Showing posts with label scott-fitzgerald. Show all posts
Showing posts with label scott-fitzgerald. Show all posts

Mar 8, 2018

Ít sách mới

Sách mới, nếu muốn nhiều thì nhiều được ngay, nhưng nếu thế thì khác gì goodreads? mà goodreads nghĩa là gì? nghĩa là cuộc trưng bày khổng lồ của sự không biết đọc. Tất tần tật.

Trước tiên, xem ở kia. Và vì muốn ít (chứ không phải nhiều), tôi chỉ nói đến một loại sách mới duy nhất, loại sách thuộc vào category của cái chữ ngay bên dưới nhan đề cuốn sách dưới đây, tức là chữ "inédit":


Jan 18, 2016

Meaulnes và Lương Ngọc

Năm 1937, tận năm 1937, Jean Giraudoux, một nhà văn lớn của nước Pháp, một trong rất ít người cùng thời từng khiến Marcel Proust hoảng hốt, vẫn còn viết, trong một bài báo, rằng đại ý ông ấy tự coi mình là một "petit Meaulnes".

Aug 10, 2013

Chậc, Sói Thảo Nguyên

Tuổi trẻ, cái thứ mở ra như một mùa xuân đen ấy, có dưỡng chất trần gian là những suy tư bất tuyệt và hỗn loạn, xoay quanh nỗi cô đơn, tình yêu, nội tâm bất ổn, cự tuyệt và chấp nhận.

The Invention of Solitude của Paul Auster, The Great Gatsby của Scott Fitzgerald và Der Steppenwolf của Hermann Hesse là một “triptique” tác phẩm văn chương đặc biệt nhiều tính chất dưỡng chất trần gian ấy, quyển của Fitzgerald và Hesse ra đời và đặt bối cảnh trước Thế chiến thứ hai còn The Invention of Solitude nằm sau đó, cả ba đều có những dự cảm hoặc cảm giác đặc thù về sự chém giết, ở Hesse và Fitzgerald thì nhấn mạnh vào “kết thúc”, còn ở Auster thì nổi bật vì tính chất “mở đầu” và “tiếp tục”; cả ba đều sử dụng rất nhiều dụ ngôn nền tảng.

Ở Auster ta có Jonah trong bụng cá, nỗi khiếp sợ hoang mang khủng khiếp, ở Fitzgerald là vàng son sụp đổ của một thế giới nguyên khối, còn Hesse thì sử dụng hình ảnh Moses vạch nước biển; cuối trường đoạn đáng nhớ ấy (tr.236-237-238), thật bất ngờ khi đột nhiên Hesse có một lời tiên tri về sự diệt vong của người Do Thái.


Aug 1, 2013

Chào Paul Auster

The Invention of Solitude

Tác phẩm đầu tay của Paul Auster, không hẳn tiểu thuyết, cũng không hẳn tiểu luận, chứa đựng rất nhiều chủ đề mà những cuốn sách sau này của ông sẽ khai thác.

Tôi không nghĩ ở đây là chuyện "khởi sinh" ra sự cô độc, "khởi sinh" hay "khởi nguyên" là để chỉ một sự kiện tự thân, sinh ra một cái gì đó. Mà đây là chuyện thuộc địa hạt "invention" của "sáng chế", "phát minh", "phát hiện", sử dụng các chất liệu có sẵn để tạo ra một cái gì đó. Với tôi, The Invention of Solitude là "chế ra nỗi cô đơn". Auster rất hay nhắc đến Edison, tất nhiên là không hề thiếu liên quan. Một người anh hùng nữa của Auster là Tesla.


Jul 19, 2013

Tình yêu


(bài áp chót)

Ovid, nhà thơ La Mã vĩ đại, từng viết tác phẩm “Nghệ thuật yêu” trong đó ông coi nghệ thuật yêu là thứ nghệ thuật khiến cánh buồm và mái chèo ăn ý với nhau để thuyền lướt sóng thật nhanh, nghệ thuật làm những cỗ chiến xa chạy băng băng. Yêu, theo Ovid, nhất thiết cần nghệ thuật, với những hình mẫu là các vị thần trong hệ thống thần thoại Hy Lạp đã được cải biến sang thế giới La Mã.

