Jul 30, 2013

Về vụ Nhã Thuyên và rộng hơn vụ Nhã Thuyên một chút

nội dung cơ bản của những điều dưới đây tôi đã nói trực tiếp tại Hội nghị Lý luận-Phê bình tại Tam Đảo cách đây vài tháng, ở cuối phiên thứ hai, ngày họp thứ nhất; bài này vừa đăng (đầy đủ) trên tờ Sài Gòn tiếp thị dưới nhan đề "Nghiên cứu-phê bình văn học hiện nay: vấn đề lý thuyết và vấn đề đối tượng"



Hội nghị Lý luận Phê bình Văn học lần thứ III tổ chức tại Tam Đảo tháng Sáu vừa rồi là một dịp để giới lý luận phê bình Việt Nam hội tụ. Đọc và nghe các tham luận được trình bày, tôi thấy có hai điều chính yếu nằm ở trọng tâm của nghiên cứu và phê bình văn học hiện nay nổi lên rõ rệt.

Thứ nhất là vấn đề lý thuyết văn học. Cho đến nay, dường như rất nhiều người vẫn quan niệm rằng lý thuyết đồng nghĩa với trình bày (lại) về một phong trào văn chương nào đó, trong khi thực chất đó lại là một cách nhìn đối nghịch với cách nhìn của lý thuyết, bởi lý thuyết thường xuyên nhìn nhận văn chương như một tổng thể chứ không phải theo một tiến trình lịch sử. Lịch sử và lý thuyết có sự tồn tại thường xuyên mâu thuẫn với nhau, lý thuyết gia văn học nhiều lúc phải chấp nhận “hy sinh”, ít nhất một phần, lịch sử để thực sự có được một đường lối phân tích theo hướng lý thuyết.

Một đặc điểm nữa là lý thuyết theo quan niệm nhiều người hiện nay quá nặng màu sắc ý hệ (ideology). Tức là sau rất nhiều năm, trong đó có không ít năm giương cao ngọn cờ “đổi mới”, có vẻ như với các nhà lý luận Việt Nam, lý thuyết văn học đã khoác trở lại tấm áo của tư tưởng chứ không phải là công cụ để đi thật sâu vào các đặc trưng quan yếu của văn học nữa; cùng lúc ấy, sau một thời kỳ “tổng kết lý thuyết”, các nhà nghiên cứu văn học của phương Tây chủ yếu nhìn nhận lý thuyết văn học như là những cuộc phiêu lưu của trí tuệ. Phiêu lưu thì thường nhẹ gánh ý hệ, còn lý luận-lý thuyết nặng ý hệ thì thường trở thành công cụ áp đặt. Đặc điểm này có hai biểu hiện cụ thể dưới đây.

Thứ nhất, thường xuyên người ta quan niệm lý thuyết phương Tây là những thứ dùng được, áp dụng được vào thực tế Việt Nam; mệnh đề này hàm chứa một hiện thực: càng nhắc nhiều đến lý thuyết thì thật ra người ta càng nghi ngờ lý thuyết, chỉ sử dụng lý thuyết mà thôi, lựa chọn lấy những gì có lợi cho mình dưới chiêu bài những cái khác thì "không áp dụng được ở Việt Nam".

Đẩy luận điểm này đi xa hơn, nhiều nhà lý luận Việt Nam đã nhanh chóng đi đến kết luận (có lúc một cách tuyệt đối, có lúc một cách tương đối, uyển chuyển hơn), rằng lý thuyết phương Tây đã thất bại. Và hơn một đại biểu ở hội nghị đã lợi dụng cuốn sách Văn chương lâm nguy của Todorov để nói rằng ngay các lý thuyết gia phương Tây cũng tự thấy mình sai lầm. Hiểu như vậy là hoàn toàn khác, thậm chí là một “cái khác cố tình” so với chủ ý của tác giả cuốn sách; và cách hiểu ấy tự thân nó cũng đi ngược lại đường lối cơ bản của lý thuyết văn học.

Nói tóm lại, mặc dù đã có nhiều năm dịch thuật và nghiên cứu lý thuyết văn học phương Tây, ở Việt Nam tư duy lý thuyết chưa thực sự bắt rễ vào đại bộ phận các nhà nghiên cứu và lý luận văn học, vẫn tồn tại dai dẳng một thái độ nghi kỵ lý thuyết từng được nêu lên nhiều lần cách đây hàng chục năm. Suy cho cùng, đây cũng chính là số phận của lý thuyết văn học, và rõ ràng lý thuyết không thể được tiếp cận theo kiểu “phong trào ào ạt” như những năm vừa rồi.

Tại Hội nghị, vấn đề đối tượng của nghiên cứu và phê bình cũng nổi lên, nhất là sau ý kiến của ông Chu Giang Nguyễn Văn Lưu kịch liệt phê phán một số nghiên cứu của nhà phê bình văn học Nhã Thuyên theo nhãn quan chính trị.

Sự việc này đã kéo dài dai dẳng thời gian vừa qua, nó vừa cho thấy mức độ can thiệp và ảnh hưởng lớn của ý hệ vào hoạt động và nghiên cứu phê bình hiện nay (không khác mấy so với ở mảng lý thuyết văn học) vừa đặt ra một câu hỏi: đối tượng của nhà nghiên cứu và phê bình văn học Việt Nam hiện nay (có thể) là gì?

