Showing posts with label jean-jacques-rousseau. Show all posts
Showing posts with label jean-jacques-rousseau. Show all posts
Feb 24, 2021
Jul 6, 2020
Rousseau corr.
Khi Casanova đến gặp Voltaire (tại Thụy Sĩ) thì nhân vật thứ nhất 35 tuổi, nhân vật thứ hai đã 66. Ngoài cuộc tranh luận về Arioste (Casanova trách Voltaire từng dìm hàng Arioste trong một cuốn sách trước đó, Voltaire liền sửa sai ngay, nói rằng mình đã thay đổi ý kiến kể từ bấy, và lập tức đọc thuộc lòng rất nhiều đoạn thơ Arioste - nhưng sau đó, Voltaire, đúng với bản tính lừng danh của mình, đã trả thù bằng cách chê bôi "Merlin" tức là một nhà thơ Ý mà Casanova muốn giới thiệu cho Voltaire, cũng kể trước đấy "Merlin" đã làm ngây ngất ông thầy tiếng Pháp của mình tại Paris, tức là Crébillon danh tiếng), còn có chuyện: Casanova thấy trong phòng Voltaire có rất nhiều gói (tổng cộng chừng 100), hỏi thì Voltaire đáp: đấy là thư từ (correspondance) của mình.
Jun 16, 2020
Casanova
đã tiếp tục "Cao Hải Hà", "Chroniques HN: một phố" và "tiếng Việt abc", chắc cũng không nên bỏ qua "đọc Deleuze"
"They read you Cinderella (...)
(...) I'm no Casanova"
(All-4-One)
"tu ne comprends rien de l'amour"
(lời bài hát pop mì ăn liền)
Dec 5, 2016
Sử ký
Năm 1889, Édouard Chavannes, ở tuổi hai mươi tư, đến Bắc Kinh lần đầu tiên (câu hỏi cho những người yêu thích lịch sử, văn chương và phương Đông: Victor Segalen - lại thêm một bác sĩ, giống Céline - đến Bắc Kinh lần đầu tiên năm nào, ở tuổi bao nhiêu, và tập thơ huyền thoại Stèles in năm nào, tại Trung Quốc hay Pháp, "Honorer les Sages reconnus; dénombrer les Justes; redire à toutes les faces que celui-là vécut, et fut noble et sa contenance vertueuse").
Labels:
dante,
edouard-chavannes,
edward-gibbon,
jean-jacques-rousseau,
marcel-granet,
nhuong-tong,
phan-khoi,
phan-ngoc,
plutarque,
shakespeare,
thucydide,
tu-ma-thien,
victor-segalen,
wittgenstein
Feb 9, 2016
Kundera và tôi
Giờ đây, khi Kundera đã quen thuộc, thậm chí quá quen thuộc ở đây (trong cuộc phổ biến hơi có chút tràn lan ấy, tất nhiên có phần
đóng góp của tôi, một phần đóng góp không đáng kể), một vài điều nên được nói.
May 3, 2015
Nghịch lý Tố Tâm
Đương lúc Nho giáo ở Việt Nam không còn cơ cứu vãn, một cuốn tiểu thuyết đã ra đời: Tố Tâm của Song An Hoàng Ngọc Phách, viết năm 1922 khi tác giả còn học ở trường Cao đẳng Sư phạm, ban Văn chương, và in lần đầu năm 1925. Các nghiên cứu sau này đã chỉ ra rằng khó mà coi Tố Tâm là tiểu thuyết quốc ngữ (tức là hiện đại) đầu tiên của Việt Nam, nhưng Tố Tâm vẫn cứ là tác phẩm có ý nghĩa đặc biệt to lớn, vì vấn đề mà nó đặt ra, vì văn chương của nó, và vì nó thực sự mới.
Tình hình rất tương tự: ở cơn hấp hối của thời kỳ Cổ điển, ở châu Âu đột nhiên xuất hiện những cuốn tiểu thuyết mới đầu dường như không mấy ý nghĩa nhưng thực chất đã mở ra cả một thời kỳ Lãng mạn: La nouvelle Héloïse, Werther và Pamela. Rousseau, Goethe và Richardson đều như thể vô ý viết ra những cuốn sách không mấy ăn nhập với cả sự nghiệp của mình.
Tình hình rất tương tự: ở cơn hấp hối của thời kỳ Cổ điển, ở châu Âu đột nhiên xuất hiện những cuốn tiểu thuyết mới đầu dường như không mấy ý nghĩa nhưng thực chất đã mở ra cả một thời kỳ Lãng mạn: La nouvelle Héloïse, Werther và Pamela. Rousseau, Goethe và Richardson đều như thể vô ý viết ra những cuốn sách không mấy ăn nhập với cả sự nghiệp của mình.
Nov 1, 2013
Oct 18, 2013
Mar 25, 2013
(Những mối quan hệ nguy hiểm) Một chút Rousseau trong nước lạnh :p
Cũng như trong "vệt" George Orwell, Chuyện ở nông trại gợi lại một lịch sử đáng nhớ của một dòng văn chương, ví dụ đây:
thì "dòng" thế kỷ XVIII cũng không mấy khác.
Ta có một bản Voltaire như thế này:
thì "dòng" thế kỷ XVIII cũng không mấy khác.
Ta có một bản Voltaire như thế này:
Feb 27, 2013
(Những mối quan hệ nguy hiểm) Laclos trong thế kỷ XVIII
Nhân tròn thêm một triệu view nữa, nhân vì cứ canh cánh về vụ đóng góp cho cộng đồng mãi vẫn ì ạch bởi bao nhiêu chuyện dấm dớ đã xảy ra, nhân mày mò trong cái thế kỷ XVIII (nhất là Jean-Jacques Rousseau) cũng đã lâu, tôi bắt đầu cho lên đây những mày mò theo một hướng khác hẳn với Jean-Jacques Rousseau, liên quan đến Choderlos de Laclos.
Cách này là đi ngược hẳn lại, tìm hai đối cực của nhau. Khoảng cách thời gian khiến việc này có thể dễ dàng hơn, chẳng hạn, so với chuyện xảy ra ở nửa sau thế kỷ XX.
Jean-Jacques Rousseau không phải tác giả phong tình (tuy đọc các tác phẩm văn chương của Rousseau có thể thấy rất rõ tính chất gợi dục) trong khi Laclos đã để lại một dấu ấn không thể phai mờ trong lịch sử văn chương phong tình thế kỷ XVIII, văn chương phong tình Pháp và cả truyền thống văn chương phong tình thế giới nói chung, với bộ Les Liaisons dangeureuses (Những mối quan hệ nguy hiểm), mà hẳn rất rất nhiều người đã quá biết nội dung, vì điện ảnh đã cho ra đời không biết bao nhiêu bộ phim chuyển thể từ Les Liaisons dangereuses, một tác phẩm văn chương thực sự được điện ảnh chiều chuộng.
Cách này là đi ngược hẳn lại, tìm hai đối cực của nhau. Khoảng cách thời gian khiến việc này có thể dễ dàng hơn, chẳng hạn, so với chuyện xảy ra ở nửa sau thế kỷ XX.
Jean-Jacques Rousseau không phải tác giả phong tình (tuy đọc các tác phẩm văn chương của Rousseau có thể thấy rất rõ tính chất gợi dục) trong khi Laclos đã để lại một dấu ấn không thể phai mờ trong lịch sử văn chương phong tình thế kỷ XVIII, văn chương phong tình Pháp và cả truyền thống văn chương phong tình thế giới nói chung, với bộ Les Liaisons dangeureuses (Những mối quan hệ nguy hiểm), mà hẳn rất rất nhiều người đã quá biết nội dung, vì điện ảnh đã cho ra đời không biết bao nhiêu bộ phim chuyển thể từ Les Liaisons dangereuses, một tác phẩm văn chương thực sự được điện ảnh chiều chuộng.
Oct 9, 2012
Rousseau: Cuộc dạo chơi thứ nhất
Trong Những lời bộc bạch, dịch giả Lê Hồng Sâm dịch liên từ "qui" (tương đương "who", "which" trong tiếng Anh) theo một cách thức khá đặc biệt, nhưng bà không phải là người duy nhất làm như vậy, trước đây đã có một số người, ví dụ như Trần Dần trong các bản dịch từ tiếng Pháp.
Dưới đây là "Cuộc dạo chơi thứ nhất" trong số mười cuộc dạo chơi của Những suy tư vơ vẩn của người dạo chơi cô độc, tác phẩm cuối cùng của Jean-Jacques Rousseau, được ông viết trên nhiều tấm "thẻ" (carte).
Dưới đây là "Cuộc dạo chơi thứ nhất" trong số mười cuộc dạo chơi của Những suy tư vơ vẩn của người dạo chơi cô độc, tác phẩm cuối cùng của Jean-Jacques Rousseau, được ông viết trên nhiều tấm "thẻ" (carte).
Jean-Jacques Rousseau
Những suy tư vơ vẩn
của người dạo chơi cô độc
Cuộc dạo chơi đầu
tiên
Vậy là giờ đây tôi chỉ một mình trên đời, ngoài riêng tôi
chẳng còn anh em, thân thích, bạn bè, chỗ giao du. Kẻ dễ gần nhất và dễ yêu nhất
trong số con người lại bị quăng vứt khỏi con người theo một thỏa thuận được
đồng lòng nhất trí. Họ đã tìm kiếm ở những tài khéo trong sự căm hận của mình
đâu có thể là đòn hành hạ tàn độc nhất cho tâm hồn nhạy cảm của tôi, và họ đã
cắt phăng mọi mối liên hệ gắn kết tôi với họ. Tôi thì sẵn sàng yêu con người
mặc cho bản thân họ. Thôi liên hệ với tôi, họ đã chỉ có thể tuột ra khỏi sự
trìu mến của tôi. Thế là họ trở thành những người xa lạ, những người dưng, rồi
thì với tôi họ chẳng còn là gì, bởi họ đã muốn vậy. Nhưng còn tôi, bị tách rời
khỏi họ và khỏi mọi thứ, bản thân tôi thành ra cái gì? Đó chính là điều tôi còn
cần phải tìm hiểu. Thật không may, trước khi tìm kiếm phải có một cái nhìn
thoáng qua về vị trí của tôi. Nhất thiết tôi phải thực hiện điều này thì mới có
thể đi từ họ đến tôi.
Đã hơn mười lăm năm nay tôi ở vào cái vị trí lạ thường này,
thế mà với tôi nó vẫn như thể là một cơn ác mộng. Lúc nào tôi cũng hình dung
mình đang bị mắc chứng khó tiêu, đang phải ngủ một giấc thật nặng nề, và rằng
tôi sẽ tỉnh dậy, nhẹ nhõm thoát hẳn khỏi nỗi đau đớn, thấy mình lại được ở bên
bạn bè. Phải, hẳn thế, hẳn tôi đã không hề hay biết mà nhảy từ trạng thái thức
vào trạng thái ngủ, hay nói đúng hơn là từ sự sống vào cái chết. Bị lôi tuột
khỏi trật tự sự vật theo cái cách tôi không hiểu là cách gì, tôi thấy mình lao
vào một sự hỗn loạn không sao hiểu nổi tại đó tôi không nhìn thấy gì hết; và
càng nghĩ đến tình trạng hiện nay của mình tôi lại càng thấy khó hiểu là mình
đang ở đâu.
Này! làm sao mà tôi có thể dự tính số phận đang chờ đợi tôi?
làm sao đến tận hôm nay tôi có thể hình dung ra nó, khi đã rơi vào đây? Trong sự
chất phác của mình liệu tôi có thể giả định rồi một ngày, tôi, cái con người mà
tôi là, cái con người mà tôi vẫn là, sẽ biến thành, sẽ hẳn nhiên bị coi như một
con quái vật, một kẻ đầu độc, một tên sát nhân, rằng tôi sẽ trở thành niềm kinh
sợ của loài người, món đồ chơi của lũ tiện dân, rằng toàn bộ sự chào đón của những
người đi ngang qua tôi sẽ là nhổ lên tôi, rằng cả một thế hệ rồi sẽ lấy làm
thích thú được chôn sống tôi theo một thỏa thuận đồng lòng nhất trí? Khi sự đảo
lộn kỳ quặc này xảy ra, bị bắt chợt, thoạt tiên tôi bị chấn động. Những bấn
loạn của tôi, sự phẫn nộ của tôi nhấn chìm tôi vào một cơn điên loạn mất đến
chục năm mới dịu lại, và trong quãng thời gian ấy, rơi vào hết nhầm lẫn này đến
nhầm lẫn khác, hết lầm lỗi này đến lầm lỗi khác, hết sự ngu xuẩn này đến sự ngu
xuẩn khác, bởi những việc thiếu thận trọng của mình, tôi đã cung cấp cho những kẻ
dùng vu cáo để chi phối số phận tôi vô số công cụ để rồi bọn họ đã khéo léo sử
dụng chúng nhằm đóng đinh ghim chặt cái số phận đó lại.
Tôi đã giãy dụa dữ dội ngang bằng với vô vọng. Không khôn
khéo, chẳng nghệ thuật, không giấu giếm, chẳng thận trọng, thẳng băng, mở
toang, sốt ruột, tức tối, càng giãy dụa tôi càng chỉ tự trói mình chặt hơn và
không ngừng cung cấp cho bọn họ những sơ hở mới mà họ không hề bỏ qua. Rốt
cuộc, cảm thấy mọi nỗ lực của mình đều vô ích và vật vã chẳng được tích sự gì,
tôi bèn nắm lấy cái ý tưởng duy nhất còn lại mà tôi có thể nắm, đó là quy phục
số phận của mình mà không cố công cưỡng lại sự tất yếu nữa. Tôi đã thấy trong
thái độ nhẫn nhục này sự đền bù cho mọi nỗi khốn khổ của mình, thông qua sự yên
bình mà nó tạo ra cho tôi, cái yên bình chẳng thể hòa hợp với sự hành hạ không
ngớt của một cuộc kháng cự cũng nặng nề ngang bằng với chẳng lợi ích chi.
