Mar 14, 2019

Milosz và Milosz

nhân tiện: đã tiếp tục Lukács bình luận Hết ảo tưởng và "Hương cảng Lý Thương Ẩn"


Miłosz trên đây giờ không còn thực sự được biết đến.

Còn Czesław Miłosz danh tiếng (người tất nhiên ngày nay rất nhiều người biết):


Đâu là cuốn sách lớn nhất của Miłosz?

Tôi nghĩ (tôi chắc chắn), trước câu hỏi ấy, rất nhiều người sẽ trả lời, The Captive Mind, vả lại chắc hẳn rất nhiều người - trong địa hạt Miłosz - không đọc gì khác ngoài cuốn sách ấy.

(một kiểm tra nho nhỏ: trong The Captive Mind, nhân vật đầu tiên - nếu không tính những Stalin hay Masaryk ở trong lời tựa - mà Miłosz thực sự nhắc đến là ai?

thôi, để tôi trả lời luôn, đó là Witkiewicz

Dưới đây là một cuốn tiểu thuyết của Witkiewicz:


tôi sẽ còn quay trở lại với Stanisław Ignacy Witkiewicz, đó là một nhà văn khủng khiếp)

Một cuốn sách khác của Miłosz, mà tôi rất thích:


Nhưng giờ đây, khi rất nhiều điều đã đi qua, ngoài những cuốn tiểu thuyết (một ví dụ: quyển ngoài cùng bên phải trong bức ảnh thứ hai), cuốn sách thực sự lớn của Miłosz đã bắt đầu hiện rõ ra: đó là The Land of Ulro, cái nhan đề mang yếu tố "Ulro" là yếu tố khiến cho mọi độc giả của William Blake thấy xốn xang, vì người bảo trợ cho cuốn sách của Czesław Miłosz chính là Blake. Trong cuốn sách đó, hai nhân vật đặc biệt quan trọng là Witold Gombrowicz và chính Miłosz thứ hai, tức là tác giả của loạt sách trong bức ảnh đầu tiên.

(Miłosz thứ hai - thứ nhất thì đúng hơn - rơi vào một sự quên lãng tương đối, nhưng thật ra cũng không hoàn toàn; đối với một số người, Miłosz ấy chính là "Hölderlin của Pháp"; trong bức ảnh trên đây là gần như đầy đủ bộ toàn tập của Miłosz người bà con của Czesław Miłosz, mà Czesław Miłosz từng gặp khi còn rất trẻ, tại Paris - để đỡ nhầm lẫn, ta sẽ gọi đó là "de Milosz")

Nhưng (lại nhưng) Miłosz (tôi muốn nói, cả hai Miłosz) trước hết là nhà thơ.

Gần đây, một tập thơ Miłosz được dịch ra tiếng Việt. Dường như nó nhận được sự mến mộ của không ít người sành thơ, nhất là những nữ sĩ cao quý. Nhưng chính tập thơ dịch ra tiếng Việt ấy cho chúng ta một ví dụ rất tốt về tính chất một nửa trong cấu trúc ý thức của cuộc sống tinh thần ở Việt Nam, trên một phương diện cụ thể là dịch thơ nước ngoài. Vả lại, đã động đến cái cấu trúc một nửa ấy từ phía các triết gia (chẳng hạn xem ởkia) và từ phía các nhà nghiên cứu văn học (xem chẳng hạn ởkia: thể hiện của điều đó là không đọc, không biết đọc và giả vờ đọc), cần phải nhìn nhận tiếp trên một phương diện đặc biệt quan yếu, phương diện của xuất bản.

Xuất bản ở Việt Nam đang ở pha tương ứng một cách hoàn hảo với tính cách một nửa đó. Nó cũng không biết đọc nốt. Nó đang sản xuất ra những thứ nảy sinh từ sự hỏng hóc của đọc. Ấy là vì đích xác một điều: tính chất nouveau riche. Xuất bản tại Việt Nam ngay lúc này đặc biệt nouveau riche.

Trong ví dụ cụ thể liên quan đến dịch thơ Czesław Miłosz sang tiếng Việt: sự một nửa (tức là không biết đọc) đó thể hiện ở chỗ, tập thơ đó gồm toàn những bài cần được gọi chính xác là những thơ anh anh em em.

Tức là, người ta lờ đi một sự thể, rằng Miłosz là nhà thơ của tôn giáo. Tức là, trình hiện của Miłosz trong tiếng Việt cho đến giờ phút này là trình hiện của một ảo tưởng. Ảo tưởng ấy nằm gọn vào một phạm trù đặc biệt ngớ ngẩn, phạm trù của cái hay được gọi là thơ tình, nhưng thơ tình nào? Và đồng thời, nó tiếp nối một truyền thống (chính điều này mới đáng nói: xuất bản hiện nay ở Việt Nam - rất đáng mỉa mai - đang quay trở lại chính xác giống hệt với xuất bản của thời trước đây, mà điểm gặp nhau nằm chính ở chỗ: không biết đọc; tôi sẽ còn phân tích điều này kỹ càng hơn).

Tôi có một ví dụ tuyệt vời về chuyện thơ dịch lúc nào cũng chăm chăm anh anh em em. Ta hãy xem một bài thơ dịch từ Victor Hugo (về bản dịch tiếng Việt một bài thơ khác của Hugo, xem ởkia):



Đây là một bài thơ rất nổi tiếng của Hugo, hay được gọi là "Demain, dès l'aube" vì nó mở đầu bằng cụm từ ấy; bài thơ được rút từ tập Les Contemplations.

Bản dịch tiếng Việt nghe rất có lý:

"Anh sẽ đi, em thấy không, anh biết em mong đợi anh rồi" etc. Một người đến thăm mộ một phụ nữ, mà ta hiểu, mà ta thông cảm hết sức, mà ta thấy đau lòng lây, cho tình cảnh một người đàn ông đi thăm mộ một người yêu dấu. Một người vợ? một người tình?

Nhưng không, đây là bài thơ Victor Hugo khóc con gái.

Ấy thế mà, vì quán tính anh anh em em, trong tiếng Việt nó đã thành như thế kia.

Trích từ cuốn sách dưới đây:



Cuốn sách đó do một nhân vật rất đáng kể phụ trách bản thảo:


Nhưng (lại tiếp tục nhưng), điều trên đây lại rất hữu lý, bởi vì Hoàng Thúy Toàn là một yếu tố lớn của sự không biết đọc trong xuất bản Việt Nam một thời.

Sự không biết đọc (và không đọc, và giả vờ đọc) trong giới nhà thơ Việt Nam cũng lớn ngang với trong mọi giới nào có liên quan đến sự đọc, ở mọi cấp độ. Ông Hoàng Hưng không phải độc giả của Walt Whitman, cũng như năm xưa chính Hoàng Hưng chưa bao giờ đọc Georges Perec nhưng dịch Perec.




(còn nữa)

4 comments:

  1. Hình như các nhà thơ VN đã lạm dụng từ "em" M. cho nên nó mới ra nông nỗi, nhiều trường hợp.

    ReplyDelete
  2. hình như nhiều nông nỗi nhất nảy sinh từ bọn đi tán nhảm về mọi thứ trên đời

    ReplyDelete
  3. Walt Whitman xuất hiện ở VN làm gì đến một nửa nhỉ ?

    ReplyDelete