May 17, 2016

Trong tay thợ cạo

trong ảnh là bản dịch tiếng Pháp tác phẩm của Krasznahorkai László sắp có tiếng Việt:


còn dưới đây là một truyện lấy từ quyển bên tay phải trong bức ảnh đầu tiên ở đường link trên



Trong tay thợ cạo



Xác định rõ mức độ của cú đánh cần giáng xuống - vì dẫu có thế nào thì cũng không thể coi hắn là dân chuyên nghiệp - rồi ước lượng lực của phát đập cần thiết để khỏi phải làm đến lần thứ hai, và sau đó, ở thời điểm quyết định, vượt qua cám dỗ đột nhiên thật mạnh mẽ được buông xuôi theo nỗi hãi hùng bản năng hoặc sự thất bại thô thiển, chừng ấy thứ có vẻ khó khăn hơn tất tật những gì còn lại, thành thử thay vì phải nghiên cứu địa hình và trù tính mọi chi tiết cốt tử, những ngày cuối cùng hắn lại sử dụng thời gian để hình dung sức bật cần thiết để hành động của hắn có thể thành công, trong một trạng thái ngây độn hoàn toàn đến nỗi dường như thời gian bị ngưng lại, trong đó, liên tục vấp phải những cú nhảy dựng vô thức của nỗi sợ, vai và cánh tay trái hắn có những đợt run rẩy ngắt quãng, những run rẩy khiến hắn phải đối diện với nguy cơ có một bợm nhậu ngồi cùng nào đó, mặc dù chẳng hề ngờ vực - tất nhiên rồi - tới một điều cụ thể nào, vẫn có thể nghi ngờ gì đó. Dẫu vậy, hắn cảm thấy không thể thực hiện ngần ấy đề phòng; còn tệ hơn nữa: càng tiến lại gần thêm cái đêm mà thời hạn ấn định chẳng vì một lý do cụ thể nào đã bị lùi lại hai lần vì các chầu nhậu bất chợt (kể từ khi “nhờ một căn hộ bốn mươi mét vuông cho thuê theo hình thức trọn đời”, ông già Csonka, hay như vẫn thường gọi lũ trẻ con, đám bồi bàn và những ông già khoái nhậu xỉn khác, “lão Béla”, đã “vợt được một món lớn”, lão không ngừng lải nhải ở quán Cái Trống: “Tám mươi lăm ngàn tiền mặt, với một mớ như vậy ở tuổi tôi, nghe thì cũng lố bịch nhưng các vị cứ tin rằng tôi nhét nó dưới gối rồi ngủ ở trên, và một mắt vẫn…”, hắn biết chắc cú rằng chẳng việc gì phải vội, rằng thời gian đứng về phía hắn, bởi xét cho cùng đâu có quan trọng là hôm nay, ngày mai hay ngày kia), Simon ngày một thêm thiếu cẩn trọng, đến mức dần dà trở nên yếu oặt như một chú nai gãy lưng: không chỉ ám quán Cái Trống từ lúc mở cửa cho tới khi đóng cửa, ngay khi nào nhìn thấy lão Csonka bước qua cửa, là hắn liền ngồi dịch ngay vào nhường chỗ cho lão và, với những đồng xu cuối cùng, trả tiền những cốc fröcc rồi đặt chúng trước mặt lão mà chẳng nói thêm lấy một lời, thái độ hiển nhiên là quá mức kỳ quặc tại cái nơi mà ngay “lão Béla, dẫu sao cũng đã chứng kiến nhiều chuyện trên đời”, cũng im lặng, đấy là để đè nén nỗi kinh ngạc, hướng đến hắn một cái gật đầu trang trọng, nghiêm nghị. Như thể được bảo vệ bởi sự yếu oặt gần như hỗn xược ấy, dẫu hắn có không ngớt để lộ và tự thông báo với mọi người khác sự thiếu khả năng rành rành trong việc tách rời khỏi nạn nhân tương lai của mình, thì cứ như thể là trong một vương quốc của người mù, chứ không phải của những người nhìn, bản thân hắn cũng mù, hắn buông mình trôi thẳng về phía cái đêm đang tiến lại, không thể tránh, với chỉ độc một nguồn ánh sáng, trong màn tối bưng đè áp lên hắn khủng khiếp, tia sáng thôi miên phát ra từ những tờ giấy bạc. Sự mù và cái lực vừa bảo vệ vừa khuấy động Simon ấy lại kiếm ngay được chính Csonka làm nạn nhân đầu tiên và chủ yếu: chẳng biết phải làm sao để thể hiện lòng biết ơn trước những cốc fröcc được mời không ngày qua ngày, một tối thứ Năm, sau khi quán đóng cửa, lão chủ động mời hắn lên nhà, và vừa chế giễu “rượu của nợ” bán ở quán, lão già vừa liến thoắng ca ngợi món rượu Badacsony do lão tự mua lấy (“Cậu sẽ nói cho tôi hay nhé, con trai, đến phải tự hỏi thế giới sẽ đi về đâu!