Showing posts with label philip-roth. Show all posts
Showing posts with label philip-roth. Show all posts

May 4, 2025

Drewsboro

(đủ cả)

Nếu nhân vật ấy là người nói một điều rất chính xác (và lớn lao), rằng mùi nước đái là mùi con người hơn cả, thì


Feb 5, 2025

Judas

Trong năm 2018, thế giới văn chương Do Thái mất hai nhân vật: Philip Roth và Amos Oz, cả hai đều sinh trong thập niên 30 của thế kỷ 20. Trước đó thì Isaac Bashevis Singer và Saul Bellow. Khác ba nhân vật kia, Oz sinh ra, lớn lên và sống cả đời ở Israel. Sự di cư đã diễn ra ở thế hệ bố mẹ của Oz, đều từ Đông Âu, nhất là dấu ấn của Lithuania (Vilnius). Nếu muốn link Amos Oz với Philip Roth thì có thể nói đến sự thể Oz lấy vợ mang họ Zuckerman. Tất nhiên, "Oz" thì gợi lên thế giới thần tiên (wizard, etc.) rất mạnh.

Nov 27, 2024

Vòng lại

Chính trong lúc Roth (thậm chí rất Roth), nhưng là những Roth khác, thì việc quay lại - vòng lại - Philip Roth trở nên rất cám dỗ.

Đó là - nhìn chung - thời điểm Philip Roth cuối cùng của tôi. Giờ đây tôi mới nhận ra (ít nhất là) hai điều; thứ nhất, chính đấy là lúc Philip Roth ngừng viết (lúc đó, tôi không hoàn toàn ý thức được điều này): Philip Roth đã quyết định thôi không viết nữa, tổng cộng quãng thời gian ngừng, thôi, bỏ ấy kéo dài sáu, bảy năm. Philip Roth không phải là một trong những nhà văn chết mà vẫn đang viết (với cây bút ở trên tay, etc.: một hình ảnh tất nhiên hết sức tầm thường).

Bỏ đi khỏi: biểu tượng của cái đó là Rimbaud; dĩ nhiên không thể so sánh Roth đã rất già với một Rimbaud trẻ măng được, nhưng dẫu thế nào thì làm vậy cũng là một việc rất khó. Nhìn chung, viết là một việc khó nhưng thôi viết có lẽ còn khó hơn nhiều. Một khi mà đã bắt đầu, và kể cả khi việc đó chẳng mang lại sung sướng nào: thậm chí, chính vì vậy. Vô cùng hiếm người làm như thế.

Và thứ hai,

Apr 9, 2018

Malamud và Mahfouz

(tức là, như kẹo, M&M)

Chỉ tiểu thuyết mới nói được những điều mà không gì khác nói nổi. Ai nói câu này ấy nhỉ, nếu tôi không nhầm (chắc có thể nhầm), đó chính là Milan Kundera.

Nov 17, 2016

Một nước Mỹ khác

Charles Dickens cũng hay viết phơi-ơ-tông hai, thậm chí nhiều hơn, cuốn sách một lúc, cho nên đang phơi-ơ-tông cái này, tôi lại phơi-ơ-tông cùng lúc thêm một cái nữa.

Sau nước Anh (xem ở kia), giờ ta nói đến nước Mỹ. Một điều đáng kinh ngạc: Ở Việt Nam chưa bao giờ có đến một chuyên gia văn học Anh-Mỹ. Một nửa cũng không, chưa nói đến một.

Dec 10, 2013

John Le Carré không dừng lại

Chỉ có thể là John Le Carré mới làm được điều ấy ở cái tuổi ấy: không dừng lại. Sau A Most Wanted Man đã được dịch sang tiếng Việt, đã có thêm Our Kind of Traitor. Và bây giờ là A Delicate Truth:


Aug 1, 2013

Chào Paul Auster

The Invention of Solitude

Tác phẩm đầu tay của Paul Auster, không hẳn tiểu thuyết, cũng không hẳn tiểu luận, chứa đựng rất nhiều chủ đề mà những cuốn sách sau này của ông sẽ khai thác.

Tôi không nghĩ ở đây là chuyện "khởi sinh" ra sự cô độc, "khởi sinh" hay "khởi nguyên" là để chỉ một sự kiện tự thân, sinh ra một cái gì đó. Mà đây là chuyện thuộc địa hạt "invention" của "sáng chế", "phát minh", "phát hiện", sử dụng các chất liệu có sẵn để tạo ra một cái gì đó. Với tôi, The Invention of Solitude là "chế ra nỗi cô đơn". Auster rất hay nhắc đến Edison, tất nhiên là không hề thiếu liên quan. Một người anh hùng nữa của Auster là Tesla.