Suy tư về tình yêu, khoái cảm, dục vọng, hôn nhân nở rộ vào quãng thế kỷ 19. Không chỉ những nhà văn như Jane Austen hay Henry James liên tục đề cập các chủ đề này, mà ngay nhiều triết gia thuộc hàng thượng thặng cũng cho thấy họ đặc biệt quan tâm: hôn nhân là một “vấn đề triết học” ở nền tảng cuộc sống con người, chứ không phải là chuyện hành chính ra cơ quan nhà nước ký tên vào một tờ giấy. Ví như Soren Kierkegaard, triết gia vô cùng u tối, từng viết một cuốn sách rất lạ lùng mang tên “Nhật ký của kẻ quyến rũ”, hay Amiel, nhà văn kiêm triết gia người Thụy Sĩ từng viết “Nhật ký” dày không biết bao nhiêu trang mà kể chỉ chủ yếu xoay quanh vấn đề có lấy vợ hay không.

Jul 14, 2013

đi tìm sự không hoàn hảo

để chào mừng tập 3 1Q84 vẫn chưa thấy đâu :p



Có lẽ không có từ nào tốt hơn sự tinh tươm nếu muốn tóm tắt ấn tượng do các tác phẩm của Haruki Murakami mang lại. Nhân vật Kafka Tamura của Kafka bên bờ biển (Dương Tường dịch, Nhã Nam và NXB Văn học, 2007), điều này cũng không có gì lạ, cũng là một nhân vật gọn ghẽ từ trong các hành vi cho đến suy nghĩ. Chưa có một nhân vật nào của Haruki Murakami bừa bãi, kể cả trong nỗi buồn chán, trong sự hoảng loạn, cô đơn cùng cực, và kể cả trong những cơn say sưa dục tình mà tất cả đều rơi vào.

Điều đó cũng mới chỉ là một phần. Cái quan trọng hơn nữa là giọng văn của Haruki Murakami tương ứng một cách hài hòa với sự tinh tươm đó. Những người nghĩ văn của Murakami dễ dãi, đi vào những điều luẩn quẩn loanh quanh và không thoát ra ngoài được nữa, dường như đã mắc phải cả một sai lầm lớn. Murakami thuộc dạng nhà văn rất hiểu công việc của mình, và đã chấp nhận đi theo một con đường rất khó, thể hiện lớn nhất của phép cộng giữa tài năng và lao động: chỉ có một sự luyện tập về viết phi thường mới khiến một con người nhận ra được rằng mình có thể đi theo một con đường nhìn qua thì na ná như những người khác, thậm chí còn sẵn sàng để bị coi là văn chương tầm tầm, ít nhất thì cũng không phải là cao cấp, nhưng thật ra nó lại biết cách giẫm chân thật chuẩn xác vào chính giữa con đường mảnh như sợi chỉ giữa một nơi chốn kỳ lạ, vừa là một cánh rừng phong phú nhưng cũng lại vừa là một sa mạc khô cằn, nơi được tạo nên bằng toàn bộ các cliché (sáo mòn) văn chương và chữ nghĩa mà ngôn từ từng tạo ra trên đời.

Jul 6, 2013

Gatsby ở Việt Nam


bản miền Bắc (Gátxbi vĩ đại): Hoàng Cường dịch, in lần đầu 1985, NXB Tác phẩm mới, sau này tái bản nhiều lần

bản miền Nam (Con người hào hoa): Mặc Đỗ dịch, in năm 1956, Quan Điểm xuất bản, sau có tái bản ở Sài Gòn

bản phổ biến nhất hiện nay: Đại gia Gatsby, Trịnh Lữ dịch, in cách đây vài năm

Jul 3, 2013

The Great Gatsby: Chúa. Thiên Đường. Sa đọa


Trước tiên là sự đọa. Những bữa tiệc trong The Great Gatsby ấy dậy mùi Decadence, thời Suy đồi, fin de siècle, mà Moulin Rouge, Montmartre chính là một biểu tượng; nhưng chúng cũng như thể bước thẳng ra từ Satyricon của Petronius, những bữa tiệc của Trimalchio: Petronius đã miêu tả cực kỳ tinh vi sự xa hoa của đời sống La Mã. Cộng thêm nữa: ông chủ lâu đài vừa từ tòa lâu đài nghiêm ngắn, chuẩn mực với những gia nhân tôi tớ đi lại đều răm rắp lao thẳng tới cuộc orgy, truy hoan điên loạn. Suy đồi kiểu cuối thế kỷ và Suy đồi La Mã trộn lẫn vào với nhau theo một lối vô cùng cynical: cynical và satyrical là hai phương diện tâm lý trọng yếu của những nhà văn hiện đại, mà Scott Fitzgerald là một thành viên xuất sắc.