…), Simon, đi theo sau lão trong cầu thang, với một vẻ bối rối có chút ít giả dối, mỗi lúc một bồn chồn siết chặt hơn - làm như muốn vuốt cho phẳng ngực áo bằng vải gabađin màu hạt dẻ - thanh sắt ngắn nhưng dày cui. Về chuyện “thế giới đi về đâu” hắn đã không - ít nhất là ở lần này - có cơ hội biết được gì, vì vừa vào đến trong bếp, trong lúc Csonka quay lưng về phía hắn để rót hai cốc rượu vang nhỏ, Simon nhón bước tiến lại và không một chút chần chừ vụt xuống. Như là có một ý chí riêng, cú đánh - mà vẻ táo bạo khốc liệt trái ngược hẳn với lòng cả quyết trộn lẫn với sự yếu ớt đờ đẫn - xuất phát dữ dội khủng khiếp để rồi giảm mức độ ở cuối đường, vừa đủ mạnh để thỏa mãn dự đồ giết chóc. Cái xác - thứ duy nhất mà Csonka còn sở hữu trong những khoảnh khắc cuối cùng này - run lên một chút, gáy mượt lông ngay lập tức phủ máu, hai bàn tay cuống cuồng vẫn còn cố quờ quạng tìm chỗ níu trong khoảng không, một tiếng rên kinh hoàng buồn vô tận thoát ra từ dưới bụng, từ cổ họng, từ miệng (“Hả…?! Cái gì…?!”), và trong khoảng thời gian tiếng vọng những rơi vỡ của mấy cái cốc cùng chai rượu xuống sàn đá hoa của bếp ngừng, lão cũng sụp xuống, chỉ hơi ồn hơn so với tiếng đập cánh của một con chim bay lạc vào phòng ngủ của chúng ta vào thời điểm tìm lại được không khí tự do qua cửa sổ mở. Tiếng cái đầu vỡ rạn - thứ duy nhất khiến hắn kinh hãi, vì hắn chẳng hề ngán cả cái xác của Csonka lẫn một đợt thương hại bất chợt ào tới - rốt cuộc đối với hắn cũng chẳng đến nỗi không thể chịu nổi (có lẽ điều duy nhất gây áp chế lên hắn là cơn đau nhói xoáy vào gáy ở cùng thời điểm); thế nên, lúc hiểu ra rằng nạn nhân sẽ không cựa quậy nữa trong vũng máu trộn rượu kia, hắn chầm chậm hạ cánh tay vẫn lơ lửng không trung xuống, bước giật lùi ra khỏi bếp và, dựa lưng vào cánh cửa, tống khí trong hai buồng phổi đang chực nổ tung ra, chút ít không khí mà một lúc trước hẳn Csonka đã muốn quờ lấy. Vì có đủ mọi lý do, trong màn im lặng nhức nhối này, để nghĩ rằng món tiền nằm nơi cái giường của lão già, sự rối trí của hắn lên đến cực điểm vào lúc, sau khi đã bước qua, tim đập thình thịch, chướng ngại vật kinh tởm, rồi xới tung, mỗi lúc một thêm sốt ruột và điên giận, đám gối, chăn và đệm của chốn nhơ nhớp tối tăm trông giống một cái ổ hơn là căn phòng ấy, hắn nhận ra mình đã nhầm. Người hắn chợt nóng rực lên, còn cơn đau vẫn nhói lên ở gáy, thay vì dịu đi, thiếu điều cắt đứt luôn đầu hắn ra, trong một lúc, hắn cảm thấy nếu ba chân bốn cẳng bỏ chạy - xa khỏi căn phòng! khỏi cái bếp! khỏi tòa nhà! - thì hắn vẫn còn có cơ thoát khỏi câu chuyện này. Thế nhưng tất tật những điều ấy lại chỉ dẫn hắn đến chỗ một cái tủ, hắn lục lọi từ trên xuống dưới, nhưng cả ở đó cũng chỉ xôi hỏng bỏng không; hắn moi móc tủ khác, chẳng tìm được gì ngoài một cái hộp nhỏ đựng cúc măng sét giữa hàng chồng áo sơ mi, gi lê cùng quần áo lót tơi tả; thật là quá mức rồi: vấp phải trò lừa, đột nhiên