Nov 30, 2016

Thơ: Paul Celan

Cái sự đọc được thơ, như mới nói gần đây, không hề là một sự đương nhiên, ít nhất là đối với tôi. Không phải cứ biết chữ là đọc được, không phải đọc được là có thể đọc được mọi thứ, và cũng thế, không phải đọc được văn chương, thậm chí triết học, nghĩa là đọc được thơ. Thơ, ở phương diện đọc, thuộc một nơi nào đó rất khó dò.

Không phải với bất kỳ ai chuyện cũng là như vậy. Có những người đọc được thơ một cách hết sức dễ dàng và tự nhiên, những người ấy làm tôi thấy vô cùng kinh dị. Martin Heidegger đọc Hölderlin là một trong những khoảnh khắc lớn nhất của toàn bộ lịch sử đọc (vì cũng có lịch sử đọc, giống như lịch sử văn chương, tuy rằng cần phải hình dung cả hai "lịch sử" này không giống như một lịch sử biên niên: nó giống với cái Kundera gọi là lịch sử của nghệ thuật hơn, hoặc giả cũng có thể giống như phần đối diện của lịch sử mà Nietzsche từng miêu tả khi bình luận David Strauß) (tôi sẽ sớm đến với Heidegger đọc Hölderlin, và cả đọc Celan). Vì không được như vậy (vì đen đủi, vì kém cỏi, vân vân và vân vân), trước một số thơ, trong đó có thơ của Paul Celan, đặc biệt là thơ của Paul Celan, đọc đến lần thứ chín mươi chín tôi thấy vẫn cần đọc lần thứ một trăm, và hơn thế nữa.

Vì đọc thơ, vấn đề không phải là hiểu. Thơ không phải là để hiểu. Cũng không phải để "cảm", như một trường phái dạy dỗ ngày nay hay rao giảng (đọc thơ không phải là để được hưởng một cơn động kinh). Đọc thơ, trước hết, là nhìn. Có nhìn thấy, thì tức là có đọc được.

Thơ là một góc nào đó rất nhỏ và rất kín. Ai cũng biết là nó có ở đó, nhưng thơ tạo ảo tưởng. Có một cái gì đó - cứ cho là cánh cửa - chặn nó lại, chặn nó lại nhưng về cơ bản vẫn để người ta nhìn thấy, nhìn thấy là có nó. Người ta vẫn có thể nhìn, nếu sốt ruột, nếu lẽ ra cần đọc một trăm lẻ một lần (ví dụ vậy) thì đến lần thứ năm, thứ bảy hay thứ năm mươi ba, thì đã chán rồi. Rất có thể, người ta sẽ chọc một cái lỗ trên cánh cửa, để nhòm vào. Khi ấy, ta có cái "lỗ của Judas". Tên của Judas Iscariote và kèm với đó là sự phản phúc, không hề là ngẫu nhiên khi được đặt cho cái lỗ nhòm (trộm) trên cửa.

Nhưng nhìn qua lỗ (chẳng hạn ở đây) thì phải chấp nhận rằng đó là một cái nhìn méo. Chừng nào còn chưa mở được cánh cửa (đối với mỗi cá thể người (đọc), có một cánh cửa riêng, không ai giống ai), thì còn chưa có một cái nhìn xứng đáng gọi là một cái nhìn.


Bài thơ dưới đây, "Ich hörte sagen", là bài mở đầu tập Von Schwelle zu Schwelle (Từ ngưỡng đến ngưỡng):

Ich hörte sagen

Ich hörte sagen, es sei
im Wasser ein Stein und ein Kreis
und über dem Wasser ein Wort,
das den Kreis um den Stein legt.

Ich sah meine Pappel hinabgehn zum Wasser,
ich sah, wie ihr Arm hinuntergriff in die Tiefe,
ich sah ihre Wurzeln gen Himmel um Nacht flehn.

Ich eilt ihr nicht nach,
ich las nur vom Boden auf jene Krume,
die deines Auges Gestalt hat und Adel
ich nahm dir die Kette der Sprüche vom Hals
und säumte mit ihr den Tisch, wo die Krume nun lag.

