(cuộc quay trở lại Witold Gombrowicz rốt cuộc đã dẫn đến text vô cùng fameux này - cuộc quay trở lại đó: lần thứ nhất, đang kết thúc, rồi lần 2 và lần 3)
Lẽ ra từ phía tôi sẽ là tế nhị hơn nếu không khuấy động một trong những thứ lễ tôn giáo hiếm hoi vẫn còn lại cho chúng ta. Rốt cuộc chúng ta đã nghi ngờ gần như mọi điều, và thế nhưng chúng ta vẫn hiến sinh cho sự thờ phụng Thơ cùng các Thi sĩ, và có lẽ thậm chí đấy là vị thần duy nhất mà chúng ta không thấy xấu hổ khi thờ với thật nhiều hào nhoáng, cúi mình, và những tiếng gù gù xinh xẻo trong giọng nói. A! Shelley! A! a! Slowacki! A! Lời của Thi sĩ, sứ mệnh của Thi sĩ, tâm hồn của Thi sĩ! Tuy nhiên, tôi tự thấy mình, hỡi ôi! bị buộc phải tấn công vào những thuyết giảng của họ, phá hỏng càng nhiều càng tốt nghi thức ấy - nhưng nhân danh cái gì đây? Thì nhân danh sự tức giận đơn giản và sơ đẳng mà mọi lỗi phong cách, mọi dối trá, mọi đào thoát và bỏ trốn trước thực tại đánh thức ở mỗi chúng ta. Hơn nữa, bằng cách tấn công một chủ đề đặc biệt phô trương, cao, thậm chí thuộc về trời, tôi phải hết sức chú ý để không đi lên, bay trong không trung, như một quả bóng thô lậu, và bằng cách đó khiến chân tôi đánh mất tiếp xúc với đất vững.
Luận đề của tôi - chẳng ai (hoặc gần như chẳng ai) thích các câu thơ và vũ trụ của thơ gieo vần chỉ là hư cấu và nói dối - chắc hẳn sẽ có vẻ bướng bỉnh ngang mức với tầm phào. Tuy vậy tôi đang dựng mình dậy trước các vị để tuyên bố với các vị rằng tôi, các bài thơ không tạo ra cho tôi bất kỳ khoái lạc nào, và chúng làm tôi bực bội. Các vị sẽ, tất nhiên, coi tôi là thảm thương, ngu dốt, béotien. Và thế nhưng! thế nhưng, đã nhiều năm nay tôi làm việc trong địa hạt nghệ thuật và ngôn ngữ của nó không hoàn toàn xa lạ với tôi. Và các vị sẽ không thể, nhằm chống lại tôi, nhờ đến lập luận ưa thích của các vị, tức là gợi ý rằng tôi hoàn toàn chẳng có chút nhạy cảm thơ nào. Tôi có cái đó, ngược lại, và thậm chí còn rất dồi dào; và tôi run rẩy giống tất tật các kẻ phàm nhân khác khi Thơ hiện ra trước tôi, không phải trong những bài thơ, mà được trộn lẫn vào các yếu tố thuộc một trật tự khác và xuôi hơn - chẳng hạn, trong những vở kịch của Shakespeare, những cuốn sách của Dostoevsky hay Pascal, hoặc thậm chí còn đơn giản hơn, những khi tôi ngắm mặt trời lặn. Thế thì tại sao dòng trích lục đậm mùi dược phẩm "Thơ thuần túy" lại khiến tôi bực đến vậy, và còn hơn nữa lúc nó hiện ra dưới hình thức được gieo vần? Tại sao tôi không sao chịu nổi cái thứ rì rầm kia - đơn điệu và không ngừng trác tuyệt? Tại sao những điệp khúc dựa trên phép lặp kia - nhịp và vần - lại làm tôi ngủ? Tại sao ngôn ngữ của các nhà thơ đối với tôi dường ít đáng tò mò hơn cả trong số tất tật các ngôn ngữ khả dĩ? Vậy thì tại sao Vẻ Đẹp ấy thu hút tôi ít đến thế? Rốt cuộc, tại sao không có gì tệ hại hơn, ở phương diện phong cách, cũng như lố bịch hơn, so với cách thức mà các Thi sĩ dùng để nói về chính họ và về Thơ của họ?
