Showing posts with label marai-sandor. Show all posts
Showing posts with label marai-sandor. Show all posts

Jan 30, 2015

Cánh cửa của Szabó Magda

Cánh cửa trong cuốn tiểu thuyết Cánh cửa của Szabó Magda (Giáp Văn Chung dịch, Nhã Nam & NXB Văn học) (một cánh cửa đến hé ra một chút cũng chẳng bao giờ chứ đừng nói có lúc nào mở rộng) đến một thời điểm gay cấn bị bổ vỡ từ bên trong bằng một nhát rìu. Lưỡi rìu đầy hăm dọa xuyên qua cánh cửa là hình ảnh của phim kinh dị: The Shining của Stanley Kubrick, tất nhiên, đi cùng với nụ cười quái dị của Jack Nicholson. Nhưng cuốn tiểu thuyết này của Szabó chỉ viết về mối quan hệ giữa một nhà văn nữ và một bà giúp việc, nó có nhất thiết phải giống phim kinh dị như thế?

Hình ảnh kinh hãi ấy phải xuất hiện, vì Cánh cửa dữ dội và đáng sợ hơn vẻ bề ngoài rất nhiều. Sự thanh đạm của Szabó Magda trong việc đặt nhan đề các tác phẩm chỉ càng đẩy mọi thứ lên cao hơn trên các cung bậc của cảm xúc (sự thanh đạm ấy: sách tên là Cánh cửa thì bên trong sẽ có cánh cửa, cũng như một tác phẩm khác, The Fawn trong tiếng Anh và Le Faon trong tiếng Pháp, tên như vậy thì quả thật trong sách sẽ có một con hoẵng).

Sep 27, 2012

Những bài học từ sự bộc bạch

Đọc Thế giới những ngày qua, hồi ký của Stefan Zweig mà bản tiếng Việt được ấn hành cách đây chừng mười lăm năm, hẳn nhiều độc giả còn rất nhớ những miêu tả hệ thống trường học hà khắc tại nước Áo mà cậu bé Stefan từng trải qua như cơn ác mộng. Lời bộc bạch của một thị dân của Márai Sándor (Giáp Văn Chung dịch, Nhã Nam & NXB Văn học) càng soi rõ thêm vào kiểu trường học của môi trường Áo-Hung hồi đầu thế kỷ 20. Sau một cơn hoảng loạn tinh thần dẫn tới cuộc bỏ nhà ra đi, cậu bé nhân vật chính bị “hội đồng gia đình quyết định đày […] lên trường nội trú ở Pest” (tr. 178).

Và giai đoạn học nội trú trở thành “những năm tháng cầm tù” (tr. 198), để rồi khi thoát được thì cậu thiếu niên có “những đặc quyền dễ chịu trong gia đình” (tr. 205). Nhưng thoát khỏi nhà tù này thì đã có nhà tù khác, và Márai Sándor dẫn dắt chúng ta đi qua những năm tháng tuổi thơ và tuổi trẻ của một con người luôn luôn cảm thấy bí bách, rất giỏi quan sát thế giới nhưng không thực sự hòa nhập được vào đó. Đặc biệt ông miêu tả rất giỏi “trạng thái váng vất” của tuổi trẻ, khi “tâm hồn thu nhận tiếng vang xào xạo của cuộc đời và phản xạ lại chúng qua một bộ tăng âm nào đó” (tr. 205). Hiếm cuốn sách nào viết về tuổi trẻ với bút pháp mãnh liệt, tràn ứ đến vậy, miêu tả mối quan hệ tuổi trẻ-cuộc đời sâu sắc ở nhiều tầng bậc đến như vậy.

Bởi Lời bộc bạch của một thị dân được viết bằng một giọng văn bậc thầy; bậc thầy văn chương Hungary ấy những năm gần đây đã dần trở nên quen thuộc với độc giả Việt Nam qua những tác phẩm cự phách: Những ngọn nến cháy tàn, Bốn mùa. Trời và đất, rồi Casanova ở Bolzano… Márai Sándor là một trong vài nhà văn Hungary lớn nhất thế kỷ 20 với khối lượng tác phẩm đồ sộ, rất nhiều tiểu thuyết đặc biệt quan trọng, trong đó Lời bộc bạch của một thị dân tái dựng đời sống của một giai đoạn then chốt và phức tạp của lịch sử, trên bình diện một khoảng lớn của cả châu Âu. Márai Sándor từng được so sánh với nhà văn Áo Joseph Roth, tác giả bộ tiểu thuyết vĩ đại Hành khúc Radetsky; với một nhà văn Áo khác là Stefan Zweig ông cũng có nhiều điểm tương đồng, nhất là khả năng đi vào đến tận cùng tâm lý nhân vật, tài miêu tả đầy sinh động và màu sắc, nhuộm trong một không khí bi quan đặc trưng. Cả Stefan Zweig lẫn Márai Sándor đều tự sát khi đã lớn tuổi.