Und sah meine Pappel nicht mehr.


Bản dịch tiếng Pháp của Valérie Briet, in trong một ấn bản của nhà xuất bản Christian Bourgois:

On m'a dit

On m'a dit qu'il y a
dans l'eau une pierre et un cercle
et sur l'eau un mot
qui dépose le cercle autour de la pierre.

J'ai vu mon peuplier descendre vers l'eau,
j'ai vu comment son bras agrippait les fonds,
j'ai vu ses racines vers le ciel implorer de la nuit.

Je ne l'ai pas poursuivi,
je n'ai ramassé que cette miette
qui a la forme de ton oeil et sa noblesse,
j'ai retiré de ton cou la chaîne des sentences,
j'en ai bordé la table où la miette fut posée.

Et je n'ai plus vu mon peuplier.


Một bản dịch tiếng Pháp khác, lần này là của Jean-Pierre Lefebvre, in trong tập Choix de poèmes của Gallimard; tuyển tập này có bản tương ứng bằng tiếng Đức, do chính Paul Celan chọn từ các tập thơ đã xuất bản trước đó.

[Lefebvre là "tuteur" đầu tiên của tôi; năm 2002, tháng Chín hoặc tháng Mười, mới nhập học ở rue d'Ulm - thời điểm này tôi có kể qua ở kia - tôi nhận ra Jean-Pierre Lefebvre, cũng có mặt trong ban giám khảo cuộc thi concours hồi mùa hè trước đó, boulevard Jourdan, đã chọn tôi vào trong số mấy học sinh mới mà ông ấy làm "tuteur". Tuteur là thầy giáo hoặc cô giáo của trường theo sát học sinh trong học hành và cả có thể trong những điều không thuộc về học hành, thậm chí đóng luôn vai trò chuyên gia tâm lý nếu cần. Tôi cũng nhận ra là nếu "theo" Lefebvre, tôi sẽ phải học lại thật cẩn thận tiếng Đức, vì đó là một chuyên gia lớn về văn học Đức. Nhưng ở thời điểm ấy, tôi phải học tiếng Anh và tiếng Latin ở bên Paris IV, tôi lại muốn học tiếng Nhật - tôi sẽ học tiếng Nhật ở trường ENS chừng hai năm, ở lớp không ai địch được tôi về kanji, vì tôi đã học chữ Hán trước đó, nhưng dần dà tôi nhận ra lũ bạn học tiếng Nhật chủ yếu để đọc manga, trình độ đọc hiragana và nhất là katakana của chúng nó quá siêu phàm nên tôi chán - tiếng Đức mặc dù cũng đã học trước đó, tôi không muốn học cho lắm. Tôi cũng sẽ học tiếng Đức vài tháng ở ENS, về sau, và trong quãng mười năm sau đó tôi lại học tiếng Đức: tại Goethe-Institut Hà Nội, cứ học xong một khóa tôi lại đòi thi nhảy lớp và lần nào cũng được nhảy ít nhất là một lớp. Chỉ sau một thời gian ngắn, tôi xin đổi tuteur, chắc hẳn trước sự bực mình to lớn của Jean-Pierre Lefebvre. Tuteur thứ hai của tôi tại ENS là Michel Charles, một lý thuyết gia văn học rất nổi tiếng, người tạo ra cả một lý thuyết về đọc xung quanh khái niệm "dysfonctionnement". Với toàn bộ lòng kính trọng của tôi dành cho Charles, tôi đã đọc hết một chương trong số ba cuốn sách của ông ấy. Cũng chỉ được một thời gian ngắn, tôi lại chỉ muốn quay lại với Lefebvre, nhưng có nhiều chuyện không thể đảo ngược được nữa. Michel Charles chính là người giới thiệu tôi cho Antoine Compagnon khi hiểu ra - chắc cũng không hiểu lắm, vì chính tôi cũng chẳng hiểu - là tôi muốn làm gì. Mãi đến gần đây, trước hết là với các "châm ngôn Zürau" của Kafka cách đây mấy tháng, và giờ đây là các bài thơ của Paul Celan, tiếng Đức của tôi mới dần quay trở lại thực sự - các từ của Kafka, các từ của Paul Celan, giống như thần chú ấy, chúng gọi về rất nhiều thứ tưởng chừng đã quên sạch.]