Tuy nhiên, có lẽ tôi sẽ nghiêng về chỗ kết án một khiếm khuyết đặc biệt chạm tới tôi ở địa hạt này, dẫu chỉ... phải, dẫu chỉ là một số thí nghiệm - rất có tính khoa học. Một Bacon thì thảm khốc cho Nghệ thuật đến mức nào! Sự hùng hồn liên quan tới Nghệ thuật không kháng cự lại được trước thử thách của cái thực. Người ta sẽ biết được bao nhiêu điều về cái đó nếu thử biết trong chừng mực nào cái con người lên cơn hứng khởi trước Bach kia chỉ có khả năng dẫu chỉ về việc cảm thấy, cả âm nhạc nói chung lẫn đặc biệt là Bach! Chẳng phải là tôi từng - tôi đây, vốn dĩ không có khả năng chơi "Sòn sòn sòn đô sòn" bằng một ngón tay trên đàn piano - biểu diễn, và chẳng phải là không thu được thành công, hai cuộc công xe đấy ư? Đúng, hai công xe - nơi, được chắc cú từ trước về những tiếng vỗ tay hoan hô của một nhúm những người được khai trí nắm được bí mật, tôi thông báo là mình sẽ chơi nhạc mô-đéc - và khởi sự gõ nện tứ tung lên bàn phím... A! sung sướng làm sao những nhà thơ nào, chỉ chịu huyên thuyên về Nghệ thuật, dùng tới phong cách trác tuyệt của một Paul Valéry và không bao giờ tự hạ mình xuống các đương đầu như vậy. Bởi kẻ nào tiếp cận qua ngả đó buổi lễ mi-xa trác tuyệt dành cho các nhà cảm năng của chúng ta kia sẽ chẳng khó nhọc gì mà khám phá ra rằng Vương quốc của sự trưởng thành vẻ ngoài ấy té ra lại chính là thứ xanh non hơn cả, hoang vu hơn cả trong số những sân nuôi gia cầm mà loài người biết đến, và tại đó chỉ ngự trị rặt lừa đảo, dối trá, trò thế tục, xuẩn độn và bíp bíp. Và chắc chắn sẽ lành thay cho logic có chút quá mức cứng nhắc của chúng ta, việc thỉnh thoảng tưởng tượng ra chính Paul Valéry dưới các đường nét của một vị linh mục cao vời của Thiếu Trưởng thành, trưởng tu cười hềnh hệch chân trần đi thơ thẩn, lại còn mặc quần sịp.
Tôi từng thực hiện các thí nghiệm đa dạng như thế: tập hợp lại, tráo đổi những câu hay những thành phần câu lấy được từ các văn bản của một nhà thơ, tôi dựng nên một bài thơ khác, rất vớ vẩn, mà tôi đọc ở một nhóm gồm toàn những người hăng say đầy nhiệt hứng, bảo đấy là một bài thơ inédit, và khơi dậy một niềm sung sướng chung. Hoặc giả, lao thân vào một cuộc điều tra kỹ càng bài thơ nào đó, tôi đến được chỗ phát hiện rằng những người hăng say mê mẩn lừng danh của nó nói cho đúng chưa từng bao giờ đọc toàn bộ nó. Thế thì gì nào? Sung sướng tới mức ấy, mà thậm chí còn chưa đọc cho đến hết? Khoái trá nhấm nháp "sự chính xác toán học" của lời lẽ thơ ca và không thấy rằng sự chính xác ấy bị đẩy nhào một cách triệt để? Vậy thì, huyên thuyên, ông ổng về đó tới nỗi hụt cả hơi, nhấm nháp và hứng khởi lên, rồi thì mọi thứ khác nữa, nhằm rốt cuộc đi tới những thiếu hụt sơ đẳng như thế? Sau mỗi thí nghiệm của tôi, người ta phẫn nộ, tất nhiên, người ta phản đối, người ta bị xúc phạm, và những kẻ phỉnh nịnh thì lấy các vị thần lớn nhất của họ ra mà thề rằng nhưng mà không hề đâu nhé, có phải vậy đâu, nhưng hoàn toàn không phải mà... các vị cứ tự đi mà thấy! nhưng những quả ban của bọn họ bật ngược trở lại vì va phải thứ granit không thể suy suyển của thí nghiệm.
Bằng cách này tôi rơi vào thế khó sau đây: hàng nghìn người viết ra các bài thơ và hàng trăm nghìn người thờ phụng chúng. Còn hơn nữa cơ! các thiên tài trác tuyệt đã tự diễn đạt bằng những câu thơ: từ thuở không nhớ nổi, Thi sĩ được thờ phụng - và tôi đây, tôi, đứng trước đỉnh cao vinh quang kia, tôi lại cả gan nghi ngờ rằng nghi thức của lễ Mixa thơ đang được tiến hành giữa một trống rỗng tuyệt đối. A! nếu không biết từ trước là mình sẽ vui thú với chuyện đó đến thế nào, thì tôi đã, tôi xin thú nhận điều này, khiếp sợ không ít.
Dẫu chuyện là thế nào đi chăng nữa, các thí nghiệm của tôi cũng đã hồi sinh lòng can đảm nơi tôi và với một tâm trí được đảm bảo hơn nhiều tôi xin trả lời cái câu hỏi vừa sắc nhọn lại vừa bí hiểm ấy: Tại sao tôi không thích Thơ thuần túy? Đúng, tại sao? Nhưng cũng vì cùng lý do đơn giản khiến tôi ghét đường ở trạng thái thuần khiết thôi! Đường thì làm được gì cho chúng ta [đường thì tan]? Thì để bỏ vào cà phê, và hẳn người ta sẽ thực sự không ăn từng thìa đường như một thứ bột nào đó... Điều gây mệt mỏi ở Thơ thuần túy là sự quá mức của thơ, phải, sự thừa mứa những lời thơ ca, các ẩn dụ, sự thăng hoa - nói ngắn gọn, nỗi quá mức của sự cô đặc - thứ tẩy rửa mọi yếu tố phản thơ đi khỏi những văn bản đó, mà sự tích tụ rốt cuộc khiến bài thơ thật giống một thứ chất hóa học.