Mar 25, 2013

Philip Roth: Nghiêm chỉnh nhìn cuộc đời

(post lại để chúc mừng Quang Hải, một người bạn qua mạng)

Nếu như quả thực có tồn tại một late style như Edward Said từng chỉ ra, nghĩa là một phong cách ở cuối đời của những nhà sáng tạo, một phong cách gây nhiều kinh ngạc và mở rộng thêm trường sáng tạo cá nhân, thì ở Philip Roth ta thấy “phong cách muộn” của ông là một cái nhìn thấu triệt vào cuộc đời, một giọng văn đột nhiên hết sức tiết chế và trộn lẫn với một mức độ nghiêm túc rất cao khi đối mặt với những gì đúng là ta buộc phải coi là quan trọng trong đời.

Ở đây tôi đang đề cập tới bốn cuốn tiểu thuyết gần đây của Philip Roth, cả bốn cuốn đều rất ngắn và một trong số đó, Everyman (in năm 2006), đã có bản dịch tiếng Việt tên là Người phàm. Nếu Người phàm là một cuộc nhìn lại toàn diện cuộc đời một con người bình thường, một sự sám hối bình dị nhưng sâu thẳm, thì Indignation (2008) miêu tả sự lớn lên của một cậu bé ở trong một xã hội biến động kinh khủng, và The Humbling(2009) bước sâu vào thế giới sân khấu, đưa lên sàn diễn một diễn viên kịch về già (Simon Axler) chợt thấy mình đối mặt với sự tan biến của tài năng và thêm vào đó là chứng tâm thần hủy hoại cuộc đời ông. Cuốn mới hơn cả trong “bộ tứ” này mở rộng thêm một chút nữa tầm quan sát của Roth về cuộc đời, và càng làm ta hiểu những ghi nhận của ông về cuộc đời nói chung trầm trọng và nghiêm chỉnh tới mức nào.

Nov 11, 2012

Đọc báo ngày chủ nhật

Mình rất thích :p


Philip Roth đã chính thức tuyên bố không viết văn nữa. Cùng ý này, Roth đã nói không ít lần, nhưng có vẻ kỳ này là thật.

Khởi nguồn là ở đây, một bài Philip Roth trả lời phỏng vấn cho tờ Les InRocks (hóa ra tờ này vẫn còn; báo chí Mỹ có vẻ mới biết và đang đưa tin rầm r), trong đó Roth nói Nemesis sẽ là cuốn tiểu thuyết cuối cùng của ông.

Về cuộc đời, Roth cho rằng "mọi thứ đều là vấn đề may mắn hay không may mắn" và đưa ra một ví dụ: bà vợ đầu của ông hóa ra lại là tội phạm, cứ ăn cắp suốt không ngừng, và như vậy nghĩa là ông đã không may cưới phải một bà vợ như thế.

Về chuỗi tác phẩm gần đây nhất, Roth cho biết ông đề cập đến cái chết từ các góc độ khác nhau. Ở cả bốn cuốn tiểu thuyết này, nhân vật đều phải đương đầu với "nemeses" của mình (từ này rất thông dụng ở Mỹ, nghĩa là một thứ định mệnh, sự đen đủi, một thứ lực không thể vượt qua, nhè trúng đầu ta mà giáng xuống).

"Tiểu thuyết được làm ra là để đặt ra các câu hỏi, chứ không phải mang lại những câu trả lời. Tôi không viết sách triết học."

"Tất tật những gì thực sự thu hút tôi, tất tật những gì tôi biết làm, là kể một câu chuyện". Roth cũng nói mình rất buồn ngủ mỗi khi câu chuyện nào xoay sang hướng trừu tượng.

"Với tôi, viết vẫn luôn luôn là một việc rất khó. Vấn đề nằm ở chỗ hồi còn nhỏ tôi đã đem lòng say đắm văn chương. Sau này, tôi tự nhủ mình có thể trở thành nhà văn. Thế là tôi bèn thử và cũng ổn, ở một mức độ nào đó. Tin tôi đi, nếu mà làm được việc gì khác tốt hơn thì tôi đã sẵn sàng làm rồi! Nhưng lúc đầu thì viết văn kích thích ghê lắm, nên tôi đã tiếp tục."