hắn mất trí và, cáu điên, phá tung căn phòng; hắn giật những tấm ri đô, thanh mắc, đổ ập xuống sàn chút ít đồ lổn nhổn đựng trong các ngăn kéo bàn, kéo những cái tủ dịch khỏi tường rồi, hết cả hơi, thấy lo lắng về những tàn phá và tiếng ồn hắn vừa gây ra, đứng sững lại, nín hơi thở và dỏng tai lên: có phải hắn đang nghe thấy, ở bên ngoài, những bước chân? Tự khích lệ mình hướng tới sự chừng mực - “Cái đó thì không, mình không được… nhất định không…” - hắn tự nhắc lại câu này hai lần, cái câu như thể mang chức năng tái lập trật tự to lớn - ở giữa sự hỗn loạn thuần túy ấy - giúp hắn bình tâm một chút. Hắn châm một điếu thuốc lá, lấy tay dụi cặp mắt nóng rực, và mãi tới lúc ấy mới nhận thức được sự phi lý trong các hành động của mình. Làm sao mà hắn lại có thể đánh mất sự tự chủ đến mức đó, và món tiền, xét cho cùng, tại sao hắn cứ đi tìm nó giữa đống chăn đệm? Vài câu nói hiển ngôn hoặc vài mẩu đoạn rời rạc của Csonka chẳng phải đã lôi kéo đến chỗ cái giường sự chú tâm lộn xộn cực điểm của hắn ư? Tuy nhiên hắn có biết rằng tự thân cú giết người là không thể tránh khỏi, bởi lão già, theo chính những lời lặp đi lặp lại không ngừng của lão, hẳn chẳng bao giờ để tiền của lão rời khỏi mình, ngay cả khi ở trên giường… Dễ chịu và thật nhẹ, một tia sáng giải cứu êm ả chui vào trong hắn, việc nhận ra sai lầm tạo ra ở hắn một sự nhẹ nhõm sâu xa, và ngay khi ấy hắn không còn điên rồ nữa, không vội vã nữa, hắn thấy mình có thời gian, thậm chí hắn còn trông thấy - hoặc gần như vậy - một chỗ phồng lên trong túi áo Csonka, và chuyện ngay lập tức tìm thấy, ngay ở lần thử tiếp theo, những tờ tiền hẳn được bọc trong giấy bản cũng chẳng còn là điều không thể nữa, và vậy là sau đó hắn chỉ còn phải khéo léo tổ chức cuộc bỏ chạy và thật tỉ mỉ, hợp lý và cẩn trọng, quyết định xem, cân nhắc mọi chi tiết, rời khỏi thành phố vào lúc nào và bằng cách nào. Dựa lưng vào cánh cửa, hắn dừng một lúc trên ngưỡng bếp, và lần đầu tiên kể từ lúc đập vỡ cái đầu kia, hắn liếc nhìn cái xác ì đọng; hắn khoan khoái nhận ra mình đang đứng đây lạnh lùng biết bao nhiêu, bản thân hắn cũng phải kinh ngạc vì đã không cảm thấy cả xót thương lẫn sợ hãi trước khả năng bất kỳ lúc nào cũng có thể bị bắt quả tang tại trận. Hắn không muốn dối trá với chính mình: không, việc vừa giết người vài phút trước đối với hắn chẳng khủng khiếp mấy, vì theo hắn - vượt quá sức hút tự nhiên về phía mọi thứ gì người ta vẫn cho là cứu rỗi và lành mạnh - hành động ấy chỉ có vẻ hãi hùng trong lý thuyết, còn trong thực tế thì đỡ hơn nhiều. Những e sợ lúc trước gây ra ở hắn một nỗi ngượng ngùng nhất định vì giờ đây Csonka đã không còn là Csonka mà chỉ đơn thuần là một cái măng tô nhồi trên sàn bếp, một đống thảm hại, một đụn bất hạnh đáng ghê tởm bốc mùi rượu từ bên trong cũng như từ bên ngoài, và vậy là một vực thẳm sâu hoắm, không thể vượt qua kể từ nay ngăn cách lão với con người sống trước kia, cái con người mà ngay trong cơn tưởng tượng mê sảng nhất Simon cũng chẳng chạm tới nổi, từ đó mà hiện lên thật rành rọt cảm giác của hắn: hoàn toàn không phải hắn đã nện chết một người sống, mà hắn chỉ đập sụm cái thứ đang nằm đây. Mãi lúc ấy hắn mới nhận ra điều này, nhưng sự đờ đẫn tê liệt chiếm lĩnh hắn những ngày vừa qua vừa tan biến một lần là xong