranh giới của sự thoái hóa dòng máu chung, thật ra đã có sẵn một phương thuốc, nhưng phương thuốc ấy đã không được hiểu, bị lờ đi, trong đà cuốn của dòng máu bệnh: bệnh hoạn thì mới mạnh mẽ, điều ấy không thể khác. Phương thuốc đã nằm ngay trong Nỗi buồn chiến tranh: trong cuốn tiểu thuyết ấy, nỗi buồn mới là quan trọng, nó chính là phương thuốc trị bệnh cho máu, nhưng người ta lại tưởng quan trọng là phần chiến tranh. Một cơ hội đã bị bỏ qua, một cách còn thảm khốc hơn cả cuộc chiến tranh. Không biết buồn, con người đã không biết dùng sa mạc của nỗi buồn để chống lại sa mạc của phong cảnh chung.”

    ReplyDelete