Và đây là tuyên bố: "[...] tôi không có ý định viết văn trong vòng mười năm tới. Nếu bạn muốn biết rõ, tôi đã xong xuôi hết rồi. Nemesis sẽ là cuốn sách cuối cùng của tôi [...] tôi, người từng viết hết cuốn sách này đến cuốn sách khác, từ ba năm nay tôi đã không viết gì."

Việc sắp tới mà Philip Roth định làm là thu thập tài liệu cá nhân để cung cấp cho người sẽ viết tiểu sử cho ông, Blake Bailey, vì "nếu tôi chết đi mà không để lại cho ông ấy cái gì, thì ông ấy biết bắt đầu từ đâu?"

Roth cũng cho biết sau khi Bailey sử dụng xong giấy tờ, người ta sẽ phải hủy hết chúng đi chứ không cho phát tán khắp nơi. Thật là một tin buồn cho giới sưu tầm sách báo thủ bút toàn thế giới. Bản thảo của Roth thì đã nằm cả ở Thư viện Quốc hội từ những năm 70.

Những lời này thật buồn bã và cay đắng: "[...] tôi đã quyết định mình kết thúc với văn chương. Tôi không muốn đọc gì viết gì nữa, thậm chí còn chẳng muốn nói đến văn chương. Cả đời mình tôi đã cống hiến cho tiểu thuyết, đã nghiên cứu nó, giảng dạy nó, viết nó và đọc nó. Ngoài ra gần như chẳng có gì khác nữa. Thế là đủ lắm rồi! Tôi không còn cảm nhận thấy sự cuồng nhiệt mình từng cảm thấy suốt cuộc đời."

Vậy là tôi đã review những cuốn sách thực sự cuối cùng của Philip Roth.

thêm thông tin

May 23, 2012

Philip Roth


Gần đây nhất, bốn tác phẩm của Philip Roth là bốn tiểu thuyết ngắn: Everyman (2006) Indignation (2008), The Humbling (2009) và Nemesis (2010). Nhìn tổng thể thì cảm giác chung của tôi là loạt tiểu thuyết này thể hiện một thái độ nghiêm chỉnh nhìn cuộc đời. Với tôi, điều này tương đối khó hiểu: xét cho cùng, cuộc đời có thực sự nghiêm túc không? Năm 2008, về Indignation, tôi viết bài review không chính quy dưới đây, với rất nhiều bỡn cợt:

How fucking good

Được đọc một cái gì đó trước tất cả mọi người không chỉ kích thích, mà còn rất kích thích. Thông thường thì như vậy, nhưng cũng có người nghĩ khác, chẳng hạn bài review này trên blog của Matthew Asprey hết sức negative. “I’ve come across an advanced reader’s copy…” Quả thực quyển tiểu thuyết Indignation của Philip Roth mãi đến 16 tháng Chín mới được ấn hành: thông báo rất rõ ràng trên amazon, nhưng ngay từ bây giờ đã có thể đặt mua.

Bài review đó negative đến mức cho rằng phần lớn các tiểu thuyết khác của Roth đều có thể đặt lại tên thành Indignation (ý nói tất cả tác phẩm của Roth đều na ná như nhau, nhất là thái độ không vừa lòng với cuộc đời), và kết luận kiểu “cứ đểu đểu” bằng câu “And we learn a lot about kosher butchery.” Mà Roth có lẽ là nhà văn Mỹ có núi giải thưởng cao nhất, nhà văn duy nhất còn sống của Mỹ được in “a comprehensive, definitive edition by the Library of America”, một loại series thuộc vào hàng “canon” (tập tám tức là tập cuối cùng dự kiến sẽ in vào năm 2013).

Đọc bài review rồi và cũng đã “come across an advanced reader’s copy” (với rất nhiều lỗi typo), tôi vẫn nghĩ quyển tiểu thuyết này rất hay. Thật ra tôi cũng chưa bao giờ đọc gì của Philip Roth cả hehe, Human Stain thì làm biếng bằng cách xem phim, quyển tiểu luận đọc qua cũng chỉ vì bản tiếng Pháp (Parlons travail) có lời giới thiệu của Milan Kundera. Roth vẫn hay được xếp cùng John Updike, mà Updike thì tôi thấy chán mớ đời không nuốt nổi. Cả thế hệ nhà văn này của Mỹ được coi là “hậu duệ” của Saul Bellow, nhưng có vẻ hậu duệ không làm sao vươn lên nổi bằng ông thầy.