Và thêm một lần nữa, cũng như ở trường hợp lý thuyết văn học, theo tôi, hiện lên rất rõ hiện tượng vẫn hay được gọi là “tiêu chuẩn kép” (double standard); ở mảng lý thuyết văn học nó thể hiện ở diễn ngôn theo kiểu “lý thuyết văn học vô cùng cần thiết nhưng lý thuyết này hay lý thuyết kia không phù hợp với thực tế văn học Việt Nam”, còn ở khía cạnh đối tượng nghiên cứu và phê bình thì diễn ngôn ấy có thể phát biểu thành: “Nhà phê bình phải bao quát được mọi hiện tượng văn học xảy ra, nắm bắt cuộc sống và thực tế như nó vốn có nhưng có những điều không được động chạm đến”. Và như vậy, vô hình trung, bất kể phương pháp tiếp cận đối tượng có là như thế nào, một số đối tượng văn học ngay lập tức đã trở thành một cấm kỵ, một cái bẫy.

Cách nhìn nhận ở cả vấn đề lý thuyết văn học và đối tượng nghiên cứu-phê bình được thể hiện như vậy tại cuộc gặp gỡ quan trọng nhất của giới lý luận-phê bình văn học Việt Nam khiến cho tôi (và hẳn cả những người cùng thế hệ với tôi) thấy mình được tận mắt chứng kiến những gì tưởng chừng như chỉ có thể diễn ra trong một mảng văn học sử ngày nay rất nhiều người đã muốn quên đi.


bài liên quan:

Nhã Thuyên bàn về thơ Nguyễn Bình Phương
Đoàn Ánh Dương về Nhã Thuyên
Để chào thi sĩ Bùi Chát
Lịch sử của một cảm tình

7 comments:

  1. Những tay gác dan chữ nghĩa
    Ỳ như một cái bình vôi
    Càng lớn càng tồi
    Càng lớn càng bé lại :D

    ReplyDelete
  2. Bài này viết dịu dàng, nhẹ nhàng, đằm thắm quá :p

    ReplyDelete
    Replies
    1. ... đôn hậu và đậm nét hàn lâm, như một cụ giáo đang giảng bài :D Nhưng cũng phải thôi, trước vô số những bài báo phùng mang ở trong nước và vài bài giận dữ ở ngoài nước.

      Delete
  3. Khi mà hết tình trạng "có những điều không được động chạm đến" thì Việt Nam mới có một nền "lý luận phê bình văn học" thực sự.

    ReplyDelete
  4. Lịch sử nhân loại cho thấy, một dân tộc cần hơn 100 năm để có một cuộc cách mạng văn hóa mới. Nhưng, chỉ riêng thế kỷ 20, dân tộc VN đã chủ động làm nên hay khứng chịu ít nhất là ba cuộc đổi đời lớn. Đó có lẽ là lý do của sự ù lì không cố hữu của dân tộc Việt ngày nay: đã đủ quota!

    Tuy nhiên, điều hiển nhiên, là ngày nay vận tốc của tiến hóa và biến đổi không tính bằng thế kỷ hay cả thập kỷ nữa mà bằng năm, hay có khi chỉ bằng tháng, bằng ngày! Một chiếc máy điện thoại, TV-set hay một hệ thống software của năm ngoái, có nhiều triển vọng là hiện tại đã lỗi thời.

    Điều này cũng áp dụng cho xã hội, chính trị hay văn hóa. Chúng cũng cần phải được rì-viu, ấp-đết liên tục. Nếu không chúng chỉ có giá trị trưng bầy cho có mặt!

    ReplyDelete
    Replies
    1. (tiếp) Thật ra chỉ có hai cuộc cách mạng.
      1. Cuộc cách mạng "Quốc ngữ" (Phong Trào Duy Tân - Đông Kinh Nghĩa Thục - Nam Phong - Tự Lực Văn Đoàn) vở ra một nên văn học quốc dân chưa từng có trong lịch sử, phát triển với vận tốc chóng mặt và nhất là không chỉ ở thành phố, mà tận hang cùng ngõ hẻm. Kéo dài liên tục cho tới 1945.
      2. Cách mạng mùa Thu (1945-) hay "cách mạng CS". Hưởng thành quả của cuộc cách mạng Quốc Ngữ, đảng CS thành công trong địa hạt chính trị, nhưng họ đã đưa văn học VN sang một ngõ khác, tạm gọi là Văn học (& Nghệ thuật) XHCN hay văn học phục vụ chính trị. Dù được nhà nước lãnh đạo, ủng hộ, tuyên dương hết mình, nền văn học XHCN ở VN cho đến nay vẫn chưa có nhân dáng rõ rệt và có thể biến mất trong một tương lai rất gần...

      Nhưng câu hỏi là, liệu văn học VN có thể bắt đầu mọc mầm tuơi sáng và mạng khoẻ trở lại, tiếp nối cuộc cách mạng quốc ngữ đã bỏ dở từ 70 năm trước?! Chuyện không dễ, vì đương nhiên 70 năm qua văn học thế giới cũng đã phát triển rất nhiều. Chúng ta không thể bắt đầu lại từ mức điểm của những năm đấu thập niên 1940s, nhưng cũng không thể bắt đầu từ mốc điểm chung của thế giới tiến bộ hiện tại. Giản di vì 70 năm qua người Việt không có cùng phát triển như họ và trong văn học người ta không thể chỉ học hỏi - nhưng trong lãnh vực hoa học chẳng hạn - mà phải cần có thề gian sáng tác và sống với nó, mới có "văn học".

      Delete