Jul 6, 2013

Gatsby ở Việt Nam


bản miền Bắc (Gátxbi vĩ đại): Hoàng Cường dịch, in lần đầu 1985, NXB Tác phẩm mới, sau này tái bản nhiều lần

bản miền Nam (Con người hào hoa): Mặc Đỗ dịch, in năm 1956, Quan Điểm xuất bản, sau có tái bản ở Sài Gòn

bản phổ biến nhất hiện nay: Đại gia Gatsby, Trịnh Lữ dịch, in cách đây vài năm

ở miền Bắc trước đây gần như không có gì khác của Scott Fitzgerald; gần đây có cuốn sách Đợi của mà tôi không có, đọc miêu tả thì có vẻ nó chính là tập truyện ngắn The Jazz Age (không rõ ở trong có câu chuyện về Benjamin Button hay không)

ở miền Nam, ngoài Gatsby, vẫn Mặc Đỗ đã dịch Tender Is the Night dưới nhan đề Cuộc tình bỏ đi và có Nhà tài phiệt cuối cùng (Tuyết Sinh dịch, Trẻ xuất bản, 1974); hai tác phẩm này về sau đều được tái bản, Cuộc tình bỏ đi giữ nguyên tên còn Nhà tài phiệt cuối cùng trở thành Ông hoàng Hollywood

muốn có nhanh một danh sách tác phẩm cùng các "từ khóa" Scott Fitzgerald thì chỉ cần nhìn bìa cuốn khảo luận của Richard Shephard về SF:


về The Great Gatsby (không hoàn toàn về bộ phim mới ra của Baz Luhrmann)

tác phẩm The Crack-Up, tiểu luận vô cùng nổi tiếng của Scott Fitzgerald, đăng nhiều kỳ trên tạp chí Esquire vào năm 1936

một cuốn tiểu thuyết tương đối chìm của Scott Fitzgerald (quà tặng từ lâu của một độc giả)


hai bản dịch tiếng Pháp: tiểu thuyết Tender Is the Night và tập truyện ngắn (gồm 27 truyện)


tác phẩm Nhà tài phiệt cuối cùng


This Side of Paradise, cuốn tiểu thuyết làm cho Scott Fitzgerald trở nên nổi tiếng, và ngay sau đó ông cưới được Zelda, có "Book One" mang tên "The Romantic Egoist", chính là cụm từ được Frédéric Beigbeder lấy lại làm nhan đề cho cuốn sách mới được xuất bản gần đây ở Việt Nam.

đoạn đầu This Side of Paradise:

Amory Blaine inherited from his mother every trait, except the stray inexpressible few, that made him worth while. His father, an ineffectual, inarticulate man with a taste for Byron and a habit of drowsing over the Encyclopædia Britannica, grew wealthy at thirty through the death of two elder brothers, successful Chicago brokers, and in the first flush of feeling that the world was his, went to Bar Harbor and met Beatrice O’Hara. In consequence, Stephen Blaine handed down to posterity his height of just under six feet and his tendency to waver at crucial moments, these two abstractions appearing in his son Amory. For many years he hovered in the background of his family’s life, an unassertive figure with a face half-obliterated by lifeless, silky hair, continually occupied in “taking care” of his wife, continually harassed by the idea that he didn’t and couldn’t understand her.



đoạn đầu trong bản Hoàng Cường:

“Hồi tôi còn nhỏ tuổi, nghĩa là hồi dễ bị nhiễm các thói hư tật xấu hơn bây giờ, cha tôi có khuyên tôi một điều mà tôi ngẫm mãi cho đến nay:

- Khi nào con định phê phán người khác thì phải nhớ rằng không phải ai cũng được hưởng những thuận lợi như con cả đâu.”

đoạn đầu trong bản Mặc Đỗ:

“Hồi tôi còn trẻ, nghĩa là dễ bị ảnh hưởng hơn bây giờ, cha tôi có khuyên tôi một điều mà tôi luôn luôn lưu tâm đến:

- Mỗi khi con muốn phê bình một người nào, con nên nhớ rằng không phải ai cũng có được những ưu điểm như con.”


(In my younger and more vulnerable years my father gave me some advice that I’ve been turning over in my mind ever since.

“Whenever you feel like criticizing any one,” he told me, “just remember that all the people in this world haven’t had the advantages that you’ve had.”)

đến cái đoạn kinh điển cao trào ở khách sạn ngày mùa hè nóng bức thì như sau

bản Hoàng Cường:

“Vẻ mặt ấy qua đi và Gátxbi bắt đầu rối rít phân bua với Đâydi, chối bỏ hết thẩy, bênh vực danh dự mình chống lại cả những lời tố cáo chưa ai nói ra. Nhưng Gátxbi càng nói thì Đâydi càng co mình lại cho nên cuối cùng anh đành phải thôi.”

bản Mặc Đỗ:

“Lát sau, Gatsby bắt đầu kể lể một cách dại dột với Daisy, chối cãi hết, bênh vực danh dự của hắn, chống với những lời buộc tội mà không ai chú trọng tới. Cứ mỗi lời hắn nói ra thì nàng lại như lùi lại thủ thế, thành ra hắn đành thôi.”

đặc biệt cuối đoạn ấy thì hai dịch giả có một câu hiểu khác nhau hoàn toàn (ở đại từ)

bản Hoàng Cường:

“Chúng tôi cứ thế lao về phía cái chết trong cảnh trời chạng vạng đang dịu mát dần.”

bản Mặc Đỗ:

“Chúng ta tiến dần về cõi chết như vậy đó, trong buổi hoàng hôn mát dịu.”



(còn nữa)

8 comments:

  1. Cho hỏi Bản dịch của Trịnh Lữ và Hoàng Cường, bản nào hay hơn?

    ReplyDelete
  2. Nếu bạn muốn có một cảm giác văn chương chỉnh chu hơn, bạn nên đọc Hoàng Cường. Những dịch giả Việt Nam (phần nhiều từ miền Bắc) thời đó thường rất cẩn trọng câu cú. Bù lại, truyện hay bị cắt xén, thậm chí sửa nghĩa, một khi chúng tỏ ra có chút gì "phạm húy" ý thức hệ chế độ. Các tác phẩm dịch sau này lại cẩu thả về văn phong, mà cũng chưa chắc hội đủ trọn vẹn về mặt nội dung, bởi vẫn không thoát khỏi nỗi sợ ám ảnh của bóng ma kiểm duyệt.

    ReplyDelete
    Replies
    1. hình như "cảm giác văn chương" và "chỉnh chu" không mấy liên quan đến nhau thì phải; à, là "chỉn chu" chứ không phải "chỉnh chu"

      Delete
  3. vậy bác NL thích bản dịch nào hơn?

    ReplyDelete
    Replies
    1. - mỗi bản dịch đều có phẩm chất riêng của nó

      - tác phẩm của Fitzgerald tôi lỡ thích nhất Tender Is the Night và Ritz mất rồi

      Delete
  4. - sao lại phải thốt lên là "lỡ" thế bác? tác phẩm của F em cũng mới đọc có mỗi Tender Is the Night :D
    - một số bản dịch Trịnh Lữ em đọc không thấy thích lắm, vì có cảm giác "bóng bẩy" hơn mức cần thiết. đặc biệt là cuốn thơ Mỹ dịch chung :))

    ReplyDelete
    Replies
    1. haiz, predilection, lỡ thích cái này thì cái kia sẽ không quan tâm đủ đến một mức nào đó nữa

      "bóng bẩy" cũng hoàn toàn có thể là một phẩm chất với nhiều người :p

      Delete