Còn một thứ khác đã góp phần cho sự yên bình này. Trong tổng
số những tài khéo nằm ở sự căm hận của mình, những kẻ truy sát tôi đã bỏ qua
mất một điều mà ác tâm của bọn họ khiến họ quên đi mất; bằng cách khéo léo tăng
dần tác động của sự ác tâm bọn họ có thể không ngừng duy trì và gia tăng những
nỗi đau khổ của tôi, luôn luôn giáng lên tôi một sự tổn thương mới nào đó. Nếu
đủ khôn khéo mà để lại cho tôi chút ánh sáng hy vọng, hẳn bọn họ sẽ vẫn còn giam
chặt được tôi ở đó. Bọn họ sẽ còn có thể biến tôi thành món đồ chơi cho họ bằng
một cái bẫy nào đó, rồi sau này gây hại cho tôi vì một sự hành hạ luôn luôn mới
mẻ ở chỗ bất ngờ. Nhưng bọn họ đã dùng đến cạn kiệt các nguồn lực của mình từ
quá sớm; vì không để lại chút gì cho tôi, bọn họ cũng đã tự vứt bỏ đi mọi thứ
của mình. Sự phỉ báng, sự hạ thấp, sự bôi nhọ, sự đê nhục mà bọn họ ụp xuống
tôi không có nhiều tác dụng tăng tiến bằng làm dịu đi; cả hai bên đều không còn
tự kiểm soát được nữa, bọn họ vì làm chúng trở nên nặng nề còn tôi vì né được
chúng. Họ nôn nóng làm đầy tràn mức độ bần cùng của tôi đến độ khiến cho toàn
bộ sức lực con người, tuy được trợ sức bởi mọi mưu mẹo địa ngục, không còn có
thể thêm gì vào được nữa. Bản thân nỗi đau thể lý cũng vậy, lẽ ra phải làm tôi
thêm phần đau đớn, thì ở đây lại là thứ đánh lạc hướng. Khi bắt tôi phải hét
lên, có lẽ vậy, nỗi đau tránh cho tôi phải rên rỉ, và những rách xước của thể lý
hẳn làm ngưng lại những rách xước của trái tim tôi.
Tôi còn gì phải phàn nàn về bọn họ nữa đây khi mà mọi thứ đã
xong xuôi rồi? Vì không thể làm cho tình trạng của tôi tệ hại hơn được nữa, bọn
họ không sao gây nổi cho tôi những cơn giật thột. Sự lo lắng và nỗi sợ là những
điều xấu mà bọn họ đã vĩnh viễn trút vào tôi: đó luôn luôn là một sự nhẹ nhõm. Những
nỗi đau thực không mấy tác động đến tôi; tôi dễ dàng lựa chọn những gì mà tôi
cảm thấy, chứ không phải những gì khiến tôi e ngại. Trí tưởng tượng hoảng hốt
của tôi kết hợp chúng lại, xoay trở đi, trải rộng chúng và tăng chúng lên. Chờ
đợi chúng là điều hành hạ tôi trăm lần hơn sự hiện diện của chúng, và với tôi
mối đe dọa khủng khiếp hơn nhiều so với đòn đánh. Ngay khi chúng xảy tới, hậu
quả thực tế, bởi tước bỏ đi tất cả những gì là tưởng tượng có trong chúng, quy
giản chúng về đúng giá trị thật. Lúc đó tôi thấy chúng nhỏ nhoi hơn rất nhiều
so với khi tôi hình dung ra chúng, và thậm chí ngay ở giữa sự đau đớn của mình
tôi cũng vẫn cảm thấy nhẹ nhõm. Trong tình trạng ấy, đã trút bỏ được mọi nỗi sợ
hãi mới và thoát khỏi nỗi lo âu cho niềm hy vọng, chỉ cần thói quen là đủ để
ngày một ngày hai khiến tôi chịu đựng được một tình thế không thể tệ hại hơn
được nữa, và chỉ cần vì cứ kéo dài mà tình cảm trở nên cùn mòn thì bọn họ không
còn phương cách nào làm nó sống lại nữa. Đó chính là điều tốt mà những kẻ hành
hạ tôi đã làm cho tôi, khi mà bọn họ dùng bừa phứa đến kiệt cùng tất tật lòng
căm hận của mình. Bọn họ giáng xuống tôi toàn bộ sức lực, và rồi kể từ đó tôi đã
có thể chế nhạo bọn họ.
Cách đây chưa đầy hai tháng một sự yên bình tràn ngập đã được
tái thiết lập trong lòng tôi. Từ lâu rồi tôi không còn e ngại điều gì, nhưng
lại vẫn hy vọng, và cái niềm hy vọng khi được ấp iu lúc bị xử tệ ấy là một tâm
trạng qua đó cả nghìn dục vọng khác nhau không ngừng làm tôi chộn rộn. Một sự
kiện vừa đáng buồn vừa bất ngờ cuối cùng đã vừa xóa bỏ đi khỏi trái tim tôi cái
tia sáng hy vọng yếu ớt ấy và cho tôi nhìn thấy số phận mình đã bị đóng đinh
ghim chặt vĩnh viễn ở nơi hạ thế này. Ngay khi chịu nhẫn nhục không vương vấn
tức thì tôi tìm lại được bình yên.
Vừa mới khởi sự thoáng thấy âm mưu trong toàn bộ tầm vóc của
nó, tôi đã mãi mãi đánh mất đi ý nghĩ dẫn dắt công chúng trở lại quan tâm đến
tôi trong khi tôi còn sống; và ngay sự trở lại này, vì không còn có thể là hai
chiều, kể từ nay với tôi sẽ là hết sức vô ích. Người ta có quay trở về với tôi
thì họ cũng sẽ không còn tìm thấy tôi nữa. Với sự thờ ơ ngạo mạn mà bọn họ
truyền sang cho tôi, trong mắt tôi những trò vè của bọn họ thật là nhạt nhẽo và
thậm chí cục mịch, và trong sự cô độc của mình tôi còn trăm lần hạnh phúc hơn
là khi sống cùng bọn họ. Bọn họ đã giật đi khỏi trái tim tôi tất cả những êm ái
của cuộc sống xã giao. Nơi trái tim, ở tuổi của tôi, chúng sẽ chẳng thể nào còn
nảy mầm lần nữa; đã quá muộn mất rồi. Kể từ nay dù cho bọn họ có làm cho tôi
điều tốt hay điều xấu, thì tôi đều thờ ơ với mọi thứ của họ, và có làm gì đi
nữa thì những người cùng thời với tôi sẽ chẳng bao giờ là gì đối với tôi hết.
Nhưng tôi từng vẫn trông chờ vào tương lai, và từng hy vọng
một thế hệ tốt đẹp hơn, xem xét kỹ lưỡng hơn, những đánh giá của thế hệ ấy về
tôi và hành xử của thế hệ ấy đối với tôi, hẳn sẽ dễ dàng gỡ bỏ đi trò lừa đảo
của những kẻ gây ra nó và sẽ thấy được tôi đúng như bản thân tôi. Chính niềm hy
vọng đó đã khiến tôi viết các Đối thoại,
và đã gợi ý cho tôi hàng nghìn toan tính điên rồ về việc truyền lại cho hậu thế
những đối thoại ấy. Niềm hy vọng này, dẫu đã xa xôi, từng làm cho tâm hồn tôi ở
vào cùng sự bấn loạn giống như khi tôi còn tìm kiếm trong thế kỷ một tấm lòng
chính trực, và các hy vọng của tôi cho dù tôi đã ném đi xa cũng vẫn cứ biến tôi
thành món đồ chơi của con người ngày nay. Trong các Đối thoại tôi đã nói mình dựa vào những gì để có được nỗi trông chờ
đó. Tôi đã nhầm. Thật may vì tôi đã cảm thấy điều đó khá đúng lúc để còn tìm
thấy được trước giờ cuối đời mình một quãng thời gian bình lặng tràn đầy và
ngơi nghỉ tuyệt đối. Quãng thời gian này đã bắt đầu vào cái giai đoạn tôi đang
nói tới đây, và tôi có cơ sở để tin rằng nó sẽ không còn bị cắt ngang nữa.
Có rất ít ngày những suy tư mới không xác nhận với tôi mình
đã nhầm lẫn đến thế nào khi trông đợi vào sự quay trở lại của công chúng, ngay
cả là vào một thời đại khác; bởi ở những gì liên quan đến tôi công chúng bị dẫn
dắt bởi những kẻ hướng dẫn cứ tiếp nối nhau không ngừng trong tập đoàn những kẻ
chăm chăm căm ghét tôi. Các cá thể thì chết đi, nhưng các tập đoàn đông đảo thì
không hề chết. Cùng những dục vọng sẽ cứ kéo dài vĩnh viễn ở đó, và niềm thù
hận cháy bỏng và bất tử của họ cũng giống như con quỷ truyền tới niềm thù hận
ấy, vẫn luôn luôn hoạt động như thế. Khi mọi kẻ thù cá nhân của tôi đã chết đi,
thì các linh mục, các giáo sĩ (1) vẫn sẽ còn sống, và ngay cả khi những kẻ hành
hạ tôi chỉ còn là hai tập đoàn đó, tôi vẫn đoan chắc bọn họ sẽ không để yên cho
ký ức về tôi sau khi tôi chết đi, cũng như họ từng không để yên cho con người
tôi lúc tôi còn sống. Có lẽ, theo dòng thời gian, các linh mục, những người mà
tôi đã thực sự chống lại, có thể sẽ nguôi dần. Nhưng các giáo sĩ tôi từng yêu
quý, từng trân trọng, tôi từng hết lòng tin tưởng và chưa từng bao giờ chống
lại, các giáo sĩ, những người của Nhà thờ và nửa thầy dòng, sẽ mãi mãi khăng
khăng bất di bất dịch, sự bất công của bản thân họ sẽ tạo ra tội lỗi của tôi,
tội lỗi mà lòng tự ái của họ sẽ không bao giờ chịu tha thứ, và công chúng được
họ chăm chú khuyến dụ và nuôi dưỡng sự căm tức không ngừng, cũng sẽ giống như
họ, không chịu nguôi.
Mọi thứ đều đã chấm hết với tôi trên mặt đất. Người ta không
còn có thể gây điều tốt cũng như điều xấu cho tôi. Tôi chẳng còn lại gì để mà
hy vọng hay e ngại trên cõi đời này, và thế là giờ đây tôi yên bình dưới đáy
vực, kẻ phàm tục tội nghiệp bất hạnh, nhưng hờ hững giống như Chúa.
Mọi thứ ở bên ngoài tôi đều xa lạ với tôi kể từ nay. Trên
cõi đời này tôi chẳng còn người thân cận, đồng loại, anh em. Tôi ở trên trái
đất giống như trong một hành tinh xa lạ nơi tôi đã bị rơi vào từ nơi tôi từng
sống. Nếu tôi có nhận biết quanh mình thứ gì, thì đó chỉ là những khách thể gây
đau đớn và giày xéo trái tim tôi, và tôi không thể đưa mắt nhìn những gì chạm
vào tôi và bao quanh tôi mà không luôn luôn thấy ở đó một chủ thể ơ hờ nào đó
làm tôi tức khí, hay chủ thể đau đớn làm tôi nhọc nhằn. Vậy nên hãy để xa khỏi
tâm trí tôi mọi thứ khách thể nặng nề hẳn sẽ làm tôi quan tâm theo cách vừa đau
đớn vừa vô ích. Cô độc trong phần còn lại của đời mình, bởi tôi chỉ tìm thấy lại
sự an ủi, niềm hy vọng và sự bình yên ở bên trong mình, tôi chỉ được và cũng
chỉ muốn quan tâm đến tôi. Chính trong trạng thái này mà tôi thực hiện phần
tiếp theo của bài sát hạch nghiêm khắc và thành thực mà trước kia tôi từng đặt
tên là những Bộc bạch của tôi. Tôi sẽ
hiến những ngày cuối đời cho việc tự nghiên cứu bản thân mình và chuẩn bị từ
trước để không sớm thì muộn thanh toán món nợ với chính tôi. Hãy hoàn toàn đắm
mình vào sự êm ái của việc trò chuyện với tâm hồn tôi bởi nó là thứ duy nhất mà
người ta không thể cướp đi mất của tôi. Nếu vì cứ mãi suy nghĩ mãi về các khuôn
dạng nội tâm của mình mà tôi sắp đặt được chúng theo trật tự tốt hơn và chữa lành
nỗi đau có thể vẫn còn ở lại đó, thì hẳn những suy tư của tôi sẽ không hoàn
toàn là vô dụng, và dẫu cho chẳng còn có ích gì trên mặt đất này nữa, tôi cũng
sẽ không hoàn toàn đánh mất những ngày cuối cùng của mình. Những sung sướng của
các cuộc dạo chơi hằng ngày của tôi thường xuyên được làm đầy bởi những chiêm
ngưỡng tươi đẹp mà tôi rất tiếc vì đã không còn nhớ được nữa. Tôi sẽ ghim lại
bằng cách viết ra những chiêm ngưỡng nào sẽ còn đến với tôi; mỗi lần đọc lại
chúng là mỗi lần tôi được hân thưởng. Tôi sẽ quên đi những bất hạnh của mình,
những kẻ hành hạ mình, những nỗi nhục nhã của mình, bằng cách nghĩ tới cái giá
mà tấm lòng tôi xứng đáng.
