Showing posts with label pham-quynh. Show all posts
Showing posts with label pham-quynh. Show all posts
Nov 28, 2018
Sep 19, 2018
Đỗ Đình Thạch
Đỗ Đình Thạch (tức Pierre Đỗ Đình) dịch đoạn đầu La Porte étroite của André Gide (bản dịch Tiếng đoạn-trường - kèm "phụ đề" Tâm-lý Tiểu-thuyết - của Đỗ Đình Thạch, in năm 1936 tại Trung Bắc Tân văn có niên đại rất sớm trong câu chuyện dịch Gide tại Việt Nam; một lịch sử dài như vậy không ngăn cản rất nhiều nouveau riche Việt Nam hiện nay - rất tích cực biểu lộ lòng hâm mộ Gide - gọi Gide là gờ ít ghít sắc Ghít) như sau:
May 18, 2018
Dec 20, 2017
Thành Thế Vỹ
Cũng như nhân vật mới đây, hoặc nhất là nhân vật cách đây một thời gian (xem ở kia), Thành Thế Vỹ thuộc vào số những người ngày nay gần như không còn được biết đến.
May 27, 2017
Phạm Quỳnh và Maupassant
Guy de Maupassant có một sự hiện diện không tầm thường tại Việt Nam, và là từ rất sớm. Nhưng cần đẩy câu hỏi đi xa hơn: sớm như thế nào?
Bài dưới đây của Phạm Quỳnh ("Một nhà văn tả thực: Guy de Maupassant") (niên đại: 1919; năm nay, 2017, cũng chính là tròn 100 năm Nam phong ra số 1) nếu không phải chứng từ đầu tiên cho sự hiện diện của Maupassant tại Việt Nam thì hẳn cũng phải thuộc vào những gì sớm nhất:
Bài dưới đây của Phạm Quỳnh ("Một nhà văn tả thực: Guy de Maupassant") (niên đại: 1919; năm nay, 2017, cũng chính là tròn 100 năm Nam phong ra số 1) nếu không phải chứng từ đầu tiên cho sự hiện diện của Maupassant tại Việt Nam thì hẳn cũng phải thuộc vào những gì sớm nhất:
Dec 30, 2016
Khái Hưng vs Phạm Quỳnh
Chúng ta quay trở lại với tờ báo Bình minh mới chỉ nhắc qua gần đây.
Bình minh là một tờ nhật báo (hai mặt giấy, khổ tương tự giấy A3), ra gần như ngay lập tức sau ngày Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương (tức là ngày 9 tháng Ba năm 1945). Gần như chắc chắn số 1 của tờ Bình minh ra ngày 12 tháng Ba năm 1945. Tờ báo sẽ còn tồn tại tận đến khoảng tháng Tám 1945.
Bình minh là một tờ nhật báo (hai mặt giấy, khổ tương tự giấy A3), ra gần như ngay lập tức sau ngày Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương (tức là ngày 9 tháng Ba năm 1945). Gần như chắc chắn số 1 của tờ Bình minh ra ngày 12 tháng Ba năm 1945. Tờ báo sẽ còn tồn tại tận đến khoảng tháng Tám 1945.
Sep 8, 2016
những trở lại
một lần nữa, tôi dùng lại một cái tên gần giống một tên cũ (nghèo nàn quá)
những cuộc trở lại (mới đây tôi đã nói đến mấy ví dụ cụ thể) của các nhân vật quá khứ bị lãng quên có thể có ý nghĩa như thế nào?
những cuộc trở lại (mới đây tôi đã nói đến mấy ví dụ cụ thể) của các nhân vật quá khứ bị lãng quên có thể có ý nghĩa như thế nào?
Sep 18, 2015
Đinh Hùng và Nguyễn Du
Không chỉ Phạm Văn Diêu, như lần trước tôi đã nói, từng đặt trọng tâm vào Kim Trọng. Một giả thuyết tồn tại xưa nay là chữ Thanh+Tâm (Thanh Tâm Tài Nhân hay Thanh Tâm Tài Tử) thành chữ "tình", chữ Kim+Trọng thành "chung", cộng lại thành "chung tình", rồi thì Kim Trọng là hóa thân của Thanh Tâm Tài Nhân Từ Văn Trường, Từ Vị mạc khách Hồ Tôn Hiến từng là người tình của Vương Thúy Kiều khi Kiều còn là áp trại phu nhân của Từ Hải tức Từ Minh Sơn, vân vân và vân vân.