Chắc chắn là rất đúng, việc bài ca là hình thức biểu đạt trang trọng... Tuy nhiên, suốt dọc hàng thế kỷ, số lượng những người ca hát được nhân lên nhiều lần, trong khi hát họ buộc lòng phải chọn lấy tư thế của người ca hát - và thế là dần dà càng lúc tư thế của họ càng trở nên bất động và đông cứng lại. Và người ca hát lại còn khởi sự kích thích, thúc đẩy đồng nghiệp của anh ta, họ trợ sức cho nhau và xác nhận lẫn nhau và giúp nhau cứng cỏi lên, hết sức mà củng cố lẫn nhau, nhân đôi sự hào hứng! Còn hơn thế nữa! họ ngừng ca hát cho các đám đông, họ khởi sự chỉ còn ca hát cho nhau nghe, và thế là, do một sự cạnh tranh không mệt mỏi và một sự hoàn hảo hóa không ngừng bài ca của họ, giữa họ mọc lên một kim tự tháp đúng nghĩa với đỉnh chạm lên tận trời, mà lũ chúng ta đây, vốn chỉ là lũ người dưới mặt đất, chỉ có thể ngưỡng mộ từ bên dưới, ngẩng mặt lên gãy cả cổ. Và thế rồi! cái thứ từng chỉ muốn là một cú bay vọt trong thoáng chốc của văn xuôi đã trở nên chương trình, hệ thống, nghề, nghiệp, và ngày nay người ta trở thành nhà thơ như kỹ sư hay bác sĩ. Bài Thơ, trước mặt chúng ta, đã phồng lên thật to, tận đến chỗ mang các tỉ lệ gớm ghiếc, và chúng ta không còn điều hành nó nữa, chính nó mới làm việc ấy. Các nhà thơ hát rong ngày nay ư? đám nô lệ, và hẳn chúng ta có thể định nghĩa nhà thơ như một con người hoàn toàn không tự diễn tả được bản thân, bởi anh ta còn phải diễn tả Bài Thơ.
Và thế nhưng, ở địa hạt của nghệ thuật làm gì có vấn đề nào cốt tử hơn vấn đề sau đây: tự diễn tả bản thân. Mọi phong cách, mọi thái độ xác định đều được hình thành nhờ loại trừ và cho tới cuối cùng thì giống một sự nghèo nàn hóa. Đó là lý do khiến chúng ta sẽ không bao giờ cho phép một thái độ - dẫu nó có là gì - thu nhỏ các khả thể của chúng ta về gần như hư vô, nhét vào miệng chúng ta một cái giẻ đúng nghĩa; và khi chuyện là một thái độ ngập đầy xảo thuật, thậm chí là các tự phụ, như thái độ của Người Ca Hát, của Nhà Thơ Hát Rong, chắc chắn sẽ cảnh giác của chúng ta cần được tăng lên gấp đôi. Nhưng trong địa hạt nghệ thuật, cho đến giờ chúng ta cống hiến nhiều thời gian và nỗ lực nhằm hoàn hảo hóa một phong cách hơn nhiều so với việc lưu giữ về phía chúng Tự do chúa tể của tinh thần chúng ta. Đối với chúng ta, rất có vẻ Hình thức là một giá trị tự thân, tồn tại độc lập với mức giàu có hay nghèo nàn mà nó mang lại cho chúng ta. Cứ đâm đầu quá đà lo làm cho nghệ thuật trở nên hoàn hảo, chúng ta chối bỏ việc biết dây liên hệ nào, mối tiếp xúc nào nghệ thuật đó vẫn còn giữ với chúng ta. Chúng ta chăm bón hoa của Thơ trong lúc quên mất rằng những gì đẹp không hề bị bắt buộc phải "biến khỏi chúng ta". Thế nhưng, nếu thực sự mong muốn văn hóa không đánh mất chút tiếp xúc nào với con người, dẫu sao thì thỉnh thoảng chúng ta cũng phải ngắt ngang những luyện tập cần cù của mình để kiểm tra xem các sản phẩm của chúng ta có diễn tả chúng ta hay chăng.
