Jul 17, 2014

Cioran: Giã biệt triết học

Tôi ngoảnh lưng lại triết học khi thấy mình không còn tìm nổi ở Kant chút yếu đuối con người, chút dấu ấn thực nào của nỗi buồn; ở Kant cũng như ở mọi triết gia khác. Về âm nhạc, về sự thần bí và về thơ ca, hoạt động triết học biểu lộ hào hứng sụt giảm và chiều sâu đáng ngờ, duy chỉ còn hào quang đối với những kẻ nhút nhát và những kẻ nhạt nhẽo. Vả lại, triết học - nỗi lo âu vô nhân xưng, chốn trú ngụ cận kề những tư tưởng thiếu máu - là món cậy nhờ của tất cả những kẻ đào thoát sự sum suê bại hoại của cuộc đời. Gần như mọi triết gia rốt cuộc đều ổn thỏa: đây chính là lập luận tối cao chống lại triết học. Bản thân kết cục của đời Socrate chẳng có gì là bi kịch: đây chỉ là một nhầm lẫn, cái kết của một nhà giảng dạy - và Nietzsche chìm khẳm là ở trong tư cách nhà thơ và nhà thấu thị: ông chuộc tội cho những phấn hứng của mình, chứ không phải cho các suy luận.

Ta đâu có thể dùng những lời giải thích mà vuột ra khỏi hiện hữu, ta chỉ có thể chịu đựng nó, yêu nó hoặc ghét nó, kính ngưỡng nó hoặc e sợ nó, trong sự qua lại của hạnh phúc và kinh hoàng, cái qua lại biểu hiện bản thân nhịp điệu của tồn tại, những dao động của nó, những âm chỏi của nó, những sôi trào cay đắng hay nhẹ nhõm của nó.

Ai mà chẳng, vì kinh ngạc hay vì tất yếu, bị phơi bày ra cho một sự tán loạn không thể chối từ, khi ấy thì ai mà chẳng giơ hai tay lên mà cầu nguyện để rồi sau đó để chúng rơi xuống, còn trống trơn hơn cả những câu trả lời của triết học? Dường như sứ mệnh của nó là bảo vệ chúng ta chừng nào bất trắc của số phận còn để chúng ta dịch chuyển ở bên này biên giới của hoảng loạn, để rồi bỏ mặc chúng ta ngay khi chúng ta bị buộc phải đắm chìm vào đó. Mà sao có thể khác được, khi mà chúng ta thấy được có ít đến chừng nào khổ đau nhân loại được chuyển dịch vào trong triết học của nó. Thực hành triết học không hề phong phú; nó chỉ đáng kính. Dù chẳng biết thì lúc nào ta cũng là triết gia cả: một cái nghề không số phận phủ những suy tư dày cộm lên những giờ khắc trung tính và trống rỗng, những giờ khắc trơ ì, với Cựu Ước, với Bach, với Shakespeare. Và những suy tư ấy liệu có thể nào được hiện thực hóa trong một trang duy nhất tương đương với một lời cảm thán của Job, với một nỗi kinh hoàng của Macbeth hay với tâm tư của một bản cantate? Ta không tranh luận về vũ trụ, mà ta diễn tả nó. Và triết học không diễn tả nó. Những vấn đề thực chỉ phát xuất kể từ sau khi đã đi qua nó hoặc kết thúc nó, sau chương cuối một quyển sách thật dày đặt dấu chấm hết như là dấu hiệu của sự thoái vị trước Cái Không Biết, nơi mọi khoảnh khắc của chúng ta ăn rễ vào, và chúng ta phải chiến đấu với nó bởi vì theo lẽ tự nhiên thì nó tức thì hơn, quan trọng hơn miếng bánh hằng ngày. Ở đây triết gia rời bỏ chúng ta; là kẻ thù của thảm họa, ông ta duy lý như là lý luận và cũng thận trọng y như thế. Và chúng ta vẫn tiếp tục đồng hành cùng một kẻ mắc dịch cổ xưa, một thi sĩ đầy hiểu biết về những điên loạn và một nhạc sĩ bị cái trác tuyệt siêu vượt khối cầu trái tim. Chúng ta chỉ khởi sự sống thực sự khi đi đến hết triết học, trên tàn tích của nó, khi chúng ta đã hiểu ra được sự vớ vẩn khủng khiếp của nó, rằng viện nhờ đến nó chỉ là chuyện vô ích, rằng nó chẳng hề là gì để có thể tin cậy.

(Các hệ thống lớn xét cho cùng đều chỉ là những trùng ngôn xuất chúng. Có gì lợi chứ khi biết rằng bản tính của tồn tại là “ý chí sống”, là “tư tưởng”, hoặc huyễn tưởng về Chúa hay Hóa Học? Chỉ đơn thuần là trò tuôn từ ngữ vô độ, những dịch chuyển nghĩa tinh tế mà thôi. Những gì ghê tởm với vòng tay siết của ngôn từ và kinh nghiệm nội tâm chẳng hề hé lộ điều gì trong đó cho chúng ta nếu là bên ngoài khoảnh khắc được ưu tiên và không thể diễn tả. Vả lại, bản thân tồn tại cũng chỉ là một trò vờ của Cái Không.

Ta chỉ có thể định nghĩa thông qua nỗi tuyệt vọng. Cần phải tạo ra một cách nói; thậm chí là rất nhiều cách nói, dù chỉ để có một biện minh cho tâm trí và có một mặt tiền cho hư vô.

Cả khái niệm lẫn sự ngây ngất đều không có giá trị thao tác. Khi âm nhạc nhấn chìm chúng ta tới tận “nội tâm” của tồn tại, chúng ta liền nhanh chóng trồi lên trên bề mặt: các hiệu ứng của ảo tưởng tan biến và hóa ra hiểu biết là vô nghĩa.

Những thứ chúng ta chạm vào và những gì chúng ta hình dung ra cũng bất khả ngang với các cảm giác và lý tính của chúng ta; chúng ta chỉ chắc chắn được ở bên trong thế giới ngôn từ của mình, cái thế giới tha hồ mà điều chỉnh - và không thể nói ra. Tồn tại câm lặng còn tinh thần thì lắm lời. Cái đó gọi là hiểu biết.

Tính độc đáo của các triết ra rút lại chỉ còn nằm ở chỗ tạo ra những từ ngữ. Cứ như thể chỉ có ba hay bốn thái độ trước thế giới - và cũng chừng ấy cách chết - những sắc thái đa dạng hóa cho chúng và nhân chúng lên nhiều lần chỉ tùy thuộc vào lựa chọn từ, chẳng còn mang vác chút tầm vóc siêu hình nào.

Chúng ta bị ngập ngụa trong một thế giới trùng lặp thừa thãi, ở đó những tra vấn và lời đáp đều tương đương với nhau.)


(bản dịch nháp)

7 comments:

  1. khi nào có bản tinh dịch?

    ReplyDelete
    Replies
    1. thì cũng phải đợi lúc nào có cái cửa gì gì nó mở ra thì mới được chứ :p

      Delete
  2. Xin lỗi hỏi bác NL cái : "trùng ngôn" ( trong câu :Các hệ thống lớn xét cho cùng đều chỉ là những trùng ngôn xuất chúng.) nghĩa là gì nhỉ?

    Hỏi thực lòng. Tôi là loại đọc sách khá nhiều nhưng chưa từng gặp từ Việt như vậy.

    Đoán định theo nghĩa Hán -Việt của từ "trùng" thì thấy khả dĩ hợp lý nhất có thể thể là "trùng trùng" (rất nhiều) hoặc "trùng lặp" (nói đi nói lại kiểu Gơ-ben), nhưng dù sao nghe chữ trùng ngôn thấy không thuận tai.

    Cảm giác khi nghe từ trùng ngôn là " sâu ngôn" hay "côn trùng ngôn" !

    Xin cảm ơn trước.

    ReplyDelete
  3. nói rộng hơn, "trùng ngôn" hay "trùng ngữ" là từ tiếng Việt để dịch mấy khái niệm trong ngôn ngữ học, tautology và pleonasm

    ReplyDelete
    Replies
    1. Cảm ơn bác NL đã giải đáp.

      AnonymousJul 19, 2014, 5:52:00 PM

      Delete
  4. Ít ra thì bác Cioran cũng vẫn so "triết học" với "Cựu ước, Bach, Macbeth"
    Và trên đống đổ nát nào mà chẳng có vấn đề xuất phát, cứ gì sau mấy trăm trang hoang mạc của "suy tư" hề hề

    ReplyDelete