Bởi The Great Gatsby cũng là một magnum opus của văn chương phương Tây, nên dự đồ của nó cũng không hề nhỏ. La Mã là một mẫu hình, vì để nói đến lost world, một thế giới đã mất, không gì hiệu quả hơn là khéo léo đưa các yếu tố cổ xưa của văn hóa phương Tây vào. La Mã, rồi thì đạo diễn Baz Luhrmann đã cực kỳ khéo léo với một chi tiết nhỏ: ở đoạn đầu, khi miêu tả Nick Carraway mộng ước trở thành nhà văn, có lúc Nick nhấc một quyển sách lên, đó là Ulysses: vừa là Ulysses gợi đến cả một truyền thống mưu mẹo của Hy Lạp, vừa là Ulysses của James Joyce.

Jan 18, 2013

Lựa chọn

lạ thật, nhiều lúc mình định khắm, thì lại thành ra thắm, nhiều lúc định thắm, thì lại thành ra khắm, kết luận tạm thời: đời thật là dơ dáy :p



Tôi từng nghe một người rất đáng nể về đầu óc nói rất chí lý rằng: “Phàm đã là người có đầu óc, kiểu gì cũng sẽ đi làm khoa học hoặc nghệ thuật”. 

Rất chí lý ở chỗ:

Jan 29, 2010

Sách (VII): Bad Scott & Napônêông


+ Sau Hội hè miên man, lại có thêm một tác phẩm nói không hay ho gì về Scott Fitzgerald, là cuốn tiểu thuyết Alabama Song của Gilles Leroy. Ở đây tác giả lấy giọng của Zelda Fitzgerald để miêu tả một Scott Fitzgerald bất tài, ăn cắp văn của vợ, đồng tính, xấu xa etc. Chuyện chồng ăn cắp văn của vợ, tức là vợ viết rồi chồng ký tên, đã từng xảy ra chẳng hạn như ở cặp Willy-Colette hồi đầu thế kỷ XX. Alabama Song mới là quyển được giải Goncourt 2007, chứ không phải quyển này. Chuyện tôi đã nói một lần rồi, chẳng muốn nói lại nữa. Gilles Leroy cũng cẩn thận, viết ở trong sách rằng đây là một truyện hư cấu, nhưng ai mà biết.

+ Để tưởng nhớ mùi hương.

+ Còn Napônêông? Chắc các bác cũng đoán ra rồi, đó là một loại đèn nêông hiệu Napô :) Giống như là khi người ta nói Ê-min Dô-na viết quyển Lala ấy. Thật ra thì tôi tìm được từ “Napônêông” này trong quyển sách được nhắc tới ở đây, quyển sách được đặc tuyển, quyển sách của năm tại Việt Nam. Thực sự là phải há mồm không ngậm lại được khi đọc cái tin ấy. HNV đúng là……….(kiểm duyệt đục bỏ)……….. Một quyển sách lèo tèo dăm ba bài, không bài nào dài nổi quá 5 trang sách, tức là tất tật chỉ trên dưới một trang A4 (kiểu như mục “Tiếng nói nhà văn”, ai hay đọc báo Văn Nghệ thì biết), không nói được một cái gì đặc biệt, ý tưởng vô cùng nhạt nhẽo, từ ngữ còn không phải là chuẩn hết, ví dụ như không hiểu đúng nghĩa từ “chính kiến”… thế mà là quyển sách của năm. Một trò hề thật là tợn.

+ Đặc biệt cảm ơn hai bạn đã gửi và mang hai quyển sách ở trong ảnh cho tôi. Quyển bên tay phải là Bao người chờ đợi, Đỗ Tử Trình dịch, NXB Thuận Hóa, 1988. Đây chính là tác phẩm đầu tay của Romain Gary, Éducation européenne (Giáo dục châu Âu), in năm 1945 ở bên Anh, khi chiến tranh còn chưa kết thúc. Bản dịch có lời giới thiệu cẩn thận. Quyển bên trái là Chó trắng, Nguyên Ngọc dịch, NXB Hội Nhà văn, 1996, xuất bản trong khuôn khổ quỹ tài trợ của Đại sứ quán Pháp. Nguyên gốc quyển này là Chien blanc (1970), đã có phim.

Tra trên trang web Thư viện Quốc gia Việt Nam theo tên Gary không ra kết quả nào, theo tên sách thì ra được Chó trắng nhưng không thấy ra Bao người chờ đợi. Kỳ quặc thật.

Cảm ơn hai bạn vì đã cho tôi sách, và nhất là vì đã giữ sách rất cẩn thận.

May 22, 2009

Out of Paris

Thật tuyệt vời và cũng thật rất không tuyệt vời khi đọc đi đọc lại một cuốn sách như A Moveable Feast.

