Jul 29, 2018

Chàng tử tước (phần tiếp theo)

Phần ngay trước ởkia.

D'Artagnan thôi phụng-sự Hoàng-Thượng Lô-y Thập-tứ, bỏ cả cái chức-vụ ở đội ngự-lâm. Chừng như d'Artagnan mới nghĩ ra một dự-định gì nó lớn lắm, nó làm cho ông sẵn sàng bỏ đi cả những cái gì từng có ý-nghĩa lớn trong cuộc-đời ông.

Nhưng d'Artagnan tìm các bạn mà không gặp được ai. Tìm Bô-tố thì chỉ thấy Mousqueton, tìm Aramis thì chỉ thấy Bazin, thậm chí ở chỗ A-tố, d'Artagnan còn chẳng thấy tăm-hơi cả ông chủ de La Fère bá-tước lẫn Grimaud đâu cả. Nhưng d'Artagnan đã nghĩ tới một người.

Đó là Planchet. Người hầu cũ giờ đã trở nên một lái-buôn máu-mặt tại Ba-lê, trên cái phố Lombards sầm-uất lắm. Planchet lại còn làm thêm cái nghề ngân-hàng. D'Artagnan lấy được tiền từ Planchet để gầy-dựng một đạo-quân đi làm cái công-việc mà ông đã nghĩ ra.

Đạo-quân ấy gặp nhau nơi quán-trọ Đại Quân-Vương thành Ca-lê. Đang có một cuộc ẩu-đả lớn nơi quán-trọ ấy: trong tửu-quán phát-sinh biến-cố.




XXII

D’Artagnan lên đường đi kinh doanh cho hãng Planchet và Compagnie


Ngôi khách sạn Đại Quân Vương nằm trên một phố nhỏ chạy song song với bến cảng, nhưng không dẫn ra cảng; vài ngõ cắt ngang nó, giống các thanh ngang cắt hai thanh dài song song nhau của cái thang, hai đường thẳng dài là bến cảng và cái phố. Đi vào mấy ngõ, người ta bất ngờ từ cảng vào phố, hoặc từ phố ra cảng.

D’Artagnan đến trên bến cảng, đi vào một trong những phố ấy, và bất ngờ thấy mình đang đứng trước khách sạn Đại Quân Vương.

Giờ phút được chọn rõ khéo, nó lại còn có thể nhắc cho d’Artagnan nhớ đến khởi thủy sự nghiệp của ông tại ngôi khách sạn Franc-Meunier, ở trấn Meung năm nào. Đám thủy thủ vừa chơi trò gieo xúc xắc, đâm ra cãi cọ nhau, đang hung dữ dọa nạt lẫn nhau. Chủ ông, chủ bà cùng hai bồi lo lắng ngó vòng tròn mấy kẻ chơi đổ bác gian lận kia, giữa đó chiến tranh hồ như sắp bùng nổ, tua tủa những dao găm và rìu.

Tuy vậy, trò chơi vẫn tiếp diễn.

Trên một ghế băng dài bằng đá có hai người đàn ông, chừng như bọn họ đang trông chừng cái cửa; tám cái bàn kê trong góc căn phòng chung có tám người khác nữa ngồi. Cả mấy người trên ghế băng lẫn đám ngồi bàn đều không tham gia cãi cọ hay chơi đổ bác. D’Artagnan nhận ra chục người của ông nơi những kẻ khán giả rất mực lạnh lùng và thờ ơ kia.

Cuộc cãi cọ đương hồi gay cấn. Giống như bể, mọi thị dục đều có thủy triều của nó, thủy triều đó cũng dâng lên, hạ xuống. Tới đỉnh điểm của thị dục, một tên thủy thủ hất đổ cái bàn cùng đống tiền đặt trên đó. Cái bàn đổ xuống, tiền lăn đi. Cùng lúc, toàn bộ đám người của ngôi khách sạn lao vào những món cược, và kha khá những đồng tiền màu trắng bị nhặt bởi tay những kẻ sau đó vội chuồn đi mất, trong lúc đám thủy thủ vẫn mải xâu xé lẫn nhau.

Chỉ còn hai người ngồi trên ghế băng cùng tám người phía trong, dầu trông họ như thể hoàn toàn xa lạ với nhau, chỉ họ, chúng tôi xin nói, dường như đã nhất định tỏ ra thản nhiên ở ngay giữa những tiếng la hét tức tối cùng âm thanh của tiền rơi ấy. Chỉ hai người đưa chân gạt lũ người đang đánh nhau, bọn chúng lăn toài tới tận bên dưới bàn của họ.

Thêm hai người, thay vì dự vào tất tật cuộc huyên náo kia, chỉ thò tay ra khỏi túi; rồi nữa, hai người khác trèo luôn lên cái bàn họ đang ngồi, giống những người bỗng bị nước lũ ập đến bất ngờ vẫn làm để khỏi bị nhận chìm.

- Nào, nào, d’Artagnan nhủ thầm, vốn ông đã chẳng bỏ sót một cái gì trong số những chi tiết chúng tôi vừa tả, nhóm người kia hay ghê: cẩn trọng, bình tĩnh, dạn dày với chuyện ồn ào, rất rắn, để đánh đấm thì tốt đây; chậc! ta phải tự khen ta biết lựa chọn giỏi quá đi.

Đột nhiên, ông để tâm tới một điểm trong gian phòng.

Hai người lúc vừa xong đưa chân hẩy đám đánh lộn ra đang bị lũ thủy thủ hùa vào chửi rủa, chúng đã làm hòa với nhau.

Một tên trong đó, say vật vờ vì giận quá và cũng say hoàn toàn vì bia, lớn giọng quát mắng dọa nạt kiếm chuyện với người nhỏ thó hơn trong số hai người kia, căn vặn anh ta lấy quyền gì mà dám đưa chân chạm vào các tạo vật của Chúa vốn dĩ chẳng hề là lũ chó. Vừa lớn tiếng hoạnh họe y vừa, nhằm làm cho sự cà khịa đến được gần đích hơn, giơ nắm đấm to tướng của y định đấm vào mặt cái người mới được d’Artagnan tuyển mộ.

Người ấy mặt tái đi, chẳng ai hiểu được tái đi vì sợ hay tái vì giận quá; thấy thế, tên thủy thủ mới kết luận ngay rằng là vì hãi, y bèn tung tay, chủ đích đã quá rõ là nhằm sao cho nó đậu xuống mặt người lạ. Nhưng, không một ai kịp nom rõ thân thủ của người kia nhúc nhích, chỉ thấy loáng cái tên thủy thủ đã bị giáng một cú thật dữ tợn vào bụng, khiến cho y lăn ra tận đầu kia gian phòng, la hét bai bải. Cùng lúc, được tinh thần đồng đảng xui khiến, tất tật đám bạn của kẻ bại trận lao bổ vào người chiến thắng.

Người ấy, vẫn giữ nguyên vẻ lạnh lẽo như vừa mới xong, chẳng hề phạm phải sự bất cẩn là chìa vũ khí ra, vớ ngay một hũ bia bịt nắp thiếc, giộng cho xỉu mất dăm ba kẻ tấn công; rồi, lúc anh ta chừng như sắp quỵ trước số đông áp đảo, bọn bảy người nãy giờ vẫn im lặng ở trong phòng, vốn dĩ chưa hề động cựa, hiểu rằng đã tới lúc cần can thiệp rồi đây, nếu không cả bọn núng thế mất, nhất loạt ùa vào giải cứu cho anh ta.

Cùng lúc đó, hai người bàng quan ngoài cửa nhíu mày quay vào nhìn, tỏ lộ rõ là họ sẵn sàng xông tới kẻ thù nếu kẻ thù chẳng chịu ngừng đi.

Chủ ông, đám bồi và hai người gác đêm đi ngang vì tò mò vào quá sâu trong gian phòng, bị cuộc ẩu đả chụp lấy và tha hồ bị ăn đòn.

Đám người Paridiêng đánh, đấm, nện giống những Xi-cờ-lốp, coi có bài lắm, cùng là một chiến thuật nhìn mà thích mắt; sau rốt, buộc lòng phải vừa đánh vừa lùi vì đối phương đông quá, họ co cụm lại đằng sau giới tuyến là cái bàn lớn, được bốn người đồng lòng nhấc bổng lên, trong khi hai người khác mỗi người thủ lấy một cái mễ, thành thử toàn cảnh trông giống một lò mổ khổng lồ, chỉ một đòn họ quật ngã luôn tám tên thủy thủ, thứ vũ khí gớm ghiếc kia được ném thẳng lên đầu bọn chúng.

Trên nền nhà lổn nhổn đám bị thương, gian phòng ngập tiếng la hét váng động, cùng là bụi, khi ấy d’Artagnan, đã hài lòng với cuộc thử thách, rút gươm ra cầm tay lao lên, rồi, cứ có cái đầu nào nghển lên là ông liền giáng cho một chuôi gươm, ông hét lên thật to, hầy! chấm dứt luôn cuộc giao tranh. Khoảng giữa phòng trở nên trống trải hẳn, chỉ mình d’Artagnan đứng đó, ở tư thế ông chủ.

- Chuyện gì? sau đó ông hỏi cả đám, giọng ông uy nghi như thần Neptune nói Quos ego

Cùng lúc, khi giọng nói ấy mới chỉ vừa cất lên, vì ở đây vẫn muốn tiếp nối ẩn dụ kiểu Virgile, những tay lính mới của ông d’Artagnan, từng người riêng lẻ nhận ra vị chúa tể hùng mạnh của mình, đồng loạt bỏ trở lại vào trong bao cơn giận dữ của họ, những cú phang ván gỗ rồi thì những phát giáng mễ của họ.

Phía kia, đám thủy thủ, trông rõ thanh gươm tuốt trần, dáng vẻ binh nghiệp kia, cùng cánh tay dẻo dai vừa tới cứu viện cho kẻ thù của chúng, nơi cái con người trông rất có dáng dấp quen thuộc với việc chỉ huy, phía kia, đám thủy thủ thu nhặt thương binh cùng đồ lề rồi rút vội.

Đám Paridiêng chùi trán rồi kính cẩn chào thủ lĩnh.

D’Artagnan được chủ ông của quán Đại Quân Vương không tiếc lời nhiệt liệt khen ngợi.

Ông nhận những thứ đó ở tư cách một con người biết tỏng người ta chẳng bao giờ có thể tặng cho ông quá nhiều cái gì, rồi thì ông tuyên bố, trong lúc đợi dọn bữa, ông sẽ ra ngoài bến cảng đi dạo.