luôn, ở bên trong hắn, tay trái hắn không còn lẩy bẩy và hắn đã hiểu được mình đang ở đâu, chuyện gì vừa xảy ra và hắn sẽ phải làm gì; thế nên hắn dụi điếu thuốc, bước thật rón rén, vì sợ bị mảnh thủy tinh vỡ đâm xuyên đế giày mỏng cắm vào gan bàn chân, hắn tiến lại gần người chết. Chủ yếu vì một sự tỉ mẩn đầy đề phòng chứ không phải bởi ham muốn hướng tới một khám phá chắc chắn, trước tiên hắn lục thật kỹ các túi bên ngoài, rồi tiếp đến là các túi trong. “Trong áo vest, chắc chắn.” Thế nên hắn cởi cúc cái áo măng tô, nhưng ngoài giấy tờ cá nhân, một túi đựng xu, một túi thuốc lá, vài cái vé cá ngựa và xổ số, hắn chẳng tìm được gì thêm. “Thế thì trong túi sau rồi.” Hắn lật cái xác ngoan ngoãn nằm sấp xuống, nhưng ngoài một cái ví màu lục, hắn vẫn không thấy gì nữa. “Này, lão già! hắn lầm bầm, lão cất vào đâu thế hả? Lỗ đít à?!” Thế nhưng hắn có lục đi lục lại mấy cái túi (“Thêm một lần nữa! Một lần nữa!”), có rờ rẫm nạn nhân từ đầu xuống chân, thậm chí còn cởi bít tất, thì vẫn chẳng thấy tiền đâu. Hắn đứng đó, mặt xanh mét, trong làn ánh sáng ủ dột; tiếng bước chân nện mạnh tiến lại gần rồi lại đi xa khỏi vọng đến từ cầu thang. Những bức tường lục nhớt lốm đốm vết bẩn như thể đang ép vào hắn. Cửa dưới tầng trệt sập mạnh. “Một công nhân. Làm ca ban ngày. Chắc mình phải hét lên mất thôi.” Không thể chấp nhận là không có tiền, chẳng có gì khác ngoài một hiểu nhầm tàn tệ, nhưng dẫu có thế thì hắn vẫn không sao nghi ngờ nổi về sự tồn tại của món tiền - thế mà chỉ cần làm mỗi một việc là tin vào cái điều mà hắn đã biết - thế nên hai tay hắn lại khởi sự, gần như theo cách thức không thể kiểm soát, lục soát thật kỹ càng cái túi đựng xu (“Ba trăm hai mươi và…”), thêm một lần nữa mở túi đựng thuốc lá ra, để rốt cuộc tìm được trong ví cái thứ mà Simon - làm sao hắn có thể đoán được những gì phải tìm nằm trong đó? - tuyệt đối không muốn tìm. Hắn không đọc văn bản, nhưng tuy vậy trí óc hắn vẫn chụp lại hình ảnh (“Chỉ là viết lên giấy… Dẫu sao thì lão cũng đã không nói dối… Không thể nào… Không thể nào… dẫu thế… thì…”), rồi, chầm chậm, hắn thõng tay, để rơi tờ giấy, rùng mình và sau đó, bị một nỗi mệt mỏi ập tới thiếu điều thì quật ngã, hắn loạng choạng quay trở lại khoảng tối lờ mờ của phòng ngủ - chỉ có độc một mảnh ánh sáng luồn từ bếp sang - và ngồi chớm mông lên thành giường, như thể hắn thấy thật chẳng ra sao nếu chiếm nhiều chỗ hơn. Hắn thấy thật nặng nhọc vì phải ngồi, thật nặng nhọc vì phải cong lưng, thật nặng nhọc vì phải vươn người lên; hít thở, im lặng, bị ngứa mặt: mọi thứ đều đánh mất ý nghĩa; chẳng gì còn dùng để làm gì nữa, tính cả việc thu lu người lại hay đứng dậy đi ra ngoài không khí tự do, vì dẫu chỉ cần ba bước chân thôi, hắn vẫn thấy việc tìm lối ra là không thể, vì hắn chẳng biết phải chọn hướng nào, không có khả năng định hướng trong khoảng không gian hũ nút chẳng có lấy một lối thoát này, bởi là đường một chiều, cứ như thể hắn không thể nào đi trở ngược con đường đã dẫn hắn từ phòng ngoài cùng vào phòng ngủ qua cái bếp. Phải làm gì nữa đây? Hắn cứ ngồi, hai tay khoanh lại, nhưng lúc hắn đưa ánh mắt u ám về phía ánh sáng gần như chói mắt của căn bếp, rồi trông thấy Csonka, sau khi đã bị vần vò và lật úp xuống, mang dáng vẻ của một con mèo nằm ép người xuống đất