Italo Calvino trong một quyển sách bàn về các tác gia và tác phẩm cổ/kinh điển (tên chính xác không nhớ, đại khái tiếng Việt dịch ra sẽ thành Tại sao chúng ta lại đọc các nhà văn cổ điển) nói một ý, rằng rất nhiều lúc trong trò chuyện bình thường, khi nhắc đến một tác giả cổ điển nổi tiếng nào đó người ta có xu hướng nhận là đã đọc rồi mặc dù thật ra là chưa bao giờ. Theo Calvino thì điều này không nên coi là dối trá, vì thường thì thực tâm người phát ngôn nghĩ quả thực mình đã đọc ông này rồi, tác phẩm kia rồi. Những người khốn khổ chẳng hạn hehe.

Quay trở lại với Indignation. Nhan đề quyển tiểu thuyết được đặt theo lời bài quốc ca Trung Quốc thời đánh nhau với Nhật:

“Arise, ye who refuse to be bondslaves!
With our very flesh and blood
We will build a new Great Wall!
China’s masses have met the day of danger.
Indignation fills the hearts of all of our countrymen,
Arise! Arise! Arise!
Every heart with one mind,
Brave the enemy’s gunfire,
March on!
Brave the enemy’s gunfire,
March on! March on! March on!”

Rất theo kiểu “Vùng lên các nô lệ trên thế gian” quen thuộc, tất nhiên có chấm phá màu sắc Trung Quốc, với cái Vạn Lý Trường Thành. Bài hát này liên tục vang lên trong đầu Marcus Messner (người Do Thái, bố là thành viên Federation of Kosher Butchers of New Jersey - các bác thấy rồi đấy, một người bán thịt, và là “a straight-A-student”) mỗi khi không thích thú (tức là rất thường xuyên), và sẽ có lúc Marcus coi “indignation” là “the most beautiful word in the English language”, từ đẹp đẽ nhất trong tiếng Anh (nghĩa từ “Indignation” là phẫn nộ, tức tối, cáu tiết etc). Chuyện này hoàn toàn có thể hiểu được.

Yên tâm đi, tôi sẽ không tung spoiler vào đây, vì kể lại nội dung tiểu thuyết không phải là điều tôi muốn làm (mặc dù được huấn luyện đặc biệt kỹ càng về tóm tắt văn bản: với một văn bản cho trước và một số từ cho trước, phải tạo ra một văn bản mới có số từ đúng bằng số từ cho trước kia; kể cả khi phải tóm tắt ở những tình huống ngặt nghèo thì cũng phải nghĩ ra cách: chẳng hạn nếu yêu cầu của đề bài là tóm tắt hồi ký Ta đã làm chi cái đời ta của Vũ Hoàng Chương trong một câu, tôi sẽ tóm tắt là “Ta đã làm chi cái đời ta”, nếu phải tóm tắt Tu viện thành Parme trong một từ tôi sẽ tóm tắt là “Hay”, và nếu phải tóm tắt truyện ngắn “Mùa lạc” của Nguyễn Khải ở mức tối giản mà vẫn thể hiện được mình là người lịch sự, tôi sẽ tóm tắt thành “ ”), tôi chỉ muốn nhận xét về cách viết câu của Philip Roth. Roth sử dụng liên tục, tràn lan dạng câu danh-động từ (nói thế có đúng thuật ngữ không nhỉ?): “Olivia was fascinated by my being a butcher’s son”, hoặc điển hình là trong câu này:

“She just did it. I pulled her hand onto my pants, and on her own, without my doing anything more, she unzipped my fly and took it out and did it.”

Thôi chết, thế là lại vô tình để lộ cái không khí truyện rồi. Đã vậy thì nói thêm một chút vậy. Marcus Messner chuyển đến học ở trường Winesburg vào năm 1951. Tra lịch sử thì sẽ biết những cuộc nổi loạn của sinh viên tại đây, và cuộc chiến đấu của Marcus cùng một lúc chống lại số phận (trở thành một straight-A-student để khỏi bị “drafted and killed”), chống lại sự ngây thơ của chính mình trong… ờ… nhiều chuyện (bài review đã nói ở trên cũng nhấn mạnh vào mấy quả blowjob và handjob, nhưng công nhận là buồn cười với màn handjob trong phòng bệnh viện, khi đột nhiên mấy câu thơ của Longfellow lại được dẫn ra: “I shot an arrow in the air/It fell to earth I knew not where”), chống lại sự kìm kẹp (vì tình yêu) của người bố bán thịt, và chống lại tôn giáo (với niềm tin sắt đá vào các tuyên bố của Bertrand Russell trong “Why I Am Not a Christian”).

