Mới đây tôi vừa bắt đầu nói đến Tchya, cuốn Ai hát giữa rừng khuya cũng mới in rồi, bây giờ ta nên đi sâu vào Tchya và một tờ báo rất đặc biệt liên quan chặt chẽ đến văn nghiệp của Tchya: Phổ thông bán nguyệt san.
Tôi lại cũng hay tập trung vào Tự Lực văn đoàn, Phong hóa, Ngày nay, nhà xuất bản Đời nay và An Nam xuất bản cục, nhưng tất nhiên giai đoạn giữa thập niên 30 mọi chuyện nhộn nhịp hơn nhiều. Để tìm hiểu, không gì bằng bắt đầu bằng bộ 13 năm tranh luận văn học của Thanh Lãng. Linh mục Thanh Lãng là một nhà nghiên cứu "dân chơi", tôi rất thích, và thật ra ông ấy có công lao vô cùng to lớn, là dân chơi nên nhìn ra những vấn đề ít người để ý đến.
Cuộc tranh đấu dữ dội giữa mấy nhóm đã đi vào dã sử: cách đây mấy năm nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đã công bố tác phẩm Tam động kiếm tiên rất hấp dẫn, các bác nên tìm đọc. Ta có ba đối thủ chính: Tự Lực văn đoàn, Tân Dân và Lê Cường. Lê Cường trông hơi yếu thế hơn nhưng để bù lại, những ấn phẩm huyền thoại bậc nhất của lịch sử văn chương Việt Nam giai đoạn này lại hay nằm ở Lê Cường (Số đỏ 1938 chẳng hạn), tờ Hà Nội báo của bên Lê Cường cũng không đọ được với các tờ của hai nhóm kia, nhưng lại cũng là huyền thoại, chủ yếu nhờ đăng Số đỏ và Giông tố (mục lục tờ Hà Nội báo có thể đọc được ở trang web "Hồ sơ văn học"). Vũ Trọng Phụng có dành cho cả Tự Lực văn đoàn và Tân Dân vài thứ, nhưng đều là những thứ kém nhất :p, chẳng hạn Cạm bẫy người do Đời nay in, còn Dứt tình (có lẽ là tác phẩm tệ nhất của Vũ Trọng Phụng) thì ở chính Phổ thông bán nguyệt san.
Showing posts with label baochi. Show all posts
Showing posts with label baochi. Show all posts
Oct 6, 2015
Jul 7, 2015
Sách tháng Sáu 2015
Tháng này cực nhiều sách, nên ta sẽ phải chia phần ra cho dễ
theo dõi nhé.
I) Chuyên đề của tháng
Apr 28, 2015
Sự suy tàn của Nho giáo
Mấy tờ tạp chí quan trọng nhất thể hiện cho nỗ lực cuối cùng của thế hệ nhà nho cuối cùng.
An Nam tạp chí:
An Nam tạp chí:
Mar 23, 2015
Oct 4, 2014
Đào Trinh Nhất viết báo
Trong Istanbul, Orhan Pamuk dành rất nhiều trang cho các nhà bỉnh bút chuyên về thành phố Istanbul, nhất là Ahmed Rasim. Các nhà bỉnh bút giữ mục (giữ cột - columnist, hay feuilletonniste) cứ ngày ngày, trong hàng chục năm, viết về đủ thứ trên đời, về những thứ họ nhìn thấy, đọc được hay nghĩ ra. Trong cuốn tiểu thuyết mới, Bảo tàng Ngây thơ của Pamuk cũng có một nhân vật bỉnh bút có biệt hiệu "Cẩm Chướng" gì đó. Các bỉnh bút báo chí, cái loài kỳ quặc ở thời điểm tồn tại, nhiều chục năm sau này ta mới thấy được giá trị của họ, khi mà khung cảnh chung mà họ sống ở trong không còn nữa, hình dung lại vô cùng khó nhọc. Nhất là ta đọc ra ý vị trong những câu chuyện họ kể và ngôn từ họ dùng.
Ở Việt Nam trước đây cũng từng có những nhà bỉnh bút như thế, trong đó Đào Trinh Nhất là một. Ngày nay phần lớn sách của Đào Trinh Nhất đã được in lại, nhưng cái ngòi bút gọn ghẽ và sự châm biếm nhẹ nhàng, bỡn cợt ấy phải tìm trong các bài báo. Đào Trinh Nhất sinh đúng vào năm 1900, con trai của Đào Nguyên Phổ nên dễ dàng có mối quan hệ với Đông Kinh Nghĩa Thục và Phan Chu Trinh, sau này có mười năm làm báo huy hoàng ở Nam Kỳ (1929-1939).
Dưới đây là mấy bài báo Đào Trinh Nhất đăng trong mục "Chuyện thị phi" của tờ Đuốc Nhà Nam, tờ báo tồn tại vào cuối thập niên 20 cho đến giữa thập niên 30. Bút danh của Đào Trinh Nhất cho mục này là Nam Chúc ("chúc" là đuốc, "nam" ý nói nước Nam). Đào Trinh Nhất nói đến vụ toàn quyền Pasquier bị rơi máy bay bỏ mạng đầu năm 1934 và gợi lại một lịch sử đi sứ của Việt Nam. Đặc biệt, Đào Trinh Nhất rất ghét Tàu; tác phẩm đầu tiên của Đào Trinh Nhất tên là Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam Kỳ xuất bản rất sớm trong đời Đào Trinh Nhất, vào năm 1924; ông cũng đối chiếu kiểu khinh người của dân Tàu với chính sách bài Do Thái của nước Đức thời Hitler (gọi là Hách-lê). Bài báo thứ ba dùng để chế nhạo tờ Công luận, cụ thể hơn là chĩa mũi dùi vào Diệp Văn Kỳ, một nhà báo nổi tiếng thời ấy.
Phát hiện ra Đào Trinh Nhất từng đọc báo Je suis partout, tờ báo cực hữu với yếu nhân là Lucien Rebatet.
Ở Việt Nam trước đây cũng từng có những nhà bỉnh bút như thế, trong đó Đào Trinh Nhất là một. Ngày nay phần lớn sách của Đào Trinh Nhất đã được in lại, nhưng cái ngòi bút gọn ghẽ và sự châm biếm nhẹ nhàng, bỡn cợt ấy phải tìm trong các bài báo. Đào Trinh Nhất sinh đúng vào năm 1900, con trai của Đào Nguyên Phổ nên dễ dàng có mối quan hệ với Đông Kinh Nghĩa Thục và Phan Chu Trinh, sau này có mười năm làm báo huy hoàng ở Nam Kỳ (1929-1939).
Dưới đây là mấy bài báo Đào Trinh Nhất đăng trong mục "Chuyện thị phi" của tờ Đuốc Nhà Nam, tờ báo tồn tại vào cuối thập niên 20 cho đến giữa thập niên 30. Bút danh của Đào Trinh Nhất cho mục này là Nam Chúc ("chúc" là đuốc, "nam" ý nói nước Nam). Đào Trinh Nhất nói đến vụ toàn quyền Pasquier bị rơi máy bay bỏ mạng đầu năm 1934 và gợi lại một lịch sử đi sứ của Việt Nam. Đặc biệt, Đào Trinh Nhất rất ghét Tàu; tác phẩm đầu tiên của Đào Trinh Nhất tên là Thế lực khách trú và vấn đề di dân vào Nam Kỳ xuất bản rất sớm trong đời Đào Trinh Nhất, vào năm 1924; ông cũng đối chiếu kiểu khinh người của dân Tàu với chính sách bài Do Thái của nước Đức thời Hitler (gọi là Hách-lê). Bài báo thứ ba dùng để chế nhạo tờ Công luận, cụ thể hơn là chĩa mũi dùi vào Diệp Văn Kỳ, một nhà báo nổi tiếng thời ấy.
Phát hiện ra Đào Trinh Nhất từng đọc báo Je suis partout, tờ báo cực hữu với yếu nhân là Lucien Rebatet.
nguồn tư liệu: courtesy of THC
Oct 1, 2014
Phan Khôi và Đào Trinh Nhất: hai “cách tồn tại” trong báo chí văn chương Việt Nam trước 1945
Báo chí Việt Nam
đã lớn mạnh vượt bậc ở giai đoạn sung sức nhất của Phan Khôi và Đào Trinh Nhất
(với Phan Khôi có thể coi là đoạn từ 1928 đến 1933 còn với Đào Trinh Nhất là
lúc ông từ Pháp trở về rồi bắt đầu ở hẳn Sài Gòn cộng tác với nhiều tờ báo,
nghĩa là từ 1929 cho đến mấy năm sau đó - ta có thể thấy họ đạt tới độ chín của
năng lực làm báo vào cùng một khoảng thời gian; điều này có ý nghĩa rất lớn vì
chính ở giai đoạn này Phan Khôi và Đào Trinh Nhất đã cùng nhau giúp tờ Phụ nữ tân văn khiến cho nó nhanh chóng
trở thành tờ báo quan trọng bậc nhất Việt Nam). Nó đóng vai trò rất lớn trong
quá trình đào luyện chữ Quốc ngữ, đấu tranh xã hội, xiển dương, đấu tranh và tạo
môi trường ấn hành cho tiểu thuyết và Thơ Mới. Báo chí thực sự trở thành một
trung tâm thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội, và không đáng ngạc nhiên lắm
khi báo chí dần dà trở thành một thế lực đáng kể[1].