Ngay tức khắc, tất cả đám chiêu binh, hiểu ngay lời gọi, cầm lấy mũ, phủi quần áo cho sạch sẽ rồi đi theo d’Artagnan.

Nhưng d’Artagnan cứ thế đi thơ thẩn, săm soi kỹ từng thứ đồ vật, mãi không chịu dừng lại; ông tiến về phía đụn cát, và mười người kia, hoảng hốt vì phải đi sát theo nhau, đầy lo ngại hết nhìn sang hữu, sang tả lại ngoái đầu nhìn ra sau ngó các bạn đồng hành họ chẳng hề thấy tin tưởng, đi theo ông, nhưng ném vào nhau những ánh mắt hung dữ.

Mãi đến chỗ hõm sâu nhất của đụn cát thì d’Artagnan, miệng mỉm cười khi thấy họ đi cách xa nhau, quay nhìn họ, tay ông phác một cử chỉ hòa bình:

- Kìa! đây! đây! các anh, ông nói, đừng có xé xác nhau đấy nhé; các anh được tạo ra để sống sát cánh bên nhau, thông hiểu nhau ở mọi điểm, chứ không phải để xé xác lẫn nhau đâu.

Lúc ấy, mọi ngần ngừ đều chấm dứt; đám người thở hắt ra như vừa được đưa khỏi áo quan, vui tươi nhìn nhau cho kỹ. Sau đó rồi, bọn họ chú mục vào vị thủ lĩnh, vốn dĩ từ rất lâu ông đã quá rành cái nghệ thuật vĩ đại ấy là nghệ thuật nói chuyện với những người có tâm tính như vậy, ông ứng biến ngay tại chỗ một bài đít cua nho nhỏ sau đây, nó được nhấn mạnh thêm rất nhiều nhờ một sự cương nghị rất nhiều tính cách Gátxcông:

- Các anh, các anh đều biết tôi là ai. Tôi đã thuê các anh, vì tôi biết các anh là những tay có tài thao lược, lại mong muốn được dự vào một công cuộc vinh quang. Các anh cứ vững dạ, làm việc với tôi thì cũng tức là các anh đang làm việc để phụng sự cho nhà vua đó. Tôi chỉ báo trước với các anh một điều mà thôi, nếu ai để lộ tí xíu cái điều ấy, tôi sẽ buộc lòng phải ngay tắp lực đập vỡ đầu kẻ đó bằng cách thức nào tôi cho là thuận tiện hơn cả. Các anh, chẳng phải các anh không biết, rằng các bí mật của Nhà Nước thì giống hệt một thứ độc dược chết người; chừng nào món độc đó vẫn còn nằm trong hộp đựng nó, rồi thì hộp được khóa kín, nó không gây hại; nhưng ra khỏi hộp, nó sẽ giết người. Giờ, các anh tiến lại gần đây, các anh sẽ được biết về điều bí mật ấy, những gì mà tôi có thể nói cho các anh.

Tất cả sáp lại gần, tỏ lộ vẻ hiếu kỳ.

- Lại gần đây nào, d’Artagnan nói tiếp, sao cho con chim bay qua trên đầu chúng ta, con thỏ đang chơi nhởn trên đụn cát, con cá từ dưới nước nhảy vọt lên, không thể nghe được chúng ta nói gì. Công việc là tìm hiểu rồi báo cáo về cho ngài tổng quản kinh tài biết lũ buôn lậu Anh-cát-lị gây tác hại tới mức nào cho các lái buôn Pháp. Tôi đây sẽ luồn lách vào mọi nơi và sẽ nhìn thấy mọi thứ. Chúng ta là những dân chài Picardie nghèo khó bị bão biển đánh dạt vào bờ. Đương nhiên là chúng ta sẽ đi bán cá, không hơn không kém so với đám ngư dân. Chỉ có điều, người ta có thể đoán được chúng ta là ai, rồi gây khó dễ cho chúng ta; vậy nên nhất thiết chúng ta phải lo sao cho đủ sức tự vệ lấy thân. Thành ra, tôi đã chọn các anh, những người nhiều trí tuệ cũng như lòng can đảm. Chúng ta sẽ rất bình thản và sẽ không vấp phải hiểm nguy lớn, bởi đằng sau lưng chúng ta có một người bảo trợ hùng mạnh, nhờ ngài ấy sẽ chẳng có gì gây rối được đâu. Chỉ duy nhất một điều khiến cho tôi thấy bấn trong dạ, nhưng tôi mong rằng sau khi giải thích ngắn gọn, các anh sẽ giúp tôi thoát khỏi luôn. Cái điều làm cho tôi bấn dạ, ấy là phải mang theo cùng với tôi một toán ngư dân ngu xuẩn, toán ngư dân này sẽ gây rất nhiều phiền nhiễu cho chúng ta, trong khi mà, nếu tình cờ trong số các anh có những người từng nhìn thấy biển…

- Ồ! nếu chuyện chỉ là vậy! một trong số các lính mới của d’Artagnan cất lời; tôi đây, tôi từng bị lũ cướp biển bên Tunis bắt cầm tù suốt ba năm trời, tôi rành ma nớp như một đô đốc hải quân.

- Kìa, các anh coi, d’Artagnan đáp, sự tình cờ là thứ mới đáng ngưỡng mộ xiết bao!

D’Artagnan nói những lời ấy bằng một cái điệu ngờ nghệch vờ vĩnh không bút nào tả xiết; bởi vì d’Artagnan vốn biết quá rõ rằng nạn nhân của cướp biển kia chính là một cựu cướp biển, ông đã thuê anh ta chính bởi vì như thế. Nhưng d’Artagnan chẳng bao giờ nói gì nhiều hơn những gì cần phải nói, nhằm để cho những kẻ khác tha hồ mà nghi hoặc. Cho nên ông đâu màng tới sự giải thích lôi thôi, và đón nhận kết quả mà chẳng hề tỏ ra bận tâm đến nguyên do.

- Còn tôi! một người nữa cất lời, do may mắn tôi lại có một ông chú điều hành tàu bè tại bến cảng La Rochelle. Hồi nhỏ tôi đã chơi lê la suốt trên những con thuyền; thế nên tôi biết dùng mái chèo rất khéo, cùng là giương buồm, tôi dám thách thức cả tên thủy thủ già dặn nhất đấy.

Tay này không nói dối hơn so với tay vừa xong nhiều lắm, anh ta từng chèo thuyền khổ sai sáu năm trên các con tàu của Hoàng Thượng, tại La Ciotat.

Hai người khác thì thẳng thắn hơn; bọn họ thẳng thừng thú nhận mình từng phục vụ trên một con thuyền chuyên dùng để trừng phạt; họ chẳng đỏ mặt ngượng ngùng vì vậy. D’Artagnan thoắt cái đã biến thành thủ lĩnh của mười chiến binh cùng bốn thủy thủ, vừa có quân bộ lại vừa có thủy binh luôn, điều này hẳn sẽ khiến cho Planchet kiêu hết mức, nếu như mà Planchet có lúc nào biết được chi tiết này.

Chỉ còn lại mỗi việc ra lệnh, ở điểm ấy d’Artagnan rất đỗi tỉ mỉ. Ông hạ lệnh cho người của mình chuẩn bị sẵn sàng lên đường đi La Haye, một số người thì men theo bờ biển cho tới Breskens, những người khác theo ngả Anvers.

Sau khi tính ra chặng đường đi được mỗi ngày, họ hẹn nhau sẽ cùng gặp lại hai tuần sau đó tại quảng trường chính của La Haye.

D’Artagnan khuyên họ nên đi theo từng cặp hai người, tự chọn người mà đi cùng, theo cảm tình riêng. Bản thân ông chọn trong số mấy bộ mặt ít gớm guốc hơn cả lấy hai tên lính gác ông từng quen biết trước đây, bọn họ chỉ có độc hai khiếm khuyết nhỏ, ấy là bọn họ hay say xỉn và mê trò đổ bác. Bọn họ còn chưa đánh mất toàn bộ khái niệm về văn minh, và bên dưới quần áo sạch sẽ, trái tim họ đã bắt đầu đập trở lại. D’Artagnan, nhằm tránh làm những người khác cảm thấy ghen tị, cho bọn họ đi trước. Ông giữ lại hai người mà ông ưa nhất, tự tay sắm sửa áo quần cho họ mặc rồi cùng họ khởi hành.

Với bọn họ, d’Artagnan làm ra vẻ tin tưởng tuyệt đối, ông tâm sự vờ, cái đó nhằm khiến cho cuộc hành quân hòng thắng lợi nổi. Ông thú nhận với họ rằng chuyện không phải tìm hiểu nạn buôn lậu Anh-cát-lị gây thiệt hại đến mức nào cho ngành thương mãi Pháp, mà ngược lại, buôn lậu của Pháp có thể gây thiệt hại ra sao cho thương mãi của nước Anh. Hai người kia tỏ ra tin lời ông lắm; mà họ tin thật. D’Artagnan tin chắc rằng ở chầu nhậu sắp tới, chừng nào đã say bí tỉ, một trong hai sẽ phun ra cái điều bí mật khổng lồ kia cho cả đám. Ông cho trò chơi của ông chẳng thể hỏng được.

Hai tuần sau những gì mà chúng ta vừa được chứng kiến xảy ra tại Calais, cả đội quân tập hợp lại với nhau bên La Haye.

Chừng ấy, d’Artagnan thấy rằng tất cả người của ông, khôn ngoan rất mực, đều đã cải trang thành thủy thủ ít nhiều bầm giập vì đi biển.

D’Artagnan để cho họ ngủ tại một nhà trọ xập xệ ở Newkerkestreet, còn bản thân ông thì đường hoàng trọ trên kênh lớn.

Ông được biết tin vua Anh đã quay trở về bên đồng minh của ngài, Guillaume II de Naussau, cai trị Hòa Lan. Ông cũng hay rằng lời từ chối của vua Lô y Thập tứ đã có chút làm nguội lạnh lòng hảo tâm bảo trợ cho đến khi ấy ông vua vẫn được hưởng, do vậy chàng phải chịu phận náu mình nơi một ngôi nhà nhỏ thuộc làng Scheveningen, nằm ở chỗ những đụn cát, bên bờ biển, cách La Haye chừng một dặm đường.