Có thể phân biệt hai thể loại nhân văn, chúng mâu thuẫn nhau: một, mà hẳn người ta có thể gọi là nhân văn tôn giáo, cố công làm con người quỳ sụp xuống trước sản phẩm của văn hóa, buộc anh ta phải thờ phụng hoặc ít nhất là kính trọng chẳng hạn Âm nhạc hay Thơ, hay Nhà nước, hay Thần linh. Nhưng còn có nhân văn kia - cái dòng đầy ngang ngạnh của tinh thần hướng chính đến việc trả lại cho Con người vị thế chúa tể của anh ta, sự độc lập đầy đủ của anh ta đối với các vị thần ấy, tức là các Muse đang nhắc, bởi xét cho cùng đấy chỉ là một sáng tạo thuần túy của Con người. Được áp dụng vào dòng thứ hai đó, hiển nhiên từ "nghệ thuật" không cần viết hoa. Hẳn người ta không thể chối rằng nghệ sĩ nào hội được, làm cho hai khuynh hướng kia kết liên minh với nhau sẽ tự biến mình thành ông chủ của một phong cách đầy hơn, vang hơn, chân thực hơn - và nó sẽ phản chiếu một cách trung thành hơn tương phản nền móng trong bản tính của chúng ta. Ngược lại, một nhà phong cách cứ mù quáng bám lấy các cực điểm, sẽ chỉ diễn tả một trong hai cực của tình cảm chúng ta. Tuy nhiên, giữa tất tật các nghệ sĩ, không thể chối bỏ, đám Thi sĩ - các linh mục par excellence, các linh mục ex professo - là những kẻ sốt sắng hơn cả trong việc quỳ sụp xuống và hòa mình vào với các diễn thuyết dông dài; nhìn dưới góc độ này, rốt cuộc Thơ chỉ còn là một lễ chào mừng không hơn. Và chính sự chuyên nhất ấy làm nên độ thiếu hụt quá mức nơi phong cách và thái độ của các Thi sĩ, phong cách và thái độ mà chẳng gì hoàn chỉnh được.
Chúng ta hãy vẫn cứ quay trở lại với phong cách trong một chốc lát. Nghệ sĩ, chúng ta đã thấy, trước hết phải tự diễn tả chính mình. Nhưng, khi làm điều đó, anh ta phải lo sao để cách nói của mình thích ứng với hoàn cảnh cốt yếu của anh ta trong thế giới, anh ta phải diễn tả không chỉ những tương quan của mình với vũ trụ, mà còn cả các tương quan giữa vũ trụ và anh ta. Nếu, trong khi bản thân hết sức rụt rè, tôi lại chọn lấy tông giọng anh hùng, thì tôi phạm một sai lầm về phong cách. Nhưng nếu tôi tự diễn tả trong những tác phẩm của tôi theo cách khiến người ta nghĩ rằng tất cả mọi người đều yêu quý và kính trọng tôi, trong lúc trên thực tế tôi không cả được kính trọng lẫn yêu quý, thì cả ở đây tôi cũng phạm một sai lầm về phong cách. Ngay giây phút chúng ta muốn nhận ra chỗ thực của mình trong thế giới, chúng ta phải có can đảm mà đương đầu với các thực tại khác biệt hẳn với thực tại của chúng ta. Con người, thứ sản phẩm chuyên nhất từ nơi chốn của anh ta, nhất thiết sẽ có một phong cách thắt chặt hơn và tồi tệ hơn so với người nào từng biết nhiều người, nhiều nơi chốn. Thế nhưng, điều làm cho các Thi sĩ gây nhiều quấy rầy và nói thẳng là khó chịu nổi, không chỉ là lòng tín mộ vô sinh và không kèm bù trừ của họ, sự thể họ tự hiến mình, cơ thể và tâm hồn, cho Thơ, mà còn là thứ chính sách đà điều của họ đối mặt với thực tại, bởi bằng một cử chỉ hung dữ họ đẩy nó ra xa, họ từ chối nhìn thấy nó - và họ tự buộc mình lên cơn nhập đồng, quáng hết lên, họ tự đặt mình vào một trạng thái dạng Dionysos, thứ, còn xa mới là một lực, là một sự yếu ớt.