Sep 15, 2015
Lê Huy Oanh viết về Lan Hữu
Theo kiểm kê cho đến lúc này, ngoài lời tựa của Lưu Trọng Lư in trong Lan Hữu, đã có các bình luận sau đây về cuốn tiểu thuyết của Nhượng Tống:
Jun 26, 2015
Lên, lên nữa, lên mãi
Trong Tự Lực văn đoàn, ngoài địa hạt viết văn thuần túy, nhân vật nào cũng có thể mỉa mai, châm biếm rất ý vị (nhờ thế mà mới có Phong hóa và cái giọng rất riêng của nó, được Ngày nay nối tiếp, trong một khổ báo nhỏ hơn, hợp lý hơn và dễ lưu giữ hơn). Nhưng Thạch Lam và Thế Lữ thường xuyên đẩy sự mỉa mai đi quá ranh giới, con người ngày nay đọc còn thấy bực hộ các đối tượng công kích của họ. Khái Hưng thì không, giọng mỉa mai của Khái Hưng vô cùng đứng đắn. Đây là đặc điểm đầu tiên của Khái Hưng bên ngoài tiểu thuyết, truyện ngắn và kịch.
Đặc điểm thứ hai của Khái Hưng nhà chính luận là sự nhất quán trong cách nhìn.
Đặc điểm thứ hai của Khái Hưng nhà chính luận là sự nhất quán trong cách nhìn.
May 19, 2015
Tiểu luận thứ nhất về Tự Lực văn đoàn
Tự Lực văn đoàn, ngay từ đầu và trong suốt cuộc tồn tại (một
cuộc tồn tại văn chương chóng mặt khủng khiếp), đồng nghĩa với sự quá đà. Một sự
quá đà chưa từng có và không hề lặp lại. Sự quá đà ấy không chỉ nằm ở những đả
kích, những vứt bỏ và những chế giễu, mà ngay cái tên “Tự Lực” đã là một sự quá
đà. Chưa hề định trước, cho tới thời điểm đó, là có một thứ gì được phép độc lập
khỏi nhà nước hoặc truyền thống, không nhận tiền và sự dẹp đường, định lối của
chính quyền, không chịu sự nâng đỡ kiểu như các bậc tiền bối lỗi lạc, Trương
Vĩnh Ký và Phạm Quỳnh. Chỉ trong một cái lắc mình, các khuôn khổ cùng một lúc
rơi xuống vỡ vụn, cùng với “Tự Lực” là vị trí của nhà văn độc lập không phụ thuộc
vào mạnh thường quân hay một ý chí nào từ trên cao rọi xuống, thậm chí từ bên
dưới bốc lên. Bản thân Tự Lực văn đoàn là một ý chí, và đó là một sự quá đà khủng
khiếp. Ta chỉ tiếc một điều là Tự Lực văn đoàn đã không quá đà hơn nữa, không đẩy
đà nhún ngay ban đầu của sự quá đà ấy bẻ gãy đi nhiều thứ hơn nữa. Những phá
phách của giới nhà báo được Vũ Bằng thuật lại trong Bốn mươi năm nói láo chỉ là bóng mờ nhợt nhạt phản chiếu lại những
phá phách điên rồ của Tự Lực văn đoàn: đấy là những phá phách đã có tiền lệ;
ngay những gì đã tồn tại trước Tự Lực văn đoàn và Phong hóa, chẳng hạn và nhất là Tân Dân, cũng chỉ nhờ có Tự Lực văn
đoàn thì mới thực sự tồn tại được. Tự Lực văn đoàn mang đến một điều mới tuyệt
đối: đó là văn chương.