Tại đó, người ta kể, kẻ bị phát vãng bất hạnh kiếm sự an ủi cho kỳ lưu đày của mình bằng cách ngắm nhìn Biển Bắc mênh mông, chàng âu sầu rất đúng điệu như những ông hoàng thuộc dòng giống của chàng, cái biển kia ngăn cách chàng với xứ Anh-cát-lị của chàng, cũng như xưa kia nó đã ngăn cách Marie Stuart khỏi nước Pháp. Ở đó, đằng sau dăm cây cối của cánh rừng Scheveningen tươi đẹp, trên nền cát mịn mọc thạch thảo điểm vàng của đụn cát, Charles Đệ nhị cũng sống vật vờ giống chúng, bất hạnh hơn chúng, bởi chàng sống với cuộc đời của sự suy tư, và chàng hy vọng, và chàng tuyệt vọng, cứ thế mà lần lượt mãi không thôi.

D’Artagnan từng có lần đi tới tận Scheveningen, mục đích là được chắc dạ về những gì người ta đồn thổi về ông vua. Quả, ông nom thấy Charles Đệ nhị tư lự và thui thủi đi ra từ một cánh cửa nhỏ dẫn đến cánh rừng, lang thang trên bờ biển, dưới làn nắng chiều, chẳng thu hút sự chú tâm của cả đến đám ngư dân trở về nhà ban tối, bọn họ, cũng giống các thủy thủ cổ xưa của nơi này, kéo thuyền bè lên bãi cát.

D’Artagnan nhận ra ông vua. Ông thấy chàng dõi nhìn chăm chăm, u buồn, mặt nước rộng rinh dập dờn, tụ về trên khuôn mặt tái xanh những tia đỏ quạch của mặt trời đã bị rạch nát bởi đường chân trời đen thẳm. Rồi Charles Đệ nhị quay trở về ngôi nhà đơn côi, vẫn chỉ một mình, vẫn thật chậm chạp và buồn, tự mua vui bằng cách nghiến chân phát ra tiếng xào xạo lên cát lún bở.

Ngay tối hôm ấy, d’Artagnan bỏ một nghìn livre thuê lấy một con thuyền chài đáng giá bốn nghìn. Ông đưa tiền luôn, đặt thêm ba nghìn khác ở chỗ ông trấn trưởng. Rồi, ông đưa lên thuyền, nhờ đêm tối nên chẳng ai có thể trông thấy, sáu người thuộc đội quân bộ của ông; và, lúc triều lên, ba giờ sáng, ông ra khơi, cùng bốn người khác ra sức chèo chống, dựa cả vào tài năng của cựu tù khổ sai chuyên chèo thuyền, như thể đó là viên hoa tiêu hạng nhất của bến cảng.






XXIII

Ở thiên này tác giả, dẫu chẳng hề muốn, buộc lòng phải giảng giải đôi chút về môn lịch sử


Trong khi những ông vua và các con người xăng xái lo toan cho nước Anh như vậy, mà vốn dĩ nó tự điều hành lấy, và nó, cần phải nói điều này đặng ngợi khen nó, chưa từng bao giờ bị điều hành tồi tệ đến thế, một con người, mà Chúa đã dõi ánh mắt vào, rồi thì đặt ngón tay của Người lên, một con người được sổ trời định sẵn cho cái việc viết tên của Người bằng những nét chữ chói lói trong quyển sách Lịch Sử, theo đuổi ở trên bề mặt của thế giới một cái công trình tràn đầy bí ẩn và lòng táo bạo. Ông ra đi, chẳng ai biết là ông muốn đi đâu, dẫu không chỉ nước Anh mà cả nước Pháp, cả Âu châu, nhìn ông bước đi vững chãi, đầu thì ngẩng cao. Mọi điều gì người ta biết được về con người này, chúng tôi sẽ nói luôn ngay đây.

Monck vừa lớn lời tuyên bố bảo trợ cho tự do của Rump parliament, hay nếu như mà thích hơn, cứ gọi đó là pắc-lơ-măng Phao Câu, ấy người ta hay gọi nó theo hỗn danh đó; cái pắc-lơ-măng ấy vừa bị tướng quân Lambert, để bắt chước Cromwell, mà ông ta từng ở dưới trướng, cho phong tỏa ngặt nghèo, nhằm thị uy, đến nỗi chẳng thành viên nào của nó, trong suốt khi cuộc vây hãm diễn ra, có thể thoát ra ngoài, chỉ độc một người, Pierre Wentwort*, đi vào được.

Lambert và Monck, mọi điều đều được tóm tắt hết cả vào hai con người ấy, người thứ nhất thì đại diện cho nền bạo chúa quân sự, người thứ hai, chính thuyết cộng hòa thuần túy. Hai con người đó, chỉ họ mới là đại diện chính trị của cái cuộc cách mạng nơi thoạt tiên Charles Đệ nhất mất ngai, rồi tiếp đến ngài mất nốt cái thủ cấp.

Lambert, thêm nữa, không che giấu các mưu toan của ông ta; ông ta tìm cách lập một chính phủ thuần quân sự rồi mình trở nên đứng đầu chính phủ ấy.

Monck, vốn dĩ là nhà cộng hòa cứng cỏi lắm, một số người vẫn hay nói vậy, thì lại muốn giữ Rump parliament, cái tượng trưng hiển hiện, dẫu đã thoái hóa, cho nền cộng hòa kia. Monck, một kẻ tham vọng lớn rất khéo léo, một số người khác bảo vậy, chỉ muốn thủ lợi riêng mà biến pắc-lơ-măng ấy, bề ngoài trông như thể ông ta bảo trợ cho nó, thành một bực cầu thang vững chắc giúp cho ông ta leo lên tới ngai vua đã bị Cromwell khiến cho trống vắng, nhưng ông ta còn chưa dám ngồi luôn lên đó.

Vậy nên, Lambert, đàn áp pắc-lơ-măng, còn Monck, nói mình bảo vệ nó, đã cùng cất lời tuyên bố mình là kẻ thù của nhau.

Thành ra, Monck cùng Lambert mới thoạt đầu nghĩ tới chuyện, mỗi bên, gầy dựng một quân đội: Monck bên xứ Ê-cốt, nơi có những người theo Calvin cùng những người bảo hoàng, nghĩa là những kẻ bất mãn; còn Lambert thì ở tại London, cái nơi vẫn như lệ thường có sự đối lập mạnh mẽ nhất trước cái quyền lực nằm đó ngay trước mắt nó.

Monck đã bình định xong xứ Ê-cốt, tại đó ông ta đã lập ra một đội quân và biến nó thành một chốn trú ngụ: cái này canh giữ cái kia; Monck biết vẫn còn chưa tới cái ngày, ngày được Thượng Đế đánh dấu, gia dĩ thực hiện được một sự đổi thay lớn; vậy nên, thanh gươm của ông ta dường vẫn dính liền vào bên trong vỏ. Cố thủ kín như bưng nơi cái xứ Ê-cốt hung dữ nhiều núi đèo, là tướng quân không chịu nghe thượng lệnh nào, là ông vua của một đạo quân gồm tổng cộng mười một nghìn lính già, cái đạo quân ông từng hơn một lần dẫn dắt đi tới thắng lợi; rành rẽ ở mức ngang bằng, thậm chí còn hơn, các sự vụ diễn ra ở London so với Lambert, vốn dĩ đang đặt quân đồn trú của mình chính nơi đô thành, Monck là như thế đó vào lúc, ở cách London hàng trăm dặm, ông ta cất lời tuyên bố ủng hộ pắc-lơ-măng. Lambert thì ngược lại, như chúng tôi vừa nói nói, ở tại kinh đô. Có ở đó trung tâm mọi hoạt động của ông ta, và ông ta tụ hội ở đó, quanh mình, tất tật bạn bè cùng là toàn bộ đám tiện dân, những kẻ vĩnh viễn có khuynh hướng yêu chiều đám kẻ thù của quyền lực theo luật định.

Tức, ở London Lambert biết được rằng từ vùng biên thùy Ê-cốt, Monck ủng hộ pắc-lơ-măng. Ông ta cho không có thời gian để mất, rồi thì dòng sông Tweed không xa sông Thames đến độ một đạo quân không thể băng từ nơi này qua nơi kia, nữa là, nó lại còn được chỉ huy rất thiện nghệ. Thêm vào đó, ông ta lại còn biết chỉ cần nhập được đất Anh-cát-lị thôi là càng lúc lính tráng của Monck sẽ càng tạo ra trên đường lộ cái cục tuyết tròn vốn dĩ là biểu trưng cho hình cầu vận hạn, đối với kẻ lắm tham vọng đó chỉ là một mức độ chẳng ngừng cứ lớn thêm mãi, nhằm dẫn kẻ ấy tới mục tiêu. Ông ta bèn gom góp quân đội của mình, nó khủng khiếp vừa vì thành phần cấu tạo lại vừa bởi số lượng của nó, rồi băng tới trước Monck, nhân vật đó, giống một người lái tàu đầy cẩn trọng đang lênh đênh giữa xiết bao tảng đá ngầm, tiến lên chậm chạp, từng ngày từng ngày một, mặt vểnh lên e dè đoán hướng gió, lắng nghe âm thanh và đánh hơi làn không khí từ London thổi đến.

Hai đạo quân nom thấy nhau ở đoạn Newcastle; Lambert, vốn dĩ tới trước, lập trại ngay trong thành phố.

Monck, lúc nào cũng rất mực thận trọng, dừng chân và đặt đại bản doanh của mình ở Coldstream, trên sông Tweed.

Nhìn thấy Lambert, đạo quân của Monck vui lắm, nhưng ngược lại nhìn thấy Monck, đạo quân của Lambert hoảng hốt. Dường có thể nói những tay lính chiến gan dạ kia, từng gây biết bao nhiêu ồn ào trên phố phường London, đã lên đường trong hy vọng thầm kín sẽ chẳng gặp phải ai hết, thế nhưng giờ đây, thấy rằng bọn họ phải chạm trán một đạo quân, mà đạo quân ấy lại giương lên trước mặt bọn họ không chỉ một lá cờ mà còn cả một lý tưởng, một nguyên tắc, dường có thể nói rằng các tay lính chiến gan dạ kia khởi sự nghĩ thầm trong bụng, bọn họ kém phân là những người cộng hòa so với lính bên Monck, bởi những kẻ kia ủng hộ pắc-lơ-măng, trong khi Lambert thì chẳng ủng hộ gì sất, thậm chí không ủng hộ luôn cả cái đó.