Bản dịch bài thơ "Ich hörte sagen" của Jean-Pierre Lefebvre:

J'ai entendu dire

J'ai entendu dire: il y a
dans l'eau une pierre et un cercle
et au-dessus de l'eau une parole
qui met le cercle autour de la pierre.

J'ai vu mon peuplier descendre à l'eau,
j'ai vu son bras aller s'accrocher dans la profondeur,
j'ai vu ses racines supplier le ciel que vienne une nuit.

Je n'ai pas couru derrière lui,
j'ai seulement ramassé par terre la miette
qui de ton oeil a la forme et noblesse,
j'ai ôté à ton cou la chaîne des formules
et j'en ai ourlé la table où la miette se trouvait maintenant.

Et je n'ai plus vu mon peuplier.


Bản dịch tiếng Việt của tôi:

Tôi nghe nói

Tôi đã nghe nói: có
dưới nước một viên đá cùng một vòng tròn
và trên mặt nước là mấy từ
chúng đặt vòng tròn bao quanh viên đá.

Tôi đã thấy cây dương của tôi chui xuống nước,
tôi đã thấy cánh tay của nó vươn ra bám xuống đáy sâu
tôi đã thấy rễ nó cầu xin bầu trời mang đêm tới.

Tôi đã không chạy theo nó,
tôi chỉ nhặt trên mặt đất cái mẩu
nhờ mắt em mà có hình dạng và vẻ cao quý,
tôi đã gỡ từ cổ em chiếc vòng xâu các câu,
và đặt nó quanh viền cái bàn giờ đây mẩu kia đang ở trên.

Và tôi không còn nhìn thấy cây dương của tôi nữa.


Một bài thơ khác của Paul Celan, "Lob der Ferne", bài này xuất hiện trong một tập thơ rất sớm, Der Sand aus den Urnen. Về sau, Paul Celan bỏ đi nhiều bài trong đó, chỉ giữ một ít, "Lob der Ferne" sẽ được cho vào tập Mohn und Gedächtnis.


Lob der Ferne

Im Quell deiner Augen
leben die Garne der Fischer der Irrsee.
Im Quell deiner Augen
hält das Meer sein Versprechen.

Hier werf ich,
ein Herz, das geweilt unter Menschen,
die Kleider von mir und den Glanz eines Schwures:

Schwärzer im Schwarz, bin ich nackter.
Abtrünnig erst bin ich treu.
Ich bin tu, wenn ich ich bin.

Im Quell deiner Augen
treib ich und träume von Raub.

Ein Garn fing ein Garn ein:
wir scheiden umschlungen.

Im Quell deiner Augen
erwürgt ein Gehenkter den Strang.


Ngợi ca xa xôi

Trong nguồn của mắt em
sống những mảnh lưới ngư dân của biển điên loạn.
Trong nguồn của mắt em
biển giữ lời.

Anh ném vào đó
trái tim từng lưu trú giữa loài người,
những áo quần anh đã mặc và lóe chớp một lời thệ:

Đen hơn nữa trong màn đen, anh còn trần trụi hơn.
Anh chỉ trung thành trong phản bội.
Anh là em, khi anh là anh.

Trong nguồn của mắt em
anh trôi dạt và mơ cướp bóc.

Một mảnh lưới vớt lên một mảnh lưới:
ta rời xa nhau trong bấu víu.

Trong nguồn của mắt em
một người treo cổ thắt sợi dây.




Thơ: René Char về nhà thơ
Thơ: chẳng ai là ai
Thơ: tiểu sử
Thơ: bi ca và trí tuệ

2 comments:

  1. Duolingo

    You are welcome

    ReplyDelete
  2. Khó thấy thơ cũng bằng khó thấy nhạc toàn thứ siêu hình.

    ReplyDelete