Những trang viết này sẽ thực sự chỉ là một cuốn nhật ký không
hoàn chỉnh ghi lại những suy tư vơ vẩn của tôi. Ở đây sẽ có rất nhiều điều về
tôi, vì một người cô độc khi suy tư nhất
thiết phải chú tâm rất nhiều đến bản thân anh ta. Ngoài ra ở đây cũng sẽ có tất
cả những ý nghĩ xa lạ nảy ra trong óc tôi trong lúc đi dạo. Tôi sẽ nói những gì
tôi đã nghĩ đúng như chúng đến và với rất ít liên hệ, giống mối liên hệ thường có
giữa những ý nghĩ ngày hôm trước và những ý nghĩ của ngày hôm sau. Nhưng kết
quả sẽ luôn luôn là một nhận thức mới về bản tính của tôi và tính khí của tôi
thông qua nhận biết về các cảm giác và suy nghĩ được tâm trí tôi biến thành
dưỡng chất hằng ngày trong cái trạng thái kỳ cục mà tôi ở vào. Bởi thế những
trang viết này có thể được coi là một phụ chú cho những Bộc bạch của tôi, nhưng tôi sẽ không đặt lại cho nó cái tên đó nữa,
vì cảm thấy không còn gì để nói có thể xứng đáng với nó. Trái tim tôi đã được
thanh tẩy trước thử thách với sự thù nghịch, và chăm chú dò dẫm ở trong đó tôi
chỉ tìm thấy chút sót lại của cái chiều hướng đáng chê trách. Tôi còn lại gì
nữa đây để bộc bạch khi mà mọi trìu mến với cõi đời này đều đã bị lôi tuột khỏi
trái tim? Tôi chẳng còn gì để tự tán dương mình hay để tự chê trách mình nữa:
kể từ nay tôi chẳng là gì hết giữa con người, và đó là toàn bộ những gì tôi có
thể trở thành, bởi tôi không còn chút quan hệ thực hay sự giao tiếp xác thực
nào với họ nữa. Bởi không còn có thể làm một điều gì tốt mà nó không xoay ra
thành xấu, bởi không còn có thể hành động gì mà không gây hại cho người khác
hay cho chính tôi, tránh đi đã trở thành bổn phận duy nhất của tôi, và tôi hoàn
thành bổn phận ấy chừng nào nó còn ở bên trong tôi. Nhưng trong sự rã rời thể lý
đó tâm hồn tôi vẫn còn tích cực, nó vẫn sản sinh ra những tình cảm, những suy
nghĩ, và cuộc sống bên trong cũng như cuộc sống luân lý của nó lại như thể tăng
tiến bởi cái chết của mọi quan tâm trần thế và thời gian. Với tôi, cơ thể chỉ
còn là một nỗi vướng víu, một trở ngại, và tôi dùng hết những gì có thể để thoát
khỏi nó từ sớm.
Một tình thế kỳ lạ như thế chắc chắn là xứng đáng được xem
xét và miêu tả, và tôi sẽ cống hiến những lúc rảnh rỗi cuối cùng của mình cho
sự xem xét này. Để làm được điều đó một cách thành công thì phải tiến hành theo
trật tự và có phương pháp; nhưng tôi lại không có khả năng trong công việc này
và thậm chí nó còn sẽ tách tôi ra khỏi mục đích của tôi, mục đích nhìn nhận
những biến đổi của tâm hồn và những chuyển dịch của chúng. Cách nào đó, tôi sẽ thực
hiện với bản thân mình những thao tác mà các nhà vật lý thực hiện với không khí
nhằm nhận biết tình trạng hằng ngày của nó. Tôi sẽ đặt nhiệt kế đo tâm hồn tôi,
và những thao tác được tiến hành chỉn chu và lặp đi lặp lại thật lâu dài đó có
thể sẽ cung cấp cho tôi những kết quả cũng chắc chắn ngang bằng với những kết
quả của họ. Nhưng cho tới giờ tôi còn chưa mở rộng công việc của mình. Tôi sẽ
hài lòng với việc ghi chép lại các thao tác mà không tìm cách đưa chúng thành
hệ thống. Tôi làm cùng công việc như Montaigne, nhưng với một mục đích hoàn
toàn trái ngược với ông: bởi ông chỉ viết các Tiểu luận cho người khác, còn tôi thì chỉ viết ra những suy tư vơ
vẩn của mình cho một mình tôi. Nếu trong những ngày già nua nhất của mình, sự ra
đi đã cận kề, tôi vẫn còn, như tôi hy vọng, ở trong cùng tâm trí giống lúc này,
việc đọc chúng sẽ nhắc cho tôi nhớ lại sự âu yếm mà tôi nhấm nháp khi viết chúng
và, bằng cách tự làm hồi sinh thời gian đã qua, có thể nói là sẽ tăng gấp đôi
sự tồn tại của tôi lên. Mặc kệ những con người, tôi vẫn cứ sẽ nhấm nháp sự
duyên dáng của sự giao tiếp và tôi sẽ lụ khụ sống với chính tôi của một thời
khác giống như tôi hẳn sẽ sống với một người bạn ít già nua hơn.
Tôi đã viết những Bộc
bạch đầu tiên và các Đối thoại
trong nỗi lo lắng khôn nguôi về các
phương cách hòng giúp tôi đưa chúng thoát khỏi bàn tay hau háu vồ mồi của những
kẻ hành hạ tôi, để truyền chúng, nếu như có thể, tới cho các thế hệ khác. Nỗi
lo ấy không còn hành hạ tôi nữa ở tác phẩm này, tôi biết nó sẽ vô ích, và bởi ham
muốn được người ta biết đến nhiều hơn đã tắt ngấm trong lòng tôi chỉ còn để lại
một sự thờ ơ sâu thẳm về số phận và về những tác phẩm đích thực của tôi và
những lời chứng về sự vô tội ở tôi, những gì có lẽ đã bị diệt trừ vĩnh viễn
rồi, tất tật. Cứ để cho người ta rình mò những việc tôi làm, cứ để cho người ta
lo âu về các trang viết này, cứ để cho người ta cướp lấy chúng, người ta phá
hủy chúng, người ta làm giả chúng, toàn bộ câu chuyện ấy với tôi kể từ nay thật
không còn chút quan trọng nào. Tôi không giấu chúng đi cũng không bày chúng ra.
Nếu lấy chúng đi khỏi tôi khi tôi còn sống thì người ta cũng sẽ không lấy được
đi khỏi tôi cả khoái cảm vì đã viết chúng lẫn ký ức về nội dung của chúng, cũng
như các trầm tư đơn độc mà chúng là thành quả với ngọn nguồn chỉ có thể tắt
ngấm đi cùng lúc với tâm hồn tôi. Nếu ngay từ khi gặp phải những hiểm họa đầu
tiên mà tôi đã biết không nhảy dựng lên chống lại số phận của mình, thay vào đó
chọn lấy cách thức mà tôi chọn ngày hôm nay, thì mọi nỗ lực của con người, mọi mưu
mô đáng kinh sợ của bọn họ hẳn đã chẳng có chút tác động nào lên tôi, và hẳn là
bọn họ đã không thể làm khuấy động sự nghỉ ngơi của tôi bằng tất cả những trò
lừa đảo của mình, chẳng hơn gì việc họ không thể làm khuấy động nó bằng tất cả
những thành công của họ kể từ nay; họ cứ việc tùy ý tận hưởng nỗi nhục nhã của
tôi, họ sẽ chẳng thể nào ngăn được tôi tận hưởng sự vô tội của tôi và sống cho
hết những ngày của mình trong yên bình mặc cho họ có làm gì đi nữa.
(1) Ở đây muốn nói đến các thành viên của Oratoire, giáo
đoàn phản đối dữ dội các lý thuyết mà Rousseau đề ra trong Tuyên tín của trợ tế linh mục vùng Savoie (tôi dùng lại cách dịch của Lê Hồng Sâm).
Rousseau ở Montmorency
Buồn cười, đến giờ mà vẫn có người nghĩ Les Confessions là biểu hiện tột cùng của sự ngây thơ ở Rousseau. Sự thành thực có thể đồng nghĩa với ngây thơ, nhưng thành thực đến mức ấy, như Rousseau thể hiện trong Les Confessions, thì chẳng còn tí chút ngây thơ ngẫn ngở nào cả, thậm chí còn đầy rẫy mưu mẹo, chiến lược, đúng kiểu "thật thà là cha tinh quái". Cứ vướng vào mấy thứ cliché suy nghĩ này, mấy cái bẫy đơn giản như thế, lại còn hỏi tại sao lại cứ như thế.
Lôi lại bài "Rousseau ở Montmorency" này, nó tương ứng với một phần quyển 9, gần như toàn bộ quyển 10, một ít quyển 11 ở Phần 2 của Những lời bộc bạch. Giờ đọc lại mới thấy từ năm 2005 đã loay hoay với I tá lồ rồi. (bài này cũng chưa bao giờ đăng ở đâu)
Trong Những lời bộc bạch, cái hồ Enghien nổi tiếng vào thời của Rousseau hình như tên chính thức là Montmorency.
(Sophie được nhắc tới ở đây là bà d'Houdetot, tình yêu duy nhất trong đời Rousseau, nhưng lại là người tình của Saint-Lambert bạn ông, và là nguyên mẫu của Julie trong Julie; Những lời bộc bạch dành rất nhiều trang viết về bà d'Houdetot, chắc phải ngang với về bà de Warens, mối tình đầu đời của Rousseau, đậm màu sắc loạn luân)
“Montmorency” là một từ thần kỳ hiện lên từ những trang sách thuở nhỏ của tôi. Montmorency, đó là mơ ước về một thiên đường giáo dục, một mô hình học tập mà Rousseau dựng lên trong Émile. Trong thế giới của Rousseau, con người có quan hệ chặt chẽ với thiên nhiên; ông đề xuất lối giáo dục tự do, chủ yếu dựa vào thiên nhiên. Chính vì thế cậu bé Émile sẽ được dạy địa lý không phải bằng những khái niệm nhồi nhét, những bài giảng khô cứng, mà qua việc tìm đường về khi bị lạc trong khu rừng Montmorency. Thành phố nhỏ xinh xắn Montmorency ở ngoại ô phía Bắc Paris cũng là nơi Rousseau sống liên tục trong sáu năm.
Công dân của thành phố tự do Genève, Rousseau đi khắp châu Âu, nhưng quãng thời gian ở Montmorency chắc chắn là quan trọng hơn cả trong sự nghiệp trước tác của ông, cả về văn chương lẫn triết học. Sáu năm ở ngôi nhà nhỏ Mont-Louis (từ 1756 đến 1762) Rousseau viết và xuất bản những tác phẩm quan trọng nhất: Julie hay nàng Héloïse mới, Émile hay về giáo dục, Khế ước xã hội và Thư gửi d’Alembert. Nằm không xa hồ Enghien nổi tiếng dành cho nhu cầu bơi lội của người dân thủ đô vào mùa hè, ngôi nhà Mont-Louis trên ngọn đồi dốc nay trở thành bảo tàng, con đường chạy qua trước nhà giờ mang tên Jean-Jacques Rousseau. Một ngày trời nắng muộn cuối mùa thu, người đàn bà luống tuổi trông coi khu nhà dẫn tôi đi thăm nhà. Dừng lại ở phòng ngủ của nhà văn, ở tầng trên, một căn phòng được sửa sang nhờ sự giúp đỡ của một người bạn, theo lối “căn hộ” thế kỷ XVIII với phòng chờ, phòng ngủ, nơi để và thay quần áo. Trước khi rời khỏi phòng, người hướng dẫn chỉ vào cửa sổ nhỏ trổ trên tường, đối diện với giường ngủ, và nói ngày trước, những hôm trời quang như hôm nay, Rousseau có thể từ đây nhìn thấy Paris, “thành phố của tiếng ồn, bùn lầy và khói bụi”.
Nhà văn Ý Italo Calvino trong một bài giảng năm 1958 tên là “Thiên nhiên và lịch sử trong tiểu thuyết” chứng minh rằng thiên nhiên trong truyền thống văn học cổ kéo dài cho đến Rousseau luôn hàm chứa trong nó ý tưởng về một tính siêu nhiên, một đấng cứu thế mà tinh thần có thể giao hội. Chỉ khi “tiêu diệt” xong kiểu thiên nhiên đó, tiểu thuyết hiện đại mới thực sự ra đời. Thiên nhiên với Rousseau là nơi để trốn ra khỏi vùng “kinh đô cát bụi bay nhiều” (Nguyễn Bính). Ngồi trong khu vườn đầy nắng nhưng vẫn có phần cô quạnh của Rousseau, ngay ở chiếc bàn đá tròn giản dị, dường như một thiên nhiên đầy âm thanh và ý nghĩa bỗng trong phút chốc truyền đến với tôi, một người khách từ xa đến. Ngày nay khu đồi vẫn khá yên tĩnh. Mọi thứ không có vẻ thay đổi nhiều lắm, ngoại trừ một nửa ngôi nhà được xây thêm vào thế kỷ XIX, gá thẳng vào nhà cũ, thành ra từ cửa sổ phòng ngủ Rousseau không thể còn nhìn thấy Paris được nữa.
Giai đoạn Montmorency này Rousseau phải trải qua không ít những tổn thất về tình cảm. Với một người đa cảm như ông, những người bạn mất đi để lại những vết thương không nhỏ. Bà d’Epinay, rồi Grimm, những người bạn Montmorency, rồi những người bạn Paris như Saint-Lambert hay Sophie. Và đặc biệt là người bạn mà ông coi là thân thiết nhất, Diderot. Diderot khiến ông cảm thấy tổn thương nặng nề khi viết thư cho ông, nói rằng: “Chỉ người nào độc ác mới cô độc”, mà Rousseau là một người “cô độc bẩm sinh”, tác giả của một trong những cuốn sách đẹp nhất về sự cô đơn: Những mơ mộng của người đi dạo cô độc.