Oct 2, 2014
Phạm Quỳnh và Charles Maurras
Bàn về “ảnh hưởng” - bản thân “ảnh hưởng”
đã là một khái niệm giàu tính chất bất định[1]
- không bao giờ là chuyện đơn giản. Sự khó khăn dường như không nằm ở chỗ rất
khó tìm ra các ảnh hưởng mà, thật nghịch lý, lại nằm ở chỗ có vẻ như các ảnh hưởng
quá dễ thấy. Ta rất dễ yên tâm quá mức nhanh chóng với các nhận định theo kiểu
thơ tượng trưng, siêu thực ảnh hưởng lên Bích Khê hay nhóm Xuân Thu Nhã Tập, Vũ
Hoàng Chương chịu ảnh hưởng của Đường thi hay Hoài Thanh mang nhiều dấu vết của
Jules Lemaître, vân vân và vân vân. Ta dễ nhận ra rằng, như Harold Bloom đã lập
luận (nhưng là đối với các nhà thơ), ở nhà nghiên cứu hay có một “nỗi âu lo” tìm
ra các ảnh hưởng mà đối tượng của họ có thể từng nhận lấy; xét cho cùng đây là
“nỗi âu lo” hướng lối cho nhu cầu tìm đến một ý hướng ít nhiều nhất quán, một
tính chất liên tục, một tính mục đích nào đó ngõ hầu giúp hình dung quá khứ của
ta thoát khỏi hư vô và hỗn loạn; tuy nhiên, những chuyện đã xảy ra trong lịch sử
hoàn toàn có thể không đơn giản như vậy, hoặc còn tệ hơn, hoàn toàn có thể
không phức tạp như vậy. Trong khi đó, một vẻ hao hao về ý tưởng hay tinh thần
chung chưa chắc đã thể hiện một sự tiếp nhận có thực (điều kiện căn bản để xảy
ra ảnh hưởng đúng nghĩa), thậm chí nhiều khi công việc khảo cứu còn chưa chỉ ra
được phía nhận ảnh hưởng trên thực tế có am hiểu và hướng tinh thần của mình
theo phía gây ảnh hưởng hay không, và nhiều lúc có ngay sự “quy kết” về ảnh hưởng
chỉ vì nhận ra một sự nhắc tên nào đó, trong khi ở các hoạt động trước tác và
nghiên cứu, dẫu là văn chương hay chính trị, “name dropping” là một việc thường
gặp và rất có thể không mang ý nghĩa gì quan trọng. Khi một nhà văn Việt Nam có
đọc một tác giả nước ngoài nào đó thì việc bàn đến ảnh hưởng và mức độ của ảnh
hưởng ấy cũng vẫn quá khó; chưa kể nhà văn hoàn toàn có thể “nhào nặn ký ức” để
tạo ấn tưởng về những ảnh hưởng tưởng tượng. Kể cả nếu một nhà văn hay bàn về một
tác giả nước ngoài, thì vẫn có nhiều khả năng không hề có ảnh hưởng đích thực,
mà lắm khi công việc nhất thời có thể buộc nhà văn phải có bài viết về một đề
tài nào đó hoặc một tác giả nào đó. Lại có khả năng sự ảnh hưởng chỉ xuất hiện ở
một hoặc một vài phương diện nhỏ bé, tùy theo sở đọc và cách tiếp cận của nơi
nhận ảnh hưởng. Hoặc nữa: chủ thể chịu ảnh hưởng hiểu nguồn ảnh hưởng đến mức độ
nào? Nghiên cứu ảnh hưởng hẳn không phải là bất khả thi, nhưng cần hết sức thận
trọng, và ngay cả khi thận trọng vẫn có thể không dẫn đến đâu. Bài viết dưới
đây không nhằm chứng minh về một ảnh hưởng từ Charles Maurras lên Phạm Quỳnh,
mà cố gắng chỉ ra Phạm Quỳnh từng bàn đến tư tưởng của Charles Maurras, ít nhất
là không dừng ở mức chỉ nhắc đến tên theo lối thoáng qua, tức là khác với bình
luận của một số nhà nghiên cứu trước đây; như các đoạn sau sẽ chỉ rõ, Phạm Quỳnh
đã thực sự nghiên cứu Charles Maurras, và vấn đề này dường như không được quan
tâm mấy trong các nghiên cứu về Phạm Quỳnh cho tới nay, mặc dù đây là tác giả
quan trọng trong tư duy quốc gia chủ nghĩa và thuyết bảo hoàng, quân chủ hay
tôn quân, là những thứ gắn kết với Phạm Quỳnh nhà chính trị.
Sep 1, 2014
Những câu chuyện rất là khác
Jun 28, 2014
Trương Tửu
Dần dà, Trương Tửu đã "lộ diện" trở lại.
Thời kỳ đầu của Trương Tửu, trong tư cách tiểu thuyết gia:
- Khi chiếc yếm rơi xuống, Minh Phương, 1939
- Trái tim nổi loạn, Văn Thanh, 1940
- Một chiến sĩ, Minh Phương, 1938
Thời kỳ đầu của Trương Tửu, trong tư cách tiểu thuyết gia:
- Khi chiếc yếm rơi xuống, Minh Phương, 1939
- Trái tim nổi loạn, Văn Thanh, 1940
- Một chiến sĩ, Minh Phương, 1938
Feb 7, 2014
Phạm Quỳnh viết điểm sách
Khi cho in Thượng Chi văn tập, Phạm Quỳnh đã rút từ Nam Phong đưa vào đây một số bài điểm sách, tuyệt đại đa số là dài (NB. các bài viết trong Thượng Chi văn tập bao trùm quãng trước tác 1917-1922 của Phạm Quỳnh).