Câu chuyện trong Lời bộc bạch của một thị dân có nhiều điểm trùng với cuộc đời thực của Márai Sándor. Gần 500 trang sách kết thúc sau khi nhân vật trưởng thành, sang sống ở một số nước châu Âu (nhất là Đức và Pháp), chứng kiến thăng và trầm của đời sống vật chất và tinh thần của một châu lục đang tan rã, rồi trở về Hung, với đoạn cuối miêu tả cái chết của ông bố đặc biệt cảm động. Trong đời thực, Márai Sándor cũng sống nhiều năm ở nước ngoài, 28 tuổi mới về Hung bắt tay vào xây dựng sự nghiệp văn chương hiển hách của mình. Cuốn sách miêu tả quá sát nhiều nhân vật có thực, nên nó từng bị kiện và chịu nhiều chỉnh sửa, trong đó không ít đoạn bị cắt đi. Bản tiếng Việt lần này được dịch từ phiên bản đã qua chỉnh sửa, nhưng nếu đọc các phiên bản khác, chẳng hạn bản tiếng Pháp, những đoạn sau này bị cắt vẫn còn, và ta hiểu được tài quan sát con người sắc bén của một nhà văn lớn có thể gây bất an đến thế nào cho các đối tượng của ông, nhất là những người trong gia đình.

Số phận những cuốn tiểu thuyết-tự truyện thường là như vậy. Những lời bộc bạch của Jean-Jacques Rousseau gồm 12 “quyển” mới có bản dịch tiếng Việt gần đây cũng phải chờ sau khi tác giả qua đời mới được ấn hành, và vẫn đụng chạm đến không ít người thực, việc thực. Những nhà văn sắc sảo không nương tay với con người, và con người cũng không mấy nương tay với các nhà văn.

Nhà văn Márai Sándor ấy có những cảm nhận tuyệt vời về văn chương và cuộc đời, chúng được diễn tả nồng nhiệt nhưng cũng hết sức buồn bã. Trong Lời bộc bạch của một thị dân có những đoạn có thể lấy làm bài giảng cho nhà văn hậu thế: “cuộc đời đối với nhà văn là một chất liệu đáng ngờ, chỉ có thể sử dụng nó có chừng mực, một chút nào đó dưới dạng tiêu bản, trong trạng thái đã được xử lý […] Tôi không tin vào các nhà khổ hạnh hay than vãn, những người trốn chạy khỏi cuộc đời; tôi cũng nghi ngờ và chẳng ưa những nhà văn ‘tự nhiên chủ nghĩa’, các nhà văn kiểu ông trùm phường hát Di gan, biểu diễn theo ‘sự mách bảo của con tim’ và ‘mô tả đời sống’ tỉ mỉ đúng như thể cuộc đời cất tiếng… Nhà văn sống và sáng tạo giữa hai ý nguyện ấy, nhọc nhằn” (tr. 239).

Cuộc đời thì ai cũng trải nghiệm, nhưng dường như có những người, chẳng hạn Márai Sándor, có khả năng trải nghiệm cuộc đời lớn và sâu hơn hẳn phần đông nhân loại còn lại.


(có vẻ như Márai Sándor là người đầu tiên viết về văn chương Kafka; từng có lúc Márai lưỡng lự giữa việc viết bằng tiếng Hung hay bằng tiếng Đức)

Sep 16, 2012

Bộc bạch

Một mùa thu mà có đến hai lời bộc bạch khủng khiếp: sự kiện lớn cho độc giả Việt Nam.

Những lời bộc bạch của Jean-Jacques Rousseau, tức Les Confessions, NXB Tri thức vừa in, tác phẩm lớn vượt ra ngoài mọi khuôn khổ, công trình nội tâm độc đáo khiến hậu thế rất nhiều người noi gương: "Tôi trù tính một công việc không hề có kiểu mẫu, và sẽ chẳng ai bắt chước thực thi. Tôi muốn phô bày cùng đồng loại một con người hoàn toàn đúng với chân tướng; và con người ấy, sẽ là tôi đây". Ngả mũ kính phục cô Lê Hồng Sâm.