Trước khi chuyển sang ngôi nhà Mont-Louis, Rousseau ở sát gần đó, trong một ngôi nhà tuyệt đẹp tên là “Ermitage”. Trong vòng một năm rưỡi, ông ở ngôi nhà mới xây dành riêng cho ông, và bắt tay viết Nàng Héloïse mới. Đó chính là ngôi nhà mà bà d’Epinay, một trong số những người bạn gái thân thiết của Rousseau, dùng làm món quà tặng nhà văn. Trong tác phẩm Tự thú ông kể bà bạn nói với ông đầy thân tình: “Con gấu của tôi, đây là chỗ trú ẩn của anh; anh đã lựa chọn nó, tình bạn tặng nó cho anh”. Đó là một món quà bất ngờ, vì bà d’Epinay khi thấy Rousseau tỏ ra thích khoảnh đất, đã xây ngôi nhà một cách bí mật để tặng lại cho ông. Nhưng rồi Rousseau chỉ ở được chốn thiên đường trần thế đó trong vòng khoảng một năm rưỡi, ngay trước khi chuyển sang Mont-Louis cùng với Thérèse Levasseur và bà mẹ của Thérèse (chỉ sau đó một thời gian rất ngắn, vì thích Paris hơn nên bà mẹ không ở đó nữa, để lại ngôi nhà cho hai người). Một cuộc tình duyên với một người bà con của d’Epinay chính là nguyên do khiến ông nhận được một bức thư lịch sự nhưng cương quyết mời ra khỏi nhà, khi năm 1856 đã bước sang những ngày cuối cùng.
Nhưng cuộc sống ở Mont-Louis cũng mang lại cho ông những người bạn mới. Thuê được ngôi nhà từ Mathas, người quản lý thuế má cho hoàng thân Condé với giá rất rẻ, Rousseau và “cô thợ giặt” Thérèse Levasseur nhanh chóng có láng giềng. Trong khi những người bạn Paris như Diderot hay d’Alembert của nhóm “Bách khoa toàn thư” sửng sốt trước tin Rousseau thuê nhà ở xa Paris (“Sao anh lại đến đó ở, anh không còn yêu chúng tôi nữa hay sao?”), một vị thống chế nhà ở gần đó, de Luxembourg, sau một thời gian quen biết, tỏ ý muốn sửa chữa ngôi nhà giúp Rousseau và Thérèse. Lúc đầu Rousseau không muốn, cả đời Rousseau không muốn được ai giúp, nhất là từ một nhà quý tộc. Vị thống chế đã thuyết phục được ông Mathas chủ nhà của Rousseau. Và thế là ngôi nhà được sửa sang, trong thời gian thợ làm việc, Rousseau và Thérèse chuyển sang ở nhà của vị thống chế. Ngoài ra, cũng nhờ vợ chồng người láng giềng hào hiệp mà ở cuối khu vườn, “donjon” (tòa tháp canh) mới được xây lên. Trước đó nó chỉ là một cái bàn nhỏ đặt cuối vườn, thông thống gió. Rousseau hay ngồi đó để viết. Từ nay nó đã trở thành một căn phòng nhỏ biệt lập và ấm áp. Ngoài việc giữ gìn sức khỏe, những bức tường mới xây còn giúp Rousseau một việc nữa: trước đó nhiều lần giấy tờ ông để lại trên bàn bị hai “kẻ tọc mạch” (cách gọi của chính Rousseau) láng giềng đọc trộm. Hai người đàn ông tò mò đó sống ở ngôi nhà hiện nay là nhà nghiên cứu Rousseau ở phố Mont-Louis.
Với gia đình Rousseau cũng như ở đại đa số gia đình thời đó, nước là cả một vấn đề nan giải. Nước nhà Rousseau dùng phải đi lấy ở tận chân đồi. Và dĩ nhiên phải dùng cực kỳ tiết kiệm. Thế nên trong nhà ông có thứ dụng cụ lạ mắt, chậu đựng nước vách rất dày, với một chiếc gáo đục thủng ở cán để lấy nước ra từ chậu theo từng giọt một. Trong phòng Thérèse cũng có một chậu nhỏ hình chữ nhật với các dụng cụ làm vệ sinh cơ thể. Nước cũng được tính bằng giọt. Cả trong phòng hai vợ chồng (phòng Rousseau nằm trên tầng) đều có chiếc kéo màu vàng cắt tim nến. Ngoài nước, nến cũng là thứ không thể phí phạm. Trên chiếc bàn nhỏ hơi võng xuống đặt giữa phòng đặt một mảnh giấy đang viết dở. Trên bàn này Rousseau đã viết những trang của Thư gửi d’Alembert trong đó ông phản đối việc xây dựng nhà hát ở Genève, bởi vì ông e dân thành phố quê hương ông sẽ ưa chuộng các thứ giả tạo bôi lên người, các thứ hóa trang sân khấu, để mà quên đi con người thật của mình. D’Alembert không giận ông vì chuyện này, nhưng nhóm “Bách khoa toàn thư” sẽ không tha thứ cho Rousseau vì đã động đến vị giám đốc đầy uy tín của họ.
Trong ngôi nhà đã trở thành bảo tàng khi đó đang có trưng bày về bộ sưu tập cây cỏ (herbier) mà Rousseau gửi tặng cho Madeleine, “cô bé Madelon”, con gái người bạn của ông, bà de Lessers. Nhưng khi còn sống ở Montmorency, thực vật học còn chưa trở thành niềm say mê của ông. Khi đó con người ông vẫn bị niềm say mê thứ nhất của cuộc đời chiếm trọn vẹn: âm nhạc. Cuộc trưng bày cũng bày những bản nhạc mà Rousseau viết theo lối ký âm của riêng ông, bởi vì ông nghĩ cần phải có một ngôn ngữ mới cho âm nhạc. Viện hàn lâm âm nhạc từ chối sáng tạo này.
Khi viết xong Émile với những ý kiến phàm tục, phạm thánh động chạm đến Nhà thờ, cuốn sách bị cấm và có lệnh bắt luôn tác giả. Trong Émile, Rousseau khẳng định: “Chúng ta không biết chút nào tuổi thơ: với những tư tưởng sai lầm mà chúng ta có sẵn về nó, càng làm thêm nữa chúng ta sẽ càng sai lầm.”. Nhưng vị thống chế de Luxembourg đã kịp thời cấp báo, và khi triết gia tỏ ra do dự, nài xin ông đi trốn. Ngay trong đêm ông ra đi trên một chiếc xe ngựa, hướng về vùng Jura, Thụy Sỹ. Trên đường chạy trốn xe ông gặp xe của những viên mõ tòa thừa lệnh đến bắt ông. Hai bên chào nhau thân ái, và những người mõ tòa sau đó báo cáo lại với cấp trên là Ông Rousseau không có nhà, nơi họ có lệnh phải bắt ông. Và thế là đường lưu lạc của Rousseau lại tiếp tục, sau những vinh quang và những khó nhọc, ông đến Thụy Sỹ, và rồi không hiểu nghe ai xui khôn xui dại, sang London. Thành phố khổng lồ nuốt chửng ông (tương tự như nó sẽ làm với Zola sau này), nước Anh với ông không hề thân thiện, bởi nếu ông nắm vững tiếng Pháp và tiếng Ý, thì tiếng Anh với ông là cả một gánh nặng, lúc nào ông cũng ngờ người ta đang âm mưu làm hại ông. Nước Anh còn khiến ông mang nhục, vì đã phải ngửa tay lấy tiến trợ cấp của vua George III, trong khi Rousseau kiêu hãnh đã từng từ chối tiền trợ cấp của Louis XV nước Pháp. Rồi Paris lại mở cửa cho ông, với điều kiện ông không được viết về chính trị nữa. Lệnh cấm đó giúp ích rất nhiều cho văn học Pháp: ông viết các tác phẩm tự truyện, và thể loại tiểu thuyết tự thuật đã được khai sinh với Confessions (Tự thú), viết từ năm 1764. Cuốn sách được in ở Genève thành hai phần, năm 1782 và năm 1789 (sau khi Rousseau đã qua đời).
Hầu tước de Girardin mở tiếp cho ông một chốn thần tiên nữa, sau Montmorency, sau Chamberry: Ermenonville. Ngày 20 tháng Năm năm 1778, ông đến nơi ở mới, được xây theo kiểu Clarens của Nàng Heloïse mới, bởi de Girardin là người tôn thờ Rousseau, thậm chí còn nuôi con mình theo những gì tác phẩm Émile “chỉ dẫn”. Sống được ở đó vài tuần thì Rousseau mất, nhưng ông còn được nằm lại mảnh đất đẹp đẽ đó đến năm 1794, khi Cách mạng Pháp cả quyết ông là thiên tài, vĩ nhân nước Pháp và đưa ông đến Panthéon, đặt nằm đối diện với Voltaire.
Ngày nay, Montmorency không còn tên là Émile như hồi cách mạng. Nó trở lại mang tên Montmorency (sau rất nhiều lần đổi đi thay lại) một cách nhất quán từ thời Louis-Philippe. Tuy thế Émile và Montmorency vẫn là hai từ không thể tách rời nhau, vẫn là một hình ảnh đẹp về một thiên đường giáo dục xa vời nhưng cũng vô cùng gần gũi.
Lôi lại bài "Rousseau ở Montmorency" này, nó tương ứng với một phần quyển 9, gần như toàn bộ quyển 10, một ít quyển 11 ở Phần 2 của Những lời bộc bạch. Giờ đọc lại mới thấy từ năm 2005 đã loay hoay với I tá lồ rồi. (bài này cũng chưa bao giờ đăng ở đâu)
Trong Những lời bộc bạch, cái hồ Enghien nổi tiếng vào thời của Rousseau hình như tên chính thức là Montmorency.
(Sophie được nhắc tới ở đây là bà d'Houdetot, tình yêu duy nhất trong đời Rousseau, nhưng lại là người tình của Saint-Lambert bạn ông, và là nguyên mẫu của Julie trong Julie; Những lời bộc bạch dành rất nhiều trang viết về bà d'Houdetot, chắc phải ngang với về bà de Warens, mối tình đầu đời của Rousseau, đậm màu sắc loạn luân)
“Montmorency” là một từ thần kỳ hiện lên từ những trang sách thuở nhỏ của tôi. Montmorency, đó là mơ ước về một thiên đường giáo dục, một mô hình học tập mà Rousseau dựng lên trong Émile. Trong thế giới của Rousseau, con người có quan hệ chặt chẽ với thiên nhiên; ông đề xuất lối giáo dục tự do, chủ yếu dựa vào thiên nhiên. Chính vì thế cậu bé Émile sẽ được dạy địa lý không phải bằng những khái niệm nhồi nhét, những bài giảng khô cứng, mà qua việc tìm đường về khi bị lạc trong khu rừng Montmorency. Thành phố nhỏ xinh xắn Montmorency ở ngoại ô phía Bắc Paris cũng là nơi Rousseau sống liên tục trong sáu năm.
Công dân của thành phố tự do Genève, Rousseau đi khắp châu Âu, nhưng quãng thời gian ở Montmorency chắc chắn là quan trọng hơn cả trong sự nghiệp trước tác của ông, cả về văn chương lẫn triết học. Sáu năm ở ngôi nhà nhỏ Mont-Louis (từ 1756 đến 1762) Rousseau viết và xuất bản những tác phẩm quan trọng nhất: Julie hay nàng Héloïse mới, Émile hay về giáo dục, Khế ước xã hội và Thư gửi d’Alembert. Nằm không xa hồ Enghien nổi tiếng dành cho nhu cầu bơi lội của người dân thủ đô vào mùa hè, ngôi nhà Mont-Louis trên ngọn đồi dốc nay trở thành bảo tàng, con đường chạy qua trước nhà giờ mang tên Jean-Jacques Rousseau. Một ngày trời nắng muộn cuối mùa thu, người đàn bà luống tuổi trông coi khu nhà dẫn tôi đi thăm nhà. Dừng lại ở phòng ngủ của nhà văn, ở tầng trên, một căn phòng được sửa sang nhờ sự giúp đỡ của một người bạn, theo lối “căn hộ” thế kỷ XVIII với phòng chờ, phòng ngủ, nơi để và thay quần áo. Trước khi rời khỏi phòng, người hướng dẫn chỉ vào cửa sổ nhỏ trổ trên tường, đối diện với giường ngủ, và nói ngày trước, những hôm trời quang như hôm nay, Rousseau có thể từ đây nhìn thấy Paris, “thành phố của tiếng ồn, bùn lầy và khói bụi”.
Nhà văn Ý Italo Calvino trong một bài giảng năm 1958 tên là “Thiên nhiên và lịch sử trong tiểu thuyết” chứng minh rằng thiên nhiên trong truyền thống văn học cổ kéo dài cho đến Rousseau luôn hàm chứa trong nó ý tưởng về một tính siêu nhiên, một đấng cứu thế mà tinh thần có thể giao hội. Chỉ khi “tiêu diệt” xong kiểu thiên nhiên đó, tiểu thuyết hiện đại mới thực sự ra đời. Thiên nhiên với Rousseau là nơi để trốn ra khỏi vùng “kinh đô cát bụi bay nhiều” (Nguyễn Bính). Ngồi trong khu vườn đầy nắng nhưng vẫn có phần cô quạnh của Rousseau, ngay ở chiếc bàn đá tròn giản dị, dường như một thiên nhiên đầy âm thanh và ý nghĩa bỗng trong phút chốc truyền đến với tôi, một người khách từ xa đến. Ngày nay khu đồi vẫn khá yên tĩnh. Mọi thứ không có vẻ thay đổi nhiều lắm, ngoại trừ một nửa ngôi nhà được xây thêm vào thế kỷ XIX, gá thẳng vào nhà cũ, thành ra từ cửa sổ phòng ngủ Rousseau không thể còn nhìn thấy Paris được nữa.