Vả lại, chẳng phải các nhà thơ sáng tạo cho các nhà thơ sao? Và chẳng phải họ chỉ chăm chăm tìm tín đồ, môn đệ, kẻ theo đuôi, tôi muốn nói những người giống hệt họ? Và tất tật các bài thơ của họ có là gì khác ngoài sản phẩm của một nhóm xã hội chật chội và được định nghĩa hết sức cẩn thận không? Có phải chúng, đúng hay không, hũ nút hết cỡ? Tôi không hề có ý trách họ về "khó khăn" ấy; tôi không hề đòi hỏi họ phải viết các văn bản của mình sao cho "tất cả mọi người đều hiểu" hoặc để chúng được đọc gần bếp lò, trong những ngôi nhà mái rạ. Không! vậy thì hẳn sẽ là đòi hỏi họ phải tự chối bỏ các giá trị cốt yếu hơn cả: tự ý thức, trí năng, sự nhạy cảm, cái biết sâu sắc liên quan tới cuộc đời và vũ trụ, và họ phải làm điều đó nhằm đi xuống mức độ trung bình! Cái đó thì chẳng bao giờ! không, chẳng bao giờ một nghệ thuật tự tôn trọng bản thân lại đi nhất trí với điều này. Nghệ sĩ nào suy tư, nhiều trí năng, tinh tế, sâu sắc, trác tuyệt, nghệ sĩ đó phải tự diễn tả và tất nhiên chọn lấy tông giọng riêng của anh ta; vậy thì nhà văn tinh xảo sẽ nói một thứ ngôn ngữ tinh xảo: quy tắc rất vững, bởi sự vượt trội của nghệ sĩ có thật và, nếu nó có thật, thì không phải là tự hạ thấp sự vượt trội xuống. Hoàn toàn không xấu, việc Bài thơ hiện đại là không thể hiểu đối với bất kỳ ai - ngược lại, thật đáng bực khi sự thống nhất đơn phương một cách chặt chữ giữa những thế giới giống hệt và những con người giống hệt nhau khơi lên nó! Bởi rốt cuộc, chính tôi cũng là tác giả và hết sức bướng bỉnh bảo vệ trình độ của mình; tuy vậy (điều này là để khỏi bị phản đối chuyện tôi chăm bón một thể loại rồi đi chiến đấu chống lại chính nó), lúc viết những cuốn sách của mình, không một lúc nào tôi để mất khỏi tầm mắt việc ngoài thế giới nhỏ bé của tôi còn có các thế giới khác, và chúng rất không giống. Và cho dù không viết cho dân chúng thì tôi cũng viết như một người bị dân chúng đe dọa hoặc phụ thuộc vào dân chúng, hoặc được dân chúng tạo ra. Và chẳng bao giờ tôi từng nảy ra ý lấy một thái độ "nghệ sĩ" toàn tòng, một "nhà văn", đã trưởng thành và được công nhận đầy đủ, mà - hoàn toàn ngược lại - tôi nhận lấy chính vai trò của ứng cử viên-nghệ sĩ, kẻ chỉ thuần túy ham muốn sự trưởng thành: sự trưởng thành giành được nhờ một xung đột không ngừng và ương bướng, một cuộc ẩu đả hăng máu chống lại tất tật và toàn bộ những gì phanh hãm và kiềm tỏa tiến hóa của tôi. Quả thật, nghệ thuật của tôi đã được hình thành không phải trong tiếp xúc với một nhóm người thân cận, mà, ngược hẳn lại, trong tiếp xúc trực tiếp với kẻ thù, tự dẫn chiếu mình đến kẻ thù.
Các nhà thơ thì thế nào? Một bài thơ có đứng vững được không khi nó rơi, không phải vào tay người bạn-nhà thơ, mà vào tay một kẻ thù, một kẻ không-nhà thơ? Giống mọi phát ngôn khác, một bài thơ phải được hình dung và hiện thực hóa sao cho - ngay cả ở trường hợp sẽ chẳng ai thích nó - tác giả của nó không xấu hổ vì nó, ngay cả khi chính nghệ sĩ cũng không hề thích nó. Bởi không nhà thơ nào là nhà thơ một cách chuyên nhất: nơi mọi nhà thơ đều trú ngụ và sinh sống kẻ không-nhà thơ; cái người không ca hát, và không mấy thích bài ca... và chắc chắn Con người là thứ rộng lớn hơn nhiều so với Thi sĩ. Tuy nhiên, một phong cách sinh ra giữa các tín đồ cuồng nhiệt của cùng một tôn giáo chết đi vào lúc tiếp xúc với đám đông những kẻ phàm tục: một phong cách như thế không có khả năng về cả tự vệ lẫn chiến đấu, không có khả năng sống một cách đúng nghĩa: đấy là một phong cách chật hẹp...
Nếu, thay vì chơi trò giáo chủ, tập hợp đông người lại với nhau như vậy, để mà thờ phụng sự lớn lao, thay vì đòi hỏi công chúng của họ quỳ gối xuống và, còn hơn thế nữa, chính họ quỳ gối trước họ, các nhà thơ biết nhìn nhận bài ca của mình như một thói cuồng, hay ít nhất là một nghi thức, một sự cử hành nghi lễ! A! nếu họ hát như những người bị buộc phải hát, mà vẫn biết là mình đang hát chẳng cho ai nghe! Nếu, thay vào chỗ "Cái Tôi-Thi sĩ" đầy kiêu ngạo, họ có thể nói ra vẫn những từ đó, phải, nhưng với đầy ngượng ngập, hoặc giả đầy sợ sệt, hay thậm chí... với đầy kinh tởm!... Nhưng các vị nghĩ đi! Không, Thi sĩ thì buộc lòng phải thờ phụng Thi sĩ thôi!