Nó là một cuộc tính sổ, nhưng cũng là cuốn sách rất tình cảm cho Paris. Căn nguyên nhan đề nằm ở một bức thư Hemingway viết cho một người bạn vào năm 1950: "If you are lucky enough to have lived in Paris as a young man, then wherever you go for the rest of your life, it stays with you, for Paris is a moveable feast."

Khi đã từng ở Paris thời trai trẻ thì sau này dù có đi đâu Paris vẫn mãi đi cùng, bởi vì "Paris is a moveable feast". Đến chương cuối, cả nhà Hemingway rời khỏi Paris, khi đó Mr. Bumby ông con trai hay chơi trong giường cũi với con mèo F. Puss sẽ không thể giữ được sức khỏe tốt nếu tiếp tục ở lại. Một câu đầy cay đắng của Hemingway nói rằng "our Paris was too cold for him". Cay đắng, bởi vì với Hemingway rời Paris tức là rời khỏi nơi có thể ngồi viết văn hàng giờ, gỡ bỏ đi tất cả những gì người khác thường giữ lại trong truyện, tại Closerie des Lilas ngay đoạn quảng trường Observatoire. Quán Rotonde ở đại lộ Raspail là nơi để khoe mẽ, nhưng Closerie des Lilas thì khác, tại đó có anh phục vụ bàn Jean sẵn sàng rót đầy tràn ly whisky cho Hemingway và người bạn Evan Shipman. Chương cuối sách được đặt cái tên đầy nostalgia: "There Is Never Any End to Paris".

May 21, 2009

Short

+ Dạo này tôi đổ đốn, toàn động vào những thứ ngắn tũn, thường là truyện ngắn nhưng không chỉ vậy, còn cả các thể loại ngắn nữa, như là tiểu thuyết ngắn (với tôi là chưa tới 200 trang) và rất nhiều thứ ngắn nữa (hint: đọc câu cuối entry này hehe).

+ A Moveable Feast làm người ta hiểu được có thể nói xấu người khác hay đến đâu, và khi nói xấu đạt đến trình độ nào đó thì nó là nghệ thuật, mặc dù Gertrude Stein hay Scott Fitzgerald hay Ernest Walsh hay rất nhiều người khác chắc chắn sẽ không đồng ý như vậy. A Moveable Feast không giống một cuốn hồi ký bằng một vụ tính sổ cá nhân cuối đời Hemingway. Các nhận xét về văn học của "Hem" có một sự cực đoan hiếm có, băn khoăn tại sao một người viết dở như Dostoyevsky lại vẫn viết ra được những thứ đáng tin đến vậy, ca ngợi Turgenev và thích thú những quyển đầu tiên của Georges Simenon khi ấy vừa xuất hiện, nhưng có thể dành những câu rất độc địa cho vô số người, như là Sherwood Anderson chẳng hạn.

Quyển sách này chia thành nhiều chương ngắn, có chương cực ngắn, chỉ mấy trang. Theo nhiều người thì bà vợ cuối của Hemingway đã chế biến lại khá nhiều trình tự, thậm chí cắt bỏ đi kha khá đoạn, nhất là những đoạn liên quan tới người vợ đầu Hadley của Hemingway (sách xuất bản posthumously). Chương dài nhất viết về Scott Fitzgerald, cũng chính là nơi Hemingway tung hàng loạt chiến thuật chiến lược và thể hiện tài năng không thể lặp lại về miêu tả người khác dưới một cái nhìn ác ý. Hemingway ghét nhiều người (ghét gần như tất cả), nhưng hiếm khi nào ghét ai đến như ghét Fitzgerald, như một điều ám ảnh. Miêu tả lần đầu gặp Fitzgerald (tại quán Dingo) Hemingway đã ngay lập tức gài vào chi tiết Fitzgerald đi cùng một cầu thủ bóng chày (pitcher) và nói rằng mình thích cầu thủ hơn Fitzgerald.

Điều cay đắng là tôi lại thích Fitzgerald hơn Hemingway (lol) nên rất khó mà thưởng thức trọn vẹn được tài nghệ của Hemingway.

+ Đợt này: tập truyện ngắn Xoa tay và cười của Ngô Phan Lưu. Các bác có thể xem trên blog của NPL. Vào mục "Góc nhìn văn học" là đọc được lời giới thiệu cuốn sách của Nguyễn Chí Hoan (nhưng đừng đọc bài ngay dưới đó nhé :) Thời gian vừa qua: Xoa tay và cười, Du hành cùng Herodotus, Vu khống, Chinatown (return); thời gian sắp tới: quyển sách của Lévai Ballazs (cái tên sau đánh dấu vào chữ nào ấy nhỉ hehe), tandem cùng bác Hoàng Linh, một vụ hợp tác thật là mỹ miều :), rồi Nam tước trên cây của Calvino và... bạn Huong Chicago ơi, A Moveable Feast :))

+ Có liên quan: như một món quà cho các bạn mê phim ảnh, nhưng món quà này thuộc loại rất dễ gây thất vọng.