Về phần Monck, nếu ông ta phải suy nghĩ, hoặc giả ông ta có suy nghĩ thật, thì chắc hẳn là phải theo lối buồn bã lắm, vì lịch sử kể lại, mà cái bà tính hay cả thẹn ấy, ta cũng biết quá đi rồi, chẳng bao giờ nói dối, ấy là vì lịch sử kể rằng cái ngày ông ta đến Coldstream, bới tung cả thành phố lên người ta cũng chẳng làm thế nào tìm ra nổi một con cừu.

Nếu Monck mà đang chỉ huy một đạo quân của Anh-cát-lị, tình hình xảy ra chắc hẳn đã làm tan hàng lối. Nhưng những người Ê-cốt thì hoàn toàn không giống những người Anh, đối với người Anh cái thứ thịt da trôi chảy được gọi là máu thì cần thiết lắm; người Ê-cốt, cái dòng giống nghèo khổ và giản dị, sống bằng chút lúa mạch nghiền bằng hai hòn đá, chiêu thêm ít nước lã rồi đem nấu chín trên gạch xỉ nóng.

Người Ê-cốt, miễn sao được phân phát lúa mạch, chẳng còn lo lắng chút nào về việc có hay không có thịt tại Coldstream.

Monck, vốn miệng ông ta chẳng mấy quen với mấy cái bánh đại mạch cứng queo, đói bụng và bộ tham mưu của ông ta, cũng đói, ít cũng phải ngang cỡ ông, lo ngại nhìn qua hữu, rồi lại ngó sang tả, xem người ta đang nấu bữa muộn bằng cái gì.

Monck cho người đi thám thính; lính tiền tiêu của ông lúc tới nơi đã thấy thành phố trống hoác và chạn tủ tiêu điều; những người hàng thịt và hàng bánh mì thì thôi đừng nên trông đợi ở tại Coldstream. Vậy nên người ta không kiếm nổi ra lấy một mẩu bánh mì cho bàn ăn của tướng quân.

Lần lượt nghe các câu chuyện, chuyện nào chuyện nấy đều chẳng mang lại sự yên chí nào, Monck, thấy nỗi hoảng loạn và tuyệt vọng trên tất tật mọi khuôn mặt, nói cứng là ông không đói; vả, chắc để mai hẵng ăn, vì Lambert rất có khả năng đang có ý định cho quân tràn sang đánh luôn, do đó, cùng lúc sẽ phải nộp lương thực nếu ông ta bị vây khổn trong Newcastle, hoặc giả để giải thoát lính của Monck vĩnh viễn khỏi cái đói, nếu ông ta chiến thắng.

Lời an ủi đó chỉ hiệu nghiệm đối với ít ỏi con người; nhưng đối với Monck thì đâu có quan trọng gì, bởi vì lời Monck là mệnh lệnh tối cao, bên dưới dáng vẻ của sự đôn hậu tuyệt đối.

Bởi thế ai ai cũng phải tự đi mà thỏa mãn, hay ít nhất thì cũng phải tỏ ra như vậy. Monck, cũng đói y hệt người của ông ta, nhưng vờ tỏ ra hoàn toàn thờ ơ trước cái con cừu vắng bóng kia, cắt lấy một mẩu từ cuộn thuốc lá của một viên đội trong đoàn tùy tùng, và khởi sự nhá cái mẩu vừa nói, mạnh miệng đảm bảo với đám tay chân thân tín rằng cái đói chẳng qua chỉ là một huyễn ảnh, vả, có bao giờ người ta đói đâu, nếu như mà nhét được một cái gì đó vào hàm răng.

Câu nói đùa này gây sung sướng cho vài người trong số những kẻ đã cưỡng lại suy luận đầu tiên Monck rút ra được từ cái sự Lambert đang ở gần; số những kẻ cứng đầu vậy là giảm đi tương ứng; lính gác được cắt đặt, những đội tuần tra bắt đầu đi lại, còn tướng quân thì tiếp tục cái bữa đạm bạc của ông ta dưới túp lều mở toang.

Giữa trại của ông ta và trại kẻ thù, có một tu viện cổ kính nay chỉ còn sót lại chút phế tích mà thôi, nhưng hồi ấy nó vẫn còn đứng vững, người ta gọi nó là tu viện Newcastle. Nó được xây trên một khu đất rộng vừa độc lập với bình nguyên lại vừa độc lập luôn khỏi dòng sông, bởi nó gần như là một cái đầm lầy có các dòng suối tuôn nước vào, không ngớt được bổ sung nhờ các cơn mưa. Tuy vậy, ở giữa những vũng nước mọc đầy cỏ cao ngồng ngộc ấy, rồi thì lau sậy nữa, nổi lên các khoảnh đất vững chãi xưa được dành cho vườn trồng rau, cho khu vườn lớn, cho cái vườn cảnh cùng các khu phụ thuộc khác của tu viện, trông giống một con nhện biển lớn, người nó tròn xoe, mấy cái cẳng vươn ra búa xua từ khoảng tròn tròn chính giữa ấy.

Vườn rau, một trong những cái cẳng dài nhất của tòa tu viện, vươn mãi đến tận trại của Monck. Thật không may, như chúng tôi đã nói, đang là những ngày đầu tháng Sáu, khu vườn rau, bị bỏ hoang, chẳng có hoa lợi gì.

Monck chiếm lấy chỗ này, là chỗ có cơ gây nhiều bất ngờ hơn cả. Quá bên kia tu viện có thể nom thấy rõ những đống lửa của viên tướng kẻ thù; nhưng giữa những đống lửa ấy và tòa tu viện là sông Tweed đang tuôn vảy nước sáng bừng bên dưới cái bóng âm u của vài cây sồi lớn màu lục.

Monck biết rất rõ vị trí này, vốn dĩ Newcastle cùng vùng lân cận của nó từng nhiều lần được ông ta dùng làm đại bản doanh. Ông biết rằng, vào ban ngày, hẳn kẻ thù của ông có thể tung quân do thám vào giữa đống phế tích kia, tìm cách gây vài vụ đụng độ, nhưng đêm đến, hẳn là hắn sẽ tránh lạc lối tới đó. Vậy nên ông ta thấy là mình được nhiều an ninh.

Thành thử lính của ông ta có thể thấy ông ta, sau cái mà ông ta gọi, lối hết sức đường bệ, là bữa xu-pe của mình, tức là sau màn nhá thuốc lá đã được chúng tôi thuật lại ở đầu thiên này, chẳng khác Napoléon trước hôm diễn ra trận Austerlitz, ngồi đó trên cái ghế song mà ngủ, nửa mình bên dưới ánh đèn, nửa còn lại dưới ánh trăng phản chiếu, trăng lúc đó đã treo lơ lửng ở lưng chừng trời.

Như thế có nghĩa đang là cỡ chín giờ rưỡi tối.

Đương tựa nương bên triện một mình thiu thiu, đột nhiên Monck bị giật ra khỏi cơn ngủ la đà ấy, mà cũng có thể chỉ là ngủ vờ, do có một toán lính, chúng la hét vui mầng chạy bổ tới, lấy gậy khua loạn xạ vào lều của ông, nói năng lóe xóe để đánh thức ông dậy.

Cũng chẳng cần phải làm rầm lên tới mức đó. Tướng quân mở mắt.

- Này! các con của ta, chuyện gì? ông tướng cất tiếng hỏi.

- Thưa tướng quân, nhiều giọng nói đồng loạt đáp lại, thưa tướng quân, ngài sẽ được dùng bữa xu-pe.

- Ta đã dùng xu-pe rồi, thưa các anh, ông ta bình thản đáp, và ta vừa mới thanh thản mà tiêu hóa, như các anh cũng thấy đấy; nhưng mà vào đây đi, nói cho ta xem các anh mang cái gì tới nào.

- Thưa tướng quân, một tin mầng lắm đấy ạ.

- Chà! Lambert cử người sang báo với chúng ta là mai hắn sẽ đánh nhau chăng?

- Không ạ, nhưng chúng tôi vừa bắt được một thuyền ngư dân chở cá đến cho bên trại Newcastle.

- Thế thì các anh nhầm lẫn to mất rồi, các bạn của ta ạ. Những quý ông London kia nhã nhặn lắm đó, các ngài ấy rất thích mình được phục vụ trước hết; các anh sẽ khiến cho họ nổi điên lên thậm tệ mất thôi; tối nay rồi cả mai nữa, bọn họ sẽ khó lường lắm. Tin tôi đi, sẽ là rất tốt đấy nếu như mà gửi trả cho ông Lambert cá của ông ta cùng đám ngư dân nữa, trừ phi…

Tướng quân suy nghĩ một chốt lát.

- Nói ta xem, ông lại tiếp, đám chài lưới đó là ai thế?

- Lũ thủy thủ người Picardie hay đánh cá tại vùng bờ biển nước Pháp hay bên Hòa Lan, bị gió to thổi dạt vào chỗ chúng ta.

- Trong đó có những kẻ nói được tiếng của chúng ta chứ?

- Tay thủ lĩnh đã nói với chúng tôi vài từ tiếng Anh.

Mối nghi ngại của ông tướng tỉnh giấc theo đà các thông tin được truyền đạt lại.

- Tốt, ông nói. Ta muốn gặp những kẻ đó, dẫn chúng tới đây.

Viên đội trưởng đi ngay đến chỗ bọn họ.

- Chúng có bao nhiêu người? Monck lại hỏi, và chúng đi loại thuyền nào?

- Chúng có chừng một chục, hay mười hai tên, thưa tướng quân, và chúng đi một dạng thuyền đuổi sóng, chúng gọi cái đó vậy đấy ạ, thuyền làm theo kiểu Hòa Lan, như chúng tôi nhận thấy.

- Và các anh nói chúng chở cá đến cho trại của ông Lambert?

- Vâng, thưa tướng quân. Chừng như chúng mới được một mẻ đẫm lắm.

- Được, ta sẽ xem sao, Monck nói.

Quả tình, đúng lúc đó, viên đội trưởng trở lại, dẫn theo thủ lĩnh của đám ngư dân, một người chừng ngũ tuần, năm mươi lăm tuổi gì đó, nhưng mặt mũi tinh nhanh. Vóc người hắn tầm thước, hắn mang một cái áo bằng len thô, đội cái mũ bon nê sùm sụp xuống che cả mắt; một con dao to bản giắt nơi dây lưng, hắn bước đi với dáng vẻ ngập ngừng rất đặc trưng của cánh thủy thủ, những kẻ chẳng bao giờ hay biết, do bởi chuyển động của con thuyền, bàn chân của bọn họ sẽ đặt lên ván tàu hay vào khoảng không, khiến cho mỗi bước chân của bọn họ trông cũng vững vàng như thể đang sắp đặt lên một cái cột.