Các nhà báo quan trọng của thời ấy (nếu chỉ tính riêng khu vực Nam Kỳ thì nổi bật
“tứ đại làng báo”: Phan Khôi, Đào Trinh Nhất, Diệp Văn Kỳ và Bùi Thế Mỹ, những
người làm sôi động làng báo Việt Nam với sự điều hành cũng như những bài viết
trên các tờ báo như Đông Pháp, Thần chung, Trung lập, Phụ nữ tân văn);
họ được quan tâm và chờ đón hết sức, đến mức tờ Trung lập từng phải vội vã công khai thanh minh rằng lời đồn Phan
Khôi không còn cộng tác với mình là sai, vì bài viết Phan Khôi rất được độc giả
đón đợi, lời đồn đại ông không còn viết cho Trung
lập nữa rất có thể làm sụt giảm doanh số bán báo[2].
Sep 18, 2014
Tác phẩm đầu tay của Vũ Trọng Phụng
Hơi khó ngờ vì tác phẩm đầu tay của Vũ Trọng Phụng lại là thơ.
Nhưng cũng không hẳn khó ngờ, vì nhà văn vẫn thường khởi đầu bằng (ít nhất là mấy bài) thơ.
Thông tin dựa thêm vào ở đây.
Nhưng cũng không hẳn khó ngờ, vì nhà văn vẫn thường khởi đầu bằng (ít nhất là mấy bài) thơ.
Thông tin dựa thêm vào ở đây.
Oct 15, 2013
Phan Khôi tác phẩm đăng báo
Trong vòng 10 năm, bộ sách này (7 tập) đã cung cấp (trở lại) lượng bài báo khổng lồ của Phan Khôi từ 1928 đến 1935.
Hai tập mới nhất gồm giai đoạn 1933-1934-1935, đây là lúc Phan Khôi rời Sài Gòn ra Bắc, cộng tác với Thực nghiệp dân báo và vài tờ khác, sau đó vào Huế làm Tràng An báo; năm 1936 Phan Khôi sẽ mở tờ Sông Hương, sự kiện vừa có thể coi là đỉnh cao nghiệp làm báo của Phan Khôi lại vừa đánh dấu kết thúc một quãng thời gian vô cùng hiệu quả.
bài liên quan
Hai tập mới nhất gồm giai đoạn 1933-1934-1935, đây là lúc Phan Khôi rời Sài Gòn ra Bắc, cộng tác với Thực nghiệp dân báo và vài tờ khác, sau đó vào Huế làm Tràng An báo; năm 1936 Phan Khôi sẽ mở tờ Sông Hương, sự kiện vừa có thể coi là đỉnh cao nghiệp làm báo của Phan Khôi lại vừa đánh dấu kết thúc một quãng thời gian vô cùng hiệu quả.
bài liên quan
Jul 21, 2013
Trưng bày sách (9) Tạp chí Việt Nam
Bắt đầu từ đây, có mấy người trong giới sưu tầm sách, chuyên ngạch tạp chí đã có một cuộc "hội thảo" về tạp chí xưa nay ở Việt Nam. Đây là một mảng vô cùng khó, vì nó cực kỳ phong phú lại khó lưu trữ.
Nhìn vào các hình ảnh dưới đây có thể mường tượng phần nào lịch sử báo chí Việt Nam (chủ yếu tập trung vào mảng văn học và tư tưởng).
Nếu các bác muốn hỏi gì về từng tờ, tôi sẽ cố gắng giải đáp trong vòng hiểu biết hạn hẹp của mình, nếu không sẽ cố gắng nhờ các bạn khác giải đáp cùng :p Cũng phải nói trước rằng khó có thể biết tường tận được lịch sử báo chí Việt Nam; ngay quyển từ điển báo chí tốt nhất hiện nay cũng sai lầm rất nhiều.
Hình ảnh dưới đây không được sắp xếp theo trình tự logic nào, vì làm thế thì cần rất nhiều thời gian, chắc phải để sau này :p
(hình ảnh dưới đây của rất nhiều người)
Nhìn vào các hình ảnh dưới đây có thể mường tượng phần nào lịch sử báo chí Việt Nam (chủ yếu tập trung vào mảng văn học và tư tưởng).
Nếu các bác muốn hỏi gì về từng tờ, tôi sẽ cố gắng giải đáp trong vòng hiểu biết hạn hẹp của mình, nếu không sẽ cố gắng nhờ các bạn khác giải đáp cùng :p Cũng phải nói trước rằng khó có thể biết tường tận được lịch sử báo chí Việt Nam; ngay quyển từ điển báo chí tốt nhất hiện nay cũng sai lầm rất nhiều.
Hình ảnh dưới đây không được sắp xếp theo trình tự logic nào, vì làm thế thì cần rất nhiều thời gian, chắc phải để sau này :p
(hình ảnh dưới đây của rất nhiều người)
Apr 27, 2013
Báo chí văn hóa Việt Nam và những trò lố
Tôi ở trong thế giới sách vở từ rất nhiều năm nay, tiếp xúc
với sách vở theo nhiều kiểu, có lẽ trong mọi hạng mục công việc liên quan đến
sách vở: làm ra những quyển sách, bình luận những quyển sách, tìm kiếm những
quyển sách, kiểm kê những quyển sách, thu thập thông tin về những quyển sách,
không gì tôi chưa từng động chạm đến ở mức độ sâu. Tất nhiên tôi cũng là người
quan sát báo chí văn hóa rất chặt chẽ. Hay dở đủ cả, nhưng phải nói là tôi từng
thấy nhiều cái rất chối.
Phóng viên Tường Vy của tờ Sài Gòn giải phóng là một ví dụ. Bao nhiêu năm nay, Tường Vy viết
những bài báo rất kém chất lượng, chi tiết thường xuyên sai, nhưng lại từ chi
tiết sai khái quát lên những vấn đề rất lớn mà có lẽ bản thân ông Tường Vy cũng chẳng
nắm bắt được. Bài
báo ở đường link này là một ví dụ.
Apr 25, 2013
Một cái thói của báo chí văn hóa: "Tục chưa từng thấy"
Tôi để ý, báo chí rất hay tung ra những cách nói rất khó chứng minh là đúng nhưng lại rất dễ chứng minh là sai.
Cụm từ gần đây xuất hiện rất nhiều: "tục chưa từng thấy".
Tất nhiên, không tìm thì sao thấy. Tìm thì sẽ khác thôi:
xem dòng 4
(Tô Hoài, Ba người khác, NXB Đà Nẵng, 2006, tr. 10)
xem dòng thơ cuối cùng
(Phan An Sa, Nắng được thì cứ nắng, NXB Tri Thức, 2013, tr. 561)
Inrasara viết phê bình văn học thì chán kinh, nhưng thơ có lúc cũng thú vị phết:
xem dòng 7
(Inrasara, Chuyện 40 năm mới kể và 18 bài tân hình thức, NXB Hội Nhà văn, 2006, tr. 94)
Cụm từ gần đây xuất hiện rất nhiều: "tục chưa từng thấy".
Tất nhiên, không tìm thì sao thấy. Tìm thì sẽ khác thôi:
xem dòng 4
(Tô Hoài, Ba người khác, NXB Đà Nẵng, 2006, tr. 10)
xem dòng thơ cuối cùng
(Phan An Sa, Nắng được thì cứ nắng, NXB Tri Thức, 2013, tr. 561)
Inrasara viết phê bình văn học thì chán kinh, nhưng thơ có lúc cũng thú vị phết:
xem dòng 7
(Inrasara, Chuyện 40 năm mới kể và 18 bài tân hình thức, NXB Hội Nhà văn, 2006, tr. 94)
Apr 24, 2013
Báo chí Việt Nam và tôi
(ai còn nhớ "Chiến tranh Việt Nam và tôi" của thi sĩ Nguyễn Bắc Sơn không nhỉ? :p)
Một ngày, bỗng thấy muốn nhớ lại chuyện xưa. Báo chí Việt Nam và tôi, vốn không xa lạ gì. Không phải chỉ là mối quan hệ ngày nay: cộng tác viết bài, giữ mục cho tờ này tờ kia, rồi oan rồi ấn, mà công việc bên trong một tòa soạn báo, tôi không hề xa lạ.