+ Những mối tình nực cười của Kundera: lần đầu tiên một tập truyện ngắn.

+ Truyện ngắn hay nhất đọc được đợt vừa qua: "Đêm lãng quên" của Nguyễn Đình Toàn in trên số Văn Nghệ đặc biệt 30/4 các nhà văn miền Nam trước 1975, một miêu tả tâm trạng người già xứng đáng với Tanizaki.

+ Tôi mặc quần soóc thấy nhiều người khen là đẹp mỹ miều :)))

May 7, 2009

Hạnh phúc ngắn ngủi của Francis Macomber

Trên tờ The Guardian hay có list sách hay do một nhà văn hay ai đó tự lập ra. Có rất nhiều, cũng tương tự như "Le Questionnaire de Marcel Proust" (vụ questionnaire này cũng rất vòng vèo, đại khái là khi còn nhỏ Proust đọc thấy cái test tiếng Anh và nhiều lần trả lời, rồi thay đổi một chút các câu hỏi; bản thảo này gần đây được bán đấu giá lên tới trên 100.000 euro: xem thêm ở đây). Lần này danh sách của Malcolm Pryce chọn 10 "expatriate tale" hay nhất rất thú vị. Tôi cũng chẳng biết Pryce là ai, danh sách của Pryce tôi cũng chỉ biết vài quyển: The Quiet American của Greene (ai mà không biết), The Alexandria Quartet của Lawrence Durrell (với tôi Durrell là tương ứng bên tiếng Anh của Albert Cohen bên tiếng Pháp), The Gentleman in the Parlour của Somerset Maugham, Speak, Memory của Nabokov (mà trên blog cũ tôi cũng từng nói đến), Under the Volcano của Malcolm Lowry (cũng là một duyên nợ: do một lần quá chán nản chẳng có gì làm trong một thư viện rộng mênh mông nên tôi đã lỡ tay rút trúng quyển này và đọc say sưa), và A Moveable Feast của Hemingway. (Nhìn chung hiểu biết của tôi về văn học Anh-Mỹ là rất hạn chế).

Cách Pryce viết về cuốn hồi ký của Hemingway cứ là lạ, đọc mấy lần mới hiểu đại khái:

"Hemingway in Paris in the 20s. Starving, living in a garret with his wife, but somehow able to write in the morning and go to the races every afternoon. It all seems so achingly romantic that it comes as a shock in later years to find out it was mostly bollocks - he wasn't really starving but had loads of money. Ah well. The bits about sharing the place with Ezra Pound, F. Scott Fitzgerald, Ford Maddox Ford, John Dos Passos, James Joyce and Gertrude Stein are true. As is the sage advice he gave, that when writing one should always leave a bit over for the next day; stop before one has finished what one was..."

A Moveable Feast (nhan đề siêu khó dịch, bên Pháp chơi ngay trò lẩn tránh, chuồn lẹ, dokhnian way :) bằng cách phiên đi thành Paris est une fête, Paris là một bữa tiệc) rất mỏng, nhưng kể rất nhiều chuyện, đặc biệt hấp dẫn là chuyện về Gertrude Stein hồi đó sống ở phố Fleurus (Stein cũng xuất hiện trong phim Modigliani, như một con ngoáo ộp).

Hồi này Hemingway sống ở khu quận năm, quanh quẩn phố Mouffetard (La Mouffe), quảng trường Constrecarpe, gần phố Cardinal Lemoine và hay đi ngược sang bên quận sáu đến "A Good Café on the Place de St-Michel" - Một quán rất được trên quảng trường St-Michel :) và bắt đầu tự xây dựng kỹ thuật viết văn như sau này chúng ta (một số) sẽ thấy.

Thôi bận rồi để lúc khác viết tiếp hehe (ở Việt Nam truyện "The Short Happy Life of Francis Macomber" trong tập The Snows of Kilimanjaro được dịch thành "Hạnh phúc ngắn ngủi của Mắc Com-bơ").

+ Tức quá, có bài báo "Hemingway's Gender Trouble" của Gerald Kennedy này muốn vơ quá mà nó đòi trả tiền; bác nào có sẵn hay đang có pass lấy hộ được không ạ? Tks tks :)