Bộ sách này in làm năm tập, từ 1943 đến 1945, tại NXB Alexandre de Rhodes. Riêng tập 5 ghi Đắc Lộ thư xã; Đắc Lộ là cách gọi phiên âm cố de Rhodes. Tình trạng cụ thể của bộ sách: ba tập đầu in giấy đẹp, nặng, hai tập sau in bằng giấy dó, nhẹ. Hiện tại, tôi vẫn chưa xác định được chính xác niên đại từng quyển, chỉ chắc chắn tập 1 in 1943, tập 5 in 1945. Tra cứu kho của Thư viện Quốc gia Việt Nam cũng chẳng ích gì, như thường lệ. NXB Alexandre de Rhodes (hay Đắc Lộ thư xã) nằm ở Hà Nội, in được tương đối ít sách, nhưng có một số bộ rất nổi tiếng.
Bởi Thượng Chi văn tập là bộ sách để đời của Phạm Quỳnh, được chính Phạm Quỳnh lựa chọn bài vở, nên ta có thể hiểu các lựa chọn của Phạm Quỳnh thể hiện nhân vật Phạm Quỳnh mà Phạm Quỳnh muốn người đời sau nhìn nhận. Nhân vật Phạm Quỳnh của Thượng Chi văn tập có không ít khía cạnh, tôi từng nói đến chuyện Phạm Quỳnh dịch thơ Baudelaire (một khía nhỏ trong hình ảnh Phạm Quỳnh nhà dịch thuật). Còn ở tư cách nhà điểm sách thì sao?
Những lựa chọn cho thấy tầm hiểu biết, gu thẩm mỹ và những dạng văn chương mà Phạm Quỳnh hướng tới. Cách phân tích cho thấy những gì ở văn chương được Phạm Quỳnh lưu tâm. Lối viết thì cho thấy khả năng nhà phê bình văn học ở Phạm Quỳnh. Phạm Quỳnh nhà phê bình văn học không phải một điều quá nổi bật ở Phạm Quỳnh xét một cách toàn diện, nhưng là thứ hoàn toàn không thể bỏ qua.
Bộ sách này in làm năm tập, từ 1943 đến 1945, tại NXB Alexandre de Rhodes. Riêng tập 5 ghi Đắc Lộ thư xã; Đắc Lộ là cách gọi phiên âm cố de Rhodes. Tình trạng cụ thể của bộ sách: ba tập đầu in giấy đẹp, nặng, hai tập sau in bằng giấy dó, nhẹ. Hiện tại, tôi vẫn chưa xác định được chính xác niên đại từng quyển, chỉ chắc chắn tập 1 in 1943, tập 5 in 1945. Tra cứu kho của Thư viện Quốc gia Việt Nam cũng chẳng ích gì, như thường lệ. NXB Alexandre de Rhodes (hay Đắc Lộ thư xã) nằm ở Hà Nội, in được tương đối ít sách, nhưng có một số bộ rất nổi tiếng.
Bởi Thượng Chi văn tập là bộ sách để đời của Phạm Quỳnh, được chính Phạm Quỳnh lựa chọn bài vở, nên ta có thể hiểu các lựa chọn của Phạm Quỳnh thể hiện nhân vật Phạm Quỳnh mà Phạm Quỳnh muốn người đời sau nhìn nhận. Nhân vật Phạm Quỳnh của Thượng Chi văn tập có không ít khía cạnh, tôi từng nói đến chuyện Phạm Quỳnh dịch thơ Baudelaire (một khía nhỏ trong hình ảnh Phạm Quỳnh nhà dịch thuật). Còn ở tư cách nhà điểm sách thì sao?
Những lựa chọn cho thấy tầm hiểu biết, gu thẩm mỹ và những dạng văn chương mà Phạm Quỳnh hướng tới. Cách phân tích cho thấy những gì ở văn chương được Phạm Quỳnh lưu tâm. Lối viết thì cho thấy khả năng nhà phê bình văn học ở Phạm Quỳnh. Phạm Quỳnh nhà phê bình văn học không phải một điều quá nổi bật ở Phạm Quỳnh xét một cách toàn diện, nhưng là thứ hoàn toàn không thể bỏ qua.