Quãng 2001-2002, vừa chực thoát chân khỏi một trường đại học, tôi có khoảng hơn một năm thực sự ở trong làng báo, sau kha khá năm cộng tác với vài nơi, nói cho đúng là với vài người, như nhà báo Trần Đăng Khoa trước làm thư ký tòa soạn tờ Văn hóa, sau chuyển sang làm tổng biên tập tờ Điện ảnh kịch trường, giờ làm tổng biên tập tờ Văn hóa, hay nhà báo Phùng Huy Thịnh thời thuộc "nhóm ly khai" bên phụ san Hà Nội ngày nay bao gồm các nhân vật như Hòa Bình, Đặng Huy Giang, có Anh Chi cộng tác chặt chẽ, dưới trướng tổng biên tập nổi tiếng của tờ Hà Nội mới, Nguyễn Xuân Trình. Lê Cảnh Nhạc giờ lừng danh tôi cũng từng gặp tại một tòa soạn tạp chí nào đó trên phố Trần Phú. Tôi vẫn còn giữ lá thư viết tay của thư ký tòa soạn tờ Thời báo kinh tế Sài Gòn Nguyễn Ngọc Trân, một bức thư rất ân cần làm tôi thực sự bất ngờ khi nhận; lúc ấy tôi còn "nhóc con" lắm. Tôi còn nhớ nhà báo Phùng Huy Thịnh, người sót lại của hồi Quảng Trị 72, chỉ nghe là phân biệt được tiếng từng loại đạn pháo và cực mê "Bài thơ của một người yêu nước mình", từng đưa tiền nhuận bút bài viết cho tôi và bảo: "Tao tính nhuận bút cho mày ngang cỡ vụ trưởng đấy nhé". Tổng kết lại, báo chí Việt Nam trong Nam ngoài Bắc, những tờ có thể gọi tên ngay mà tôi chưa hề có quan hệ bài vở, chắc chỉ có Tiền phong và Tuổi trẻ. Ngay tờ báo có tuổi thọ rất ngắn Thanh niên thời đại của nhóm (cũng ly khai) Chánh Trinh Lý Quý Trung tôi cũng có chút tham gia.
Một ngày, bỗng thấy muốn nhớ lại chuyện xưa. Báo chí Việt Nam và tôi, vốn không xa lạ gì. Không phải chỉ là mối quan hệ ngày nay: cộng tác viết bài, giữ mục cho tờ này tờ kia, rồi oan rồi ấn, mà công việc bên trong một tòa soạn báo, tôi không hề xa lạ.
Quãng 2001-2002, vừa chực thoát chân khỏi một trường đại học, tôi có khoảng hơn một năm thực sự ở trong làng báo, sau kha khá năm cộng tác với vài nơi, nói cho đúng là với vài người, như nhà báo Trần Đăng Khoa trước làm thư ký tòa soạn tờ Văn hóa, sau chuyển sang làm tổng biên tập tờ Điện ảnh kịch trường, giờ làm tổng biên tập tờ Văn hóa, hay nhà báo Phùng Huy Thịnh thời thuộc "nhóm ly khai" bên phụ san Hà Nội ngày nay bao gồm các nhân vật như Hòa Bình, Đặng Huy Giang, có Anh Chi cộng tác chặt chẽ, dưới trướng tổng biên tập nổi tiếng của tờ Hà Nội mới, Nguyễn Xuân Trình. Lê Cảnh Nhạc giờ lừng danh tôi cũng từng gặp tại một tòa soạn tạp chí nào đó trên phố Trần Phú. Tôi vẫn còn giữ lá thư viết tay của thư ký tòa soạn tờ Thời báo kinh tế Sài Gòn Nguyễn Ngọc Trân, một bức thư rất ân cần làm tôi thực sự bất ngờ khi nhận; lúc ấy tôi còn "nhóc con" lắm. Tôi còn nhớ nhà báo Phùng Huy Thịnh, người sót lại của hồi Quảng Trị 72, chỉ nghe là phân biệt được tiếng từng loại đạn pháo và cực mê "Bài thơ của một người yêu nước mình", từng đưa tiền nhuận bút bài viết cho tôi và bảo: "Tao tính nhuận bút cho mày ngang cỡ vụ trưởng đấy nhé". Tổng kết lại, báo chí Việt Nam trong Nam ngoài Bắc, những tờ có thể gọi tên ngay mà tôi chưa hề có quan hệ bài vở, chắc chỉ có Tiền phong và Tuổi trẻ. Ngay tờ báo có tuổi thọ rất ngắn Thanh niên thời đại của nhóm (cũng ly khai) Chánh Trinh Lý Quý Trung tôi cũng có chút tham gia.
Nov 11, 2012
Đọc báo ngày chủ nhật
Mình rất thích :p
Philip Roth đã chính thức tuyên bố không viết văn nữa. Cùng ý này, Roth đã nói không ít lần, nhưng có vẻ kỳ này là thật.
Khởi nguồn là ở đây, một bài Philip Roth trả lời phỏng vấn cho tờ Les InRocks (hóa ra tờ này vẫn còn; báo chí Mỹ có vẻ mới biết và đang đưa tin rầm rộ), trong đó Roth nói Nemesis sẽ là cuốn tiểu thuyết cuối cùng của ông.
Về cuộc đời, Roth cho rằng "mọi thứ đều là vấn đề may mắn hay không may mắn" và đưa ra một ví dụ: bà vợ đầu của ông hóa ra lại là tội phạm, cứ ăn cắp suốt không ngừng, và như vậy nghĩa là ông đã không may cưới phải một bà vợ như thế.
Về chuỗi tác phẩm gần đây nhất, Roth cho biết ông đề cập đến cái chết từ các góc độ khác nhau. Ở cả bốn cuốn tiểu thuyết này, nhân vật đều phải đương đầu với "nemeses" của mình (từ này rất thông dụng ở Mỹ, nghĩa là một thứ định mệnh, sự đen đủi, một thứ lực không thể vượt qua, nhè trúng đầu ta mà giáng xuống).
"Tiểu thuyết được làm ra là để đặt ra các câu hỏi, chứ không phải mang lại những câu trả lời. Tôi không viết sách triết học."
"Tất tật những gì thực sự thu hút tôi, tất tật những gì tôi biết làm, là kể một câu chuyện". Roth cũng nói mình rất buồn ngủ mỗi khi câu chuyện nào xoay sang hướng trừu tượng.
"Với tôi, viết vẫn luôn luôn là một việc rất khó. Vấn đề nằm ở chỗ hồi còn nhỏ tôi đã đem lòng say đắm văn chương. Sau này, tôi tự nhủ mình có thể trở thành nhà văn. Thế là tôi bèn thử và cũng ổn, ở một mức độ nào đó. Tin tôi đi, nếu mà làm được việc gì khác tốt hơn thì tôi đã sẵn sàng làm rồi! Nhưng lúc đầu thì viết văn kích thích ghê lắm, nên tôi đã tiếp tục."
Và đây là tuyên bố: "[...] tôi không có ý định viết văn trong vòng mười năm tới. Nếu bạn muốn biết rõ, tôi đã xong xuôi hết rồi. Nemesis sẽ là cuốn sách cuối cùng của tôi [...] tôi, người từng viết hết cuốn sách này đến cuốn sách khác, từ ba năm nay tôi đã không viết gì."
Việc sắp tới mà Philip Roth định làm là thu thập tài liệu cá nhân để cung cấp cho người sẽ viết tiểu sử cho ông, Blake Bailey, vì "nếu tôi chết đi mà không để lại cho ông ấy cái gì, thì ông ấy biết bắt đầu từ đâu?"
Roth cũng cho biết sau khi Bailey sử dụng xong giấy tờ, người ta sẽ phải hủy hết chúng đi chứ không cho phát tán khắp nơi. Thật là một tin buồn cho giới sưu tầm sách báo thủ bút toàn thế giới. Bản thảo của Roth thì đã nằm cả ở Thư viện Quốc hội từ những năm 70.
Những lời này thật buồn bã và cay đắng: "[...] tôi đã quyết định mình kết thúc với văn chương. Tôi không muốn đọc gì viết gì nữa, thậm chí còn chẳng muốn nói đến văn chương. Cả đời mình tôi đã cống hiến cho tiểu thuyết, đã nghiên cứu nó, giảng dạy nó, viết nó và đọc nó. Ngoài ra gần như chẳng có gì khác nữa. Thế là đủ lắm rồi! Tôi không còn cảm nhận thấy sự cuồng nhiệt mình từng cảm thấy suốt cuộc đời."
Vậy là tôi đã review những cuốn sách thực sự cuối cùng của Philip Roth.
thêm thông tin
Philip Roth đã chính thức tuyên bố không viết văn nữa. Cùng ý này, Roth đã nói không ít lần, nhưng có vẻ kỳ này là thật.
Khởi nguồn là ở đây, một bài Philip Roth trả lời phỏng vấn cho tờ Les InRocks (hóa ra tờ này vẫn còn; báo chí Mỹ có vẻ mới biết và đang đưa tin rầm rộ), trong đó Roth nói Nemesis sẽ là cuốn tiểu thuyết cuối cùng của ông.
Về cuộc đời, Roth cho rằng "mọi thứ đều là vấn đề may mắn hay không may mắn" và đưa ra một ví dụ: bà vợ đầu của ông hóa ra lại là tội phạm, cứ ăn cắp suốt không ngừng, và như vậy nghĩa là ông đã không may cưới phải một bà vợ như thế.
Về chuỗi tác phẩm gần đây nhất, Roth cho biết ông đề cập đến cái chết từ các góc độ khác nhau. Ở cả bốn cuốn tiểu thuyết này, nhân vật đều phải đương đầu với "nemeses" của mình (từ này rất thông dụng ở Mỹ, nghĩa là một thứ định mệnh, sự đen đủi, một thứ lực không thể vượt qua, nhè trúng đầu ta mà giáng xuống).