chuẩn bị nhảy bật lên (cái măng tô nhàu nhĩ của lão làm thành một cái bướu trên lưng; hai bàn tay xòe ra như cẳng thú cứng đơ và hai chân giạng rộng - cứ như là lão định chống xuống sàn đá hoa để lấy sức nhỏm dậy), Simon quay trở lại bếp và, hấp háy mắt vì luồng ánh sáng dữ dội và những đau thắt khoan vào sau gáy, cũng chẳng biết vì sao nữa, thử vần cái xác về tư thế ban đầu. Nhưng hắn có kéo hai cánh tay chẹt bên dưới cổ họng ra, có lật cái xác nằm ngửa lên, thì hình ảnh khuôn mặt tơi tả, cố định lại trong một sự nhăn nhó nhìn mà đông cứng máu lại, đột nhiên khiến hắn thấy thật không sao chịu nổi, đến nỗi ngay tắp lự hắn phải, bằng bất kỳ giá nào, làm gì đó để thoát khỏi nó. Hắn bèn thòng tay xuống dưới nách xốc lão lên dựa vào chân bàn, cố sức làm cho nó ngồi, cái xác nặng đến đáng kinh ngạc ấy, nhưng thân người kia cứ không ngừng lúc lắc sang hai bên; đổi ý, hắn kéo lão ra chỗ cửa, quẳng lão nằm bên dưới giá mắc áo và phủ lên lão một đống áo; tuy nhiên hắn lại bỏ ý định, vì như vậy “cũng không được”, cái đống này chiếm hết khoảng không gian nhỏ xíu, chặn mất cửa, “nếu có người muốn vào”. Một lần nữa, hắn lại kéo nó đi, vào phòng ngủ qua bếp, dừng một lần, bối rối, ở cạnh giường, rồi rốt cuộc quyết định - với cảm giác rằng ngần ấy nỗ lực làm hai tay hắn mỏi dừ - đặt nó ngồi lên cái ghế phô tơi xơ xác ở góc nhà tối nhất. Hắn đặt lên hai tay dựa, thật chắc, hai bàn tay đã hơi cứng lại, vuốt cho phẳng cái áo măng tô nhàu ở đoạn bụng và, chẳng phải không khó nhọc, vắt hai chân chéo vào nhau, như thể Csonka đang thảnh thơi ngồi đó, rồi hắn quay lại bếp, tắt đèn và ngồi lên một cái ghế. Tuy nhiên, kết quả không làm hắn thấy thích hợp, trong chừng mực cùng một lúc thỏa mãn hai yêu cầu - sửa chữa lỗi lầm của hắn bằng một cách nào đó nhưng đồng thời cũng phải chối bay là đã phạm lỗi - chắc chắn chẳng phải việc dễ - đó là còn chưa nói đến chuyện ở tận sâu tất tật những thứ đó đang hoạt tác, sượng đục, một xung động không thể kiểm soát mà cái đích ngoài tầm với cứ tuột đi mãi, và nó mang hình dạng một sự nổi loạn sơ khởi chống lại cái địa ngục của sự bất lực nơi hắn, giờ đây khi hắn đã trở nên hoàn toàn trơ trụi như vậy trước tất cả những gì vừa gây ra. Không có cách nào để thoát ra, như thể bị trói chặt từ bên trong, hắn cảm thấy bị đè nát dưới trọng lượng cái xác, hắn không sao thoát được ra khỏi, đặt nó xuống đất cũng chẳng khá gì hơn, và trong lúc hắn buông hai tay cho chúng thõng xuống, trong khoảng không, cái xác nặng trịch của Csonka kéo lấy chúng với cùng lực vào khi, đan vào nhau vòng dưới nách người chết, chúng đã tìm cho nó một chỗ trong mê cung địa ngục này. Theo gương Simon, Csonka chẳng còn gì cũng như bất kỳ ai ở bên ngoài lão: cú rơi, giống còng tay, buộc chặt họ vào với nhau, cũng giống như cành cây gãy không thoát khỏi bàn tay túm lấy nó, bởi ở mãi phía bên dưới - vực thẳm sâu lắm - ào tuôn thung lũng nước mắt. “Nhưng sao lại thối hoắc lên thế này nhỉ?” Hắn bật đèn, hít ngửi không khí xung quanh, và vì mùi thối dường như bay từ phòng ngủ ra, hắn mau chóng tìm thấy dưới gầm giường một cái bô sắt tây đầy lưng chừng nước đái. “Ít nhất thì mình cũng sẽ không có kết cục giống như thế này”, hắn thoáng nghĩ. Rất mau chóng, hắn đổ cái bô vào bồn rửa trong bếp, nhưng vì sợ ai đó bên ngoài nhìn thấy hắn trong này, nếu mở cửa sổ rồi đóng lại, hắn không dám thông khí, nhưng mùi hôi thối, mà cho tới lúc ấy hắn không hề để ý, khiến hắn khó chịu, kinh tởm quá, càng lúc càng thêm khó chịu. Hắn thấy xấu hổ cho Csonka; hắn những muốn lão già - chừng nào cảnh sát đến khám căn hộ - tạo ấn tượng tốt đẹp cho bọn họ, thế nên hắn nảy ra ý định dọn dẹp và rửa đống bát đĩa cáu bẩn rải rác đây đó. Nhưng vì thấy không đủ sức để đảm đương việc này, hắn chỉ châm thêm một điếu thuốc lá rồi ngồi lại xuống ghế sau khi đã tắt đèn. Ánh mắt trống vắng, hắn nhìn chằm chằm vào bóng tối thêm một lúc nữa, chỉ chú tâm đến cơn đau đầu cứ thắt lại mãi, nhưng không lâu sau đó, đúng lúc đột nhiên hiểu ra tại sao mọi thứ chốn này đối với hắn lại thân thuộc đến thế - cái bàn kênh, cái ghế, những cặn cháy đen trên cái bếp cũ sì, cái giá mắc áo, cái giường cứ liên tục bừa bộn, ghế phô tơi, thảm lót rẻ tiền - hắn cảm thấy đã nhiều tuần nay, nhiều tháng và thậm chí nhiều năm, kể từ khi mặt đất hẫng đi dưới chân hắn lần đầu tiên, hắn đã chăm chăm hướng đến, đúng, chăm chăm hướng đến cái sự ở đây, lỗ ổ chuột thảm hại này, bởi vì - cũng giống như con người đang thất thoát của hắn cố công níu giữ logic tạm bợ của chính nó - hắn nghĩ mình cứ thun thút mà tới đây chắc chắn không phải vì tình cờ, như thể hắn đã theo một con đường vạch sẵn. Không hề tự nhủ chỉ vì yếu đuối và lười nhác nên hắn mới bị lôi kéo đến cái điểm kịch tính này của tồn tại hoặc, ai biết được, nỗi giằng xé khủng khiếp khi nhận ra - có lẽ là do cảm giác lo lắng tăng dần - mọi thứ gì là lành mạnh và đẹp đẽ của cuộc đời đang tan vỡ, liên hồi rã ra trong lòng bàn tay, thay vì thế hắn ngờ là có tồn tại một vị Chúa thù địch hoặc thờ ơ chỉ chăm chăm tạo hình cho những gì là không động tâm, không thể cứu chữa trên thế giới mà ông ta sinh ra, thành thử hắn không sợ cái việc sớm muộn rồi cũng phải chết ngạt dưới sức nặng của cảm giác tội lỗi, của những hối hận hay của nỗi đau nhức nhối trước sự hãi hùng, thậm chí, cứ rên rỉ mãi, thảm hại, cảm thấy tội lỗi nhiều đến vậy, vì những gì hắn đã làm không thể nào đảo ngược - đấy là còn chưa nói đến thất bại được thông báo từ trước của mọi sự kháng cự, vì đâu có gì chiến thắng nổi cái không thể hiểu. Quan trọng gì, hắn nghĩ trong một cơn lốc những ý nghĩ rối bời, khi mà mi phải lãnh trách lời quyết định không được phản đối của số phận, cho dù mi có làm gì đi nữa - vì chút tàn thuốc lá rơi xuống đất vẻ như vì tình cờ hoặc chỉ là do bất cẩn, mà đốt mất nhà của mi cùng những người ở trong đó, thậm chí giết tất cả họ bằng chính bàn tay mi, con của mi, vợ của mi, bạn của mi, mẹ của mi… - dẫu sao thì đằng nào Csonka cũng sẽ chết thôi, còn mi thì phát điên, mất trí - mặc dù, xét cho cùng, mi đâu có được lựa chọn - nếu mi tự buộc tội mình đến mức rồ dại, bởi nỗi kinh hoàng thông qua cánh tay mi mù quáng giáng xuống bất kỳ ai, chẳng có gì chung hoặc mối liên quan nào với những dự đồ quỷ quái của mi. Và giờ đây vào lúc đối với hắn mọi thứ đã xảy ra theo lối không thể đảo ngược, [bỏ vài chữ chẳng hiểu định nói gì] hắn chẳng còn biết rõ nữa tại sao mà vài tiếng trước hắn lại có thể tưởng tám mươi lăm tờ tiền một nghìn sẽ là cơ may giải thoát cho hắn, và lại còn nữa: tại sao mà hắn lại có thể, hắn