Giai đoạn Montmorency này Rousseau phải trải qua không ít những tổn thất về tình cảm. Với một người đa cảm như ông, những người bạn mất đi để lại những vết thương không nhỏ. Bà d’Epinay, rồi Grimm, những người bạn Montmorency, rồi những người bạn Paris như Saint-Lambert hay Sophie. Và đặc biệt là người bạn mà ông coi là thân thiết nhất, Diderot. Diderot khiến ông cảm thấy tổn thương nặng nề khi viết thư cho ông, nói rằng: “Chỉ người nào độc ác mới cô độc”, mà Rousseau là một người “cô độc bẩm sinh”, tác giả của một trong những cuốn sách đẹp nhất về sự cô đơn: Những mơ mộng của người đi dạo cô độc.
Trước khi chuyển sang ngôi nhà Mont-Louis, Rousseau ở sát gần đó, trong một ngôi nhà tuyệt đẹp tên là “Ermitage”. Trong vòng một năm rưỡi, ông ở ngôi nhà mới xây dành riêng cho ông, và bắt tay viết Nàng Héloïse mới. Đó chính là ngôi nhà mà bà d’Epinay, một trong số những người bạn gái thân thiết của Rousseau, dùng làm món quà tặng nhà văn. Trong tác phẩm Tự thú ông kể bà bạn nói với ông đầy thân tình: “Con gấu của tôi, đây là chỗ trú ẩn của anh; anh đã lựa chọn nó, tình bạn tặng nó cho anh”. Đó là một món quà bất ngờ, vì bà d’Epinay khi thấy Rousseau tỏ ra thích khoảnh đất, đã xây ngôi nhà một cách bí mật để tặng lại cho ông. Nhưng rồi Rousseau chỉ ở được chốn thiên đường trần thế đó trong vòng khoảng một năm rưỡi, ngay trước khi chuyển sang Mont-Louis cùng với Thérèse Levasseur và bà mẹ của Thérèse (chỉ sau đó một thời gian rất ngắn, vì thích Paris hơn nên bà mẹ không ở đó nữa, để lại ngôi nhà cho hai người). Một cuộc tình duyên với một người bà con của d’Epinay chính là nguyên do khiến ông nhận được một bức thư lịch sự nhưng cương quyết mời ra khỏi nhà, khi năm 1856 đã bước sang những ngày cuối cùng.
Nhưng cuộc sống ở Mont-Louis cũng mang lại cho ông những người bạn mới. Thuê được ngôi nhà từ Mathas, người quản lý thuế má cho hoàng thân Condé với giá rất rẻ, Rousseau và “cô thợ giặt” Thérèse Levasseur nhanh chóng có láng giềng. Trong khi những người bạn Paris như Diderot hay d’Alembert của nhóm “Bách khoa toàn thư” sửng sốt trước tin Rousseau thuê nhà ở xa Paris (“Sao anh lại đến đó ở, anh không còn yêu chúng tôi nữa hay sao?”), một vị thống chế nhà ở gần đó, de Luxembourg, sau một thời gian quen biết, tỏ ý muốn sửa chữa ngôi nhà giúp Rousseau và Thérèse. Lúc đầu Rousseau không muốn, cả đời Rousseau không muốn được ai giúp, nhất là từ một nhà quý tộc. Vị thống chế đã thuyết phục được ông Mathas chủ nhà của Rousseau. Và thế là ngôi nhà được sửa sang, trong thời gian thợ làm việc, Rousseau và Thérèse chuyển sang ở nhà của vị thống chế. Ngoài ra, cũng nhờ vợ chồng người láng giềng hào hiệp mà ở cuối khu vườn, “donjon” (tòa tháp canh) mới được xây lên. Trước đó nó chỉ là một cái bàn nhỏ đặt cuối vườn, thông thống gió. Rousseau hay ngồi đó để viết. Từ nay nó đã trở thành một căn phòng nhỏ biệt lập và ấm áp. Ngoài việc giữ gìn sức khỏe, những bức tường mới xây còn giúp Rousseau một việc nữa: trước đó nhiều lần giấy tờ ông để lại trên bàn bị hai “kẻ tọc mạch” (cách gọi của chính Rousseau) láng giềng đọc trộm. Hai người đàn ông tò mò đó sống ở ngôi nhà hiện nay là nhà nghiên cứu Rousseau ở phố Mont-Louis.
Với gia đình Rousseau cũng như ở đại đa số gia đình thời đó, nước là cả một vấn đề nan giải. Nước nhà Rousseau dùng phải đi lấy ở tận chân đồi. Và dĩ nhiên phải dùng cực kỳ tiết kiệm. Thế nên trong nhà ông có thứ dụng cụ lạ mắt, chậu đựng nước vách rất dày, với một chiếc gáo đục thủng ở cán để lấy nước ra từ chậu theo từng giọt một. Trong phòng Thérèse cũng có một chậu nhỏ hình chữ nhật với các dụng cụ làm vệ sinh cơ thể. Nước cũng được tính bằng giọt. Cả trong phòng hai vợ chồng (phòng Rousseau nằm trên tầng) đều có chiếc kéo màu vàng cắt tim nến. Ngoài nước, nến cũng là thứ không thể phí phạm. Trên chiếc bàn nhỏ hơi võng xuống đặt giữa phòng đặt một mảnh giấy đang viết dở. Trên bàn này Rousseau đã viết những trang của Thư gửi d’Alembert trong đó ông phản đối việc xây dựng nhà hát ở Genève, bởi vì ông e dân thành phố quê hương ông sẽ ưa chuộng các thứ giả tạo bôi lên người, các thứ hóa trang sân khấu, để mà quên đi con người thật của mình. D’Alembert không giận ông vì chuyện này, nhưng nhóm “Bách khoa toàn thư” sẽ không tha thứ cho Rousseau vì đã động đến vị giám đốc đầy uy tín của họ.
Trong ngôi nhà đã trở thành bảo tàng khi đó đang có trưng bày về bộ sưu tập cây cỏ (herbier) mà Rousseau gửi tặng cho Madeleine, “cô bé Madelon”, con gái người bạn của ông, bà de Lessers. Nhưng khi còn sống ở Montmorency, thực vật học còn chưa trở thành niềm say mê của ông. Khi đó con người ông vẫn bị niềm say mê thứ nhất của cuộc đời chiếm trọn vẹn: âm nhạc. Cuộc trưng bày cũng bày những bản nhạc mà Rousseau viết theo lối ký âm của riêng ông, bởi vì ông nghĩ cần phải có một ngôn ngữ mới cho âm nhạc. Viện hàn lâm âm nhạc từ chối sáng tạo này.
Khi viết xong Émile với những ý kiến phàm tục, phạm thánh động chạm đến Nhà thờ, cuốn sách bị cấm và có lệnh bắt luôn tác giả. Trong Émile, Rousseau khẳng định: “Chúng ta không biết chút nào tuổi thơ: với những tư tưởng sai lầm mà chúng ta có sẵn về nó, càng làm thêm nữa chúng ta sẽ càng sai lầm.”. Nhưng vị thống chế de Luxembourg đã kịp thời cấp báo, và khi triết gia tỏ ra do dự, nài xin ông đi trốn. Ngay trong đêm ông ra đi trên một chiếc xe ngựa, hướng về vùng Jura, Thụy Sỹ. Trên đường chạy trốn xe ông gặp xe của những viên mõ tòa thừa lệnh đến bắt ông. Hai bên chào nhau thân ái, và những người mõ tòa sau đó báo cáo lại với cấp trên là Ông Rousseau không có nhà, nơi họ có lệnh phải bắt ông. Và thế là đường lưu lạc của Rousseau lại tiếp tục, sau những vinh quang và những khó nhọc, ông đến Thụy Sỹ, và rồi không hiểu nghe ai xui khôn xui dại, sang London. Thành phố khổng lồ nuốt chửng ông (tương tự như nó sẽ làm với Zola sau này), nước Anh với ông không hề thân thiện, bởi nếu ông nắm vững tiếng Pháp và tiếng Ý, thì tiếng Anh với ông là cả một gánh nặng, lúc nào ông cũng ngờ người ta đang âm mưu làm hại ông. Nước Anh còn khiến ông mang nhục, vì đã phải ngửa tay lấy tiến trợ cấp của vua George III, trong khi Rousseau kiêu hãnh đã từng từ chối tiền trợ cấp của Louis XV nước Pháp. Rồi Paris lại mở cửa cho ông, với điều kiện ông không được viết về chính trị nữa. Lệnh cấm đó giúp ích rất nhiều cho văn học Pháp: ông viết các tác phẩm tự truyện, và thể loại tiểu thuyết tự thuật đã được khai sinh với Confessions (Tự thú), viết từ năm 1764. Cuốn sách được in ở Genève thành hai phần, năm 1782 và năm 1789 (sau khi Rousseau đã qua đời).
Hầu tước de Girardin mở tiếp cho ông một chốn thần tiên nữa, sau Montmorency, sau Chamberry: Ermenonville. Ngày 20 tháng Năm năm 1778, ông đến nơi ở mới, được xây theo kiểu Clarens của Nàng Heloïse mới, bởi de Girardin là người tôn thờ Rousseau, thậm chí còn nuôi con mình theo những gì tác phẩm Émile “chỉ dẫn”. Sống được ở đó vài tuần thì Rousseau mất, nhưng ông còn được nằm lại mảnh đất đẹp đẽ đó đến năm 1794, khi Cách mạng Pháp cả quyết ông là thiên tài, vĩ nhân nước Pháp và đưa ông đến Panthéon, đặt nằm đối diện với Voltaire.
Ngày nay, Montmorency không còn tên là Émile như hồi cách mạng. Nó trở lại mang tên Montmorency (sau rất nhiều lần đổi đi thay lại) một cách nhất quán từ thời Louis-Philippe. Tuy thế Émile và Montmorency vẫn là hai từ không thể tách rời nhau, vẫn là một hình ảnh đẹp về một thiên đường giáo dục xa vời nhưng cũng vô cùng gần gũi.
Sep 27, 2012
Những bài học từ sự bộc bạch
Đọc Thế giới những ngày qua,
hồi ký của Stefan Zweig mà bản tiếng Việt được ấn hành cách đây chừng
mười lăm năm, hẳn nhiều độc giả còn rất nhớ những miêu tả hệ thống
trường học hà khắc tại nước Áo mà cậu bé Stefan từng trải qua như cơn ác
mộng. Lời bộc bạch của một thị dân của Márai Sándor (Giáp Văn
Chung dịch, Nhã Nam & NXB Văn học) càng soi rõ thêm vào kiểu trường
học của môi trường Áo-Hung hồi đầu thế kỷ 20. Sau một cơn hoảng loạn
tinh thần dẫn tới cuộc bỏ nhà ra đi, cậu bé nhân vật chính bị “hội đồng
gia đình quyết định đày […] lên trường nội trú ở Pest” (tr. 178).
Và giai đoạn học nội trú trở thành “những năm tháng cầm tù” (tr. 198), để rồi khi thoát được thì cậu thiếu niên có “những đặc quyền dễ chịu trong gia đình” (tr. 205). Nhưng thoát khỏi nhà tù này thì đã có nhà tù khác, và Márai Sándor dẫn dắt chúng ta đi qua những năm tháng tuổi thơ và tuổi trẻ của một con người luôn luôn cảm thấy bí bách, rất giỏi quan sát thế giới nhưng không thực sự hòa nhập được vào đó. Đặc biệt ông miêu tả rất giỏi “trạng thái váng vất” của tuổi trẻ, khi “tâm hồn thu nhận tiếng vang xào xạo của cuộc đời và phản xạ lại chúng qua một bộ tăng âm nào đó” (tr. 205). Hiếm cuốn sách nào viết về tuổi trẻ với bút pháp mãnh liệt, tràn ứ đến vậy, miêu tả mối quan hệ tuổi trẻ-cuộc đời sâu sắc ở nhiều tầng bậc đến như vậy.
Bởi Lời bộc bạch của một thị dân được viết bằng một giọng văn bậc thầy; bậc thầy văn chương Hungary ấy những năm gần đây đã dần trở nên quen thuộc với độc giả Việt Nam qua những tác phẩm cự phách: Những ngọn nến cháy tàn, Bốn mùa. Trời và đất, rồi Casanova ở Bolzano… Márai Sándor là một trong vài nhà văn Hungary lớn nhất thế kỷ 20 với khối lượng tác phẩm đồ sộ, rất nhiều tiểu thuyết đặc biệt quan trọng, trong đó Lời bộc bạch của một thị dân tái dựng đời sống của một giai đoạn then chốt và phức tạp của lịch sử, trên bình diện một khoảng lớn của cả châu Âu. Márai Sándor từng được so sánh với nhà văn Áo Joseph Roth, tác giả bộ tiểu thuyết vĩ đại Hành khúc Radetsky; với một nhà văn Áo khác là Stefan Zweig ông cũng có nhiều điểm tương đồng, nhất là khả năng đi vào đến tận cùng tâm lý nhân vật, tài miêu tả đầy sinh động và màu sắc, nhuộm trong một không khí bi quan đặc trưng. Cả Stefan Zweig lẫn Márai Sándor đều tự sát khi đã lớn tuổi.