"Tiểu thuyết được làm ra là để đặt ra các câu hỏi, chứ không phải mang lại những câu trả lời. Tôi không viết sách triết học."
"Tất tật những gì thực sự thu hút tôi, tất tật những gì tôi biết làm, là kể một câu chuyện". Roth cũng nói mình rất buồn ngủ mỗi khi câu chuyện nào xoay sang hướng trừu tượng.
"Với tôi, viết vẫn luôn luôn là một việc rất khó. Vấn đề nằm ở chỗ hồi còn nhỏ tôi đã đem lòng say đắm văn chương. Sau này, tôi tự nhủ mình có thể trở thành nhà văn. Thế là tôi bèn thử và cũng ổn, ở một mức độ nào đó. Tin tôi đi, nếu mà làm được việc gì khác tốt hơn thì tôi đã sẵn sàng làm rồi! Nhưng lúc đầu thì viết văn kích thích ghê lắm, nên tôi đã tiếp tục."
Và đây là tuyên bố: "[...] tôi không có ý định viết văn trong vòng mười năm tới. Nếu bạn muốn biết rõ, tôi đã xong xuôi hết rồi. Nemesis sẽ là cuốn sách cuối cùng của tôi [...] tôi, người từng viết hết cuốn sách này đến cuốn sách khác, từ ba năm nay tôi đã không viết gì."
Việc sắp tới mà Philip Roth định làm là thu thập tài liệu cá nhân để cung cấp cho người sẽ viết tiểu sử cho ông, Blake Bailey, vì "nếu tôi chết đi mà không để lại cho ông ấy cái gì, thì ông ấy biết bắt đầu từ đâu?"
Roth cũng cho biết sau khi Bailey sử dụng xong giấy tờ, người ta sẽ phải hủy hết chúng đi chứ không cho phát tán khắp nơi. Thật là một tin buồn cho giới sưu tầm sách báo thủ bút toàn thế giới. Bản thảo của Roth thì đã nằm cả ở Thư viện Quốc hội từ những năm 70.
Những lời này thật buồn bã và cay đắng: "[...] tôi đã quyết định mình kết thúc với văn chương. Tôi không muốn đọc gì viết gì nữa, thậm chí còn chẳng muốn nói đến văn chương. Cả đời mình tôi đã cống hiến cho tiểu thuyết, đã nghiên cứu nó, giảng dạy nó, viết nó và đọc nó. Ngoài ra gần như chẳng có gì khác nữa. Thế là đủ lắm rồi! Tôi không còn cảm nhận thấy sự cuồng nhiệt mình từng cảm thấy suốt cuộc đời."
Vậy là tôi đã review những cuốn sách thực sự cuối cùng của Philip Roth.
thêm thông tin
Oct 15, 2012
Phạm Công Thiện về Hàn Mạc Tử
Năm kỷ niệm Hàn Mạc Tử này, cuối cùng tập Gái quê 1936 đã được phục hồi ở trạng
thái tương đối gần ban đầu nhất.
Trước đây, tạp chí Văn
dành cả số 179 để tưởng niệm Hàn Mạc Tử (trước đó, số 73-74 cũng đã mang tên Tưởng niệm Hàn-Mặc Tử), lấy tên chung là
Viết về Hàn-Mặc Tử, với bài đầu tiên
là “Đức tin trong hồn thơ Hàn-Mặc Tử” của Đặng Tiến. Dưới đây là bài viết ngắn
của Phạm Công Thiện trên số báo ấy, không phải bài nổi tiếng gọi Hàn Mạc Tử là “phượng
hoàng vỗ cánh” như nhiều người đã biết:
Một định mệnh tàn
khốc theo riết bên mình: Hàn-Mặc Tử
Trong tất cả những thi hào văn sĩ lừng danh của toàn thể văn
chương Việt Nam từ mấy ngàn năm nay, tôi không tìm được một người nào đã tác
động một mảy may nào đến tâm hồn tôi cả - trừ ra Hàn-Mặc Tử. Nguyễn Du là một
thi hào vĩ đại, tôi đã đọc đi đọc lại Nguyễn Du và nhìn nhận Nguyễn Du là vĩ
đại, nhưng tôi không cần thứ vĩ đại ấy. Cái thứ vĩ đại ấy chẳng tác động gì đến
đời sống u mê của tôi cả. Quách Tấn cũng vĩ đại, tôi kính trọng sự vĩ đại ấy,
nhưng sự vĩ đại ấy làm lịch sử, vì đi ngược lại lịch sử, đạp trên đầu lịch sử
hiện đại. Tôi chẳng bận tâm đến lịch sử. Thỉnh thoảng cũng bận tâm để chợt nhớ
rằng mình là người Việt Nam.
Vì tin chắc rằng người Việt Nam sẽ thắng, sẽ tiêu diệt tất cả những gì không
phải là Việt Nam, người Việt Nam sẽ thắng, cho nên tôi không cần bận tâm đến
vận mệnh của Việt Nam. Tôi có vận mệnh của riêng tôi. Người nào muốn lo đến vận
mệnh của Việt Nam, thì cứ lo
đến vận mệnh của Việt Nam.
Tôi không hề biết ái quốc là cái gì. Tôi chỉ biết đến tôi và chỉ có tôi mới
hiểu thế nào là con đường của Việt Nam. Trong tôi ngưng tụ lại tất cả
tàn khốc của Việt Nam, tất cả mâu thuẫn, ích kỷ, tàn phá, kiêu hãnh, ngang
tàng, kiêu ngạo, từ tốn, khoan dung, khôn ngoan, yếu đuối và cô độc. Dù trận
chiến tranh ở Việt Nam
có chấm dứt đi nữa thì trận chiến tranh trong tôi vẫn tiếp tục. Giống như nó
vẫn tiếp tục trong tâm hồn của những thanh niên Việt Nam
ra đời lúc chiến tranh Việt Nam
vừa khởi phát và được ba mươi tuổi lúc chiến tranh bùng phát dữ dội lan rộng từ
Việt Nam
đến Hạ Lào. Chỉ có thanh niên Việt Nam
nào từ ba mươi tuổi trở xuống mới hiểu nổi thơ của Hàn-Mặc Tử. Trận chiến tranh
Việt Nam
hiện nay chính là sự phóng đại của cơn bịnh hủi của Hàn-Mặc Tử. Chỉ có thi sĩ
mới sống trước, sống tận bản thân tất cả những khả tính sắp hiện của vận mệnh
dân tộc mình. Vận mệnh của Hàn-Mặc Tử đã báo trước vận mệnh của Việt Nam. Thơ của
Hàn-Mặc Tử đã báo động cái gì rạn vỡ trong không khí quê hương. Không phải chỉ
làm thơ với những danh từ và động từ chính trị mới nói được con đường đi của
dân tộc. Nhiều khi nói ngược lại hay nói những cái gì khác, như dùng những
tiếng kỳ cục như thượng thanh khí, vỡ lở, trăng, châu lệ, đê mê, hoa bắp lay, cứng tợ si, chưa bưa, dại khờ, gánh máu đi trong
tuyết, bời bời ruột gan, ớn lạnh, vân vân. Nhiều khi ăn nói thê
thảm điên dại như Hàn-Mặc Tử mà lại trỏ ngón tay vào đúng tim đen của vận mệnh
Việt Nam
và mở ra một người đi khác cho “sử linh tư tưởng” (chữ của Hàn-Mặc Tử). Người
hiểu được thì hiểu ngay lập tức, không hiểu được thì vẫn không hiểu được. Định
mệnh tàn khốc, nhưng không có thực, giống như cơn bệnh hủi chỉ là cơn bệnh
tưởng tượng của mặt trời, do mặt trăng lường gạt.
Phạm Công Thiện
(ngoại ô Paris, mùa đông năm 1971)
(tạp chí Văn số 179, 1/6/1971, tr. 52-54)
-----------
Trong những gì người ta dùng để vinh danh Mạc Ngôn, tôi đặc
biệt quan tâm đến cái so sánh Mạc Ngôn với Rabelais. Đây là một cliché biểu lộ dân phương Tây nắm bắt
tinh thần của Mạc Ngôn hời hợt như thế nào. So sánh này đã tồn tại từ rất lâu,
tôi nhớ cách đây cỡ phải gần chục năm rồi đã đọc một bài báo mang tên “Mo Yan:
leur Rabelais” (Mạc Ngôn: Rabelais của họ) trên một tờ tạp chí văn học nào đó
của Pháp; ngay lúc đó tôi đã thấy sự so sánh này thật là gượng gạo, bấp bênh,
quàng xiên, vớ vội lấy một sự dễ dãi để diễn dịch một cái gì khác lạ. Chỉ có
điều sự dễ dãi ấy hình như đã trở thành một trong những chỗ dựa quan trọng để
người ta trao giải Nobel cho Mạc Ngôn.