Về cuộc chiến chống lại sự ngây thơ, có đoạn trích thế này (cuộc hẹn đầu tiên với Olivia Hutton):

“Till that moment I was wholly innocent of anyone’s tongue in my mouth other than my own. That alone nearly made me come. That alone was surely enough. But the rapidity with which she had allowed me to proceed – and that darting, swabbing, gliding, teeth-licking tongue, the tongue, which is like the body stripped of its skin – prompted me to attempt to delicately move her hand onto the crotch of my pants. And again I met with no resistance. There was no battle.”

Hí hí

-----------

Năm ngoái, viết về Everyman:

Trong vòng một cuộc đời

Năm năm gần đây, Philip Roth, một trong những nhà văn lớn nhất của nước Mỹ, thích viết tiểu thuyết ngắn. Trong số bốn tiểu thuyết ngắn viết trong giai đoạn này, Người phàm (Everyman) (2006) đã ra mắt bạn đọc Việt Nam (Thùy Vũ dịch, Nhã Nam & NXB Văn học, 2011).

Tài năng của Philip Roth không chỉ được thể hiện bằng danh sách giải thưởng dài đến khó tin (chỉ còn thiếu Nobel Văn chương) mà còn bằng một điều tiên quyết để một nhà văn thực sự trở thành vĩ đại: tài nắm bắt cuộc sống ở những điểm cốt yếu nhất. Philip Roth làm việc này với sự chuẩn xác và bình thản của một con người nhiều trải nghiệm, biết bỏ qua những nhao nhác thông thường của cuộc đời, bỏ cả hình thức tiểu thuyết đồ sộ trước đây từng giúp ông thu hoạch danh tiếng (nhất là loạt sách về nhân vật Zuckerman) để đến với một hình thức tiểu thuyết vô cùng gọn nhẹ và bình dị, nhưng làm người đọc hiểu rằng sự hiểu đời của ông sâu sắc đến khó ngờ.

Philip Roth từng làm được điều này rất hoàn chỉnh trong một tiểu thuyết ngắn khác mang tên Indignation (2008), nhưng ở Người phàm thì ta thực sự thấy tinh túy của một giọng văn độc đáo, ảm đạm nhưng không bi lụy, phấn khích nhưng lạnh lẽo và tỉnh táo đến khắc nghiệt. Người phàm đi vào trong vòng một cuộc đời bình thường để phác họa hình dung của một nhà văn lớn về đời người nói chung.

Nhân vật chính của Người phàm, một người làm trong ngành quảng cáo tương đối thành đạt, cũng không ít thành công trong tình trường: khi đã nhiều tuổi ông còn lấy được cô vợ thứ ba là người mẫu, nhưng ở cuối đời mình nhân vật ấy hiểu một cách sâu sắc rằng cuộc sống về bản chất là những gì đang tan rã, mai một không thể cứu vãn. Lâu lắm rồi ta mới thấy một tác phẩm của Philip Roth không đậm đặc tình dục, thứ đã góp phần then chốt trong việc tạo nên cả danh tiếng lẫn tai tiếng cho văn chương của ông, mà ở Người phàm, nhà văn đối diện với một cái gì thật sâu xa, khó nắm bắt, một tinh chất nào đó của cuộc đời. Một bài điểm sách trên tờ New York Magazine đã nói rất đúng rằng Người phàm nỗ lực đi sâu vào “tính chất phổ quát ở phạm vi nhỏ”.

Những quan sát buồn bã của nhân vật chính về sự tàn phai của cuộc đời, mỉa mai thay (mỉa mai u tối là một đặc sản của văn chương Philip Roth), còn cần đặt vào đối sánh với kim cương, loại vật chất bất hoại mà bố của chuyên gia quảng cáo từng kinh doanh trong suốt nhiều năm, và thêm vào đó nữa, con người liên tục phải qua những cuộc phẫu thuật quan hệ tới tính mạng ấy lại còn chứng kiến người thân của mình sống rất thọ và không bao giờ gặp vấn đề về sức khỏe. Vốn đã không lấy gì làm cao thượng trong tính cách, nỗi đau đớn pha lẫn ghen tị ở ông càng tăng lên mãi. Nỗi đau đớn ấy, Philip Roth để cho nhân vật phụ Millicent Kramer phát biểu thật ngắn gọn: “Đau đớn khiến ta cô độc quá” (tr. 116).