Monck, ánh mắt nhìn tinh nhạy đầy thấu suốt, ngó mãi người dân chài, hắn mỉm cười đáp trả, cái nụ cười nửa phần tinh quái, nửa phần ngây ngô, vốn dĩ đặc trưng nơi đám nông dân đất nước chúng ta.

- Anh nói tiếng Anh? Monck hỏi, bằng tiếng Pháp chuẩn mực.

- A! kém lắm đấy ạ, milord, ngư dân liền đáp.

Câu trả lời được phát ra với âm sắc nặng nhọc, sống động và giật cục của những người miệt dưới sông Loire, hơn so với âm sắc hơi đớt của những vùng thuộc miền Tây và miền Bắc Pháp.

- Nhưng mà có biết, Monck lại nói, vì muốn nghiên cứu kỹ thêm cái giọng kia.

- Kìa! chúng tôi là người miền biển, tên ngư dân đáp, tiếng gì mà chúng tôi chẳng nói được chút ít.

- Thế ra, ông là thủy thủ chuyên chài lưới?

- Ngày hôm nay, milord, thì là dân chài, thậm chí còn là dân chài cừ nữa kia đấy. Tôi đã đánh được một con cá vược nặng ít nhất ba mươi livre, hơn năm chục cá bò; tôi cũng có luôn cá bơn, đem mà rán thì ngon lắm đó.

- Anh làm ta có cảm giác như đã chài lưới ở vùng vịnh Gascogne thay vì tại biển Manche đấy, Monck mỉm cười, nói.

- Đúng vậy, tôi là người miền Nam; cái đó có ngăn cản người ta trở thành ngư dân giỏi không, milord?

- Không hề, và ta mua cá của anh; giờ, nói chuyện thẳng thắn đi: anh đang mang cá đến cho ai?

- Milord, tôi sẽ chẳng hề giấu ngài là tôi đang đi tới Newcastle, men theo bờ biển, thì một tốp kỵ sĩ rõ đông lao đi trên bờ theo chiều ngược lại, ra hiệu cho thuyền của tôi đi ngược lại tới chỗ trại của Tôn Ông, bằng không sẽ bị bắn bỏ. Vì tôi không được trang bị vũ khí để chiến đấu, tên ngư dân mỉm cười nói thêm, cho nên tôi đã phải vâng lời.

- Thế tại sao anh lại đi tới chỗ Lambert chứ không phải tới chỗ ta?

- Milord, tôi xin nói thẳng; Quý Ngài có cho phép không ạ?

- Được, thậm chí nếu mà cần ta còn ra lệnh cho anh phải nói thẳng.

- Kìa! milord, tôi đi tới chỗ ông Lambert, ấy là bởi các ngài dân thành phố trả nhiều tiền, trong khi người Ê-cốt các ngài, thanh giáo, Calvin, thệ phản, ngài thích gọi thế nào thì tùy, các ngài ăn thì ít, mà lại chẳng trả tiền gì hết.

Monck nhún vai, nhưng không sao tự ngăn mình, cùng lúc đó, nở một nụ cười.

- Vậy tại sao, vốn là người miền Nam, anh lại đến đánh cá tại vùng bờ biển của chúng ta?

- Bởi tôi đã ngu đần mà lấy vợ ở xứ Picardie.

- Phải rồi; nhưng dầu vậy Picardie cũng đâu phải Anh-cát-lị.

- Milord, con người đẩy thuyền của hắn ra biển, nhưng Chúa cùng với gió mới làm nốt phần còn lại, hai cái đó đẩy con thuyền tới đâu mà bọn họ muốn đấy ạ.

- Tức là anh đã không có ý định cập vào bờ chỗ chúng ta?

- Chưa bao giờ.

- Thế lúc trước anh đang đi theo con đường nào thế?

- Chúng tôi đương từ Ostende về, tại đó chúng tôi đã thấy lũ cá thu, rồi gió Nam thổi mạnh làm chúng tôi bạt đi, phải lênh đênh; thế là, thấy rằng chống trả lại nó cũng chẳng ích gì, chúng tôi bèn lướt đi trước nó. Vậy là đành phải, để không làm mất đi mẻ lưới rất đẫm, đem bán cá tại cảng Anh nào gần nhất; thế mà bến cảng gần nhất lại là Newcastle; dịp này tốt lắm, người ta bảo với chúng tôi thế, vì có thêm đông người ở chỗ trại lính; thêm người trong thành phố; ở cả hai nơi đều có các nhà quý phái rất giàu có và rất đói bụng, người ta còn bảo với chúng tôi như vậy; thế cho nên tôi đã đi về phía Newcastle.

- Vậy, các bạn của anh đâu cả rồi?

- Ồ! các bạn tôi, họ vẫn ở trên thuyền; đó là các thủy thủ chẳng có chút học hành gì ráo đâu.

- Trong khi mà anh?… Monck tỏ vẻ thắc mắc.

- Ồ! tôi thì, ông chủ cười lớn, đáp, tôi từng đi nhiều nơi với ông cụ thân sinh ra tôi, tôi biết nói một xu, một ê-cưu, một đồng bích tôn, một đồng lô y và một đồng lô y đúp như thế nào, bằng mọi thứ tiếng Âu châu; bởi thế thủy thủ đoàn của tôi nó nghe lời tôi như nghe sấm truyền, rồi lại vâng lời tôi như vâng lời một đô đốc.

- Vậy, chính anh đã chọn ông Lambert bởi vì ngon ăn hơn?

- Vâng, hẳn rồi. Mà này, milord, ngài hãy nói thật, tôi có nhầm không thế?

- Cái đó, về sau này rồi anh sẽ thấy.

- Dẫu sao, milord, nếu có sai, thì lỗi là của tôi, chẳng nên vì thế mà trách cứ gì các bạn của tôi.

- Thằng cha này ranh đây, Monck nhủ thầm.

Rồi, sau vài phút im lặng với mục đích nhìn cho kỹ tên ngư dân:

- Anh từ Ostende về, anh đã nói vậy có phải chăng? tướng quân hỏi.

- Vâng, milord, đi thẳng một mạch luôn.

- Vậy anh đã nghe được lắm chuyện, vì ta chẳng hề ngờ cái việc bên Pháp và cả Hòa Lan người ta để tâm chuyện đó lắm. Kẻ tự nhận mình là vua nước Anh đang làm gì?

- Ồ! milord, tên ngư dân kêu lên, vẻ thẳng thắn ồn ào và mau miệng, một câu hỏi mới hay làm sao, ngài chẳng thể nào tìm được ai khác tốt hơn tôi để hỏi đâu, bởi đúng là tôi có thể đáp nó bằng một câu trứ danh. Ngài có tưởng tượng được không, milord, trong lúc dừng tại Ostende với mục đích bán đi một ít cá thu chúng tôi đã đánh được, tôi đã nom thấy phế đế đi dạo chơi trên những đụn cát, trong lúc đợi lũ ngựa của ngài ấy, chắc chúng sẽ đưa ngài ấy tới La Haye: đó là một người cao lớn mặt tái, tóc đen, nét mặt hơi có vẻ khắc khổ. Ông ta có vẻ đang yếu, thêm nữa, và tôi nghĩ không khí Hòa Lan không tốt cho ông ta.

Monck hết sức chú tâm dõi theo những câu nói ấy, đầy màu sắc và hỗn loạn của tên ngư dân, trong một thứ tiếng vốn dĩ chẳng phải ngôn ngữ của ông ta; thật may, như chúng tôi đã nói, vì ông ta sử dụng nó rất đỗi là thành thạo. Tên ngư dân, về phía hắn, lúc thì dùng một từ tiếng Pháp, khi lại là một từ tiếng Anh, rồi nữa lại là một từ dường chẳng thuộc về thứ tiếng nào, mà là một từ của tiếng Gatxcông. Thật may, vì cặp mắt hắn nói thay cho hắn, và nói hùng hồn lắm, đến độ người ta có thể để xổng mất một từ phát ra từ miệng hắn, nhưng chẳng thể nào để lọt dẫu chỉ một ý đồ nơi cặp mắt hắn.

Tướng quân mỗi lúc một thêm tỏ ra hài lòng với sự săm soi của ông ta.

- Chắc anh từng nghe nói rằng vị phế đế kia, như anh gọi ông ta, đi về phía La Haye với một ý định nào đó.

- Ồ! phải rồi, chắc chắn, tên ngư dân đáp, tôi đã nghe nói.

- Thế, ý định nào?

- Thì vẫn vậy, tên ngư dân nói; chẳng phải ông ta lúc nào cũng đinh ninh trong dạ ý muốn quay trở về Anh-cát-lị đấy ư?

- Đúng rồi đó, Monck tư lự đáp.

- Ấy là còn chưa tính, tên ngư dân lại nói, rằng ngài… ngài cũng biết rồi đấy, milord, Guillaume II…

- Ừ?

- Ông ta sẽ giúp ngài ấy bằng toàn bộ sức lực trong công việc này.

- A! anh đã nghe nói vậy?

- Không, nhưng tôi cho là thế.

- Anh khá về môn chính trị quá nhỉ, ta thấy vậy? Monck hỏi.

- Ồ! đám thủy thủ chúng tôi, milord, vốn dĩ chúng tôi đã quen thói nghiên cứu nước và không khí, tức là hai thứ nhiều chuyển động nhất trên cõi đời, hiếm khi nào chúng tôi nhầm lẫn về các điều khác lắm.

- Nào, Monck nói, đổi chủ đề câu chuyện, chúng bảo với ta là anh sẽ cho chúng ta ăn khá lắm.

- Tôi sẽ cố gắng hết sức, milord.

- Trước hết, anh bán chỗ cá của anh bao nhiêu tiền?

- Tôi chẳng dại mà ra giá đâu, milord.

- Sao vậy?

- Bởi vì cá của tôi thuộc về ngài.

- Dựa trên thứ quyền nào?

- Quyền của kẻ mạnh hơn.

- Nhưng xét cho cùng ta có ý định trả tiền anh.

- Thật hào phóng đấy ạ, milord.

- Thậm chí trả ở mức mà cá của anh xứng đáng.

- Tôi chẳng đòi đến thế đâu.

- Vậy, anh đòi gì?

- Nhưng tôi đòi được đi khỏi đây.

- Đi đâu? Sang chỗ tướng Lambert?

- Tôi! tên ngư dân kêu lên; thế tại sao tôi lại còn đi Newcastle nữa, nếu như mà tôi chẳng còn cá?