Chút kỷ niệm ngày xưa với Rousseau và Les Confessions:


"Tôi không biết mình đã làm gì cho đến tuổi lên năm hay sáu; tôi không biết mình đã học đọc thế nào; tôi chỉ còn nhớ những sách đầu tiên đã đọc và ấn tượng chúng gây ra cho tôi: đó là khoảng thời gian khi tôi bắt đầu nhận ra được, và sau đó sẽ không có chút gián đoạn nào, ý thức về bản thân tôi. Mẹ tôi để lại nhiều tiểu thuyết. Chúng tôi, tôi và cha, đọc sách sau khi ăn tối. Thoạt tiên chúng tôi chỉ muốn hoàn thiện kỹ năng đọc của tôi bằng những cuốn sách vui nhộn; nhưng rất nhanh chóng sự say mê [đọc sách] trở nên thôi thúc đến nỗi chúng tôi luân phiên đọc không ngừng nghỉ, hằng đêm hằng đêm. Chúng tôi chỉ có thể rời sách khi đã đọc cho đến hết. Nhiều lúc cha tôi, khi sáng ra nghe thấy tiếng hót chim én, ngượng ngùng nói với tôi: “Thôi đi ngủ; cha còn trẻ con hơn cả con.”

Trong một khoảng thời gian ngắn, bằng phương pháp nguy hiểm đó, tôi thu lượm được không chỉ một kỹ năng đọc và hiểu cực kỳ tốt, mà còn một tầm hiểu biết hiếm có ở độ tuổi của tôi về các cảm giác. Tôi không có chút ý tưởng nào về sự vật, thế mà tôi biết hết các loại tình cảm. Tôi không ý thức được gì hết, tất cả tôi đều chỉ cảm nhận. Những nỗi xúc động hỗn độn đó, mà tôi lần lượt thu hái được, không hề làm hỏng đi cái lý trí cho đến khi đó tôi còn chưa có; nhưng chúng rèn luyện tôi theo một kiểu khác, và trao cho tôi những khái niệm kỳ lạ và đầy tính tiểu thuyết về đời người, mà kinh nghiệm và suy tư sẽ không bao giờ xóa nhòa được khỏi đầu óc."



Bộc bạch thứ hai: Lời bộc bạch của một thị dân, tác phẩm tự thuật và cũng là tác phẩm lớn nhất của Márai Sándor, sẽ dày khoảng gần 500 trang khổ lớn (cỡ hai phần ba Những lời bộc bạch của Rousseau). Bìa bốn cuốn sách này:


"Lời bộc bạch của một thị dân, cũng như cuốn hồi ký nổi tiếng Thế giới những ngày qua của Stefan Zweig, miêu tả cho chúng ta cả bầu khí quyển của không gian văn hóa Áo-Hung vô cùng đặc thù vào thời điểm bước ngoặt đầu thế kỷ 20. Và nếu Zweig tự nhìn nhận mình như một “người châu Âu” thì Márai Sándor khẳng định mình là một đại diện cho tầng lớp thị dân đang hình thành; ông đã đi vào ngóc ngách đời sống tinh thần của một giai tầng, ca ngợi những phẩm chất nhưng không quên chế giễu những điều nực cười của môi trường sống quanh ông. Stefan Zweig cũng xuất hiện thoáng qua trong cuốn hồi ký sâu sắc và rất đặc biệt của Márai Sándor.

Không chỉ có thành phố nhỏ Kassa quê hương và thủ đô Budapest, Márai Sándor còn dẫn dắt chúng ta đi qua những đất nước ông từng có thời gian gắn bó: Đức, Pháp, Ý và Anh, với những nhận xét đằm thắm, sâu sắc nhưng cũng có lúc tinh quái đến gây sửng sốt. Chặng đời của ông cũng gắn liền với con đường trở thành một trong những nhà văn vĩ đại nhất của Hungary. Đọc cuốn hồi ký này, ta càng hiểu rõ con đường ấy nhiều chông gai đến mức nào.