Câu chuyện trong Lời bộc bạch của một thị dân có nhiều điểm trùng với cuộc đời thực của Márai Sándor. Gần 500 trang sách kết thúc sau khi nhân vật trưởng thành, sang sống ở một số nước châu Âu (nhất là Đức và Pháp), chứng kiến thăng và trầm của đời sống vật chất và tinh thần của một châu lục đang tan rã, rồi trở về Hung, với đoạn cuối miêu tả cái chết của ông bố đặc biệt cảm động. Trong đời thực, Márai Sándor cũng sống nhiều năm ở nước ngoài, 28 tuổi mới về Hung bắt tay vào xây dựng sự nghiệp văn chương hiển hách của mình. Cuốn sách miêu tả quá sát nhiều nhân vật có thực, nên nó từng bị kiện và chịu nhiều chỉnh sửa, trong đó không ít đoạn bị cắt đi. Bản tiếng Việt lần này được dịch từ phiên bản đã qua chỉnh sửa, nhưng nếu đọc các phiên bản khác, chẳng hạn bản tiếng Pháp, những đoạn sau này bị cắt vẫn còn, và ta hiểu được tài quan sát con người sắc bén của một nhà văn lớn có thể gây bất an đến thế nào cho các đối tượng của ông, nhất là những người trong gia đình.
Số phận những cuốn tiểu thuyết-tự truyện thường là như vậy. Những lời bộc bạch của Jean-Jacques Rousseau gồm 12 “quyển” mới có bản dịch tiếng Việt gần đây cũng phải chờ sau khi tác giả qua đời mới được ấn hành, và vẫn đụng chạm đến không ít người thực, việc thực. Những nhà văn sắc sảo không nương tay với con người, và con người cũng không mấy nương tay với các nhà văn.
Nhà văn Márai Sándor ấy có những cảm nhận tuyệt vời về văn chương và cuộc đời, chúng được diễn tả nồng nhiệt nhưng cũng hết sức buồn bã. Trong Lời bộc bạch của một thị dân có những đoạn có thể lấy làm bài giảng cho nhà văn hậu thế: “cuộc đời đối với nhà văn là một chất liệu đáng ngờ, chỉ có thể sử dụng nó có chừng mực, một chút nào đó dưới dạng tiêu bản, trong trạng thái đã được xử lý […] Tôi không tin vào các nhà khổ hạnh hay than vãn, những người trốn chạy khỏi cuộc đời; tôi cũng nghi ngờ và chẳng ưa những nhà văn ‘tự nhiên chủ nghĩa’, các nhà văn kiểu ông trùm phường hát Di gan, biểu diễn theo ‘sự mách bảo của con tim’ và ‘mô tả đời sống’ tỉ mỉ đúng như thể cuộc đời cất tiếng… Nhà văn sống và sáng tạo giữa hai ý nguyện ấy, nhọc nhằn” (tr. 239).
Cuộc đời thì ai cũng trải nghiệm, nhưng dường như có những người, chẳng hạn Márai Sándor, có khả năng trải nghiệm cuộc đời lớn và sâu hơn hẳn phần đông nhân loại còn lại.
(có vẻ như Márai Sándor là người đầu tiên viết về văn chương Kafka; từng có lúc Márai lưỡng lự giữa việc viết bằng tiếng Hung hay bằng tiếng Đức)
Và giai đoạn học nội trú trở thành “những năm tháng cầm tù” (tr. 198), để rồi khi thoát được thì cậu thiếu niên có “những đặc quyền dễ chịu trong gia đình” (tr. 205). Nhưng thoát khỏi nhà tù này thì đã có nhà tù khác, và Márai Sándor dẫn dắt chúng ta đi qua những năm tháng tuổi thơ và tuổi trẻ của một con người luôn luôn cảm thấy bí bách, rất giỏi quan sát thế giới nhưng không thực sự hòa nhập được vào đó. Đặc biệt ông miêu tả rất giỏi “trạng thái váng vất” của tuổi trẻ, khi “tâm hồn thu nhận tiếng vang xào xạo của cuộc đời và phản xạ lại chúng qua một bộ tăng âm nào đó” (tr. 205). Hiếm cuốn sách nào viết về tuổi trẻ với bút pháp mãnh liệt, tràn ứ đến vậy, miêu tả mối quan hệ tuổi trẻ-cuộc đời sâu sắc ở nhiều tầng bậc đến như vậy.
Bởi Lời bộc bạch của một thị dân được viết bằng một giọng văn bậc thầy; bậc thầy văn chương Hungary ấy những năm gần đây đã dần trở nên quen thuộc với độc giả Việt Nam qua những tác phẩm cự phách: Những ngọn nến cháy tàn, Bốn mùa. Trời và đất, rồi Casanova ở Bolzano… Márai Sándor là một trong vài nhà văn Hungary lớn nhất thế kỷ 20 với khối lượng tác phẩm đồ sộ, rất nhiều tiểu thuyết đặc biệt quan trọng, trong đó Lời bộc bạch của một thị dân tái dựng đời sống của một giai đoạn then chốt và phức tạp của lịch sử, trên bình diện một khoảng lớn của cả châu Âu. Márai Sándor từng được so sánh với nhà văn Áo Joseph Roth, tác giả bộ tiểu thuyết vĩ đại Hành khúc Radetsky; với một nhà văn Áo khác là Stefan Zweig ông cũng có nhiều điểm tương đồng, nhất là khả năng đi vào đến tận cùng tâm lý nhân vật, tài miêu tả đầy sinh động và màu sắc, nhuộm trong một không khí bi quan đặc trưng. Cả Stefan Zweig lẫn Márai Sándor đều tự sát khi đã lớn tuổi.
Câu chuyện trong Lời bộc bạch của một thị dân có nhiều điểm trùng với cuộc đời thực của Márai Sándor. Gần 500 trang sách kết thúc sau khi nhân vật trưởng thành, sang sống ở một số nước châu Âu (nhất là Đức và Pháp), chứng kiến thăng và trầm của đời sống vật chất và tinh thần của một châu lục đang tan rã, rồi trở về Hung, với đoạn cuối miêu tả cái chết của ông bố đặc biệt cảm động. Trong đời thực, Márai Sándor cũng sống nhiều năm ở nước ngoài, 28 tuổi mới về Hung bắt tay vào xây dựng sự nghiệp văn chương hiển hách của mình. Cuốn sách miêu tả quá sát nhiều nhân vật có thực, nên nó từng bị kiện và chịu nhiều chỉnh sửa, trong đó không ít đoạn bị cắt đi. Bản tiếng Việt lần này được dịch từ phiên bản đã qua chỉnh sửa, nhưng nếu đọc các phiên bản khác, chẳng hạn bản tiếng Pháp, những đoạn sau này bị cắt vẫn còn, và ta hiểu được tài quan sát con người sắc bén của một nhà văn lớn có thể gây bất an đến thế nào cho các đối tượng của ông, nhất là những người trong gia đình.
Số phận những cuốn tiểu thuyết-tự truyện thường là như vậy. Những lời bộc bạch của Jean-Jacques Rousseau gồm 12 “quyển” mới có bản dịch tiếng Việt gần đây cũng phải chờ sau khi tác giả qua đời mới được ấn hành, và vẫn đụng chạm đến không ít người thực, việc thực. Những nhà văn sắc sảo không nương tay với con người, và con người cũng không mấy nương tay với các nhà văn.
Nhà văn Márai Sándor ấy có những cảm nhận tuyệt vời về văn chương và cuộc đời, chúng được diễn tả nồng nhiệt nhưng cũng hết sức buồn bã. Trong Lời bộc bạch của một thị dân có những đoạn có thể lấy làm bài giảng cho nhà văn hậu thế: “cuộc đời đối với nhà văn là một chất liệu đáng ngờ, chỉ có thể sử dụng nó có chừng mực, một chút nào đó dưới dạng tiêu bản, trong trạng thái đã được xử lý […] Tôi không tin vào các nhà khổ hạnh hay than vãn, những người trốn chạy khỏi cuộc đời; tôi cũng nghi ngờ và chẳng ưa những nhà văn ‘tự nhiên chủ nghĩa’, các nhà văn kiểu ông trùm phường hát Di gan, biểu diễn theo ‘sự mách bảo của con tim’ và ‘mô tả đời sống’ tỉ mỉ đúng như thể cuộc đời cất tiếng… Nhà văn sống và sáng tạo giữa hai ý nguyện ấy, nhọc nhằn” (tr. 239).
Cuộc đời thì ai cũng trải nghiệm, nhưng dường như có những người, chẳng hạn Márai Sándor, có khả năng trải nghiệm cuộc đời lớn và sâu hơn hẳn phần đông nhân loại còn lại.
(có vẻ như Márai Sándor là người đầu tiên viết về văn chương Kafka; từng có lúc Márai lưỡng lự giữa việc viết bằng tiếng Hung hay bằng tiếng Đức)
Sep 25, 2012
Tại sao Rousseau?
Tại sao chúng ta đọc một tác giả cổ điển? Tất
nhiên vì giá trị tự thân ở các tác phẩm của tác giả ấy, vì nhu cầu hiểu về quá
khứ, biết thêm những điều thoạt tiên là sự kiện sau đó đã chuyển hóa thành tri
thức, hiểu biết, biết thêm về thời đại và con người, những đặc điểm xưa cũ,
thoạt tiên là các tính chất, sau đó đã chuyển hóa thành một cái gì đó giống như
là lịch sử. Nhưng tôi tin trước hết ta đọc một tác giả cổ điển khi tác giả ấy
vẫn còn “nói” với chúng ta một cách gần gũi: không phải ta hiểu tác giả ấy, mà
là tác giả ấy hiểu ta. Có không nhiều tác giả như vậy, và hẳn nếu xếp loại theo
tiêu chí nào thì Rousseau cũng vẫn nằm lại trong số những tác giả xa xưa còn
nhiều điều để nói với chúng ta, một hậu thế xa vời. Tiếng nói đó không biết đến
khoảng cách về không gian và thời gian, tiếng nói đó vang lên những lúc ta nảy
sinh ham muốn suy nghĩ sâu sắc hơn về thế giới, và nhất là về chính ta.
Rousseau, còn là vì trong Những lời bộc bạch, “mê lộ tối tăm và lầy bùn của những điều bộc bạch” ấy, có rất nhiều điều hay ho:
tự miêu tả: “dòng máu nóng bỏng nhục cảm hầu như từ lúc ra đời”
(35) “tính khí rất nồng nhiệt, đa dâm, rất sớm phát triển” (36)
-----------
Sau Những lời bộc bạch, hai năm cuối đời là tác phẩm cuối cùng của Rousseau: Les Rêveries du promeneur solitaire. Đây là lúc Rousseau thực sự lấy nội tâm làm nơi trú ẩn, khi cuộc sống xã hội đã hoàn toàn tan biến.
Những suy tư vơ vẩn (1) của người dạo chơi cô độc
Cuộc dạo chơi đầu tiên
Vậy là giờ đây tôi chỉ một mình trên đời, ngoài riêng tôi chẳng còn anh em, thân thích, bạn bè, chỗ giao du. Kẻ dễ gần nhất và nồng nhiệt quyến luyến nhất trong số con người lại bị quăng vứt khỏi con người theo một thỏa thuận được đồng lòng nhất trí. Họ đã tìm kiếm ở những tài khéo trong sự căm hận của mình đâu có thể là đòn hành hạ tàn độc nhất cho tâm hồn nhạy cảm của tôi, và họ đã cắt phăng mọi mối liên hệ gắn kết tôi với họ. Tôi thì sẵn sàng yêu con người mặc cho bản thân họ. Thôi liên hệ với tôi, họ đã chỉ có thể tuột ra khỏi sự trìu mến của tôi. Thế là họ trở thành những người xa lạ, những người dưng, rồi thì với tôi họ chẳng còn là gì, bởi họ đã muốn vậy. Nhưng còn tôi, bị tách rời khỏi họ và khỏi mọi thứ, bản thân tôi thành ra cái gì? Đó chính là điều tôi còn cần phải tìm hiểu. Thật không may, trước khi tìm kiếm phải có một cái nhìn thoáng qua về vị trí của tôi. Nhất thiết tôi phải thực hiện điều này thì mới có thể đi từ họ đến tôi.
Đã hơn mười lăm năm nay tôi ở vào cái vị trí lạ thường này, thế mà với tôi nó vẫn như thể là một cơn ác mộng. Lúc nào tôi cũng hình dung mình đang bị mắc chứng khó tiêu, đang phải ngủ một giấc thật nặng nề, và rằng tôi sẽ tỉnh dậy, nhẹ nhõm thoát hẳn khỏi nỗi đau đớn, thấy mình lại được ở bên bạn bè. Phải, hẳn thế, hẳn tôi đã không hề hay biết mà nhảy từ trạng thái thức vào trạng thái ngủ, hay nói đúng hơn là từ sự sống vào cái chết. Bị lôi tuột khỏi trật tự sự vật theo cái cách tôi không hiểu là cách gì, tôi thấy mình lao vào một sự hỗn loạn không sao hiểu nổi tại đó tôi không nhìn thấy gì hết; và càng nghĩ đến tình trạng hiện nay của mình tôi lại càng thấy khó hiểu là mình đang ở đâu.