ấy, trở thành một kẻ sát nhân, thế mà hắn còn chưa bao giờ giơ tay lên trước bất kỳ ai và mọi lần thấy là không thể thoát khỏi những cuộc ẩu đả ở quán rượu, hắn đều thích nhận các cú đánh hơn là tạo ra chúng. “Nhưng, mấy giờ rồi nhỉ?” Vì hắn đã, từ rất lâu rồi, uống hết số tiền có được do đem cầm cái đồng hồ đeo tay, hắn chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài quay trở vào phòng ngủ để xem đồng hồ của Csonka. Hắn bật đèn, tiến lại gần người quá cố đang cứng lại trong một tư thế nhìn mà lạnh cả sống lưng, nhấc tay lão già lên vì không nhìn rõ mấy cái kim (“Còn chưa đến mười một giờ.”), và mãi tới lúc ngồi lại xuống bên cái bàn bếp ý thức về thời gian đã trôi qua mới ào lên hắn. Nỗi sợ đột nhiên xâm chiếm khiến hắn thấy hãi đến nỗi ra đến ngoài phố vắng mới hồi tâm được, thậm chí còn chẳng biết - không sao mà nhớ nổi - làm thế nào mà mình lại ra được đây. “Mình đã để lại dấu vân tay ở mọi nơi. Dẫu có thế nào, mình cũng sẽ bị tóm thôi.” Trời mưa lất phất, gió tháng Tư quất lên mặt hắn, ấm nồng nhưng dữ dội, và từ cả hai bên đường, từ tận sâu vườn và sân, vang lên, u hoài, đau đớn, những tiếng mèo con kêu khiến hắn thấy kinh hãi. Hắn đi từ quán rượu này sang quán rượu khác, nhưng vì ngay quán cuối cùng cũng đã đóng cửa, hắn quay lại quán đầu tiên và bắt đầu trở lại cuộc vòng vèo của mình: suốt đêm hắn quay vòng vòng như một con sư tử trong chuồng, vì chỉ việc bước đi mới làm giảm nhẹ chút ít nỗi sợ giờ không buông tha hắn nữa. Vả lại hắn chẳng có nơi nào để đi, biết rất rõ rằng trước hết người ta sẽ đến tìm hắn ở căn hộ của người bạn nơi hắn tá túc từ gần hai tháng nay, thành thử hắn chỉ nằm xuống một cái ghế trong khu vườn nhà thờ lúc cảm thấy hai bàn chân lạnh thấu đến xương trong đôi giày tennis ướt nhẹp. Ngay lập tức, hắn thiếp đi trong giấc ngủ nặng nhọc, và tuy cũng ngủ được ít nhất hai tiếng, hắn có cảm giác mình chỉ vừa chợp mắt đúng cái khi, chập chờn mở hai mí mắt trĩu nặng, trong làn ánh sáng thù địch của sớm mai, tiếng còi của một chiếc xe ô tô đột ngột kéo phăng hắn khỏi giấc ngủ. Người cứng ngắc, hắn không cảm thấy hai bàn chân nữa, răng thì va lập cập và một đợt chuột rút vặn xoắn vùng ngang thắt lưng nhạy cảm. Dẫu vậy, cơn đau đầu đã không còn lồng lộn nữa, đỡ mức không thể chịu đựng; trì trệ và sường sượng, nỗi đau không còn tóe sáng về phía mắt. Vì sợ bị nhìn thấy bởi ông mục sư mà hắn có biết loáng thoáng hoặc bởi ai đó trong nhà thờ, hắn vội vã chuồn đi theo cánh cửa khu vườn lúc nào cũng để mở rồi hòa mình vào đợt sóng ám muội của những người đang đi làm, và hắn vẫn còn đủ tỉnh táo đáp lại lời chào sắc lẻm của tay giao sữa ngồi sau vô lăng chiếc xe tải, cùng kẻ ấy hắn rất thường tu rượu trong góc một cái quán bệu rệu chưa bao giờ tỏ ra không hợp với cái tên của nó: Thò Lò Mũi Xanh. Tuy vẫn tiếp tục nghĩ, trong làn hơi ấm dễ chịu của ánh sáng ban ngày, rằng mình chẳng có lấy một cơ may thoát thân, nhưng hắn cũng không thể tự ngăn mình tự hỏi nên đi đường nào để rời khỏi thành phố. Và vì việc tìm thấy trong túi áo cái túi đựng xu của Csonka làm hắn nghĩ mình gặp điềm tốt, phản ứng đầu tiên của hắn là bước vào quán đầu tiên mở cửa trên quảng trường chợ nốc vài cốc rhum để tay chân được rã đông. Thật may - bởi hẳn là hắn sẽ chẳng biết phải nói gì