- Dẫu có là thế nào, thì hãy nghe ta nói.

- Tôi xin nghe.

- Một lời khuyên.

- Sao cơ! milord muốn trả tiền cho tôi, thêm vào đó ngài lại còn cho tôi một lời khuyên hữu ích! nhưng milord thưởng cho tôi hậu hĩnh quá.

Monck chăm chú nhìn, hơn bao giờ hết, tên ngư dân, dường ông vẫn giữ một mối nghi ngại nào đó về phía hắn.

- Phải rồi, ta muốn trả tiền cho anh, lại còn cho anh một lời khuyên, vì hai cái đó nương tựa vào nhau. Vậy nên, nếu mà anh cứ nhất định đi sang chỗ tướng Lambert…

Tên ngư dân lúc lắc đầu, vai rụt lại, cử chỉ ấy muốn nói lên rằng:

- Nếu ông ta cứ cố tình, thì cũng đừng chống trả.

- Đừng băng qua đầm lầy, Monck nói tiếp; anh sẽ mang tiền trên người, và trên đầm lầy có một số điểm phục kích của dân Ê-cốt ta đã cắt đặt. Đó là những người khó lường lắm, chẳng hiểu mấy thứ tiếng mà anh nói, dầu cho thứ tiếng này đối với ta được tạo nên từ ba thứ tiếng, và hẳn bọn họ có thể cướp lại những gì ta sẽ cho anh, rồi thì quay về nước, hẳn anh sẽ không khỏi nói rằng tướng Monck có hai bàn tay, một tay Ê-cốt, tay kia thì Anh, rồi thì bàn tay Ê-cốt lấy lại những gì ông ta đã dùng bàn tay Anh-cát-lị đưa cho anh.

- Ồ! tướng quân, tôi sẽ đi tới nơi nào ngài muốn, xin ngài cứ yên tâm, tên ngư dân đáp, vẻ khiếp sợ hơi quá mức khó lòng mà không phải là giả vờ. Tôi chẳng đòi gì khác ngoài được ở lại đây, nếu như mà ngài muốn tôi ở lại đây.

- Ta tin anh, Monck đáp, khẽ nhếch miệng cười; tuy nhiên ta không thể giữ anh dưới mái lều của ta.

- Tôi đâu có ý đó, milord, tôi chỉ mong Quý Ngài chỉ cho tôi chỗ mà ngài muốn tôi ở lại. Ngài chớ phải bận lòng, đối với chúng tôi một đêm thì trôi qua mau lắm.

- Vậy thì ta sẽ cho người dẫn anh về thuyền.

- Quý Ngài cứ làm thế nào cũng được. Chỉ có điều, nếu Quý Ngài cho một tay thợ mộc đưa tôi đi, thì tôi lại càng biết ơn nhiều hơn lắm đó.

- Tại sao?

- Ấy vì các ông kia thuộc đạo quân của ngài, lúc họ dùng sợi dây chão để cho ngựa của họ kéo để đưa cập vào bờ thuyền của tôi, đã làm nó va vào mấy tảng đá ven bờ làm sứt sẹo, thành ra hầm thuyền tôi đang có ít nhất hai bộ nước tràn vào, milord.

- Thêm một lý do để anh chăm chút cho con thuyền của anh, ta thấy vậy.

- Milord, tôi xin được theo các mệnh lệnh của ngài, tên ngư dân đáp. Tôi sẽ cho chuyển các giỏ cá tới chỗ nào ngài muốn, rồi ngài sẽ trả tiền cho tôi nếu ngài thích; ngài cứ đuổi tôi đi khỏi đây nếu thấy điều đó là thích hợp. Ngài cũng thấy là tôi rất dễ sống rồi đó.

- Nào, nào, anh tốt lắm, Monck nói, ánh mắt đầy săm soi đã chẳng thể tìm ra nổi dẫu chỉ một cái bóng nhỏ trong ánh mắt trong sáng của tên ngư dân. Hầy! Digby!

Một viên sĩ quan tùy tùng xuất hiện.

- Anh dẫn ông rất đứng đắn này và các bạn đến chỗ mấy cái lều nhỏ chỗ hỏa đầu quân, phía trước khu đầm lầy; như vậy họ sẽ dễ dàng về được thuyền của họ, và tuy nhiên, đêm nay không được để họ nằm ngủ trong nước ngập đâu đấy. Chuyện gì thế, Spithead?

Spithead là viên đội đã bị Monck vay một mẩu thuốc lá lúc trước, để làm bữa tối.

Spithead, bước vào lều của viên tướng dầu không được cho gọi, khiến Monck hỏi câu ấy.

- Milord, anh ta đáp, một nhà quý phái người Pháp vừa tới trình diện ở chỗ đồn tiền tiêu, đòi được nói chuyện với Tôn Ông.

Toàn bộ điều đó, hiển nhiên, đều được nói bằng tiếng Anh.

Dầu cho họ nói chuyện với nhau bằng tiếng Anh, tên ngư dân phác một cử động mà Monck, đang bận tâm với viên đội, không nom thấy.

- Nhà quý phái ấy là ai vậy? Monck hỏi.

- Milord, Spithead đáp, ông ta đã nói với tôi; nhưng mấy cái tên họ Phan lang sa quái quỷ đó quá khó phát âm đối với một cái cổ họng Ê-cốt, nên tôi không nhớ nổi. Thêm vào đó, nhà quý phái ấy, đám lính gác nói với tôi, vẫn là người đã tới trình diện ngày hôm qua tại chặng dừng chân, mà Tôn Ông đã không muốn tiếp.

- Đúng vậy, khi đó ta đang bận bàn thảo với các thống lĩnh.

- Milord có quyết định gì với cái nhà quý phái đó hay chăng?

- Có, dẫn ông ta vào đây.

- Có phải làm biện pháp đề phòng nào không ạ?

- Đề phòng như thế nào?

- Bịt mắt ông ta lại, chẳng hạn.

- Để làm gì? Ông ta sẽ chỉ thấy những gì ta muốn người ta thấy được mà thôi, tức là ta có ở quanh ta mười một nghìn con người quả cảm chẳng đòi gì hơn là bị cắt cổ họng vì vinh dự của pắc-lơ-măng, của xứ Ê-cốt và Anh-cát-lị.

- Thế còn người này thì sao, milord? Spithead hỏi, đưa tay chỉ tên ngư dân, trong lúc họ nói chuyện hắn vẫn đứng im lìm ở đó, như một người có trông thấy nhưng chẳng hiểu điều gì.

- A! đúng rồi, Monck nói.

Rồi, quay sang tay lái buôn cá:

- Chào nhé, ông bạn quý, ông ta nói; ta đã chọn cho anh một chỗ trú ngụ qua đêm rồi. Digby, đưa ông ta đi. Đừng sợ gì nhé, lát nữa sẽ có người mang tiền tới cho anh.

- Đội ơn ngài, milord, tên ngư dân đáp.

Rồi, chào xong, hắn đi khỏi, cùng Digby.

Cách lều một trăm bước, hắn gặp lại các bạn của mình, bọn họ đang liến thoắng thì thụt với nhau, nhưng không khỏi tỏ lộ vẻ lo lắng, nhưng hắn đưa tay ra hiệu cho họ, khiến bọn họ được yên tâm.

- Hầy! các anh, viên thủ lĩnh nói, tới cả đây: Tôn Ông tướng quân Monck lượng cả trả tiền cho cá của chúng ta, lại còn tốt bụng cho chúng ta ngủ nhờ đêm nay.

Đám ngư dân tụ tập lại quanh thủ lĩnh của họ và, được Digby dẫn đường, toán người nhỏ tiến về phía khu vực đã được chỉ định cho hắn.

Đi trên đường, đám ngư dân lướt qua trong bóng tối ngay sát viên lính gác đang dẫn nhà quý phái người Pháp đến chỗ tướng Monck.

Nhà quý phái ấy cưỡi ngựa, người mang một chiếc áo ngự hàn lớn, khiến cho viên thủ lĩnh không thể nhìn rõ, dẫu hắn có tò mò đến độ nào. Về phần nhà quý phái, vốn dĩ chẳng hay biết là mình đang đi qua những người đồng bào, thậm chí còn chẳng buồn để ý tới toán người nhỏ kia.

Viên sĩ quan tùy tùng cho các vị khách vào trong một túp lều khá sạch sẽ, một chị phục vụ người Ái-nhĩ-lan bị tống cổ ra khỏi đó, muốn đi đâu mà ngủ cùng sáu đứa con của mụ ta thì đi. Một đống lửa lớn cháy đùng đùng phía trước túp lều ấy, phóng ánh sáng màu tía của nó lên các vũng nước mọc đầy cỏ của đầm lầy đang có một làn gió lạnh thổi qua làm gợn lên lăn tăn. Rồi việc sửa soạn đã xong xuôi, viên sĩ quan tùy tùng chúc đám thủy thủ ngủ ngon giấc, nói rằng từ cửa lều có thể nhìn thấy những cột buồm thuyền của họ, nó đang bập bềnh trên sông Tweed, bằng chứng cho thấy nó còn chưa bị đắm xuống đáy. Dường, việc này khiến thủ lĩnh đám chài lười mầng lòng lắm.






XXIV

Kho tàng


Nhà quý phái người Pháp được Spithead thông báo với Monck, quấn chặt mình trong chiếc áo ngự hàn mới vừa đi lướt qua gần sát tên ngư dân ra khỏi lều của tướng quân năm phút trước khi ông ta tới nơi, nhà quý phái người Pháp đi ngang qua những chốt gác mà thậm chí chẳng buồn nhìn ra xung quanh, vì sợ tỏ ra tọc mạch. Do đã có lệnh trên truyền xuống, ông ta được dẫn thẳng tới lều của tướng quân. Nhà quý phái được người ta bỏ lại một mình trong tiền phòng đặt trước khi vào lều, ông đợi Monck, nhân vật ấy chỉ trùng trình trong khoảng thời gian đủ để nghe báo cáo từ bộ hạ, cùng là săm soi người kia qua tấm bạt làm vách, cái khuôn mặt kẻ xin vào gặp ông ta.