(1) "rêverie" hồi thế kỷ XVIII còn chưa hay được hiểu là "mơ mộng" hay "mộng tưởng" như sau này
Rousseau, còn là vì trong Những lời bộc bạch, “mê lộ tối tăm và lầy bùn của những điều bộc bạch” ấy, có rất nhiều điều hay ho:
thái độ với tổ quốc: “tôi quyết định từ bỏ tổ quốc bội bạc” (715)
“bình thản đi dạo giữa những tiếng la réo” (738)
“tôi vẫn sẽ tiếp tục trình bày trung thực những gì
Jean-Jacques Rousseau là, làm và nghĩ, chẳng giải thích chẳng biện hộ tính đặc
dị của tình cảm và tư tưởng anh ta, cũng chẳng tìm kiếm xem liệu những người
khác có nghĩ giống anh ta hay không” (753)
“Giữa những kỳ tài cao thượng ấy có một ngôn ngữ mà phàm
nhân sẽ không bao giờ hiểu nổi” (703)
“Tôi chỉ còn một hướng dẫn viên trung thành […] đó là những
tình cảm tiếp nối (338)
“Tôi dễ dàng quên đi các bất hạnh; nhưng tôi không thể quên
những lỗi lầm, và càng ít quên những tình cảm của mình” (338)
“Mục tiêu thực sự của những lời bộc bạch là nói lên chính
xác nội tâm tôi trong mọi tình huống của đời tôi” (338)
“Lịch sử tâm hồn tôi là điều tôi đã hứa […] tôi chỉ cần trở
về bên trong mình” (338)
“Tôi không giả vờ được, vì điều đó bao giờ đối với tôi cũng
là không thể” (382)
“Tôi bước vào phòng một gái giang hồ như vào thánh đường của
tình yêu và sắc đẹp” (385)
“Tôi cho rằng chẳng một cá nhân nào trong nhân loại có bản
tính ít tự đắc như tôi” (33)
“Khao khát mãnh liệt nhất của tôi là được tất cả những gì
mình tiếp cận yêu mến mình” (33)
-----------
Sau Những lời bộc bạch, hai năm cuối đời là tác phẩm cuối cùng của Rousseau: Les Rêveries du promeneur solitaire. Đây là lúc Rousseau thực sự lấy nội tâm làm nơi trú ẩn, khi cuộc sống xã hội đã hoàn toàn tan biến.
Cuộc dạo chơi đầu tiên
Vậy là giờ đây tôi chỉ một mình trên đời, ngoài riêng tôi chẳng còn anh em, thân thích, bạn bè, chỗ giao du. Kẻ dễ gần nhất và nồng nhiệt quyến luyến nhất trong số con người lại bị quăng vứt khỏi con người theo một thỏa thuận được đồng lòng nhất trí. Họ đã tìm kiếm ở những tài khéo trong sự căm hận của mình đâu có thể là đòn hành hạ tàn độc nhất cho tâm hồn nhạy cảm của tôi, và họ đã cắt phăng mọi mối liên hệ gắn kết tôi với họ. Tôi thì sẵn sàng yêu con người mặc cho bản thân họ. Thôi liên hệ với tôi, họ đã chỉ có thể tuột ra khỏi sự trìu mến của tôi. Thế là họ trở thành những người xa lạ, những người dưng, rồi thì với tôi họ chẳng còn là gì, bởi họ đã muốn vậy. Nhưng còn tôi, bị tách rời khỏi họ và khỏi mọi thứ, bản thân tôi thành ra cái gì? Đó chính là điều tôi còn cần phải tìm hiểu. Thật không may, trước khi tìm kiếm phải có một cái nhìn thoáng qua về vị trí của tôi. Nhất thiết tôi phải thực hiện điều này thì mới có thể đi từ họ đến tôi.
Đã hơn mười lăm năm nay tôi ở vào cái vị trí lạ thường này, thế mà với tôi nó vẫn như thể là một cơn ác mộng. Lúc nào tôi cũng hình dung mình đang bị mắc chứng khó tiêu, đang phải ngủ một giấc thật nặng nề, và rằng tôi sẽ tỉnh dậy, nhẹ nhõm thoát hẳn khỏi nỗi đau đớn, thấy mình lại được ở bên bạn bè. Phải, hẳn thế, hẳn tôi đã không hề hay biết mà nhảy từ trạng thái thức vào trạng thái ngủ, hay nói đúng hơn là từ sự sống vào cái chết. Bị lôi tuột khỏi trật tự sự vật theo cái cách tôi không hiểu là cách gì, tôi thấy mình lao vào một sự hỗn loạn không sao hiểu nổi tại đó tôi không nhìn thấy gì hết; và càng nghĩ đến tình trạng hiện nay của mình tôi lại càng thấy khó hiểu là mình đang ở đâu.
(1) "rêverie" hồi thế kỷ XVIII còn chưa hay được hiểu là "mơ mộng" hay "mộng tưởng" như sau này
Sep 20, 2012
Tuổi thơ
nhát thứ 49, rất khó
Nhị Linh
Viết về tuổi thơ, rất khó có chuyện nhà văn không chạm đến
chính mình theo một cách thức nào đó. Sách cho trẻ em và sách lấy đề tài thiếu
nhi phong phú vô vàn ở trong mọi thứ tiếng, nhưng tùy vào cách tự nhìn vào mình
mà cái nhìn tuổi thơ của nhà văn đi theo hướng “tích cực” hay “tiêu cực”,
“hồng” hoặc “đen”, “tươi đẹp” hay “u buồn”. Không có nhiều lựa chọn trong mảng
sách cực kỳ dễ viết nhưng vô cùng khó hay này. Hoặc là tô hồng quá đáng, dựng
ra những hoạt cảnh thần tiên trong suốt tinh tang những tiếng chuông dịu dàng,
hoặc bôi đen vô chừng, mua nước mắt cho những cậu bé khổ đau chịu dập vùi đầy
nghị lực, những cô bé rách rưới nhưng nhất định không để cho xấu xa cuộc đời
lan nhiễm vào tâm hồn vị tha, nhân ái.
Một nhà văn từng nói, tình mẫu tử là điều thiêng liêng cuối
cùng mà văn chương vốn lâu nay xoay ra khốn cùng đủ kiểu, nhạo báng mọi thứ,
còn chưa dám đụng đến. “Cứ điểm” cuối cùng còn tương đối trụ vững được trước
những đợt tấn công như a xít xói mòn tất thảy của văn chương; khi mà sự dòm ngó
cuộc đời không còn là bất nhã, phân tích kiệt cùng mọi thứ xấu xa của nội tâm
được tuyên dương, mỗi thế hệ nhà văn lại tiến thêm một bước trong quá trình tấn
công vào mọi thứ tồn tại ở trên đời (và cả những thứ thật ra không tồn tại).
Nhưng hẳn là vẫn còn một cái gì đó khiến mỗi khi nhà văn chạm tới tuổi thơ là
tức thì họ chùng xuống, lòng mềm lại, và ta thấy không ít nhà văn thông thường
bạo liệt đến tức thở bỗng trở nên vô cùng mềm mại, dịu dàng khi viết truyện
thiếu nhi (Salman Rushdie chẳng hạn). Tuổi thơ và ký ức của tuổi thơ giống như
là một phần giúp người ta cân bằng, hoặc giúp người ta tưởng rằng mình có thể
cân bằng trên đường đời, chặng đường có thể hiểu là luôn luôn “đi lên” nhưng
hoàn toàn cũng có thể là miệt mài “đi xuống”. Nhưng đó rất có thể cũng là một
sự tô hồng kiểu khác, tô hồng “một cách vô thưởng vô phạt” như Jean-Jacques
Rousseau nói; hoặc là nó không hề “vô thưởng vô phạt”.
Bởi tuổi thơ rắc rối hơn nhiều, có thể còn nhiều vấn đề hơn
mọi phần đời khác của con người, bởi sau này còn xuất hiện một yếu tố chi phối
rất nhiều cách nhìn, cách nghĩ và cách sống: sự buồn chán, còn ở thời bé, người
ta chưa biết buồn chán, và con thú nhỏ hùng hục sống ấy rất có thể đen tối và
nguy hiểm, ngây thơ và nguy hiểm, nguy hiểm cũng chính vì sự ngây thơ: sự nguy
hiểm lớn nhất là sự nguy hiểm không để lại manh mối gì cho tiếc nuối và sám
hối. Vậy nên tuyệt đại đa số tác phẩm cho thiếu nhi tốt đẹp và âu yếm, nhưng
cũng có tuổi thơ thực sự hiểm ác, đen tối không thể cứu chữa như những tuổi thơ
trong các tiểu thuyết của Hervé Bazin, nơi những đầu óc non nớt chỉ chăm chăm
nghĩ đến những gì ác độc, nơi hận thù còn chưa bị thời gian xói mòn mà nguyên khối,
bức bối và sẵn sàng bùng phát bất kỳ lúc nào.
Lẽ dĩ nhiên, để an toàn, giống như với những bông hoa người
ta chỉ nghĩ đến sự làm đẹp và làm thơm cho đời mà sẵn sàng lờ đi khả năng gây
chết chóc của chúng, tuổi thơ “phải” là chốn an toàn, ít nhất cũng là ốc đảo
giữa sa mạc, nơi chỉ cần hướng mắt về là thấy lòng nhẹ nhõm; người ta quên mất
rằng những hình dung ác độc và xảo trá ngày nay bắt nguồn từ quá khứ, từ khi
còn rất nhỏ. Bầu không khí văn chương cho và về tuổi thơ sẽ được hoan nghênh
nhiệt liệt không phải vì độ “thật” của nó, mà vì độ “chênh” của nó với sự thật;
và ở đây sẽ chẳng ai hơi đâu mà đi chất vấn tác giả về tính chất giả tạo, sự
bài trí khéo tay, vân vân và vân vân. Độc giả Việt Nam nhiều năm vẫn mê “Cánh
buồm đỏ thắm” và giờ đây vẫn hào hứng với những truyện thiếu nhi sót lại từ một
thời dường như tốt đẹp, chẳng hạn như “bác Phiodor” hay “cá sấu Ghena” của nhà
văn Nga Uspenski danh tiếng.
Có lẽ chính vì những điều nghiêu khê trên đây mà Astrid
Lindgren mới vĩ đại đến thế. Truyện của bà có một điều gì đó rất khác biệt:
Pippi Tất dài hay Karlsson trên mái nhà là những sáng tạo độc đáo hết mức. Sự
nhân ái ở kẻ yếu là điều tất yếu đến nỗi hình như không phải là sự nhân ái nữa.
Lòng tốt nằm ở chỗ những kẻ hoàn toàn biết rằng mình có thể và đủ sức làm điều
xấu (thậm chí làm điều xấu còn rất vui), nhưng đã không làm.
Sep 16, 2012
Bộc bạch
Một mùa thu mà có đến hai lời bộc bạch khủng khiếp: sự kiện lớn cho độc giả Việt Nam.
Những lời bộc bạch của Jean-Jacques Rousseau, tức Les Confessions, NXB Tri thức vừa in, tác phẩm lớn vượt ra ngoài mọi khuôn khổ, công trình nội tâm độc đáo khiến hậu thế rất nhiều người noi gương: "Tôi trù tính một công việc không hề có kiểu mẫu, và sẽ chẳng ai bắt chước thực thi. Tôi muốn phô bày cùng đồng loại một con người hoàn toàn đúng với chân tướng; và con người ấy, sẽ là tôi đây". Ngả mũ kính phục cô Lê Hồng Sâm.
Chút kỷ niệm ngày xưa với Rousseau và Les Confessions:
"Tôi không biết mình đã làm gì cho đến tuổi lên năm hay sáu; tôi không biết mình đã học đọc thế nào; tôi chỉ còn nhớ những sách đầu tiên đã đọc và ấn tượng chúng gây ra cho tôi: đó là khoảng thời gian khi tôi bắt đầu nhận ra được, và sau đó sẽ không có chút gián đoạn nào, ý thức về bản thân tôi. Mẹ tôi để lại nhiều tiểu thuyết. Chúng tôi, tôi và cha, đọc sách sau khi ăn tối. Thoạt tiên chúng tôi chỉ muốn hoàn thiện kỹ năng đọc của tôi bằng những cuốn sách vui nhộn; nhưng rất nhanh chóng sự say mê [đọc sách] trở nên thôi thúc đến nỗi chúng tôi luân phiên đọc không ngừng nghỉ, hằng đêm hằng đêm. Chúng tôi chỉ có thể rời sách khi đã đọc cho đến hết. Nhiều lúc cha tôi, khi sáng ra nghe thấy tiếng hót chim én, ngượng ngùng nói với tôi: “Thôi đi ngủ; cha còn trẻ con hơn cả con.”
Trong một khoảng thời gian ngắn, bằng phương pháp nguy hiểm đó, tôi thu lượm được không chỉ một kỹ năng đọc và hiểu cực kỳ tốt, mà còn một tầm hiểu biết hiếm có ở độ tuổi của tôi về các cảm giác. Tôi không có chút ý tưởng nào về sự vật, thế mà tôi biết hết các loại tình cảm. Tôi không ý thức được gì hết, tất cả tôi đều chỉ cảm nhận. Những nỗi xúc động hỗn độn đó, mà tôi lần lượt thu hái được, không hề làm hỏng đi cái lý trí cho đến khi đó tôi còn chưa có; nhưng chúng rèn luyện tôi theo một kiểu khác, và trao cho tôi những khái niệm kỳ lạ và đầy tính tiểu thuyết về đời người, mà kinh nghiệm và suy tư sẽ không bao giờ xóa nhòa được khỏi đầu óc."
Bộc bạch thứ hai: Lời bộc bạch của một thị dân, tác phẩm tự thuật và cũng là tác phẩm lớn nhất của Márai Sándor, sẽ dày khoảng gần 500 trang khổ lớn (cỡ hai phần ba Những lời bộc bạch của Rousseau). Bìa bốn cuốn sách này:
Lời bộc bạch của một
thị dân đặc biệt hơn cả chính ở sự phô bày đầy chân thực
và can đảm một tâm hồn phức tạp, không một chút toan tính giấu giếm hay “tô
hồng” nào. Tính trung thực này khiến cuốn sách trở thành một hậu duệ xứng đáng
của một dòng “bộc bạch” hay “tự thú” lừng danh trong lịch sử văn chương phương
Tây, từ Thánh Augustin cho tới Jean-Jacques Rousseau, rồi Lev Tolstoy."