Lời bộc bạch của một thị dân đặc biệt hơn cả chính ở sự phô bày đầy chân thực và can đảm một tâm hồn phức tạp, không một chút toan tính giấu giếm hay “tô hồng” nào. Tính trung thực này khiến cuốn sách trở thành một hậu duệ xứng đáng của một dòng “bộc bạch” hay “tự thú” lừng danh trong lịch sử văn chương phương Tây, từ Thánh Augustin cho tới Jean-Jacques Rousseau, rồi Lev Tolstoy."

Có lẽ với một con người phức tạp đến như Márai, phải khi viết "bộc bạch" thì toàn bộ những gì tinh hoa nhất của nội tâm ông mới xuất hiện đầy đủ được.

(Tự thú của Tolstoy thì đã in ở Việt Nam cách đây vài năm)

Jul 31, 2012

Nhất Linh dang dở

cuối tháng Nhất Linh


Tiểu thuyết Việt Nam có bao nhiêu phần thoát thai từ ánh mắt bên dưới cặp lông mày nét mác của Nhất Linh? Tôi nghĩ là không ít, khi nhìn bức chân dung Nguyễn Gia Trí vẽ Nguyễn Tường Tam năm 1952 ở Sài Gòn. Trong bức tranh ấy, cả hàng ria nổi tiếng kia dường như cũng cố ý tự tạo thành nét mác kiên quyết, cái kiên quyết của những “khẩu hiệu đanh thép” từng in dấu sâu đậm đến thế vào thời “tiên khởi” của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại: “lạnh lùng”, “đoạn tuyệt” và “tự lực”. Với Dostoeysky, văn học Nga chui ra từ chiếc áo khoác của Gogol; văn xuôi Việt Nam như chúng ta biết hiện nay từng cần một cú hích lạnh lùng nhưng mạnh mẽ hồi đầu những năm ba mươi ấy.

Mà đâu chỉ là văn xuôi. Nhất Linh và Tự Lực Văn Đoàn, đó còn là địa điểm quan trọng nhất của Thơ Mới, đặc biệt vào lúc phôi thai chớm ra đời cần hơn hết một sự cảm thông và nhất là một sự kiên định, và tờ báo Phong Hóa (ra số đầu cách nay đúng tám mươi năm) làm ngoặt dòng tiếng cười, tách hẳn ra khỏi truyền thống truyện tiếu lâm dân gian và cả những truyện “hài đàm”, “tiếu lâm An Nam” của trước đó không lâu, dưới ngòi bút của những Nguyễn Đỗ Mục hay Phạm Duy Tốn. Sau sự cách tân dùng dằng (“thổ nạp Âu Á”) của Nam Phong và Phạm Quỳnh lỗi lạc, đến Nhất Linh lịch sử ngôn ngữ và văn chương Việt Nam mới dứt khoát mà lên đường, giống như câu văn này của Nhất Linh: “Họ đi… đi xa chốn hư không tịch mịch, không đoái nhìn lại, đăm đăm như theo một tiếng gọi khác réo rắt hơn ở tận phía trước xa xa đưa đến” (truyện ngắn “Thế rồi một buổi chiều”).

Mỗi công trình văn hóa của Nhất Linh, điều này chắc ai cũng nhận thấy rõ, dường như đều rất sắc nét, thấu đáo, ảnh hưởng ghê gớm và có sức thu hút không thể cưỡng nổi. Tưởng chừng cái gì ông động tay vào là gọn gàng, chỉn chu, thành hình một chỉnh thể mang giá trị tự thân lồ lộ (giải thưởng văn chương Tự Lực Văn Đoàn, dự án “nhà Ánh Sáng”, những bông hoa phong lan), giống những bức tranh ông vẽ, đẹp lạnh lùng và hoàn thiện không thể thêm bớt, đơn giản nhưng đầy sức nặng, đã xong là xong và chắc chắn ngay từ đầu là sẽ mang sức sống lâu dài.

Thế nhưng, thật lạ lùng, vẫn có cái gì như dang dở ở Nhất Linh. Ở Nhất Linh luôn luôn tồn tại một khía cạnh rất khó nắm bắt, khiến cho nhà văn Võ Phiến, người coi Nhất Linh là “bậc tiền bối lỗi lạc từng sống một đời đầy dông bão và kết thúc đau thương”, khi viết về ông thoạt đầu cho rằng con người Nhất Linh rất nhiều niềm vui, ông vui sướng hơn bất kỳ nhà văn Việt Nam nào khác, nhưng sau đó lại khẳng định nỗi khổ ở Nhất Linh vô cùng to lớn, hiếm có ai khổ hơn ông. Và, còn điều này nữa, Nhất Linh hay hiện ra trong mắt người khác như một con người thuộc đoàn thể, một nhóm nào đó, một quần tụ tinh túy văn chương và cả chính trị, nhưng ông lại cô độc hết mức, và cặp mắt của Nhất Linh từng được Hoàng Xuân Hãn miêu tả là rất chán chường, khi hai nhân vật này gặp nhau ở Đà Lạt năm 1946 trong một sự kiện rất quan trọng của lịch sử Việt Nam.