Chắc hẳn báo cáo của đám tay chân đi cùng nhà quý phái người Pháp nêu tỏ sự kín đáo trong cư xử của ông ta, cho nên ấn tượng đầu tiên người lạ nhận về từ sự tiếp đón của tướng quân tốt đẹp hơn nhiều so với ông ta trông đợi vào một thời điểm như vậy, nhất lại từ một con người giàu đa nghi như thế. Tuy nhiên, theo lệ, lúc Monck ở trước mặt người lạ, ông ta vẫn trô trố cặp mắt tinh tường của mình, cái ánh mắt đó từ phía bên kia người lạ chịu rất tài, chẳng bối rối cũng không tỏ ra lo ngại. Sau vài giây, tướng quân khoát tay, đầu thì gật, ra dấu là ông ta đang nghe.

- Milord, nhà quý phái nói, bằng thứ tiếng Anh chuẩn mực, tôi đã xin một cuộc hội kiến với Tôn Ông là do một vụ việc có nhiều hệ trọng.

- Thưa ông, Monck đáp bằng tiếng Pháp, đối với một người con của lục địa, ông nói tiếng của chúng tôi thật thuần khiết đó. Tôi xin ông tha lỗi, vì chắc câu hỏi của tôi lỗ mãng, ông có nói tiếng Pháp cũng thuần khiết như vậy hay chăng?

- Đâu có gì lạ, milord, nếu tôi nói khá thạo tiếng Anh; hồi còn trẻ tôi từng sống ở Anh, kể từ đó tôi cũng đã sang đây hai lần.

Câu vừa xong được nói bằng tiếng Pháp, với một sự thuần khiết của ngôn ngữ nó hé lộ không chỉ một người Pháp, mà còn là một người Pháp của vùng quanh Tours**.

- Thế ông từng sống tại chỗ nào trên đất Anh, thưa ông?

- Hồi tôi còn trẻ thì đó là London, milord; sau đó, quãng năm 1635, tôi đã đi du ngoạn trên xứ Ê-cốt; sau rốt, hồi 1648, tôi từng sống một thời gian ở Newcastle, đặc biệt là tại tu viện lúc này đạo quân của ngài đang chiếm cứ khu vườn.

- Xin thứ lỗi, thưa ông, nhưng từ phía tôi, chắc là ông hiểu cho những câu hỏi đó chứ, phải chăng?

- Thậm chí tôi còn sẽ thấy ngạc nhiên nếu chúng không được đặt ra cơ.

- Giờ, thưa ông, tôi có thể làm gì cho ông đây, ông muốn gì ở tôi?

- Đây, milord; nhưng, trước đó, ở đây chỉ có chúng ta thôi chứ?

- Chỉ chúng ta mà thôi, thưa ông, tất nhiên là trừ đám lính canh bên ngoài.

Nói câu này, Monck đưa tay vén vách lều lên, chỉ cho nhà quý phái thấy tên lính gác đứng cách đó chưa đầy mười mét, chỉ cần có tiếng gọi, mất chưa đầy một giây là người ta sẽ có ngay quân tăng viện.

- Nếu đã vậy, milord, nhà quý phái nói, giọng ông ta bình thản như thể từ lâu rồi ông ta đã bạn bè thân thiết với đối phương, tôi nhất quyết xin nói với Tôn Ông, bởi tôi biết ngài là một người trung tín. Thêm nữa, những gì tôi sắp nói với ngài đây sẽ chứng tỏ cho ngài lòng tôn quý tôi dành cho ngài.

Monck, sửng sốt trước những lời ấy nó thiết lập giữa ông ta và nhà quý phái người Pháp ít nhất là sự bình đẳng, giương ánh mắt thấu suốt của ông ta chĩa vào người lạ, rồi thì cùng sự châm biếm chỉ có thể cảm nhận được thông qua thoáng rung trong giọng nói, vì không có lấy một thớ cơ trên mặt ông ta rung rinh:

- Tôi xin cám ơn ông, ông ta đáp; nhưng trước hết, ông là ai? xin ông nói cho tôi biết.

- Tôi đã nói tên tôi cho viên đội của ngài, milord.

- Xin ông tha lỗi cho hắn, thưa ông; hắn là dân Ê-cốt, hắn không sao nhớ nổi.

- Tôi tên là bá tước de La Fère, thưa ngài, Athos nghiêng người, đáp.

- Bá tước de La Fère? Monck hỏi lại, tìm cách ghi nhớ cái tên này. Xin được lượng tình châm chước, thưa ông, nhưng dường như đây là lần đầu tiên tôi được biết tên ông. Ông có giữ chức vụ nào tại triều đình nước Pháp chăng?

- Không. Tôi chỉ là một nhà quý phái thôi.

- Tước hiệu?

- Hoàng thượng Charles Đệ nhất đã phong cho tôi tước hiệp sĩ Nịt Tất, còn Đức Hoàng Hậu Anne d’Autriche trao cho tôi dải băng Thánh Linh***. Tôi chỉ có ngần ấy tước hiệu thôi, thưa ngài.

- Nịt Tất! Thánh Linh! ông được phong hiệp sĩ của hai cái đó, thưa ông?

- Thưa vâng.

- Nhân dịp nào ông đã được vinh dự lớn đến vậy?

- Vì đã phụng sự Ngài Ngự cùng Hoàng Hậu.

Monck sửng sốt nhìn con người ấy, ông ta có dáng dấp thật giản dị nhưng cùng lúc cũng lại thật kỳ vĩ; và rồi, như thể ông ta chịu từ bỏ việc tìm cách xâm nhập bí ẩn về sự giản dị cùng là sự kỳ vĩ đó, về chúng người lạ dường không sẵn lòng trao cho ông ta những thông tin khác ngoài những gì vừa nói xong:

- Cũng chính ông, ông ta lại nói, hôm qua đã tới trình diện chỗ đồn tiền phương?

- Và đã bị người ta đuổi đi; thưa vâng, milord.

- Rất nhiều vị thống lĩnh, thưa ông, chẳng để bất cứ ai bước vào trại của họ đâu, nhất lại là ngay trước hôm rất có thể sẽ diễn ra một trận đánh; nhưng tôi, tôi khác với các đồng nghiệp của tôi, tôi thích không để lại bất kỳ cái gì ở sau tôi. Với tôi mọi ý kiến đều là tốt; mọi hiểm nguy đối với tôi đều là Chúa gửi tới, và tôi dùng bàn tay tôi để ước lượng nó, cùng nghị lực Người đã trao cho tôi. Vậy nên hôm qua ông đã không được tiếp chỉ bởi vì tôi đang bận họp. Hôm nay, thì tôi rảnh, cho nên ông nói đi.

- Milord, ngài tiếp tôi thế này lại càng tốt hơn, vì chuyện chẳng hề quan hệ tới trận đánh mà ngài sẽ tiến hành với tướng Lambert, cũng như tới khu trại của ngài, bằng chứng là tôi đã ngoảnh đầu đi để khỏi nhìn thấy lính của ngài, tôi cũng lại đã nhắm mắt lại để không đếm số lều của ngài. Không, tôi tới đây là để nói chuyện với ngài về chính tôi, milord.

- Vậy ông nói đi, thưa ông, Monck đáp.

- Vừa nãy, Athos lại tiếp, tôi đã có hân hạnh nói với Ngài Tôn Quý rằng tôi từng sống lâu ngày ở Newcastle: đó là dưới triều vua Charles Đệ nhất, vào lúc hoàng thượng quá cố bị người Ê-cốt giao nộp cho ông Cromwell.

- Tôi biết, Monck lạnh lùng nói.

- Lúc ấy tôi có một số vàng, trước trận đánh, có lẽ do bởi dự cảm về cách thức mọi sự sẽ xảy ra ngày hôm sau, tôi giấu nó xuống dưới hầm chính của tu viện Newcastle, trong cái tháp mà từ đây ngài cũng có thể nom thấy đỉnh, đang được ánh trăng rọi sáng. Vậy, kho tàng của tôi đã được chôn xuống đó, thế cho nên tôi đến xin Tôn Ông cho phép tôi đào nó lên trước khi, có thể, trận đánh xảy ra ở mạn ấy, một tạc đạn hoặc giả một món trò chơi chiến tranh nào đó phá sập mất tòa công trình và phát tán vàng của tôi, hoặc giả phơi nó ra lộ thiên, để rồi bị lính tráng cướp mất.

Monck hiểu rành về con người; ông ta nhìn thấy trên vẻ mặt của người kia toàn bộ sự cương nghị, toàn bộ lý lẽ, toàn bộ sự cẩn trọng có thể có nổi; vậy nên ông ta chỉ có thể coi điều nhà quý phái người Pháp vừa nói xong là một thổ lộ tâm can hào hiệp, ông ta tỏ ra rất mức cảm động vì thế.

- Thưa ông, ông ta đáp, có thế thật, ông đã đoán biết chuẩn xác về con người tôi. Nhưng món tiền có đáng để ông phải phơi mình cho nguy hiểm chăng? Mà ông có nghĩ nó vẫn còn nằm nguyên ở chỗ ông đã để nó lại?

- Nó đang nằm ở đó, thưa ngài, xin ngài đừng ngờ điều ấy.

- Đó mới là một câu; còn câu kia thì sao?… Tôi đã hỏi ông, món ấy có lớn đến mức ông phải phơi mình ra cho nguy hiểm vậy hay không.

- Nó lớn thật, đúng, milord, hẳn một triệu, đựng trong hai cái thùng.

- Một triệu! Monck kêu lên, lần này đến lượt Athos mới là người nhìn chăm chăm, thật lâu.

Monck nhận thấy điều đó; thế là nỗi đa nghi liền quay trở lại.

- Chà, ông ta nhủ lòng, kẻ này đang chăng cho ta một cái bẫy… Vậy, thưa ông, ông ta lại nói, ông muốn đào số vàng ấy lên, tôi hiểu có đúng không vậy?

- Rất đúng, milord.

- Hôm nay?

- Tối nay luôn, và là do những hoàn cảnh mà tôi vừa trình bày với ngài đó.

- Nhưng, thưa ông, Monck cất tiếng phản đối, tướng Lambert cũng ở gần cái tu viện nhiều quan hệ tới ông ngang với tôi, tại sao ông lại không sang đó mà nói chuyện?

- Bởi vì, milord, những lúc ta phải hành động trong hoàn cảnh hiểm nghèo, cần tham vấn bản năng trước mọi điều khác. Chà! tướng Lambert không khiến tôi cảm thấy được tin tưởng, giống như ngài làm tôi tin tưởng.

- Được rồi, thưa ông. Tôi sẽ khiến ông tìm lại được tiền của ông, đấy là giả như nó vẫn còn ở đó, mà xét cho cùng, nó hoàn toàn có thể chẳng còn nằm đó nữa đâu. Từ năm 1848, mười hai năm đã trôi qua, rất nhiều sự kiện đã xảy ra.