Sự bất lực trước thực tại ấy đặc trưng hóa, theo lối xủng xoảng, cho phong cách và thái độ của Thi sĩ. Chỉ có điều, con người - nếu hắn chạy trốn cái thực - rốt cuộc sẽ đánh mất mọi chỗ dựa và trở thành món đồ chơi thụ động cho các yếu tối. Ngay khoảnh khắc các Thi sĩ để mất hút khỏi tầm mắt con người thực và cụ thể để chăm chăm nhìn vào bức tường của một thứ Thơ trừu tượng, chẳng gì còn có thể giữ họ lại nữa trên triền dốc thoải dẫn thẳng xuống vực của Phi lý. Lúc đó, mọi sự bên trong họ đã bắt đầu nảy nở, tăng nhanh - tự chúng. Phóng túng, say cuồng, Ẩn dụ lao ầm ầm và phóng nước đại - thành thử ngày nay trong các bài thơ, ngoài những ẩn dụ, không còn lại gì nữa. Bởi ngôn ngữ của các nhà thơ đã rơi tuột vào thứ thành ngữ và biệt ngữ thuộc nghi thức: rặt là ồn ĩ phí hoài, loảng xoảng phù phiếm, tất tật các "hoa hồng" và "hoàng hôn" kia, các "nhớ nhung" và "đau đớn" kia, vốn dĩ trước đây chẳng hề thiếu sự tươi mát; và cũng trống rỗng không kém, tất tật các "vòng xoáy" và "cột tín hiệu" ngày nay thay thế những cái kia. Từ "sự bó hẹp lại" của ngôn ngữ này chảy ra một "sự bó hẹp lại" của phong cách: các bài thơ, ngày nay, bị đưa về với khoảng một chục "cảm tri sở nghiệm", các "sự kiện" quen quá mức, chúng chỉ làm được một việc là chẳng chút nao núng đưa chúng ta về trong cái khung xác định rõ của một nghìn lẻ một cách kết hợp đầy trâng tráo, thứ tạo ra một ngôn ngữ kể từ nay chỉ còn là chi phí sinh hoạt... Theo cùng đà với Sự Thu Hẹp thì Thu Hẹp lại, Cái Đẹp, thoát được khỏi mọi rào cản, Làm Đẹp, Cái Sâu Sắc thì Đào Sâu Xuống, Sự Cao Quý trở nên Cao Quý thêm và, rốt cuộc, Sự Thuần Khiết thì Thanh Tẩy. Nếu một mặt Bài thơ, không còn vướng chút phanh hãm nào để tha hồ mà phóng túng, phồng to lên tận tới các kích thước của một tụng ca tuyệt bích khổng lồ (giống rừng rậm mà chỉ dăm ba nhà khai phá từng thực sự xâm nhập được bí ẩn) - thì mặt khác, rốt cuộc nó đã được cô đặc lại để thành viên thuốc con nhộng, trích lục, chất liệu tổng hợp, vi lượng đồng căn. Hơn nữa, bằng cách nhăn nhó mặt mày và vào vai những kẻ được khai trí lớn lao một cách kỳ quặc, người ta say sưa với các thí nghiệm và sáng chế lạ lùng nhất và không ai, tôi xin nhắc lại điều này, còn có khả năng chặn những cuộc truy hoan kia, sau rốt chúng chỉ dẫn tới trì trệ. Không đâu! chuyện chẳng mấy còn là một Sáng tạo của con người cho con người nữa, mà là một thứ lễ nghi trang trọng và được cử hành trước ban thờ chính. Và cứ mười nhà thơ thì ít nhất một tất nhiên tự thấy mình phải ca bài tụng Quyền năng của Lời lẽ Thơ, nhằm gây phấn chấn cho Thiên hướng của Thi sĩ lớn lao tận đến mức hết cả khát!
Tôi thấy dường như mình đã ít nhiều giải thích tại sao Thơ có vần lại không thể khiến tôi thiết tha gì. Và tại sao các Thi sĩ, cơ thể và tâm hồn giao phó hết cho nàng Muse, mắt nhắm nghiền lại trước tồn tại của con người cụ thể, đóng chặt lại trước thực tại, lại bị đặt, từ nhiều thế kỷ nay, vào một hoàn cảnh thảm họa. Cái đó là mặc cho các vẻ bề ngoài của Khải hoàn. Mặc cho toàn bộ sự hào nhoáng của Nghi lễ.
Nhưng tôi phải đẩy lui một lời trách khác nữa.