Tôi không quan tâm xem Mạc Ngôn được Nobel Văn chương thì có
xứng đáng hay không. Có thể Mạc Ngôn còn xứng đáng hơn thế nữa, trong kiểu
riêng của mình. Nhưng đừng thuyết phục tôi Mạc Ngôn có thể so sánh với
Rabelais. Hoặc giả Rabelais qua chuyển dịch thời gian đã trở nên vô cùng kệch
cỡm. Câu bình luận của Ngải Vị Vị rất đúng: xứng đáng thì xứng đáng, nhưng bad taste. Điều này cũng cho thấy dân
chống đối generous hơn rất nhiều so với những người như Mạc Ngôn.
Sep 22, 2012
Phong hóa của ngày nay
Chính xác hôm nay là kỷ niệm (chính thức) 80 năm báo Phong hóa (không phải ngày ra số 1, cũng không phải số cuối cùng, nhưng vẫn là ngày kỷ niệm chính thức). Tờ báo thú vị nhất trong lịch sử báo chí Việt Nam, theo tôi. Sau đó nó sẽ được tờ Ngày nay tiếp sức, trong một quãng thời gian.
Tôi thích hình dung nhóm người tuổi trẻ cái năm ấy hợp lại với nhau để khởi đầu một dự án điên rồ, vì mọi thứ gì đẹp đều có bước khởi động rất điên rồ. Tôi cũng thích ý nghĩ về một thanh niên sau khi thử lái cuộc đời mình đi theo nhiều hướng mà vẫn không biết nên làm gì, phải làm gì, chắc từng có nhiều bốc đồng và lạc lõng lắm, năm 26 tuổi rốt cuộc cũng đã quyết định con đường sự nghiệp của mình (năm ấy là năm 1932, Nhất Linh 26 tuổi).
Dự án Phong hóa (đủ 190 số, trong đó từ số 1 đến số 13 do Phạm Hữu Ninh và Nguyễn Xuân Mai làm, từ số 14 ra ngày 22/9/1932 bắt đầu do nhóm Nhất Linh làm) và Ngày nay (đủ 224 số) được thực hiện bởi nhóm Phạm Thảo Nguyên và Martina Nguyễn Thục Nhi. Sưu tầm Phong hóa không dễ vì báo có khổ rất khó bảo quản, hay bị gập lại nên dễ giòn, số hóa tạp chí thì dễ hơn số hóa báo nhiều. Trước đây Viễn Đông bác cổ đã có dự định làm bộ này nhưng chưa thực hiện được.
Viễn Đông bác cổ là nơi đã số hóa Tri tân, Thanh nghị, Văn Sử Địa, tạp chí của trường Sư Phạm. Nam phong thì do Viện Việt học làm.
Nếu sau đây có tờ nào nên được làm ngay, thì tôi nghĩ là Phụ nữ tân văn, rồi Bách khoa.
Những ai quan tâm đến lịch sử báo chí Việt Nam thì hẳn đã có bộ Phong hóa và Ngày nay trước khi chúng được chính thức công bố (cho tải về miễn phí) từ ngày 22 tháng Chín vừa qua.
Hóa ra những số cuối của Phong hóa đăng cả truyện trinh thám của Thế Lữ (Lê Phong) và truyện trinh thám của Phạm Cao Củng (Kỳ Phát).
Phong hóa có lối chế giễu rất sâu cay, và có một số đối tượng lâu dài, chẳng hạn như Bùi Xuân Học và nhiều người khác. Nhưng đọc Phong hóa lần này (trước đây tôi chỉ tìm được vài số lẻ tẻ) tôi thích đọc nhất những quảng cáo đăng trên báo. Vài ví dụ:
"Đến kỳ sinh nở. Mãn nguyệt khai hoa
Các bà khi sinh nở dùng Rượu-Chồi Hoa-kỳ soa nhất quý.
- đỡ phải nằm than -
- không lo tê thấp -
- gân cốt khỏe mạnh -
- đi lại được ngay -
Buôn lãi nhiều, bán rất chạy. Nhiều tỉnh có Đại-lý rồi."
"CÁC BẠN SƠI CƠM ĐEN NÊN BIẾT
Nếu bạn muốn chữa thuốc phiện thì không có thứ thuốc nào hay bằng THUỐC CAI HỒNG-KHÊ. Bạn hút ít chỉ hết 2$00 là bỏ hẳn được (Thuốc nước mỗi chai 1$00, thuốc viên mỗi hộp 0$50). Trong khi uống thuốc cai vẫn đi làm việc như thường, sau khi bỏ hút lại khỏe mạnh hơn, không sinh ra chứng gì khác cả. Nếu bạn nghèo không có tiền mua thì bạn cứ thân-hành lại nhà thuốc HỒNG-KHÊ (số nhà 88 phố Huế, ngay trước cửa chợ Hôm Hanoi) sẽ có thuốc cho bạn cai được hẳn mà không tính tiền (buổi chiều từ 7 giờ đến 9 giờ). Bạn đừng ngại, chủ-nhân sẽ tiếp bạn rất vui vẻ và kín đáo. Nếu bạn cho người lại lấy thì không được, vì sợ có kẻ lợi dụng xin thuốc về bán. Khi đến lấy thuốc bạn nên nhớ hỏi lấy quyển sách thuốc, đem về xem, có đủ các thứ thuốc gia-dụng chữa đủ các bệnh người lớn trẻ con. Lỡ khi trái nắng trở giời phải dùng đến, hoặc mách bảo cho những người có bệnh. Ai có tiền thì mua, nghèo túng đến xin cũng được.
HỒNG-KHÊ CÓ MÔN THUỐC LẬU HAY NHẤT HOÀN-CẦU"
(vị trí hiệu thuốc Hồng Khê gợi nhớ đến ngôi nhà cũ gần đây vẫn thấy, ghi bên ngoài là nhà Lý Sáng, ở đó có nhà của ông Phạm Văn Phúc, không rõ là có đúng không)
-----------
Còn đây là một "Tuổi thơ", NXB Sáng Tạo, logo con gà :p
Tôi thích hình dung nhóm người tuổi trẻ cái năm ấy hợp lại với nhau để khởi đầu một dự án điên rồ, vì mọi thứ gì đẹp đều có bước khởi động rất điên rồ. Tôi cũng thích ý nghĩ về một thanh niên sau khi thử lái cuộc đời mình đi theo nhiều hướng mà vẫn không biết nên làm gì, phải làm gì, chắc từng có nhiều bốc đồng và lạc lõng lắm, năm 26 tuổi rốt cuộc cũng đã quyết định con đường sự nghiệp của mình (năm ấy là năm 1932, Nhất Linh 26 tuổi).
Dự án Phong hóa (đủ 190 số, trong đó từ số 1 đến số 13 do Phạm Hữu Ninh và Nguyễn Xuân Mai làm, từ số 14 ra ngày 22/9/1932 bắt đầu do nhóm Nhất Linh làm) và Ngày nay (đủ 224 số) được thực hiện bởi nhóm Phạm Thảo Nguyên và Martina Nguyễn Thục Nhi. Sưu tầm Phong hóa không dễ vì báo có khổ rất khó bảo quản, hay bị gập lại nên dễ giòn, số hóa tạp chí thì dễ hơn số hóa báo nhiều. Trước đây Viễn Đông bác cổ đã có dự định làm bộ này nhưng chưa thực hiện được.
Viễn Đông bác cổ là nơi đã số hóa Tri tân, Thanh nghị, Văn Sử Địa, tạp chí của trường Sư Phạm. Nam phong thì do Viện Việt học làm.
Nếu sau đây có tờ nào nên được làm ngay, thì tôi nghĩ là Phụ nữ tân văn, rồi Bách khoa.
Những ai quan tâm đến lịch sử báo chí Việt Nam thì hẳn đã có bộ Phong hóa và Ngày nay trước khi chúng được chính thức công bố (cho tải về miễn phí) từ ngày 22 tháng Chín vừa qua.
Hóa ra những số cuối của Phong hóa đăng cả truyện trinh thám của Thế Lữ (Lê Phong) và truyện trinh thám của Phạm Cao Củng (Kỳ Phát).
Phong hóa có lối chế giễu rất sâu cay, và có một số đối tượng lâu dài, chẳng hạn như Bùi Xuân Học và nhiều người khác. Nhưng đọc Phong hóa lần này (trước đây tôi chỉ tìm được vài số lẻ tẻ) tôi thích đọc nhất những quảng cáo đăng trên báo. Vài ví dụ:
"Đến kỳ sinh nở. Mãn nguyệt khai hoa
Các bà khi sinh nở dùng Rượu-Chồi Hoa-kỳ soa nhất quý.
- đỡ phải nằm than -
- không lo tê thấp -
- gân cốt khỏe mạnh -
- đi lại được ngay -
Buôn lãi nhiều, bán rất chạy. Nhiều tỉnh có Đại-lý rồi."