Người phàm đặt ra một vấn đề: những người thành công trong cuộc sống có thực sự thành công hay không? Nỗi tuyệt vọng về việc thua kém thực tại ở nhân vật chính được Philip Roth miêu tả thật tinh tế trong đoạn ông già sắp chết bỗng le lói tia hy vọng sống khi nói chuyện được với một cô gái trẻ hay chạy bộ qua trước cửa. Thế nhưng hão huyền sẽ mãi chỉ là hão huyền, bởi, với ông, hay với hầu khắp “người phàm”, “dường như tất cả [mọi thứ trong cuộc đời] đều sai lầm” (tr. 99).

-----------

Vừa rồi, viết về Nemesis, tôi thấy rất rõ ràng sự nghiêm túc này của Philip Roth, sự nghiêm túc như thể được đẩy lên đến mức cứng nhắc, nhiều khi. Hay là cuộc đời thực sự nghiêm chỉnh?

Nghiêm chỉnh nhìn cuộc đời

Nếu như quả thực có tồn tại một late style như Edward Said từng chỉ ra, nghĩa là một phong cách ở cuối đời của những nhà sáng tạo, một phong cách gây nhiều kinh ngạc và mở rộng thêm trường sáng tạo cá nhân, thì ở Philip Roth ta thấy “phong cách muộn” của ông là một cái nhìn thấu triệt vào cuộc đời, một giọng văn đột nhiên hết sức tiết chế và trộn lẫn với một mức độ nghiêm túc rất cao khi đối mặt với những gì đúng là ta buộc phải coi là quan trọng trong đời.

Ở đây tôi đang đề cập tới bốn cuốn tiểu thuyết gần đây của Philip Roth, cả bốn cuốn đều rất ngắn và một trong số đó, Everyman (in năm 2006), đã có bản dịch tiếng Việt tên là Người phàm. Nếu Người phàm là một cuộc nhìn lại toàn diện cuộc đời một con người bình thường, một sự sám hối bình dị nhưng sâu thẳm, thì Indignation (2008) miêu tả sự lớn lên của một cậu bé ở trong một xã hội biến động kinh khủng, và The Humbling (2009) bước sâu vào thế giới sân khấu, đưa lên sàn diễn một diễn viên kịch về già (Simon Axler) chợt thấy mình đối mặt với sự tan biến của tài năng và thêm vào đó là chứng tâm thần hủy hoại cuộc đời ông. Cuốn mới hơn cả trong “bộ tứ” này mở rộng thêm một chút nữa tầm quan sát của Roth về cuộc đời, và càng làm ta hiểu những ghi nhận của ông về cuộc đời nói chung trầm trọng và nghiêm chỉnh tới mức nào.

Nemesis (2010) lấy bối cảnh một trận dịch bại liệt (chính xác là “polio”) ở Newark, năm 1944; trận dịch đã nhấn cả một vùng đất vào sợ hãi, tang tóc, và nhấn chìm một chàng thanh niên mang tên “Bucky” Cantor vào một cuộc phiêu lưu quái gở của một “chủ nghĩa anh hùng hụt” và của những mất mát không thể ngờ tới.

Bối cảnh truyện như vậy tất nhiên buộc một độc giả văn học nhiều kinh nghiệm liên tưởng ngay tới Dịch hạch của Albert Camus, nhưng như thể trong Nemesis (nhan đề này trỏ tới một nữ thần trong thần thoại Hy Lạp, tượng trưng cho công lý sắt đá) Roth đã đi theo một con đường cheo leo và quanh co hơn nhiều, để đặt ra vấn đề: khi có khả năng trở thành một người anh hùng, khi toàn bộ hoàn cảnh đã bày ra để một con người trở thành anh hùng, mà con người ấy lại từ chối (không hẳn vì hèn nhát, mà vì một cái gì đó nên coi là luôn luôn nằm đâu đó trong hệ thống thần kinh phức tạp của con người), thì anh ta sẽ phải trả những cái giá gì.