Feb 3, 2014
Phạm Quỳnh dịch Baudelaire
Phạm Quỳnh chắc hẳn là một trong những người đầu tiên dịch thơ Baudelaire, nếu không muốn nói là người đầu tiên. Đó là tầm năm 1917, những số đầu của Nam Phong. Trong một bài viết về thơ Baudelaire, Phạm Quỳnh chọn dịch ba bài (dịch nghĩa). Cả ba bài đều rút từ tập Les Fleurs du mal, mà Phạm Quỳnh gọi là Ác hoa.
dưới đây trích từ Thượng Chi văn tập, tập 1, nxb Alexandre de Rhodes, Hà Nội, 1943
dưới đây trích từ Thượng Chi văn tập, tập 1, nxb Alexandre de Rhodes, Hà Nội, 1943
Jan 9, 2014
Feb 18, 2012
đã tới, đã thấy, đã thua
Chuyện “hơi ngắn” (hụt hơi) và “hơi dài” (tràng giang đại hải với sản phẩm nặng đến cả yến) của các nhà văn, trên chuyên mục này tôi từng bàn đến, mà vẫn canh cánh trong lòng vì chưa đi đủ các trường độ của hơi thở. Vấn đề hơi thở thực là phong phú hơn nhiều người nghĩ, cho nên nhiều cô cậu tuổi trẻ và cả nhiều trung niên lãng mạn vẫn còn đắm đuối “lý thuyết hơi thở nhẹ” của nhà văn Nga Ivan Bunin và trên truyền hình vẫn nhan nhản những quảng cáo kẹo chewing-gum cho hơi thở thơm tho. Nhưng mới hơi ngắn và hơi dài thì chưa thể nào là đầy đủ cho một môi trường sáng tạo, ở Việt Nam hay bất kỳ đâu, bởi cái phổ biến nhất, đáng nói nhất phải là loại hơi này: “hơi trung bình”.
Dec 22, 2011
(9) Vài tủ sách Việt Nam nổi tiếng
Trích từ tạp chí Văn hữu, mục “Lượm lặt”
Vài tủ sách Việt-Nam nổi tiếng
Trong số các tay chơi sách nổi tiếng ở Việt-Nam gần đây, đáng kể có tủ sách của các học giả Phạm-Quỳnh, Đào-Duy-Anh, Vương-Hồng-Sển, Lê-ngọc-Trụ, tủ sách của cựu thượng thư Phạm-Liệu, bác sĩ Dương-Tấn-Tươi.
Cuộc chiến tranh vừa qua đã thiêu hủy một phần lớn các tủ sách quí giá trên đây. Cả tủ sách Phạm-Quỳnh tập trung ở biệt thự riêng trên bờ sông An-Cựu (Huế) đã bị đám cán bộ V. M. tịch thu phá tán. Hàng vạn pho sách cổ kim đông tây, đóng da, mạ vàng của ông cựu chủ nhiệm Nam Phong và thượng thư triều đình Huế, hồi 1945, có người đánh giá hàng mấy triệu bạc, sau ngày Phạm-Quỳnh bị bắt đã theo khói lửa chiến tranh mà tiêu tán.
Tủ sách của nhà soạn từ điển Đào-Duy-Anh chở tản cư trên ba va gông đôi từ Hà-nội chuyển vào Thanh-Hóa, trong đêm 19 tháng chạp năm 1946, đã dùng làm chiến lũy và mồi ngon cho lửa đạn. Sau đó người ta thấy dấu vết bao nhiêu sách quý của Đào-Quân như những xác người nằm đầy khắp cả Ga Hàng-Cỏ.
Tủ sách của cựu thượng thư Phạm-Liệu ở Quảng-Nam, công trình mấy mươi năm sưu tập sách, tạp chí giá trị đông tây, gồm hàng vạn quyển, sau thời kỳ khởi nghĩa, đều bị cán bộ V. M. địa phương ra lệnh thiêu đốt, cho sách chữ hán là tàn tích phong kiến, sách tây là sản phẩm của đế quốc thực dân!
Tủ sách của bác sĩ Dương-Tấn-Tươi, ở Mỹ-Tho phần nhiều gồm những sách quí lạ, đóng bìa bằng sừng ở ngoại quốc, cùng các bản thảo của văn thi sĩ Việt-Nam, trong đó có một bản chữ nôm Kiều của Nguyễn-Du, sau ngày kháng chiến ở miền Nam nổ bùng, đã bị quân viễn chinh Pháp đốt sạch. Lửa cháy tủ sách này luôn mấy ngày đêm, dâng khói khét lẹt mùi sừng và da bìa sách đen ngòm cả một góc châu thành Mỹ-Tho.