"CÁC BẠN SƠI CƠM ĐEN NÊN BIẾT
Nếu bạn muốn chữa thuốc phiện thì không có thứ thuốc nào hay bằng THUỐC CAI HỒNG-KHÊ. Bạn hút ít chỉ hết 2$00 là bỏ hẳn được (Thuốc nước mỗi chai 1$00, thuốc viên mỗi hộp 0$50). Trong khi uống thuốc cai vẫn đi làm việc như thường, sau khi bỏ hút lại khỏe mạnh hơn, không sinh ra chứng gì khác cả. Nếu bạn nghèo không có tiền mua thì bạn cứ thân-hành lại nhà thuốc HỒNG-KHÊ (số nhà 88 phố Huế, ngay trước cửa chợ Hôm Hanoi) sẽ có thuốc cho bạn cai được hẳn mà không tính tiền (buổi chiều từ 7 giờ đến 9 giờ). Bạn đừng ngại, chủ-nhân sẽ tiếp bạn rất vui vẻ và kín đáo. Nếu bạn cho người lại lấy thì không được, vì sợ có kẻ lợi dụng xin thuốc về bán. Khi đến lấy thuốc bạn nên nhớ hỏi lấy quyển sách thuốc, đem về xem, có đủ các thứ thuốc gia-dụng chữa đủ các bệnh người lớn trẻ con. Lỡ khi trái nắng trở giời phải dùng đến, hoặc mách bảo cho những người có bệnh. Ai có tiền thì mua, nghèo túng đến xin cũng được.
HỒNG-KHÊ CÓ MÔN THUỐC LẬU HAY NHẤT HOÀN-CẦU"
(vị trí hiệu thuốc Hồng Khê gợi nhớ đến ngôi nhà cũ gần đây vẫn thấy, ghi bên ngoài là nhà Lý Sáng, ở đó có nhà của ông Phạm Văn Phúc, không rõ là có đúng không)
-----------
Còn đây là một "Tuổi thơ", NXB Sáng Tạo, logo con gà :p
Jul 10, 2012
Chế Lan Viên vs Vũ Hoàng Chương
Nhân đọc “Hoa Đăng” của Vũ Hoàng Chương (miền Nam)
Chế Lan Viên
Một tờ báo miền Nam gần đây viết:
“Về thơ, ngoại trừ Hoa
Đăng của Vũ hoàng Chương đáng đánh dấu một sự chuyển hướng về sáng tác và của
Đoàn Thêm một loại tiểu thuyết bằng thơ có tính cách một công trình dài hơi đề
cập đến vấn đề nhân sinh xã hội, thì không còn thi phẩm nào có sự cố gắng đáng
ta lưu ý”.
Vì lẽ ấy tôi đã tìm đọc Vũ hoàng Chương và Đoàn Thêm. Đoàn
Thêm, thôi ta không bàn đến. Chẳng phải cái anh Đổng lý văn phòng của Ngô đình
Diệm ấy đã bàn những chuyện chính trị phản động gì gì ở đây. Anh ta cũng khôn
khéo lắm mà. Vào làm văn, anh ta cũng quên đi những giấy tờ vấy máu của tổng
Ngô, để nói đến những chuyện thoát tục, nghìn đời, tập thơ anh tên là Từ Thức. Cái lẽ giản dị để ta không bàn
đến vì anh ấy là một kẻ bất tài. Cái tài duy nhất có lẽ là sắp lại, nhai lại
những ý, những lời đã mười lần sáo cũ.
Jan 10, 2012
(11) Những số một
Chán thế, ngày trước mà giữ được cái chuyên mục về báo chí cũ trên báo thì tới giờ có phải được kha khá rồi không. Đời không thèm thì ta tự xử vậy, đành thế :p
Cũng đầu năm rồi (Chao ôi Tết đến mà không được/Trông thấy quê hương thật não lòng), chọn cái đề tài có nhiều tính chất hy vọng nhỉ :p
Tạm bỏ qua giai đoạn trước 1945, giờ đi vào thời kỳ cuối những năm 50 đầu những năm 60, thời kỳ cả miền Nam lẫn miền Bắc hối hả xây dựng nền học thuật và văn nghệ của mình.
Trong ngạch báo chí cũ, mấy vấn đề này dân sưu tầm phải tìm cách giải quyết (lẽ dĩ nhiên có đủ bộ thì là tốt nhất, nhưng đời mấy khi mà đầy đủ hehe; khả năng chấp nhận sự thiếu thốn chính là phẩm chất hàng đầu mà nhà sưu tầm rèn luyện được sau rất nhiều mất mát :d):
- Cố gắng tìm được số đầu, số cuối.
- Một loạt số liên tục là rất quan trọng, vì thường có những loạt bài quan trọng của tác giả nào đó, sau này không in thành sách. Chẳng hạn, muốn đọc đầy đủ Ung thư của Thanh Tâm Tuyền thì phải có đủ các số Văn quãng ngoài số 100.
- Những số đặc biệt là rất quan trọng, chẳng hạn số đặc biệt của Bách Khoa năm 1965 chuyên đề 100 năm báo chí Việt Nam, hoặc số 100 Đứng Dậy (trước là Đối Diện) in sau 1975, trong đó Nguyễn Ngọc Lan kể lại câu chuyện thành lập và tồn tại Đối Diện. Tờ tạp chí này rất khí thế sau đó, nhưng chỉ sống được đến số 114.
Số đầu của một số tờ tạp chí:
Tờ Văn có các nhân vật chủ chốt: Nguyễn Đình Vượng, Trần Phong Giao (Thư Trung), Nguyễn Xuân Hoàng, Mai Thảo. Số 1 ra ngày 1/1/1964, tồn tại cho đến tháng Tư 1975. Cùng Bách Khoa, Văn là ấn phẩm văn nghệ quan trọng nhất của Sài Gòn trước 1975.
Cũng đầu năm rồi (Chao ôi Tết đến mà không được/Trông thấy quê hương thật não lòng), chọn cái đề tài có nhiều tính chất hy vọng nhỉ :p
Tạm bỏ qua giai đoạn trước 1945, giờ đi vào thời kỳ cuối những năm 50 đầu những năm 60, thời kỳ cả miền Nam lẫn miền Bắc hối hả xây dựng nền học thuật và văn nghệ của mình.
Trong ngạch báo chí cũ, mấy vấn đề này dân sưu tầm phải tìm cách giải quyết (lẽ dĩ nhiên có đủ bộ thì là tốt nhất, nhưng đời mấy khi mà đầy đủ hehe; khả năng chấp nhận sự thiếu thốn chính là phẩm chất hàng đầu mà nhà sưu tầm rèn luyện được sau rất nhiều mất mát :d):
- Cố gắng tìm được số đầu, số cuối.
- Một loạt số liên tục là rất quan trọng, vì thường có những loạt bài quan trọng của tác giả nào đó, sau này không in thành sách. Chẳng hạn, muốn đọc đầy đủ Ung thư của Thanh Tâm Tuyền thì phải có đủ các số Văn quãng ngoài số 100.
- Những số đặc biệt là rất quan trọng, chẳng hạn số đặc biệt của Bách Khoa năm 1965 chuyên đề 100 năm báo chí Việt Nam, hoặc số 100 Đứng Dậy (trước là Đối Diện) in sau 1975, trong đó Nguyễn Ngọc Lan kể lại câu chuyện thành lập và tồn tại Đối Diện. Tờ tạp chí này rất khí thế sau đó, nhưng chỉ sống được đến số 114.
Số đầu của một số tờ tạp chí:
Tờ Văn có các nhân vật chủ chốt: Nguyễn Đình Vượng, Trần Phong Giao (Thư Trung), Nguyễn Xuân Hoàng, Mai Thảo. Số 1 ra ngày 1/1/1964, tồn tại cho đến tháng Tư 1975. Cùng Bách Khoa, Văn là ấn phẩm văn nghệ quan trọng nhất của Sài Gòn trước 1975.
Jan 4, 2012
(10) Bửu Kế: Lược khảo về thư viện
Bài "Lược khảo về thư viện" của Bửu Kế đăng trên tạp chí Đại Học số 1 (tháng Ba 1957). Đây là tờ tạp chí gắn liền với Viện Đại Học Huế, "chủ trương biên tập" là Nguyễn Văn Trung (một số bài ký tên Hoàng Thái Linh), với sự cộng tác chặt chẽ của những người như Lê Tuyên, Trần Văn Toàn, Nguyễn Nam Châu, Trương Văn Chình, Lê Ngọc Trụ... Tờ tạp chí ra được đến số 40.
Bài của Bửu Kế đăng từ tr. 101 đến tr. 111, ở đây tôi trích từ tr. 106 đến tr. 109, chủ yếu phần liên quan tới thư viện của Viện Văn Hóa Trung Việt (nơi chứa nhiều châu bản triều Nguyễn) và sự tan biến của nó; bài viết cũng nói đến một chi tiết là Viện Văn Hóa đã mua lại thư viện của Phạm Quỳnh, nhưng không rõ các chi tiết.
-----------
Vậy tại Việt-Nam, thư-viện đã xuất-hiện từ thời đại nào? Thật cũng khó kê cứu cho đích-xác được vì thiếu hẳn tài-liệu. Tuy thế, sách sử cũ cũng rọi cho chúng ta được ít nhiều tia sáng dẫu không nhờ đó mà nhìn thấy tất cả mọi sự vật, nhưng cũng giúp ta rõ được đôi phần về những điều ta muốn biết.
Năm 1078, vua Lý-Thái-Tổ sai hai quan Nguyễn-đạo-Thanh và Phạm-Hạc đi lấy sách tam tạng về bỏ vào thư-viện Đại-Hưng.