Cantor điều hành một sân chơi dành cho các cậu bé, cô bé ở Weequahic, anh là một mẫu mực về rèn luyện sức khỏe và ý chí, một con người liêm chính và can đảm. Cantor chứng kiến những bệnh nhân đầu tiên của chứng bại liệt trong vùng, là những đứa trẻ mà anh yêu quý và rất ngưỡng mộ anh. Anh quyết định ở lại đây và coi đó là một hành động đương nhiên trong tình thế này, nhưng rồi cô người yêu Marcia của anh thuyết phục được anh đến một nơi an toàn là trại hè Indian Hill. Tưởng chừng như ở đây anh thoát khỏi mọi nguy hiểm, nhưng đó mới thực là nơi thảm họa xảy ra, dẫn cuộc đời anh vào cuộc trầm luân không lối thoát.

Nemesis cũng là dịp để Philip Roth đưa ra một truy vấn lớn: một người Do Thái nghi ngờ về Chúa nghĩa là như thế nào. Cantor nhiều lần đặt câu hỏi tại sao Chúa Trời lại gây ra tất cả những “chuyện ấy” và rồi vĩnh viễn quẩn quanh trong sự nghi ngờ to lớn mà chỉ những đầu óc đặc biệt đơn giản mới có khả năng rơi vào. Trong Indignation, Philip Roth từng để cho nhân vật của mình dẫn lời triết gia Bertrand Russell để hỏi: “Tại sao tôi không phải là một người Thiên chúa giáo?” Ở cuối đời mình, dường như giữa những khẳng định của con người từng trải, sự nghi vấn cuộc đời đã trở thành nỗi ám ảnh lớn nhất của Philip Roth.

-----------

Sang đến The Humbling, đột nhiên mọi sự đổi khác. Cái nghiêm chỉnh ở Roth và mấy cuốn tiểu thuyết này trở nên không sao chịu đựng nổi. Tôi không sao đọc nổi đến một phần ba cuốn sách. Thực sự thì có cần phải nghiêm chỉnh đến thế hay không?

Đoạn mở đầu của The Humbling, chương đầu mang tên “Into Thin Air”:

“He’d lost his magic. The impulse was spent. He’d never failed in the theater, everything he had done had been strong and successful, and then the terrible thing happened: he couldn’t act. Going onstage became agony. Instead of the certainty that he was going to be wonderful, he knew he was going to fail. It happened three times in a row, and by the last time nobody was interested, nobody came. He couldn’t get over to the audience. His talent was dead.”

Jan 11, 2012

Một năm sách vở

báo Tết :d

Lại thêm một lần nữa, khi năm sắp kết thúc, giới xuất bản có cảm giác u ám vì những khó khăn gặp phải, còn độc giả thì thở dài vì hình như trong năm, tình hình vẫn là sách in ra thì nhiều nhưng đại đa số là sách dán mác best-seller.

Khó khăn chung thì vẫn muôn thuở: kinh tế khủng hoảng, cạnh tranh khốc liệt, sách lậu hiện ra ở mọi ngõ ngách, thêm cả một điều mới mẻ bắt đầu xuất hiện sau chừng dăm bảy năm ngành xuất bản thực sự đi theo một hướng mới: có vẻ như số lượng sách in ra đã đạt tới mức bão hòa, độc giả thể hiện một sự thờ ơ nhất định với cả những mảng sách theo truyền thống rất được quan tâm.

Như một “triệu chứng”, ngay đầu năm 2011 cuốn tiểu thuyết những ngã tư và những ngọn đèn (Trần Dần) được in ra, số phận tác phẩm của nhà thơ tự nhận mình “được cái hoạn nạn” này như thể tương ứng với một năm nhiều sự kiện mang tính chất hoạn nạn của ngành xuất bản, cũng như vẽ ra những ngã tư vô hình cho các hướng đi của sách vở.

Sep 19, 2011

Trong vòng một cuộc đời

Năm năm gần đây, Philip Roth, một trong những nhà văn lớn nhất của nước Mỹ, thích viết tiểu thuyết ngắn. Trong số bốn tiểu thuyết ngắn viết trong giai đoạn này, Người phàm (Everyman) (2006) đã ra mắt bạn đọc Việt Nam (Thùy Vũ dịch, Nhã Nam & NXB Văn học, 2011).