Ta có thể lý giải sự “dang dở Nhất Linh” là do ông không được toại nguyện trong nhiều chí hướng, thất bại nhiều trên con đường chính trị (mặc dù Vũ Hoàng Chương từng viết hai câu thơ về ông: “Chí sĩ đền xong nợ nước/Văn hào đã thỏa ước mơ”). Cả trong văn hóa cũng vậy, sau này khi đã vào Sài Gòn, những ý định tiếp tục con đường trước kia từng mở ra có vẻ không mấy thuận lợi và thành công. Một thế hệ mới đã xuất hiện, cái thế hệ dẫu vẫn mang đậm dấu ấn của tiền chiến (Mai Thảo từng đặt tên tiểu thuyết của mình là Để tưởng nhớ mùi hương bắt nguồn từ Thạch Lam còn Viên Linh viết Hạ đỏ có chàng tới hỏi lấy câu thơ của Huyền Kiêu làm nhan đề); giống trước kia thế hệ của ông làm lu mờ thế hệ Thượng Chi Phạm Quỳnh; cũng như trong mọi chuyện, lý do khách quan chiếm một vị trí không nhỏ.

Nhưng chắc hẳn còn có nhiều điều hơn thế. Sự dang dở này, biết đâu, nằm trong bản thân con người Nhất Linh. Trước 1945, ông từng miêu tả sự dùng dằng rất hay: “Sinh bùi ngùi, cúi mặt ngắm dòng nước, ngắm mấy cái rác, tan tác mỗi cái trôi về một phía… khác nào hình ảnh cuộc đời của Sinh với cuộc đời của người con gái chở đò, mỗi bên đi về mỗi ngả, không bao giờ gặp nhau” (truyện ngắn “Nước chảy đôi dòng”). Sau 1945, đã quyết chí từ bỏ hoạt động chính trị quay trở lại với văn nghệ, nhưng rốt cuộc Nhất Linh chỉ hoàn thành được tiểu thuyết Giòng sông Thanh Thủy, còn Xóm Cầu Mới, mà hẳn ông hình dung như tác phẩm lớn nhất của đời mình, “opus” trong sự nghiệp tiểu thuyết gia của ông, chỉ mới đi đến được chừng 600, 700 trang, chưa tới một phần mười những gì ông dự định. Nghị lực và sức lực một con người dường như chỉ đủ cho một lần đoạn tuyệt: ở đoạn cuối của cuộc đời, khi ông quyết chí từ bỏ lối viết tiểu thuyết cũ (điều này được thể hiện rõ trong Viết và đọc tiểu thuyết, Đời Nay, 1961), để bước vào một cõi tiểu thuyết mới hẳn, không luận đề, không câu nệ mà tự nhiên như nước chảy mây trôi, thực sự đi vào nội tâm mỗi con người, thì lúc ấy, sự dở dang đã bày ra trước mắt ông.

Và để choàng vòng hoa của dang dở lên cuộc đời thật nhiều trọn vẹn của Nhất Linh, ở đúng chỗ kết cục là một sự kiện cực đoan nhất trong mọi sự kiện: vụ tự sát ngày 7/7/1963 của ông, ông đã “lạnh lùng tự lực mà đoạn tuyệt”, hay như cách nói của Vũ Hoàng Chương, “Nhất khả đoạn, nhị khả tuyệt, tam nhi bất hủ”. Lịch sử Việt Nam có quá ít nhà văn, nhà thơ tự sát (nhà văn Hungary Sándor Márai từng khôi hài về hiện tượng nhà văn tự sát, đại ý ông cho rằng lâu lâu không có nhà văn nào tự sát là một điềm gở cho văn chương). Nhất Linh thực sự là người đi ra ngoài khỏi truyền thống quá xa. Có thể đó là nguyên do khiến ở đâu ông cũng cô độc, khiến lúc nào ông cũng kiên quyết như vậy. Có thể nào chăng, ông ý thức được rằng cái chết của mình mở ra sự sống.