Dưới thời nhà Minh đô-hộ (1414-1427) người Tàu không những bắt đàn bà con gái mà còn cướp những kho sách của chúng ta đem về Trung-quốc.
Vua Lê-thánh-Tông (1460-1497), một ông vua nổi tiếng về văn học, đã mở rộng nhà Thái-học, làm nhà Văn-miếu, tổ chức nơi ăn chốn ở cho sinh-viên lưu-trú cùng là lập kho bí thư để chứa sách.
Đến đời nhà Nguyễn, vua Gia-Long cũng như vua Minh-Mạng đều ra lệnh sưu tầm sách cổ, ban thưởng cho những người đã sáng tác hoặc nạp vào kho những sách tự mình làm hoặc tìm kiếm được.
Tàng thư lâu hoặc những cái Các trong Đại-Nội đều là những nơi chứa sách để nhà vua hoặc Triều đình tra cứu. Các vị đại thần gặp phiên chầu phải ở lại túc trực trong Nội nhiều khi phải kiêm cả việc thủ thư nữa. Người ra [ta] đã từng kể chuyện vua Tự-Đức bảo một ông quan trực, lấy cho Ngài bộ Đông-châu liệt quốc. Nhưng vì tiếng nhà vua nói nhỏ, ông nọ nghe lầm là quyển “Ông Âu mụ Ốc” nên tìm suốt mấy tiếng đồng hồ, đến toát mồ hôi vẫn không thấy. Sau đánh bạo tâu lại mới hay mình đã nghe lầm.
Những loại sách có giá trị như Hội Điển, Liệt Truyện, Thiệt-lực, Chánh Yếu v.v… mỗi khi xuất bản, vua thường ban cho các ông hoàng hoặc các quan đại thần để bỏ vào thư-viện riêng của mình.
Tại Huế có nhiều ông hoàng, nhiều ông quan nổi tiếng có những viện sách khá dồi dào, tuy không mở cửa công khai cho công chúng đến đọc, nhưng những người quen biết thường hay lui tới để kê cứu hay mượn sách về nhà đọc.
Các sách trên này toàn là chữ Tàu hoặc chữ nôm. Còn về chữ Pháp và quốc ngữ thì mãi đến thời kỳ Pháp thuộc chúng ta mới có thư-viện công cộng.
Năm 1902 một thư-viện đầu tiên được mở cửa cho công chúng vào đọc. Ban đầu còn nhỏ hẹp vì số người thông thạo Pháp ngữ chưa được bao nhiêu. Cuối năm 1917, Trung ương thư-viện, một thư-viện khá đồ sộ ra đời, đặt trụ sở ngay chính giữa trung tâm thành phố Hà-nội. Thư-viện nầy bành trướng rất mau, chẳng bao lâu đã có được 155 ngàn quyển sách, hơn 1 ngàn thứ tạp chí, chưa kể nhật báo, phòng đọc sách có thể chưa được 120 khán giả và mở cửa từ 9 giờ mai đến 10 giờ tối.
Theo dư luận của mấy nhà quan sát ngoại quốc hồi bấy giờ thì Thư-viện Trung-Ương ở Hà-nội và Nha Viễn-Đông bác cổ, có thể xấp [sic] vào hàng thứ nhì ở Á Đông.
Ở Hà-nội lại còn có các thư-viện riêng cho các trường Đại-học như Luật-khoa, Y-khoa, Văn-khoa, Khoa-học v.v…
Tại Huế, Thư-viện công cộng ra đời chậm hơn Nam và Bắc. Tuy thế nó vẫn có giá trị riêng của nó, dồi dào nhất là những sách về lịch-sử.
Từ nhà Lê trở về trước sách sử, tài liệu, không đâu nhiều bằng Thư-viện Trung-Ương và trường Viễn-Đông Bác cổ Hà-nội. Nhưng trái lại, tại triều Nguyễn về sau thì Viện Văn-Hóa Trung-Việt ăn đứt tất cả các nơi. Quí nhất là những thứ Châu bản, những tài liệu đích xác, có chữ của vua phê và đóng dấu. Những quyển quốc-thư, sách do các văn thi-sĩ Việt-Nam trước tác.
Thư-viện Viện Văn-hóa đã từng có một thời toàn thịnh của nó. Tất cả vào lối trên 10 vạn quyển sách, tập họp nhiều thư-viện lại làm một: Thư-viện của vua Duy-Tân, Thư-viện của Nội-Các, Viện Cơ-mật, Tòa Khâm-sứ, Sở Mật Thám, Thư-viện Bảo-Đại, Thư-viện Câu lạc bộ sĩ quan Pháp. Có rất nhiều sách chưa bao giờ người ngoài được đọc, có những tài liệu về hạng tối mật, chỉ một số rất ít người được phép xem mà thôi. Như tập thơ nôm của vua Tự-Đức chẳng hạn, đến những 100 bài, mà chỉ lọt ra ngoài mới được vài bài. Tài liệu vua Duy-Tân khởi nghĩa rất đầy đủ lại có ngay cả cái cờ và thanh kiếm của Trần-cao-Vân dùng để điều khiển cuộc cách-mạng. Ba giãy [sic] nhà, hiện giờ là trường Hàm-Nghi, chất đầy cả sách trên những cái kệ cao 4 thước, thường phải dùng đến thang để lấy sách. Trước khi xảy ra cuộc chiến tranh Việt Pháp, bao nhiêu sách và tài liệu nói trên đều bỏ cả vào trong những cái bao bố, bao lát có đánh dấu, chỉ chờ có lệnh là chở về làng Hiền-Lương, cách thành phố 20 cây số. Tại đây, mấy cái nhà thờ họ và mấy cái đình đã được trưng dụng trước, dùng tre và lồ ô làm thành những cái sàn gác để chất sách.
Đến đây tưởng tôi nên nhắc lại một đoạn ký ức về việc tản cư sách để bạn đọc biết sơ qua về những bước thăng trầm của Viện Văn-Hóa Trung-Việt.
Sách và tài liệu đều nằm cả trong bao, giao cho mấy ông lao công và tùy phái giữ, còn công chức đều phải tản-cư đi ngoại tỉnh: người Thanh-hóa, kẻ Quảng-Bình, Hà-tịnh.
Tôi đang sống cuộc đời ăn không ngồi rồi ở Quảng-Bình đâu nửa tháng thì tiếp được điện tín ở Huế gọi về để điều khiển việc tản-cư sách của Viện Văn-hóa, về Hiền-lương. Đến Huế, tôi và vài người bạn nữa, trưng-dụng một số xe hàng, trên trần kết lá để che mắt phi-cơ, xông pha tên đạn để dời sách ra khỏi thành phố. Lúc bấy giờ cửa Thượng-tứ đóng bít và đắp đất, bên nầy sông Hương là phòng tuyến của ta, còn bên kia, phòng tuyến của Pháp. Trong lúc chúng tôi chở sách, đạn từ trên phi-cơ bắn xuống hoặc từ bên kia phòng-tuyến vèo vèo bắn sang, thỉnh thoảng lại một vài người vệ quốc quân đóng ở nhà bên cạnh hoặc gác trên cột cờ bị đạn chết. Chở luôn mấy ngày như thế vẫn không hết sách. Những thứ chẳng lấy gì làm quan hệ đều phải bỏ lại vì các cầu ở miền quê sắp bị phá, phương tiện giao thông không tiếp tục bằng xe ca-mi-ông được nữa.
Chúng tôi ở cả trong một cái đình Hiền-lương để giữ gìn sách và tài liệu. Một tấm bảng yết thị được dựng lên, trừng phạt nặng nề những kẻ xâm phạm vào kho tàng văn-hóa ấy.
Tuy nhiên, chẳng bao lâu thì bộ đội Pháp tràn về. Chúng tôi phải chạy lên trên miền núi vì không ai muốn bị người Pháp bắt được làm gì. Binh sĩ Pháp chiếm kho sách. Họ vớ được mấy thùng địa đồ rất quí. (Bản đồ vẽ từng làng một. Cứ mỗi làng gồm có bốn bức rất rộng đâu lại một [sic], có ghi từng con đường, nhà thờ, trường học v.v…) Họ lấy những thứ gì cần thiết còn sách thì gọi dân chúng vào cho tha hồ muốn lấy bao nhiêu thì lấy. Hồi ấy chắc nhiều bạn đọc cũng đã trông thấy những người gánh từng gánh sách đi bán, sách chữ nho thì dùng để bồi liễn, dùng làm giấy hút thuốc, làm giấy tiền, đánh thành con cúi để châm thuốc hút v.v… Ai đã từng trông thấy tòa nhà Hậu Bổ nguy nga và kiên cố thế mà chỉ có mấy ngày đã trở nên một nơi bình-địa thì chắc không lấy gì làm ngạc nhiên thấy kho sách của Viện Văn-Hóa bị bàn tay tham lam của quần chúng tàn phá.
Sau khi tình hình đã tạm yên. Hội đồng chấp chánh lâm thời thành lập, chúng tôi lại tìm cách thu thập lại những thứ đã mất, nhưng một trăm phần không còn được một. Nhưng về sau nhờ mua được thư-viện của ông Phạm-Quỳnh cùng góp nhặt lần hồi nên giờ đây thư-viện của Viện Văn-hóa nầy cũng đã có được một số sách khá khá.