Tài năng của Philip Roth không chỉ được thể hiện bằng danh sách giải thưởng dài đến khó tin (chỉ còn thiếu Nobel Văn chương) mà còn bằng một điều tiên quyết để một nhà văn thực sự trở thành vĩ đại: tài nắm bắt cuộc sống ở những điểm cốt yếu nhất. Philip Roth làm việc này với sự chuẩn xác và bình thản của một con người nhiều trải nghiệm, biết bỏ qua những nhao nhác thông thường của cuộc đời, bỏ cả hình thức tiểu thuyết đồ sộ trước đây từng giúp ông thu hoạch danh tiếng (nhất là loạt sách về nhân vật Zuckerman) để đến với một hình thức tiểu thuyết vô cùng gọn nhẹ và bình dị, nhưng làm người đọc hiểu rằng sự hiểu đời của ông sâu sắc đến khó ngờ.

Sep 7, 2011

(Brand New Ones) Russell Banks

Hic không biết bác NSC đi đâu lâu thế, giá kể có bác ấy ở đây giúp "mở rộng phạm vi đấu tranh" :p

Mở rộng phạm vi…

Cho tới rất gần đây, một nền văn học lớn như văn học Mỹ hiện diện ở Việt Nam thật ra rất mỏng và lệch. Nếu không phải Cuốn theo chiều gió thì độc giả Việt Nam thường sẽ nghiêng về hai thái cực: say đắm các nhà văn “cánh tả” như Ernest Hemingway hay Jack London và cả nhà văn tương đối trung bình O. Henry, hoặc nếu không thì sẽ theo dòng rất mực giải trí gồm tác phẩm của những người như Sydney Sheldon, Stephen King hay John Grisham.

Điều này hẳn là có nguyên do lịch sử, nhưng có thể nói rằng ngoài một số hiện tượng đột xuất như Trên đường (Jack Kerouac), Giết con chim nhại (Harper Lee) hay Bắt trẻ đồng xanh (Salinger) từng có bản dịch từ cách đây nhiều chục năm, cả miền Bắc và miền Nam đều không dịch nhiều văn chương Mỹ, mặc dù ở miền Bắc đã sớm có Chữ A màu đỏ (Hawthorne) và miền Nam đã dịch rất công phu Moby Dick (Melville) ở ngay đầu sự tồn tại của Việt Nam Cộng hòa. Với sự xuất hiện của các nhà văn như Saul Bellow, Don DeLillo, Raymond Carver và Philip Roth, dòng chủ lưu của văn chương Mỹ (tạm gọi là “cao cấp”) mới bắt đầu được đưa dần vào Việt Nam.

Apr 5, 2011

Sách (XXVIII) Mùa của kiệt tác

Sau những ngày chán ốm người vì sách vở toàn thứ chán ốm người, Tết nhất cũng đã qua được một lúc lâu lâu rồi, giờ là lúc dạ dày còm cõi của ta chuẩn bị xơi tái những kiệt tác.

Calvino, Bolaño, Kapuściński, Le Carré, Carver, Roth, hòm hòm thế đã.

Còn đây là một đoạn trong Sự thống trị của nam giới, Pierre Bourdieu (La Domination masculine, Lê Hồng Sâm dịch, NXB Tri Thức, "Tủ sách tinh hoa"):

"Toàn bộ đạo đức học của chúng ta, không nói đến mỹ học của chúng ta, nằm trong hệ thống các tính từ chủ yếu, cao/thấp, thẳng/vẹo, cứng rắn/mềm mại, mở/đóng kín, v.v..., mà một bộ phận lớn cũng chỉ rõ các tư thế hoặc các ý hướng của thân thể, hoặc của bộ phận này bộ phận kia của thân thể - "ngẩng cao đầu", "cúi mặt"." (tr. 36)

Ở lĩnh vực này người Pháp chắc chắn là đi rất xa phía sau người Mỹ, French Theory đi sau Théorie Américaine, thành thử ngay từ đầu Pierre Bourdieu đã trích dẫn Judith Butler, cụ thể là khái niệm "performance" (Madame Sâm dịch là "thực hành", nhưng từ này giờ bắt đầu hay được gọi là "biểu hành").

Để biết thêm ngọn nguồn khái niệm habitus của Bourdieu: tham khảo Norbert Elias, cũng là người đặt ra khái niệm "processus de civilisation". Tạp chí Vingtième Siècle số 106, Avril-Juin 2010 đi hẳn một chuyên đề lớn về Elias.