với họ - vì hắn không gặp phải người quen nào, cả ở đó cũng như trong lúc trên đường đi ra nhà ga, thế nên hắn có thể lên chuyến xe bus đầu tiên đi về nông thôn mà không bị ai để ý, hắn cứ ngồi lì trên đó tận cho tới bến cuối. Ngôi làng, hắn cũng chẳng biết tên là gì, là một trấn nhỏ xíu thiu thiu ngủ, im lìm, trong khoảng lõm một thung lũng; sương mù gần như vẫn phủ đầy những ngọn đồi lân cận. Náo nhiệt vui tươi, một toán trẻ con vây lấy chiếc xe bus hắn vừa bước xuống rồi, trong lúc Simon đi ngược trở lại theo hướng thành phố, một sự tĩnh lặng khổng lồ trùm lên hắn từ mọi phía. Do dự, hắn nhìn ra xung quanh, và đối diện bến xe bus hắn phát hiện một bảng hiệu quán rượu; hắn quyết định chừng nào còn chưa say hẳn, sẵn sàng để quay cuồng, hắn sẽ không nhúc nhích, không suy nghĩ gì hết. Nhưng ngay sau cốc rhum đầu tiên - nặng hơn rượu người ta vẫn phục vụ ở thành phố - câu hỏi chuyện gì đã xảy đến với Csonka bắt đầu quấy nhiễu hắn, và chỉ riêng ý nghĩ thoáng qua rằng kể từ khi hắn để lão lại một mình, lão có thể bị ngã khỏi ghế phô tơi, đã đủ gây ra một luồng khí nóng ào vào hắn. Dẫu chẳng hề muốn, vì đối với hắn vấn đề chẳng có chút ý nghĩa nào, mọi thứ đều thúc đẩy hắn phải xem xét bằng cách nào, dù sao, thoát khỏi chuyện này, thành ra, không đủ sức cưỡng lại cám dỗ, hắn không thể tự ngăn mình bồn chồn bám lấy cái ý nghĩ bất khả thi là người ta chẳng hề nghi ngờ hắn, mà chẳng hạn lại nghi ngờ những kẻ ký hợp đồng với Csonka, dẫu rằng những giả định nghiêm trọng - hắn cảm thấy quá rõ điều này - đều giáng lên hắn. Người ta sẽ tìm thấy các dấu vân tay ở khắp nơi, và tại quán Cái Trống cũng như những nơi khác, sẽ có nhiều người xác nhận Csonka có quen biết hắn, đấy là còn chưa nói đến chuyện bất kỳ ai cũng có thể đã nhìn thấy Simon khi lão dẫn hắn về nhà, hoặc khi hắn chạy khỏi tòa nhà. Trước tình hình rối beng của mình, hắn quyết định ngừng nghĩ đến bất cứ điều gì (“Chỉ uống thôi, cho đến lúc nôn mửa…!”), nhưng rất sớm, hắn thấy mình lại đang ngẫm nghĩ: hắn phải thay hình đổi dạng và tìm việc làm ở một xó hẻo lánh, hoặc trốn hẳn khỏi đất nước và bắt đầu lại mọi thứ từ con số không. Quay trở lại quầy để gọi những cốc rhum mới, hắn trụ được trước ánh mắt nghi ngại của mụ chủ, cái ánh mắt cũng có thể ít hướng đến hắn hơn là đến kẻ lạ mà mụ nhìn thấy bên trong hắn, nhưng có nốc một hơi hết luôn tất cả những cốc rượu kia thì hắn cũng cảm thấy mình sẽ không sao mà say nổi. “Ở đây, phải tìm thợ cắt tóc chỗ nào?”, hắn hỏi - nhưng thấy là mụ kia lờ mình đi, cao giọng nhắc lại. “Thợ cắt tóc? Đễn chỗ rẽ đầu tiên, bên phải”, mụ chủ trả lời, mặt đanh lại. Rồi sau khi liếc nhìn với vẻ thông đồng người khách duy nhất, một lão già mặt đầy sẹo, mụ nói thêm: “Nhưng anh phải khẩn trương lên. - Tại sao? Simon hỏi, ngoảnh đầu về phía mụ, vẻ thăm dò. - Vì tụi cảnh sát lính lác sắp đến tóm anh đấy”, mụ phá lên cười, giọng the thé.

[còn nữa]


[từ bản tiếng Pháp của Marc Martin]

3 comments:

  1. Văn như này thì đọc từ chỗ nào đi cũng có ý nghĩa. Ngay cả đọc xéo, đọc từ phải qua, đọc ngược, hay lộn ra nhìn mặt sau để đọc mặt trước. Nhẽ hay nhất là không nên đọc và thú nhận là không thích, và không hiểu tí gì.

    ReplyDelete
  2. biết "phê bình câm và mù" của Roland Barthes không?

    ReplyDelete