Dec 22, 2011
(9) Vài tủ sách Việt Nam nổi tiếng
Trích từ tạp chí Văn hữu, mục “Lượm lặt”
Vài tủ sách Việt-Nam nổi tiếng
Trong số các tay chơi sách nổi tiếng ở Việt-Nam gần đây, đáng kể có tủ sách của các học giả Phạm-Quỳnh, Đào-Duy-Anh, Vương-Hồng-Sển, Lê-ngọc-Trụ, tủ sách của cựu thượng thư Phạm-Liệu, bác sĩ Dương-Tấn-Tươi.
Cuộc chiến tranh vừa qua đã thiêu hủy một phần lớn các tủ sách quí giá trên đây. Cả tủ sách Phạm-Quỳnh tập trung ở biệt thự riêng trên bờ sông An-Cựu (Huế) đã bị đám cán bộ V. M. tịch thu phá tán. Hàng vạn pho sách cổ kim đông tây, đóng da, mạ vàng của ông cựu chủ nhiệm Nam Phong và thượng thư triều đình Huế, hồi 1945, có người đánh giá hàng mấy triệu bạc, sau ngày Phạm-Quỳnh bị bắt đã theo khói lửa chiến tranh mà tiêu tán.
Tủ sách của nhà soạn từ điển Đào-Duy-Anh chở tản cư trên ba va gông đôi từ Hà-nội chuyển vào Thanh-Hóa, trong đêm 19 tháng chạp năm 1946, đã dùng làm chiến lũy và mồi ngon cho lửa đạn. Sau đó người ta thấy dấu vết bao nhiêu sách quý của Đào-Quân như những xác người nằm đầy khắp cả Ga Hàng-Cỏ.
Tủ sách của cựu thượng thư Phạm-Liệu ở Quảng-Nam, công trình mấy mươi năm sưu tập sách, tạp chí giá trị đông tây, gồm hàng vạn quyển, sau thời kỳ khởi nghĩa, đều bị cán bộ V. M. địa phương ra lệnh thiêu đốt, cho sách chữ hán là tàn tích phong kiến, sách tây là sản phẩm của đế quốc thực dân!
Tủ sách của bác sĩ Dương-Tấn-Tươi, ở Mỹ-Tho phần nhiều gồm những sách quí lạ, đóng bìa bằng sừng ở ngoại quốc, cùng các bản thảo của văn thi sĩ Việt-Nam, trong đó có một bản chữ nôm Kiều của Nguyễn-Du, sau ngày kháng chiến ở miền Nam nổ bùng, đã bị quân viễn chinh Pháp đốt sạch. Lửa cháy tủ sách này luôn mấy ngày đêm, dâng khói khét lẹt mùi sừng và da bìa sách đen ngòm cả một góc châu thành Mỹ-Tho.
Tủ sách của nhà khảo cổ Vương-Hồng-Sển được chở cả xuống mấy chiếc ghe bầu lớn tản cư ở hậu giang, trôi nổi theo chủ nhân, sau bao phen hiểm nghèo, suýt tiêu ma giữa hai lằn đạn, may mắn được toàn vẹn với đầu óc bạc trắng vì ngày đêm lo mất sách của họ Vương. Vương quân vẫn thường cho là kiếp trước mình khéo tu và còn nặng nợ với sách nên chúng không nỡ lìa cố chủ. Tủ sách của vị phó giám đốc viện Bảo Tàng Quốc gia hiện ngự trị ở một ngôi nhà cổ kính tại ngoại ô Sàigòn, là nơi gặp gỡ của các tài tử chơi sách, các nhà nghiên cứu muốn tìm xem tài liệu cổ, tác phẩm hiếm quí.
Người chơi sách thứ hai được may mắn giữ gìn nguyên vẹn cả tủ sách đồ sộ qua khói lửa chiến tranh vừa rồi là học giả Lê-Ngọc-Trụ, hiện đang giảng dạy Việt ngữ ở Văn Khoa Đại Học và trông nom Thư Viện Quốc Gia. Lê Tiên Sinh nhờ ở một nơi yên tĩnh không xa Sàigòn mấy có thể đóng kín cửa nhà chứa gia tài tinh thần khổng lồ của mình mà không bị giặc cướp hay quân chê chữ nghĩa, ghét sách vở đến phá hoại. Có thể nói rằng trong bao nhiêu tủ sách, thư viện tan nát vì chiến tranh vừa qua, hai học giả họ Vương và họ Lê là thiểu số được diễm phúc lớn lao tránh khỏi cảnh “thử hận miên miên vô tuyệt kỳ” của hạng tài tử chơi sách ở đời, mình còn sống mà tủ sách của mình đã tiêu ma.
(Văn hữu, số 5, tháng Năm, 1960, tr. 55-56)
-----------
-----------
Lê Ngọc Trụ đây:
À mà Đại Nam quấc âm tự vị (Huình Tịnh Của) rồi Chánh tả tự vị: tại sao lại "tự vị"? Hì hì, ở đây liên quan đến một lỗi lầm của Phạm Quỳnh: Phạm Quỳnh do đọc sai "vị" thành "vựng" nên chúng ta có "tự vựng", "từ vựng" dùng thoải mái luôn, vì sức mạnh của Nam Phong quá lớn :p Về vụ này Phạm Quỳnh đã bị phê bét nhè chè đỗ đen: Hồ Hữu Tường, Nguyễn Hiến Lê, Trương Văn Chình, hình như cả Lê Ngọc Trụ, và rất nhiều người khác nữa.
Sep 12, 2011
CNHTXHCN [tiếp]
Sau Hội Nhà văn thì đến một cột chống khác của đời sống văn học nghệ thuật chúng ta trong suốt nhiều chục năm: chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Các bác nên đọc bài dưới đây cùng bài đăng trên blog của bác Hoa Sơn luận kiếm.
Bài gốc: Jérôme Bazin, “Le réalisme socialiste et ses modèles internationaux”, Vingtième siècle. Revue d’histoire, 109, jan.-mar. 2011, p. 73-87.
Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa và các mô hình quốc tế của nó
Jérôme Bazin
Một thứ nghệ thuật cộng sản quốc tế được xây dựng ở phạm vi như thế nào và đâu là các mô hình của nó? Tác giả tìm cách trả lời những câu hỏi đó bằng cách tập trung vào phân tích các môn nghệ thuật tạo hình của Đông Đức. Thông qua nghiên cứu các catalogue triển lãm, nhiều tài liệu lưu trữ đa dạng và các cuộc phỏng vấn, ông cho thấy vai trò cốt yếu của “các chủ nghĩa hiện thực ngoại vi” (hội họa Ý và Pháp và nghệ thuật tranh tường Mexico) trong việc xây dựng một thứ nghệ thuật cộng sản.
“Nghệ thuật thuộc về quần chúng. Phải bám rễ càng sâu càng tốt vào các khối quần chúng lao động. Phải được quần chúng lao động thấu hiểu và yêu mến[1]”. Những lời châu ngọc mà Clara Zetkin bảo là của Lênin đã được nhắc đi nhắc lại ở rất nhiều vùng trên thế giới trong thế kỷ XX. Vừa hống hách vừa thiếu chính xác, những lời này đặt ra các câu hỏi nhiều hơn là ấn định một thứ giáo điều. Chúng lại càng mơ hồ hơn vì phải được áp dụng vào mọi hình thức biểu hiện nghệ thuật (văn học, âm nhạc, nghệ thuật hội họa, v.v…) và không hề cung cấp một chỉ thị bắt buộc nào (ngay cả khi người ta biết rằng Lênin rất thích nghệ thuật hàn lâm thế kỷ XIX). Vậy là các phong trào nghệ thuật rất khác nhau tự khoác lên cho mình sứ mệnh hồi ứng những lời hiệu triệu của Lênin: từ chủ nghĩa xây dựng [constructivisme] của những năm 1920 cho tới một số tác phẩm trình diễn những năm 1960 và 1970, rồi chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa.
Như vậy đường hướng chính của nghệ thuật cộng sản là đòi hỏi đáp ứng “quần chúng”, mong muốn của nó trong việc xử lý các mối liên hệ xã hội. Ngoài nguyên lý này dần dà còn có thêm các đặc điểm khác nữa: một sự sùng bái biểu tượng [iconographie] (hình tượng con người tranh đấu và hình tượng công nhân, khung cảnh công nghiệp, lá cờ đỏ, v.v…), các thực hành nghệ thuật (lao động với những người không chuyên và với những người xa lạ với thế giới nghệ thuật), các thái độ chính trị (lòng trung thành với đảng và công khai bày tỏ thiện cảm với đảng) và cuối cùng là một hình thức tạo hình, chủ nghĩa hiện thực, cái kể từ những năm 1930 đã trở thành hình thức duy nhất được các đảng cộng sản bảo vệ. “Chủ nghĩa hiện thực” được ấn định như là thuật ngữ chứa đựng đòi hỏi tiên quyết là phải đi sâu vào quần chúng.
Subscribe to:
Posts (Atom)