Tôi không thể giải thích bằng cách nào khác ngoài mong muốn sự mù lòa đầy ý thức, tính cách thấy rõ là quá mức giản lược của những lập luận được các Thi sĩ dùng những khi họ muốn bảo vệ nghệ thuật của mình. Có những người nghĩ có thể cứu bộ dạng của mình bằng cách bảo làm thơ cho vui, trời ơi, như thể toàn bộ cách cư xử của họ không nói ngược lại lời đó. Lại có những người khác hết sức nghiêm túc nói với ta rằng họ viết... cố mà đứng vững nhé, cho Nhân dân, rằng đống lùng nhùng các trò đánh đố diệu vợi mà họ chế ra được dùng làm lương thực tinh thần cho những tâm hồn đơn giản. Nhưng tất tật, tất tật đúng như họ vốn dĩ, đều tin chắc như đinh đóng cột vào độ ngân vang xã hội nghệ thuật của họ và tỏ ra vĩnh viễn không có khả năng hiểu những tấn công nhằm vào họ. "Phải nói gì nào? họ đáp trả. Làm sao mà ông lại vẫn nghi ngờ được? Ông không có mắt mà thấy tất tật những người đổ xô chen chúc đến các buổi ngâm thơ của chúng tôi sao? Và lượng in các tập thơ của chúng tôi? Và số lượng những bài phê bình, bài báo, thậm chí những luận văn mà các đầu óc lớn nhất dành cho chúng tôi? Và niềm ngưỡng mộ mà các nhà thơ xuất chúng được hưởng? Không, thưa ông! chính ông, đúng, ông mới đang từ chối thấy những gì đang..."
Câu trả lời của tôi? Nhưng đấy là, toàn bộ những cái đó chỉ là ảo tưởng! Quả đúng là có rất đông người tới các buổi ngâm thơ, nhưng cũng đúng không kém, việc ngay một thính giả có học vấn rất cao cũng không thể nắm được nghĩa những bài thơ mà người ta ngâm cho anh ta ở chỗ đông người, lần lượt được nhả ra trong các cuộc hội họp dài đến mức gây tuyệt vọng. Phải, cần đọc lại mỗi bài thơ ít nhất ba lần, và là với lượng nghiêm túc và tài năng tối đa thì a ma tơ - dẫu chỉ trong các nét lớn - mới có thể giải mã được nội dung của nó. Lượng in ấn thì sao? Nhưng xét cho cùng, ai cũng biết là người ta mua hàng nghìn quyển sách mà chẳng bao giờ đọc ở trong đó lấy một dòng! Và rồi chính các nhà thơ viết điểm sách cho những tập thơ mà người ta xuất bản! Lòng ngưỡng mộ ư, các vị nói? Chúng ta không thấy là lũ ngựa đua còn khơi lên nhiều mối quan tâm hơn sao? Và tương quan nào đây, nói cho tôi biết đi, giữa luồng run rẩy thể thao nhẹ hều mà chúng ta cảm thấy khi chứng kiến đủ mọi loại thi thố, giữa những tính toán nhỏ bé cùng các tham vọng - vốn dĩ không thể tách rời khỏi thể loại những cuộc đua đó, phải, tương quan nào đây giữa toàn bộ những cái đó và một cảm xúc nghệ thuật thực?
Tuy nhiên, kể cả có đúng đi nữa, câu trả lời như thế hẳn sẽ không thể đủ. Bởi vấn đề về mối thống nhất của chúng ta với nghệ thuật sâu sắc và khó nhọc hơn rất nhiều. Chẳng hề có chút nghi ngờ nào, ít nhất là theo ý kiến hèn mòn của tôi, cái việc nếu chúng ta muốn hiểu được điều gì đó - thì chúng ta phải dứt ngay khỏi luận đề quá mức thuận tiện theo đó "Nghệ thuật khiến chúng ta sung sướng" và "Nghệ thuật tạo ra các khoái lạc cho chúng ta". Không hề nhé! Nếu nghệ thuật khiến chúng ta sung sướng, thì chỉ là tới một điểm nhất định, và vả lại, nỗi khoái trá mà nó gây cho chúng ta rất đáng ngờ... Chuyện có thể khác như vậy được chăng? phải, giao du với nghệ thuật lớn là một công việc gây nhiều mệt mỏi và nặng nhọc, nặng nhọc vì nó làm chúng ta nhập vào với những người trưởng thành hơn chúng ta, với chân trời rộng lớn hơn, với sự nhạy cảm hùng mạnh hơn nhiều. Chúng ta có khoái trá mấy đâu, mà đúng ra thì ở đó chúng ta phải cố công... và chúng ta không hiểu được nhiều hơn - chúng ta chỉ tìm cách hiểu...
Làm sao mà một vấn đề phức tạp nhường đó lại có thể được đưa về - lại còn là theo một thức hết sức hời hợt - với những công thức giản lược hóa như thế, chẳng hạn: "Nghệ thuật khiến chúng ta sung sướng vì nó đẹp"? "Đúng, đám snob thì đông lắm - nhưng tôi thì tôi không snob và chỉ cần thấy không thích một thứ gì là tôi thú nhận ngay chẳng chút nề hà, thẳng tuột luôn", những con người tốt bụng hơi đơn giản đó nói với ta, tưởng tượng rằng thông qua đây đã xử lý được hết mọi chuyện...