Tủ sách của nhà khảo cổ Vương-Hồng-Sển được chở cả xuống mấy chiếc ghe bầu lớn tản cư ở hậu giang, trôi nổi theo chủ nhân, sau bao phen hiểm nghèo, suýt tiêu ma giữa hai lằn đạn, may mắn được toàn vẹn với đầu óc bạc trắng vì ngày đêm lo mất sách của họ Vương. Vương quân vẫn thường cho là kiếp trước mình khéo tu và còn nặng nợ với sách nên chúng không nỡ lìa cố chủ. Tủ sách của vị phó giám đốc viện Bảo Tàng Quốc gia hiện ngự trị ở một ngôi nhà cổ kính tại ngoại ô Sàigòn, là nơi gặp gỡ của các tài tử chơi sách, các nhà nghiên cứu muốn tìm xem tài liệu cổ, tác phẩm hiếm quí.
Người chơi sách thứ hai được may mắn giữ gìn nguyên vẹn cả tủ sách đồ sộ qua khói lửa chiến tranh vừa rồi là học giả Lê-Ngọc-Trụ, hiện đang giảng dạy Việt ngữ ở Văn Khoa Đại Học và trông nom Thư Viện Quốc Gia. Lê Tiên Sinh nhờ ở một nơi yên tĩnh không xa Sàigòn mấy có thể đóng kín cửa nhà chứa gia tài tinh thần khổng lồ của mình mà không bị giặc cướp hay quân chê chữ nghĩa, ghét sách vở đến phá hoại. Có thể nói rằng trong bao nhiêu tủ sách, thư viện tan nát vì chiến tranh vừa qua, hai học giả họ Vương và họ Lê là thiểu số được diễm phúc lớn lao tránh khỏi cảnh “thử hận miên miên vô tuyệt kỳ” của hạng tài tử chơi sách ở đời, mình còn sống mà tủ sách của mình đã tiêu ma.
(Văn hữu, số 5, tháng Năm, 1960, tr. 55-56)
-----------
-----------
Lê Ngọc Trụ đây:
À mà Đại Nam quấc âm tự vị (Huình Tịnh Của) rồi Chánh tả tự vị: tại sao lại "tự vị"? Hì hì, ở đây liên quan đến một lỗi lầm của Phạm Quỳnh: Phạm Quỳnh do đọc sai "vị" thành "vựng" nên chúng ta có "tự vựng", "từ vựng" dùng thoải mái luôn, vì sức mạnh của Nam Phong quá lớn :p Về vụ này Phạm Quỳnh đã bị phê bét nhè chè đỗ đen: Hồ Hữu Tường, Nguyễn Hiến Lê, Trương Văn Chình, hình như cả Lê Ngọc Trụ, và rất nhiều người khác nữa.
Dec 14, 2011
Chữ nghĩa để lại
“Thói đời nóng lạnh, lòng người thắm phai; ai cũng nói thế, ai cũng biết thế, nhưng có từng trải mới thật biết thói đời điên đảo, lòng người xấu xa là dường nào. Nhất là để mình trong trường danh lợi, mới biết rõ những trạng thái ô uế ở đời”: đoạn trích trên đây là từ trang 15, bài “Thế thái nhân tình” đặt đầu tập di cảo Hoa Đường tùy bút (Nhã Nam & NXB Hội Nhà văn) đặc trưng cho giọng điệu cay đắng của Phạm Quỳnh.
Ông quan lớn của Nam triều, vị Lại bộ Thượng thư lừng lẫy tài cao tuổi trẻ một thời viết ra 11 bài của Hoa Đường tùy bút (bài cuối cùng, “Cô Kiều với tôi”, còn đang viết dở chưa hoàn thành) vào những ngày cuối đời (ông mất vào năm 1945: con người đồng hành cùng cả giai đoạn vài chục năm đầu thế kỷ XX ấy đã qua đời vào đúng lúc thời kỳ này kết thúc). Rất bất ngờ, con người Tây học nhưng uyên thâm Nho học ấy lại hướng đến Phật giáo vào lúc này: “Chỉ có đạo Phật mới có cái hiệu quả mầu nhiệm đó” (tr. 19), “Đạo Phật là nơi lánh mình thích hợp nhất” (tr. 34).
Subscribe to:
Posts (Atom)


