Jul 3, 2012

Lạnh lùng tự lực mà đoạn tuyệt

Tháng Bảy là "tháng Nhất Linh": ông sinh ngày 25, mất ngày 7 cùng tháng (năm 1906 và năm 1963), sinh thì ở Cẩm Giàng, Hải Dương, mất thì ở Sài Gòn.

Cùng năm 1963, trong vòng sáu tháng, ở Sài Gòn có ba cái chết gây rúng động: Thích Quảng Đức, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam và Ngô Đình Diệm; bức thư tuyệt mệnh của Nhất Linh (có câu đầu rất nổi tiếng, "Đời tôi để lịch sử xử") nhắc tới Thích Quảng Đức.

Thái độ khi viết lời tuyệt mệnh của nho sĩ và trí thức Việt Nam dường như luôn luôn mang hai ý chính: tổng kết đời mình và hướng tới tương lai. Phan Đình Phùng: "Vũ lược y nhiên vị tấu công", Phan Thanh Giản: "trả ơn vua, đền nợ nước", Trương Vĩnh Ký: "Cuốn sổ bình sinh công với tội".

Tôi nghĩ ở những con người này, sự tuyệt vọng thể hiện ở chỗ họ sẵn sàng lờ đi một điều rằng lịch sử hoàn toàn có thể không công bằng, tương lai và mai hậu hoàn toàn có thể cũng giẻ rách không kém quá khứ và hiện tại. Lịch sử, người ta hay nói, là chốn "thanh hoa", nơi kho tàng nhân loại vân vân và vân vân, nhưng dường như lịch sử giống một cái bể phốt hơn, lâu lâu có vấn đề lại xì ra những hơi khó ngửi.

Còn đây là bài thơ của Vũ Hoàng Chương tưởng niệm Nhất Linh:

Hạc vàng bay đi...
Lầu hoang sầu vây quanh
Đường ngôi hoang khói sáng bơ phờ
Bướm trắng bay đi...
Bầy lan run rẩy mộng,
Gai rừng khuya xé rách cánh bơ vơ
Một con người mê đời như ai kia!
Tài hoa như ai xưa!
Nức tiếng văn hay một thời
Uổng cho Sông Sen chưa từng hé nhụy!
Sông Dương chưa hề buông tơ!
Chỉ u uất một giòng Thanh Thủy
Nối vầng mây con lạc điệu hai bờ
Người ôi! Người ôi!
Chí sĩ đền xong nợ nước
Văn hào đã thỏa ước mơ
Hai bóng đi vào lối Sử
Riêng người một chuyến ra đi tìm thơ
Phải chăng bến quạnh sao mờ?
Lan xuông Bướm trắng, lầu trơ hạc vàng?

Sau tháng Sáu của Vũ Hoàng Chương là đến tháng Bảy của Nhất Linh.


4 comments: