Showing posts with label pham-cao-cung. Show all posts
Showing posts with label pham-cao-cung. Show all posts

Oct 25, 2012

Một kiểu khác, một dạng khác

(bài thứ năm trong loạt, bài thứ ba là bài này, viết như một phản ứng lại hiện tượng bỗng đâu xuất hiện một lúc lắm chuyên gia về Nabokov thế; giờ thì hiểu ra thêm: không phải bỗng dưng Nabokov xuất hiện, vì ngoài Nabokov thời Thanh Tâm Tuyền, thời này cần phải đọc Nabokov mới mong hiểu được một số nhà văn, ví dụ Nguyễn Huy Thiệp (đặt cục gạch :p))




Họ quá nghịch ngợm và ngỗ nghịch, họ viết quá nhiều và luôn luôn tạo cảm giác thật dễ dàng, thậm chí dễ dãi trong viết văn, họ lại lặn ngụp quá sâu và theo một lối quá sức tự nhiên vào cuộc đời; những điều ấy dường như đi ngược lại quan niệm thông thường vẫn coi nhà văn là những con người hoặc sống trên tháp ngà hoặc vô cùng chắt bóp, dè sẻn thiên tài sẵn có, người đời lại hay đồng lòng miêu tả những con người đó như những kẻ nhiều mộng tưởng, lắm sầu muộn, đau đớn cho cõi người, nếu không thì ít ra cũng phải hết sức tập trung vào bản thân mình, vân vân và vân vân.

Nhưng các nhà văn “thuộc một kiểu khác, một dạng khác” vẫn tồn tại, thường là một cách phong lưu vượt xa các hạng nhà văn khác, và giờ đây nhìn lại lịch sử văn học Việt Nam, với sự tái xuất hiện của một số tác giả kiểu ấy (trong những năm vừa rồi là Lê Văn Trương, Lan Khai, Ngọc Giao, Phạm Cao Củng, Sơn Vương…), đã hiện ra chân dung một số nhân vật vừa lạ lùng vừa “bình dân”, lạ lùng cả trong sự bình dân của họ, như một sự tồn tại lẽ ra phải dễ hiểu nhưng lại tương đối khó chấp nhận trong một môi trường tương đối nhiều ý tưởng chung lệch theo hướng khác và được chấp nhận rộng rãi.

Mấy nhà văn tương đối cùng thế hệ: Lê Văn Trương, Phạm Cao Củng và Ngọc Giao là những người như vậy. Về sự ngỗ nghịch của mình, bản thân Ngọc Giao từng viết trong một bản tự miêu tả: “một thằng như tôi, ham chơi, nghịch ngợm, hiếu để tâm, lễ độ tùy lúc, lại hay làm đỏm, hay vòi tiền đi xem chiếu bóng” (Đốt lò hương cũ, Phương Nam & NXB Văn học, 2012, tr. 31). Phạm Cao Củng thì khi còn rất trẻ ký tên “Phạm Thị Cả Mốc” trêu chọc Tú Mỡ lừng danh của báo Phong Hóa và Lê Văn Trương thì lưu lạc bất tận trước khi “vào làng văn, báo”.

Cả Lê Văn Trương lẫn Phạm Cao Củng đều thích “giỡn chơi” với cả cuộc đời lẫn văn chương đến nỗi từng sai “đồ đệ” và “đàn em” cùng tham gia công cuộc sáng tạo với mình, nói nôm na là thay vì tự viết sách thì họ “nhờ” người khác viết giùm cho những đoạn mà họ đánh giá là dễ viết, để có đủ số trang sách, kịp giao cho báo chí hay nhà xuất bản. Đã có thời Lê Văn Trương bị các nhà xuất bản từ chối bản thảo, phải nhờ đến Ngọc Giao do nhìn thấy tên bạn mà tuy biết trong đó có khối thứ viết cho xong, thậm chí còn là người khác viết nhưng vẫn ký duyệt để đưa Tân Dân Vũ Đình Long in. Sau này vào Sài Gòn rồi, Lê Văn Trương cũng bị tẩy chay, có lẽ một phần cũng bắt nguồn từ chuyện này. Nhưng từ một khía cạnh nhìn nhận khác, cũng nhờ có cách suy nghĩ đơn giản với văn chương như vậy mà Phạm Cao Củng lại giúp được báo chí và sách vở bán chạy, còn Lê Văn Trương suốt một thời gian dài có tiền “tụ họp Lương Sơn Bạc văn chương” tại nhà mình.

Điều thể hiện rõ nhất ở những nhà văn kiểu “giỡn chơi” như Lê Văn Trương và Phạm Cao Củng là họ rất hiểu độc giả muốn đọc gì. Họ thực sự hiểu, đến mức có thể bán được sách thông qua “hệ thống hàng xén”, điều mà chắc không một nhà văn nào thuộc “một kiểu khác, một dạng khác” với họ có thể làm được. Sự “hiểu cuộc đời” này, chẳng hạn ở Phạm Cao Củng, hoàn toàn khác xa và vượt trội hơn hẳn so với những cuộc đi thực tế, một cách thực hành sáng tác văn học rất thịnh hành sau này mà vô số nhà văn đã trải qua nhưng hầu như không để lại được nổi tác phẩm sáng giá nào thực sự bám vào cuộc đời.

Đọc những gì Ngọc Giao viết về Hà Nội, có thể dễ dàng thấy ông biết từng ngóc ngách của cuộc sống, quan tâm đến cả sân khấu, võ thuật, in ấn, cùng trăm nghìn thứ rất hay bị coi là vớ vẩn trong mắt không ít người. Phạm Cao Củng thì “như không” mà lập đoàn kịch diễn ở quê, tham gia hoạt động phản gián, tình báo, mở nhà in… Lê Văn Trương thì nổi tiếng là một cao thủ “gồng trà kha”. Đây là những con người biết cách xoay xở hoạt náo trong cả cuộc đời lẫn văn chương. Và những tác phẩm của họ, giờ đây để lại, rất nhiều đã được thời gian minh chứng giá trị, như loạt truyện trinh thám Kỳ Phát của Phạm Cao Củng, những tiểu thuyết Trường đời, Lòng mẹ, Người anh cả của Lê Văn Trương, những Đất, Cầu sương, Cô gái làng Sơn Hạ của Ngọc Giao.

Bản thân Ngọc Giao cũng có ý thức rõ rệt về “kiểu” của mình, trong Đốt lò hương cũ, ông nói đến “cái kiểu người Hà Nội”, mà ông mô tả: “Tôi tự cho mình có cái thói quen lẩm cẩm là cứ thích ra đường dưới những cơn mưa, cơn gió” (tr. 72). Những hứng mưa, hứng gió cuộc đời ấy phản ánh thái độ sống của những con người như vậy.

Họ không được nói đến nhiều, nhưng sự đồng thanh tương khí giữa họ hé lộ một cái tình rất đáng nói đến. Đây là Ngọc Giao viết về Lê Văn Trương: “Số lượng tác phẩm khổng lồ của Lê Văn Trương, trước khi in, tôi đều đọc bản thảo, thật tình, chưa hề bắt gặp một truyện nào thiếu đạo đức, vắng cái hào khí của con người đất Việt”. Điều này rất khác với nhiều đánh giá ta vẫn thấy không ít ở trong chuyên ngành văn học sử Việt Nam sau này. Mặc kệ người ta có thể nghĩ gì, những người thuộc “cùng một lứa bên trời lận đận” đó hiểu nhau và thực tình yêu quý nhau.

Vì nhiều lý do, suốt một thời những con người như thế này phải gánh chịu rất nhiều nghi kỵ. Những liên lụy do bút mực, những tai hại của đời văn chương chữ nghĩa, những hậu quả của “trường văn trận bút” nơi “tối hạ thị văn chương” thì được nhắc tới nhiều, nhưng là chủ yếu trên bình diện một số “án văn tự” được lựa chọn, những lừng danh kiểu “Nhân Văn-Giai Phẩm” hay “xét lại”, nhưng vẫn còn đó nhiều “vụ án” thuộc kiểu khác, thuộc dạng khác. Ngọc Giao từng “dính” những sự việc nhìn lại thì nhỏ bé nhưng phương hại không nhỏ đến cuộc đời ông, như vụ việc “Nam Cao trộm gà”. Cũng một thời, Lê Văn Trương gần như bị giới nghiên cứu, phê bình lờ đi, thảng hoặc có nhắc đến trong một chuyên luận về một đề tài rộng thì người ta cũng hay gài vào vài lời cảnh báo đến thứ văn chương nguy hại và mỉa mai “triết lý sức mạnh” (nhan đề một cuốn sách của Lê Văn Trương in ở nhà Hương Sơn vào năm 1941) của ông. Phạm Cao Củng thì mắc “tai nạn” theo một kiểu khác: đơn giản là ông gần như hoàn toàn bị lờ đi trong suốt một thời gian dài.

Nhưng mọi thứ qua đi rồi, ít nhất những con người ấy, bằng cách thức khiêm tốn của mình (họ có những hành động rất bất thường nhưng càng đọc càng thấy họ khiêm tốn, chừng mực), cho ta thấy rằng văn chương rộng lớn đến mức bao chứa được rất nhiều “kiểu khác” và “dạng khác” như vậy. Tuy thế, có cảm giác văn chương Việt Nam bề ngoài có vẻ mở rộng ra nhưng thực chất lại thu hẹp lại không ít, và thời nào qua là đã qua hẳn, đúng như một ngậm ngùi của Ngọc Giao: “nhưng thời ấy qua rồi” (Đốt lò hương cũ, tr. 148).

Sep 22, 2012

Phong hóa của ngày nay

Chính xác hôm nay là kỷ niệm (chính thức) 80 năm báo Phong hóa (không phải ngày ra số 1, cũng không phải số cuối cùng, nhưng vẫn là ngày kỷ niệm chính thức). Tờ báo thú vị nhất trong lịch sử báo chí Việt Nam, theo tôi. Sau đó nó sẽ được tờ Ngày nay tiếp sức, trong một quãng thời gian.

Tôi thích hình dung nhóm người tuổi trẻ cái năm ấy hợp lại với nhau để khởi đầu một dự án điên rồ, vì mọi thứ gì đẹp đều có bước khởi động rất điên rồ. Tôi cũng thích ý nghĩ về một thanh niên sau khi thử lái cuộc đời mình đi theo nhiều hướng mà vẫn không biết nên làm gì, phải làm gì, chắc từng có nhiều bốc đồng và lạc lõng lắm, năm 26 tuổi rốt cuộc cũng đã quyết định con đường sự nghiệp của mình (năm ấy là năm 1932, Nhất Linh 26 tuổi).

Dự án Phong hóa (đủ 190 số, trong đó từ số 1 đến số 13 do Phạm Hữu Ninh và Nguyễn Xuân Mai làm, từ số 14 ra ngày 22/9/1932 bắt đầu do nhóm Nhất Linh làm) và Ngày nay (đủ 224 số) được thực hiện bởi nhóm Phạm Thảo Nguyên và Martina Nguyễn Thục Nhi. Sưu tầm Phong hóa không dễ vì báo có khổ rất khó bảo quản, hay bị gập lại nên dễ giòn, số hóa tạp chí thì dễ hơn số hóa báo nhiều. Trước đây Viễn Đông bác cổ đã có dự định làm bộ này nhưng chưa thực hiện được.

Viễn Đông bác cổ là nơi đã số hóa Tri tân, Thanh nghị, Văn Sử Địa, tạp chí của trường Sư Phạm. Nam phong thì do Viện Việt học làm.

Nếu sau đây có tờ nào nên được làm ngay, thì tôi nghĩ là Phụ nữ tân văn, rồi Bách khoa.

Những ai quan tâm đến lịch sử báo chí Việt Nam thì hẳn đã có bộ Phong hóaNgày nay trước khi chúng được chính thức công bố (cho tải về miễn phí) từ ngày 22 tháng Chín vừa qua.

Hóa ra những số cuối của Phong hóa đăng cả truyện trinh thám của Thế Lữ (Lê Phong) và truyện trinh thám của Phạm Cao Củng (Kỳ Phát).

Phong hóa có lối chế giễu rất sâu cay, và có một số đối tượng lâu dài, chẳng hạn như Bùi Xuân Học và nhiều người khác. Nhưng đọc Phong hóa lần này (trước đây tôi chỉ tìm được vài số lẻ tẻ) tôi thích đọc nhất những quảng cáo đăng trên báo. Vài ví dụ:

"Đến kỳ sinh nở. Mãn nguyệt khai hoa

Các bà khi sinh nở dùng Rượu-Chồi Hoa-kỳ soa nhất quý.

- đỡ phải nằm than -
- không lo tê thấp -
- gân cốt khỏe mạnh -
- đi lại được ngay -

Buôn lãi nhiều, bán rất chạy. Nhiều tỉnh có Đại-lý rồi."

"CÁC BẠN SƠI CƠM ĐEN NÊN BIẾT

Nếu bạn muốn chữa thuốc phiện thì không có thứ thuốc nào hay bằng THUỐC CAI HỒNG-KHÊ. Bạn hút ít chỉ hết 2$00 là bỏ hẳn được (Thuốc nước mỗi chai 1$00, thuốc viên mỗi hộp 0$50). Trong khi uống thuốc cai vẫn đi làm việc như thường, sau khi bỏ hút lại khỏe mạnh hơn, không sinh ra chứng gì khác cả. Nếu bạn nghèo không có tiền mua thì bạn cứ thân-hành lại nhà thuốc HỒNG-KHÊ (số nhà 88 phố Huế, ngay trước cửa chợ Hôm Hanoi) sẽ có thuốc cho bạn cai được hẳn mà không tính tiền (buổi chiều từ 7 giờ đến 9 giờ). Bạn đừng ngại, chủ-nhân sẽ tiếp bạn rất vui vẻ và kín đáo. Nếu bạn cho người lại lấy thì không được, vì sợ có kẻ lợi dụng xin thuốc về bán. Khi đến lấy thuốc bạn nên nhớ hỏi lấy quyển sách thuốc, đem về xem, có đủ các thứ thuốc gia-dụng chữa đủ các bệnh người lớn trẻ con. Lỡ khi trái nắng trở giời phải dùng đến, hoặc mách bảo cho những người có bệnh. Ai có tiền thì mua, nghèo túng đến xin cũng được.

HỒNG-KHÊ CÓ MÔN THUỐC LẬU HAY NHẤT HOÀN-CẦU"

(vị trí hiệu thuốc Hồng Khê gợi nhớ đến ngôi nhà cũ gần đây vẫn thấy, ghi bên ngoài là nhà Lý Sáng, ở đó có nhà của ông Phạm Văn Phúc, không rõ là có đúng không)

-----------

Còn đây là một "Tuổi thơ", NXB Sáng Tạo, logo con gà :p


Sep 2, 2012

10 sách tháng Chín


1. Trò chuyện triết học, Bùi Văn Nam Sơn, Thời Đại, Sài Gòn Tiếp Thị & NXB Tri thức, 447 tr., 108.000 đ.
2. Quán rượu phố Huế, Hồng Phi, Phương Nam & NXB Hội Nhà văn, 231 tr., 59.000 đ.
3. Dĩ vãng phía trước. Tư liệu chuyện đời-chuyện văn một thuở, Ngô Thảo, Phương Nam & NXB Hội Nhà văn, 480 tr., 105.000 đ.
4. Quê hương tôi, Tràng Thiên, Nhã Nam & NXB Thời đại, 350 tr., 70.000 đ.
5. Hồi ký, Phạm Cao Củng, Nhã Nam & NXB Hội Nhà văn, 420 tr., 76.000 đ.
6. Thị trường và đạo đức, Tom G. Palmer (chủ biên), Phạm Nguyên Trường dịch, Đinh Tuấn Minh hiệu đính, NXB Tri Thức, 230 tr., 36.000 đ.
7. Thánh địa tội ác, tiểu thuyết, William Faulkner, Trần Nghi Hoàng dịch, Bách Việt & NXB Văn học, 408 tr., 85.000 đ.
8. Hiệp sĩ không hiện hữu, tiểu thuyết, Italo Calvino, Vũ Ngọc Thăng dịch, Nhã Nam & NXB Văn học, 218 tr., 56.000 đ.
9. Tà dương, tiểu thuyết, Dazai Osamu, Hoàng Long dịch, Phương Nam & NXB Hội Nhà văn, “Tủ sách Tinh hoa văn học”, 189 tr., 55.000 đ.
10. Con cú mù, tiểu thuyết, Sadegh Hedayat, Hà Vũ Trọng dịch, Phương Nam & NXB Hội Nhà văn, “Tủ sách Tinh hoa văn học”, 142 tr., 39.000 đ.

Aug 19, 2012

Hồi ký Phạm Cao Củng

đến bài này là vừa tròn bốn năm, đủ 48 bài, trong bốn năm ấy chưa lần nào bị đổ trang :p

từ số tới bắt đầu đổi format


Phạm Cao Củng: một cuộc đời

Chỉ là một cuộc đời, nhưng một cuộc đời mới đáng nói làm sao. Chỉ riêng việc Phạm Cao Củng năm nay tròn 100 tuổi đã khiến người đọc bị rơi ngay vào một chấn động nhẹ trong cảm thức về thời gian: những đàn anh của ông, như Phùng Bảo Thạch, như Lê Văn Siêu, những bạn bè của ông, như Lê Tràng Kiều, rồi cả những “đàn em” của ông, như Đặng Thế Phong, như Hoàng Quý, tất thảy đều tưởng như xa lắc xa lơ, sống ở một thời đã rất cách quãng với chúng ta; không những thế nhiều người trong số họ đã kịp trở thành mục từ trong từ điển hay đốm sáng trong kho tàng huyền thoại lịch sử. Vậy mà trên bìa sau cuốn “Hồi ký Phạm Cao Củng” (Nhã Nam & NXB Hội Nhà văn) ta đọc thấy dòng chữ ông mới viết cách đây chưa lâu: “Florida, ngày 21 tháng 4, 2011. Cám ơn tất cả độc giả đã ái mộ thám tử Kỳ Phát từ nhiều năm qua”.

Tiếp đến là một chấn động nữa (lần này thì hẳn là không nhẹ, đối với những ai quan tâm nhiều đến lịch sử văn hóa và văn học Việt Nam giai đoạn trước 1945): văn chương, chữ nghĩa một thời hóa ra sinh động hơn nhiều so với những khái quát giản đơn về nhà văn An Nam nghèo khó (“khổ như chó”, nếu muốn mượn cách nói của nhà thơ Nguyễn Vỹ), nhà văn Việt Nam tranh đấu hay trí thức Việt Nam hào hùng. Cuốn hồi ký của Phạm Cao Củng cũng giống như một lời xác nhận rằng văn chương bình dân ở Việt Nam bao giờ cũng rất sôi nổi, hồn nhiên mà sôi nổi, nhưng rất ít khi được “văn học sử chính thống” nhìn nhận đến.

Một ví dụ: nhắc tới văn chương trinh thám của thời sơ khai là đương nhiên người ta nhắc tới Thế Lữ với loạt truyện “Lê Phong phóng viên” rất đứng đắn, nhưng không phải ai cũng “hạ cố” nhìn tới loạt truyện thám tử Kỳ Phát của Phạm Cao Củng (gần đây đã được in lại một số trong một bộ tuyển tập gồm năm quyển), trong khi nếu chỉ xét thuần túy trên bề mặt thể loại thôi thì Phạm Cao Củng mới thực tạo ra được một nhân vật thám tử hấp dẫn, đầy cá tính, “đúng chất”, và đặc biệt là rất bình dân, dựa trên khuôn mẫu Arsène Lupin và Sherlock Holmes. Ông là một cột mốc vô cùng đáng nhớ trong cái lịch sử không mấy phong phú của thể loại văn học ấy tại nước ta. Sau này, nếu có một tương đương về nhiều mặt với Phạm Cao Củng, hình như ta chỉ còn có thể nhắc tới Hoàng Hải Thủy nữa mà thôi.

Qua hồi ký này, ta biết Phạm Cao Củng còn là tác giả của vô số tác phẩm khác, trong đó có những lần ông giả giọng viết “kiếm hiệp Tàu” cực kỳ thành công, ăn khách, giúp được rất nhiều cho nhà xuất bản Mai Lĩnh. Phạm Cao Củng khẳng định số lượng tác phẩm của mình không hề kém “người hùng Lê Văn Trương”, người vẫn hay được coi là viết nhiều tác phẩm nhất ở Việt Nam từ xưa đến nay. Như vậy là sau Tô Hoài và hình như cả Nguyễn Công Hoan, lại có thêm một người nữa “đòi” vị trí mà Lê Văn Trương vẫn giữ bấy nay.

Vẫn chưa hết chấn động: tôi tin rằng đọc cuốn hồi ký này của Phạm Cao Củng, rất nhiều người phải ngỡ ngàng trước một đời sống văn chương, báo chí thuở ấy, một không khí nhộn nhịp nhưng thân tình, với những con người say mê đến kỳ cục, viết hết tác phẩm này tới tác phẩm khác với thành tâm to lớn và hào hứng khó tả. Rất khác với ngày nay, khi mà nhà văn Việt Nam mãi mới viết được một cuốn tiểu thuyết rồi dừng luôn, rồi lặc lè mà “tự đóng vai chính mình” trong tư cách nhà văn.

Phạm Cao Củng, con người sinh ra ở thành phố Nam Định một thời phồn hoa đô hội ấy còn khiến tôi thấy kinh ngạc vì ông chính là mẫu người cái gì cũng làm được, một nhà văn đặc biệt nhiều tài lẻ, nhiều ngón chơi, ung dung sống cuộc đời của mình. Đấy là còn chưa nói đến rất nhiều thiên tình sử được Phạm Cao Củng gộp lại trong cả một chương sách, mang cái tên gây hồi hộp như truyện trinh thám Kỳ Phát: “Cuộc đời tình ái”.

Và sau rốt, qua cuốn sách, ta được biết rằng chính nhờ hồi nhỏ đọc sách của Phạm Cao Củng mà sau này dịch giả Phạm Tú Châu, người cháu gái của ông, đã thoải mái mà dịch “Tuyết Sơn Phi Hồ” lừng lẫy của Kim Dung, góp thêm thành quả cho các dòng văn học bên lề nhưng rất bề thế và sống động ở Việt Nam.

Nhị Linh

Mar 23, 2010

Từ Kỳ Phát đến Nguyễn Thành Luân qua Yên Ba :)

Nhan đề gốc bài này của anh Yên Ba rất chi dài: "Văn học trinh thám Việt Nam: Từ thám tử Kỳ Phát đến điệp viên Nguyễn Thành Luân"

--------------

Trinh thám Kỳ Phát!

Sách trinh thám ở Việt Nam không có một lịch sử lâu dài. Lý do là vì chữ quốc ngữ mãi đến những năm đầu tiên của thế kỷ 20 mới dần được truyền bá và hoàn thiện, theo đó văn học chữ quốc ngữ cũng mới được hình thành.

Nếu tạm coi việc ra đời tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách do nhà Nam Kỳ (Hà Nội) xuất bản năm 1925 như là cuốn tiểu thuyết đầu tiên theo đúng nghĩa của nó trong nền văn học chữ quốc ngữ Việt Nam thì văn học trinh thám phải đợi hơn một chục năm sau mới có cuốn tiểu thuyết đầu tiên. Mặc dù tác phẩm Mảnh trăng thu của Bửu Đình, được xuất bản năm 1930, đã mang những yếu tố trinh thám vụ án (có giết người, truy tìm thủ phạm), thế nhưng ngay những người làm sách ấy cũng chỉ đề là “ái tình tiểu thuyết”, kể về truyện tình ái của một lớp thanh niên thời bấy giờ lồng trong khung cảnh của một vụ án...

Có thể coi cuốn tiểu thuyết đầu tiên của văn học trinh thám Việt Nam chính là Vết tay trên trần, dày hơn 100 trang, xuất bản năm 1936, tác giả là Phạm Cao Củng. Đây có lẽ cũng là tác gia trinh thám đầu tiên của Việt Nam, bởi ngoài Vết tay trên trần, Phạm Cao Củng còn viết khoảng 20 tiểu thuyết và truyện ngắn mang màu sắc trinh thám, như Gia tài nhà họ Đặng (1937), Chiếc tất nhuộm bùn (1938), Người một mắt (1940), Kỳ Phát giết người (1941), Nhà sư thọt (1941), Đám cưới Kỳ Phát (1942), Bóng người áo tím (1942), Một cái Tết rùng rợn của Kỳ Phát (1945)... Ngoài ra còn có những tác phẩm pha trộn giữa màu sắc mạo hiểm với trinh thám như Máu đỏ lòng son (1937), Hàm răng mài nhọn (1942), Chiếc gối đẫm máu (1942), Bàn tay sáu ngón (1950), Người chó sói (1950)...

Mặc dù những tác phẩm văn học trinh thám của Phạm Cao Củng, theo nhận xét của nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan, “không phải là những tiểu thuyết tuyệt tác”, thế nhưng không thể phủ nhận một điều rằng chúng chính là những tác phẩm mở đường cho văn học trinh thám Việt Nam.

Có hai lý do để khẳng định điều này.

Thứ nhất vì Phạm Cao Củng viết không chỉ một hai cuốn đơn lẻ mà ông sáng tác một cách có hệ thống các tác phẩm mang màu sắc trinh thám.

Thứ hai vì ông đã sáng tạo ra một nhân vật, thám tử Kỳ Phát, mang hình mẫu những nhân vật thám tử điển hình như trong văn học trinh thám phương Tây.