“Ðời tôi để lịch sử xử”: những lời tuyệt mệnh của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam bắt đầu như vậy. Không hiểu lịch sử nào sẽ xử ông, và có thể xử ông như thế nào, nhưng chắc chắn là ông để lại di sản gồm cả những gì hoàn chỉnh lẫn vô số dang dở. Những trọn vẹn để tạo lòng tin cho thế hệ sau, còn những dở dang là để lịch sử tiếp tục được.

Bức tranh Nguyễn Gia Trí vẽ Nhất Linh năm 1952 coi như đã hoàn tất, chỉ còn phải chỉnh sửa bàn tay cầm bao thuốc lá của nhà văn thì họa sĩ mắc một sự cố, bức tranh phải đình lại. Nhưng sau này, lúc đã có thể tiếp tục, Nhất Linh chính là người không cho Nguyễn Gia Trí vẽ nốt. Bức chân dung ấy vẫn còn là dang dở.


bức chân dung 


Thử ngồi nghĩ xem trong số nhà văn Việt Nam có những ai tự sát: Phạm Duy Khiêm, Tam Ích.

Jan 11, 2012

Một năm sách vở

báo Tết :d

Lại thêm một lần nữa, khi năm sắp kết thúc, giới xuất bản có cảm giác u ám vì những khó khăn gặp phải, còn độc giả thì thở dài vì hình như trong năm, tình hình vẫn là sách in ra thì nhiều nhưng đại đa số là sách dán mác best-seller.

Khó khăn chung thì vẫn muôn thuở: kinh tế khủng hoảng, cạnh tranh khốc liệt, sách lậu hiện ra ở mọi ngõ ngách, thêm cả một điều mới mẻ bắt đầu xuất hiện sau chừng dăm bảy năm ngành xuất bản thực sự đi theo một hướng mới: có vẻ như số lượng sách in ra đã đạt tới mức bão hòa, độc giả thể hiện một sự thờ ơ nhất định với cả những mảng sách theo truyền thống rất được quan tâm.

Như một “triệu chứng”, ngay đầu năm 2011 cuốn tiểu thuyết những ngã tư và những ngọn đèn (Trần Dần) được in ra, số phận tác phẩm của nhà thơ tự nhận mình “được cái hoạn nạn” này như thể tương ứng với một năm nhiều sự kiện mang tính chất hoạn nạn của ngành xuất bản, cũng như vẽ ra những ngã tư vô hình cho các hướng đi của sách vở.

Oct 20, 2011

Casanova qua lỗ khóa

Ở ven hông tòa cung điện cho các “doge” (một chức danh đại khái là “tổng trấn”) của thành phố Venice có một nhà tù rất kiên cố đến nay vẫn thu hút rất nhiều khách du lịch đến để thử cảm giác rùng rợn khi đứng trong những hành lang hẹp hun hút gió và nhìn đồ gia hình bày la liệt trong các phòng. Thế mà năm 1756, một nhân vật rất nhiều tai tiếng đã đàng hoàng thoát được khỏi đây, lại còn là thoát khỏi nơi khó thoát nhất của nơi này: một căn phòng được mệnh danh “phòng chì” đặc biệt chỉ dành cho những tội phạm người ta chẳng thể nào lường được mức độ nguy hiểm. Không gì ngăn cản nổi bước chân của con người ấy: Giacomo Casanova, nỗi kinh hoàng của các ông chồng và người tình trong mộng của đông đảo quý bà quý cô khuê các cùng thôn nữ chăn dê vắt sữa bò sống cùng thời với ông. Không loại trừ khả năng Casanova cũng là người tình trong mộng của rất nhiều phụ nữ thời nay. Ban nhạc All 4 One khi viết một bài hát hay được dùng để tán gái tên là “I Can Love You Like That” đã ai oán nhận mình thua kém Casanova: “Well, I am no Casanova”.

Ngay sau vụ trốn thoát rúng động cả một thời ấy là bắt đầu thế giới hư cấu của một trong những cuốn tiểu thuyết thành công nhất lịch sử trong đề tài Casanova: “Casanova ở Bolzano” của nhà văn Hungari Márai Sándor (Giáp Văn Chung dịch, Nhã Nam & NXB Văn học).