Thế nhưng những thành tố can thiệp theo lối hiển hiện ở đây không hề có bất kỳ tương quan nào với cảm năng. Bởi xét cho cùng, nếu ở trường người ta đã không bắt chúng ta phải ngây ngất lên vì nghệ thuật, nếu toàn bộ cách tổ chức của văn hóa chúng ta không áp đặt nghệ thuật lên chúng ta theo cách thức ấy, thì lúc đã đến tuổi trưởng thành, chúng ta có cảm thấy ngần đó quan tâm, ngần đó sung sướng theo com măng không? Chẳng phải xét sâu xa nhu cầu thiết thân của chúng ta về huyền thoại, về sự thờ phụng, về lòng kính ngưỡng là thứ lộ ra trong niềm ngưỡng mộ kia và hào hứng lao vào đó à? Tán dương những con người lớn lao theo cách đó, chẳng phải chúng ta tán dương chính chúng ta sao? Nhưng - trước mọi điều - niềm ngưỡng mộ cùng các hứng khởi của chúng ta sinh ra từ chúng ta hay giữa chúng ta? Những khi một cơn giông những tiếng hoan hô bùng lên trong một phòng công xe, điều này ít có nghĩa là người nào trong số những ai đang vỗ tay kia đều đang tự cảm thấy sung sướng. Nhưng một hành động hoan hô đầy rụt rè kích lên một hoan hô khác, chúng thôi thúc nhau và kích thích lẫn nhau, và xét cho hết nhẽ hoàn cảnh thành ra người nào có mặt cũng buộc lòng phải thích ứng, hòa mình vào cơn điên loạn tập thể. Đúng, người nào cũng "cư xử" như một con người sung sướng, cho dù chẳng ai sung sướng "thật" - dẫu thế nào thì cũng chẳng bao giờ đến mức ấy.
Sẽ là một nhầm lẫn hoặc chứng cứ cho một sự ngây thơ thảm thương nếu đòi thơ - hay bất cứ nghệ thuật nào khác - phải, hết sức đơn giản, là một nguồn suối nhục cảm cho con người! Và, nhìn dưới góc độ này, tất tật những điều phi lý và lố bịch đang diễn ra tại cái thế giới bé nhỏ của các nhà thơ cùng những kẻ tán tụng họ đối với chúng ta sẽ có vẻ được biện minh: quả thật phải là bình thường, thậm chí phù hợp với trật tự các vật tự nhiên, việc nghệ thuật và sự bỏ bùa mà nó khơi lên là tác phẩm của tinh thần tập thể thay vì phản ứng tức thì của cá nhân.
Và thế nhưng, không. Không, ngay cả một hình dung như thế về vấn đề cũng không thể cứu các nhà thơ hay mạ vàng lại gia huy của họ, bằng cách trang cho nó các màu của cuộc đời thực! Ngay cả nếu thực tại đúng như người ta vừa thấy, thì họ cũng chẳng hề nhận thấy. Trong mắt họ, chuyện đơn giản hơn nhiều: Người ca hát thì hát, trong khi thính giả thì há hốc miệng mà nghe. Nếu các nhà thơ cho thấy là mình có khả năng nhận ra những sự thật đó và rút được từ đấy tất tật các hệ quả, thì chẳng hề phải nghi ngờ việc họ sẽ phải biến đổi thật triệt để - và là ở ngay chính yếu tính của nó - thái độ của họ đối với bài ca. Nhưng không! chẳng có mối nguy nào: các Thi sĩ sẽ không bao giờ thay đổi! Và xin các vị đừng tự tạo ảo tưởng nào: đừng có nghĩ rằng, đối mặt với các quyền năng tập thể đóng góp cho việc bóp méo sự nhạy cảm cá nhân của chúng ta, những nhà thơ hát rong của chúng ta sẽ biểu lộ chút ham muốn kháng cự nào dẫu là nhỏ tới đâu; phải, kháng cự, dẫu chỉ là để gỡ đi khỏi nghệ thuật tính cách thuộc hư cấu và nghi lễ của nó và trả nó về với thiên hướng của mình: là một sự thống nhất của con người với con người. Không! các Thi sĩ, những ông thầy tu đó, thích thành kính mà quỳ xuống hơn.
Các thầy tu? Điều này hoàn toàn không muốn nói tôi là một địch thủ của Chúa hay rất nhiều công đồng của ông ta. Tuy vậy, ngay một tôn giáo cũng chết đi vào giây phút nó biến thành nghi lễ. Chúng ta hiến sinh hơi quá mức dễ dàng trên thể loại các ban thờ này trọng lượng cùng sự chân thực rất thực của tồn tại chúng ta.
nghệ sĩ nước mình vất vả..
ReplyDeleteà mà thôi
ta có nên so sánh em với một ngày mùa hạ...
ReplyDeleteGombrowicz bảo ổng không khoái đường nguyên chất là vì ở Ba Lan không có đường phèn 😛
ReplyDeleteĐây cũng chống?
ReplyDelete“ Rượu ngà say quên lẫn cả mình,
Khi tuý luý thoát hình hài cõi tục.
Mặc ai đàm tiếu ai trong đục,
Tỉnh mà chi cho nhọc chẳng khề khà.
Nợ nần gỡ mãi không ra.”