Có lẽ với một con người phức tạp đến như Márai, phải khi viết "bộc bạch" thì toàn bộ những gì tinh hoa nhất của nội tâm ông mới xuất hiện đầy đủ được.
(Tự thú của Tolstoy thì đã in ở Việt Nam cách đây vài năm)
Những lời bộc bạch của Jean-Jacques Rousseau, tức Les Confessions, NXB Tri thức vừa in, tác phẩm lớn vượt ra ngoài mọi khuôn khổ, công trình nội tâm độc đáo khiến hậu thế rất nhiều người noi gương: "Tôi trù tính một công việc không hề có kiểu mẫu, và sẽ chẳng ai bắt chước thực thi. Tôi muốn phô bày cùng đồng loại một con người hoàn toàn đúng với chân tướng; và con người ấy, sẽ là tôi đây". Ngả mũ kính phục cô Lê Hồng Sâm.
Chút kỷ niệm ngày xưa với Rousseau và Les Confessions:
"Tôi không biết mình đã làm gì cho đến tuổi lên năm hay sáu; tôi không biết mình đã học đọc thế nào; tôi chỉ còn nhớ những sách đầu tiên đã đọc và ấn tượng chúng gây ra cho tôi: đó là khoảng thời gian khi tôi bắt đầu nhận ra được, và sau đó sẽ không có chút gián đoạn nào, ý thức về bản thân tôi. Mẹ tôi để lại nhiều tiểu thuyết. Chúng tôi, tôi và cha, đọc sách sau khi ăn tối. Thoạt tiên chúng tôi chỉ muốn hoàn thiện kỹ năng đọc của tôi bằng những cuốn sách vui nhộn; nhưng rất nhanh chóng sự say mê [đọc sách] trở nên thôi thúc đến nỗi chúng tôi luân phiên đọc không ngừng nghỉ, hằng đêm hằng đêm. Chúng tôi chỉ có thể rời sách khi đã đọc cho đến hết. Nhiều lúc cha tôi, khi sáng ra nghe thấy tiếng hót chim én, ngượng ngùng nói với tôi: “Thôi đi ngủ; cha còn trẻ con hơn cả con.”
Trong một khoảng thời gian ngắn, bằng phương pháp nguy hiểm đó, tôi thu lượm được không chỉ một kỹ năng đọc và hiểu cực kỳ tốt, mà còn một tầm hiểu biết hiếm có ở độ tuổi của tôi về các cảm giác. Tôi không có chút ý tưởng nào về sự vật, thế mà tôi biết hết các loại tình cảm. Tôi không ý thức được gì hết, tất cả tôi đều chỉ cảm nhận. Những nỗi xúc động hỗn độn đó, mà tôi lần lượt thu hái được, không hề làm hỏng đi cái lý trí cho đến khi đó tôi còn chưa có; nhưng chúng rèn luyện tôi theo một kiểu khác, và trao cho tôi những khái niệm kỳ lạ và đầy tính tiểu thuyết về đời người, mà kinh nghiệm và suy tư sẽ không bao giờ xóa nhòa được khỏi đầu óc."
Bộc bạch thứ hai: Lời bộc bạch của một thị dân, tác phẩm tự thuật và cũng là tác phẩm lớn nhất của Márai Sándor, sẽ dày khoảng gần 500 trang khổ lớn (cỡ hai phần ba Những lời bộc bạch của Rousseau). Bìa bốn cuốn sách này:
"Lời bộc bạch của một
thị dân, cũng như cuốn hồi ký nổi tiếng Thế
giới những ngày qua của Stefan Zweig, miêu tả cho chúng ta cả bầu khí quyển
của không gian văn hóa Áo-Hung vô cùng đặc thù vào thời điểm bước ngoặt đầu thế
kỷ 20. Và nếu Zweig tự nhìn nhận mình như một “người châu Âu” thì Márai Sándor
khẳng định mình là một đại diện cho tầng lớp thị dân đang hình thành; ông đã đi
vào ngóc ngách đời sống tinh thần của một giai tầng, ca ngợi những phẩm chất
nhưng không quên chế giễu những điều nực cười của môi trường sống quanh ông.
Stefan Zweig cũng xuất hiện thoáng qua trong cuốn hồi ký sâu sắc và rất đặc
biệt của Márai Sándor.
Không chỉ có thành phố nhỏ Kassa quê hương và thủ đô Budapest, Márai Sándor còn dẫn dắt chúng ta đi qua những đất nước ông từng có thời gian gắn bó: Đức, Pháp, Ý và Anh, với những nhận xét đằm thắm, sâu sắc nhưng cũng có lúc tinh quái đến gây sửng sốt. Chặng đời của ông cũng gắn liền với con đường trở thành một trong những nhà văn vĩ đại nhất của Hungary. Đọc cuốn hồi ký này, ta càng hiểu rõ con đường ấy nhiều chông gai đến mức nào.
Không chỉ có thành phố nhỏ Kassa quê hương và thủ đô Budapest, Márai Sándor còn dẫn dắt chúng ta đi qua những đất nước ông từng có thời gian gắn bó: Đức, Pháp, Ý và Anh, với những nhận xét đằm thắm, sâu sắc nhưng cũng có lúc tinh quái đến gây sửng sốt. Chặng đời của ông cũng gắn liền với con đường trở thành một trong những nhà văn vĩ đại nhất của Hungary. Đọc cuốn hồi ký này, ta càng hiểu rõ con đường ấy nhiều chông gai đến mức nào.
Có lẽ với một con người phức tạp đến như Márai, phải khi viết "bộc bạch" thì toàn bộ những gì tinh hoa nhất của nội tâm ông mới xuất hiện đầy đủ được.
(Tự thú của Tolstoy thì đã in ở Việt Nam cách đây vài năm)
Feb 9, 2012
Sách (LI) xưa cũ
rất là hãi mấy vụ đi lục sách
thòi ra quyển này: nhân vật des Esseintes trong đây là một nhà duy mỹ, một dandy cực nổi tiếng:
rồi lại lục thấy Mrs Dalloway bản tiếng Pháp, thế mà lúc trước tưởng mất rồi, kêu mất thế là được tặng sách :p giở ra xem thì thấy là đã mua quyển này cách đây tròn mười năm, hic
hôm trước nói đến chuyện Stendhal và Flaubert, thì đây, quyển thứ nhất là của một nhà phê bình, lý thuyết gia văn học càng đọc càng thấy hay, như Jean Starobinski, quyển kia là của một thủ tướng Pháp, chết ở trại tập trung Đức Quốc xã:
thật ra là tôi đi tìm quyển này, quyển sách hồi nhỏ:
hình dưới cùng này là bonus :p
Aug 3, 2009
Sống để kể lại
Khi đọc Tự thú (Confessions) của Jean-Jacques Rousseau, cuốn tiểu thuyết-tự truyện đầu tiên trong lịch sử văn học, người ta nghĩ tự truyện phải được viết giống như cách của Rousseau. Khi đọc Chữ (Les Mots) của Jean-Paul Sartre, người ta lại nghĩ hẳn đó mới là lối viết tự truyện hay hơn cả. Nhưng khi đọc đến Sống để kể lại (Vivir para contarla) của G. Garcia Marquez, dường như tự truyện còn có một lối khác nữa, vẫn còn khả năng khác để đi theo.
Khi Garcia Marquez viết Trăm năm cô đơn vào năm 1967, ông viết cuốn tiểu thuyết của đời mình, còn khi ông viết Sống để kể lại, ông viết cuốn tiểu thuyết về đời mình. Khó nói được là giữa thế giới Macondo trong tưởng tượng của chàng thanh niên Garcia Marquez và thế giới thật, trải từ Barranquilla, Aracataca, Sucre cho đến Bogota của ông già Garcia Marquez, thế giới nào hấp dẫn hơn. Trăm năm cô đơn ghi danh đất nước Colombia vào bản đồ văn học thế giới, còn Sống để kể lại ghi tên Garcia Marquez với tư cách một con người lên lịch sử nhỏ của gia đình và lịch sử lớn của đất nước. Ngoài ra, cuốn tự truyện không hoàn toàn tách biệt khỏi hệ thống tiểu thuyết của Garcia Marquez; quả thực ông lấy con người ông ra làm đối tượng để mổ xẻ, để tìm hiểu, và cả để cười cợt, không những thế ông còn phân nhỏ cuộc đời mình thành những mảnh thời gian, nghĩa là ông vẫn trung thành thực hành cái kỹ thuật xử lý thời gian đã từng đưa ông lên hàng nhà văn lớn nhất của thế giới, chứ không hề tuyến tính như những cuốn hồi ký nhàm chán khác, lỗi lầm mà ngay nhiều nhà văn nổi tiếng cũng từng phạm phải.
Khi Garcia Marquez viết Trăm năm cô đơn vào năm 1967, ông viết cuốn tiểu thuyết của đời mình, còn khi ông viết Sống để kể lại, ông viết cuốn tiểu thuyết về đời mình. Khó nói được là giữa thế giới Macondo trong tưởng tượng của chàng thanh niên Garcia Marquez và thế giới thật, trải từ Barranquilla, Aracataca, Sucre cho đến Bogota của ông già Garcia Marquez, thế giới nào hấp dẫn hơn. Trăm năm cô đơn ghi danh đất nước Colombia vào bản đồ văn học thế giới, còn Sống để kể lại ghi tên Garcia Marquez với tư cách một con người lên lịch sử nhỏ của gia đình và lịch sử lớn của đất nước. Ngoài ra, cuốn tự truyện không hoàn toàn tách biệt khỏi hệ thống tiểu thuyết của Garcia Marquez; quả thực ông lấy con người ông ra làm đối tượng để mổ xẻ, để tìm hiểu, và cả để cười cợt, không những thế ông còn phân nhỏ cuộc đời mình thành những mảnh thời gian, nghĩa là ông vẫn trung thành thực hành cái kỹ thuật xử lý thời gian đã từng đưa ông lên hàng nhà văn lớn nhất của thế giới, chứ không hề tuyến tính như những cuốn hồi ký nhàm chán khác, lỗi lầm mà ngay nhiều nhà văn nổi tiếng cũng từng phạm phải.
May 20, 2009
Vinh quang và một cốc nước cho Honoré
Người ta nói mãi và sẽ không thôi nói mãi về một số người. Điều này đặc biệt đúng với một số nhà văn lớn của Chủ nghĩa Lãng mạn: Richardson, Flaubert, Stendhal, hay Balzac. Với một số người, chưa đọc Balzac hay Dickens (nhất là Balzac) thì chưa thể nói là biết viết tiểu thuyết được. Rất tiếc là tôi thấy điều này đúng. Hai trong mấy quyển tôi đọc thời gian gần đây đều xuất hiện cuốn sách Clarissa của Richardson (cho dù Pamela có ý nghĩa hơn trong lịch sử của Chủ nghĩa Lãng mạn nhưng Clarissa lại có vẻ có sức sống dài hơn): trong Nam tước trên cây (Il Barone rampante) của Italo Calvino tên cướp Gian ChùmThạchThảo vì mê đọc sách, mà nhất là sách của Richardson, mà thân bại danh liệt với tư cách tướng cướp, thậm chí còn bị treo cổ; và trong Atonement của Ian McEwan, đoạn Cecilia ngúng nguẩy với Robbie.
Cũng không hiểu tại sao tại Việt Nam người ta cứ chia ra thành lãng mạn và hiện thực rồi chê bôi lãng mạn, đề cao hiện thực, nghĩ rằng lãng mạn là một bậc thang (mọt ruỗng) để con người có lương tri bước tới hiện thực. Một phần lý do chắc là nằm ở chỗ muốn lồng khung cho cái gọi là "chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa", nhưng điều này thật là bùn xịt. Balzac vẫn không thôi là một nhà văn lãng mạn, cũng như Stendhal, cũng như Rousseau. Một số mối liên quan rất có thể là có ý nghĩa: ở đám tang Balzac, Victor Hugo là người đọc điếu văn, còn Balzac là một trong những người hiếm hoi của thời ấy hiểu được Stendhal là một thiên tài. Bài viết ca ngợi Stendhal quan trọng đầu tiên nếu tôi nhớ không nhầm là của Balzac. Stendhal sau này "nói dỗi" một câu rằng phải vài chục năm nữa, không nhớ chính xác con số, hình như năm mươi, người ta mới bắt đầu đọc tôi. Điều quái gở là những lời nói dỗi (boutade) kiểu ấy sau này lại thường đúng đến đáng kinh ngạc.
Cũng không hiểu tại sao tại Việt Nam người ta cứ chia ra thành lãng mạn và hiện thực rồi chê bôi lãng mạn, đề cao hiện thực, nghĩ rằng lãng mạn là một bậc thang (mọt ruỗng) để con người có lương tri bước tới hiện thực. Một phần lý do chắc là nằm ở chỗ muốn lồng khung cho cái gọi là "chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa", nhưng điều này thật là bùn xịt. Balzac vẫn không thôi là một nhà văn lãng mạn, cũng như Stendhal, cũng như Rousseau. Một số mối liên quan rất có thể là có ý nghĩa: ở đám tang Balzac, Victor Hugo là người đọc điếu văn, còn Balzac là một trong những người hiếm hoi của thời ấy hiểu được Stendhal là một thiên tài. Bài viết ca ngợi Stendhal quan trọng đầu tiên nếu tôi nhớ không nhầm là của Balzac. Stendhal sau này "nói dỗi" một câu rằng phải vài chục năm nữa, không nhớ chính xác con số, hình như năm mươi, người ta mới bắt đầu đọc tôi. Điều quái gở là những lời nói dỗi (boutade) kiểu ấy sau này lại thường đúng đến đáng kinh ngạc.
Subscribe to:
Posts (Atom)