Monck nhấn mạnh vào điểm này, hòng xem nhà quý phái người Pháp có nắm lấy lối thoát mà ông ta vừa mở ra kia hay không; nhưng Athos chẳng nhíu mày mảy may.

- Tôi xin đảm bảo với ngài, milord, ông nói chắc nịch, rằng lòng tin của tôi đối với hai cái thùng kia là chúng đã chưa hề đổi chỗ cũng như đổi chủ.

Câu trả lời này khiến Monck bỏ đi một mối ngờ, nhưng nó lại gợi lên ở ông ta một mối ngờ mới.

Chắc hẳn cái tay người Pháp kia là một phái viên được cử tới nhằm đưa người bảo trợ pắc-lơ-măng đi vào đường lầm lạc; vàng chỉ là một món nhử; chắc hẳn nữa, nhờ món nhử ấy, người ta muốn xúi giục lòng tham nơi tướng quân. Chắc đống vàng đó không tồn tại. Đối với Monck, vấn đề nằm ở chỗ bắt quả tang nhà quý phái người Pháp dối trá và viện đến mưu mẹo, rồi thì chính từ cái chỗ kẻ thù của ông ta muốn khiến ông ta phải sai lầm mà thu lấy một chiến thắng thêm vào cho danh tiếng riêng. Monck, chừng đã xác định rõ được điều mà ông ta cần phải làm:

- Thưa ông, ông ta nói với Athos, chắc hẳn ông sẽ cho tôi được vinh dự cùng ăn với tôi bữa xu-pe tối nay!

- Vâng, milord, Athos nghiêng người, đáp, bởi vì ngài dành cho tôi một vinh dự mà tôi cảm thấy mình xứng được hưởng, do bởi sự hứng thú nó lôi kéo tôi về phía ngài.

- Ông khảng khái nhận lời như thế này thì lại càng tuyệt quá, vì đám đầu bếp của tôi thì chẳng đông, cũng không mấy thiện nghệ, rồi thì đám cung lương của tôi tối nay đã tay trắng quay trở về trại; thành thử, nếu chẳng có một tên ngư dân người nước ông bị dạt tới trại của tôi, tướng Monck đã đi ngủ mà không được dùng bữa xu-pe hôm nay rồi. Vậy, tôi có cá tươi, theo như lời cái kẻ đã bán cho tôi.

- Milord, điều chính yếu là được có vinh dự được ở thêm cùng ngài chốc lát nữa.

Sau những lời huê mỹ thiệp liệp, mà dầu có thế Monck cũng chẳng đánh mất đi chút nào lòng cẩn trọng, bữa xu-pe, hay cái sắp diễn ra đây, được dọn ra trên một cái bàn gỗ thông. Monck ra dấu bảo bá tước de La Fère ngồi xuống, rồi ông ta cũng ngồi, phía đối diện. Chỉ có độc một món, đó là đĩa đựng cá nấu nhừ, bày đó cho hai thực khách xuất chúng, hứa hẹn cho những bao tử đói ngấu thì nhiều hơn lắm so với những vị giác lịch duyệt.

Vừa dùng bữa, tức là vừa ăn cái món cá kia, chiêu với thứ bia ale tồi, Monck vừa bảo khách kể những sự kiện mới nhất của Fronde, cuộc hòa hoãn giữa ngài de Condé và nhà vua, hôn sự có thể có giữa Hoàng Thượng với Cô Bé Marie-Thérèse; nhưng ông ta tránh, mà chính Athos cũng tránh, mọi ám chỉ đến các lợi ích chính trị nó kết hợp hay nói đúng hơn là phân rẽ nước Anh, nước Pháp cùng nước Hòa Lan vào lúc này.

Monck, trong cuộc trò chuyện, tin chắc vào một điều, cái điều ông ta đã nhận thấy ngay ở những câu nói đầu tiên qua lại, ấy là ông ta đang tiếp chuyện một con người rất mực cao quý.

Cái người đó nhất định không thể là một kẻ sát nhân, và Monck thấy thật kinh tởm khi nghĩ ông là một tên gián điệp; nhưng cũng có đầy đủ vẻ tinh quái và cả quyết ở nơi Athos đề Monck có thể nghĩ mình nhận ra được một kẻ đang âm mưu.

Chừng họ đã rời khỏi bàn:

- Tức là ông tin vào kho tàng của ông, thưa ông? Monck hỏi.

- Vâng, milord.

- Nghiêm túc đấy chứ?

- Rất là nghiêm túc.

- Và ông cho có thể tìm lại được cái nơi nó đã được chôn xuống đất?

- Chỉ cần tìm sơ qua là sẽ thấy.

- Được, thưa ông, Monck nói, do lòng hiếu kỳ, tôi sẽ đi cùng với ông. Mà tôi cũng cần đi cùng ông nữa, bởi ông sẽ gặp rất nhiều khó khăn chẳng thể nào đi lại thoải mái trong trại nếu không có tôi hoặc những người thân tín của tôi.

- Thưa tướng quân, chắc hẳn tôi sẽ không chịu nổi cái chuyện bắt ngài phải nhọc công nếu chẳng phải quả là tôi cần có ngài đi cùng; nhưng vì tôi nhận ra rằng sự cùng đi của ngài đối với tôi chẳng những gây nhiều vinh dự mà lại còn hết sức cần thiết, cho nên tôi xin nhận lời.

- Ông có muốn chúng ta dẫn theo nhiều người không? Monck hỏi Athos.

- Thưa tướng quân, vậy vô ích, tôi cho là thế, nếu như mà ngài không thấy là cần thiết. Hai người cùng một con ngựa đã là đủ để chở hai cái thùng về con tàu đã chở tôi tới nơi này.

- Nhưng còn phải cuốc, rồi đào xới, lay chuyển mặt đất, đập đá, mà ông thì đâu có định tự tay làm công việc đó, phải chăng?

- Thưa tướng quân, không cần phải đào xới hay cuốc đất gì đâu. Kho tàng được vùi vào hầm mộ của tu viện; dưới một tảng đá, ở đó gắn một vòng sắt lớn, mở xuống một quãng ngắn gồm bốn bậc gác. Hai cái thùng nằm đó, chụm đầu vào nhau, phủ một thứ vữa mang hình dáng một linh cữu. Ngoài ra lại còn có một dòng chữ nó hẳn sẽ giúp tôi nhận ra tảng đá; và vì tôi không muốn, trong một sự vụ rất mực tế nhị, phải dựa hoàn toàn vào lòng tin tưởng, giữ bí mật trước Tôn Ông, tôi xin nói luôn cái câu ấy viết gì:


Hic jacet venerabilis Petrus Guillelmus Scott, Canon. Honorab. Coventûs Novi Castelli. Obiit quartâ et decimaa die. Feb. ann. Dom., MCCVIII.
                            Requiescat in pace.****


Monck hứng trọn không để thất thoát mất từ nào. Ông ta sửng sốt, hoặc vì tài đánh lừa giỏi quá của con người kia và cái dáng dấp sao mà cao vời ông ta sử dụng để đóng vai của mình, hoặc do lòng thành thực ông ta dùng để trình bày lời yêu cầu, trong một tình thế liên quan tới một triệu vì nó rất dễ phải lĩnh một nhát dao, lại ở ngay giữa một đạo quân hẳn sẽ coi sự ăn cắp giống như là đòi hoàn nguyên món tiền.

- Tốt, ông ta đáp, tôi sẽ đi cùng ông, tôi thấy dường cuộc phiêu lưu kỳ thú lắm đây, tôi muốn đích thân tôi cầm cây đuốc.

Nói đoạn, ông ta giắt vào lưng một thanh đoản kiếm, thêm một khẩu súng, làm vậy, ông ta để lộ cho người ta thoáng nom thấy cái áo chẽn bên trong, nó kết bằng những sợi kim loại mảnh ken sít nhằm để cứu mạng ông ta khỏi cú đâm dao đầu tiên của một kẻ thích khách.

Xong rồi, ông ta nắm lấy một con dao kiểu dao dirk Ê-cốt bên bàn tay trái; đoạn, quay sang Athos:

- Ông đã sẵn sàng chưa, thưa ông? ông ta hỏi. Tôi thì tôi sẵn sàng rồi đó.

Athos, trái ngược hẳn với những gì Monck vừa làm, tháo bỏ con dao găm của ông, ông đặt nó lên trên bàn, tháo bỏ thanh gươm từ thắt lưng, xếp ngay bên cạnh con dao, rồi chẳng chút màu mè, hé mở áo để lộ áo chẽn như để tìm khăn tay ở đó, cho thấy là bên dưới cái áo sơ mi vải phin mỏng của ông là bộ ngực trần, chẳng vũ khí phòng ngự cũng không vũ khí tấn công.

- Chà, đây quả là một con người kỳ khôi quá, Monck nói, ông ta chẳng có lấy một manh vũ khí; hay là có một cuộc phục kích ở đằng kia nhỉ?

- Thưa tướng quân, Athos nói, như thể đoán ra suy nghĩ thầm kín của Monck, ngài muốn chỉ có chúng ta với nhau, vây tốt lắm; nhưng một vị thủ lĩnh chẳng bao giờ được bướng bỉnh phơi mình ra; đang là đêm, đi ngang đầm lầy ắt có thể gặp nguy hiểm, ngài hãy gọi người đi cùng.

- Ông nói chí phải, Monck đáp.

Rồi gọi:

- Digby!

Viên sĩ quan tùy tùng xuất hiện.

- Năm mươi người mang gươm và súng hỏa mai, ông ta nói.

Rồi ông ta nhìn sang Athos.

- Ít quá đấy, Athos nói, nếu như mà có nguy hiểm nào; lại quá nhiều, nếu chẳng hề có mối nguy.

- Ta sẽ đi một mình, Monck đáp. Digby, ta không cần ai hết. Nào thưa ông, ta đi.






XXV

Cái đầm lầy


Athos cùng Monck, đi từ trại về phía sông Tweed, băng ngang qua cái dải đất Digby đã dùng để dẫn các ngư dân từ Tweed tới trại. Vẻ của nơi này, dáng dấp những đổi thay mà con người từng gây ra cho nó, thuộc vào dạng những gì tạo ra hiệu ứng mạnh nhất lên trí tưởng tượng tinh tế và sống động như trí tưởng tượng Athos sở hữu. Athos chỉ chăm chăm nhìn chốn điêu tàn; còn Monck thì chỉ nhìn mỗi Athos mà thôi, Athos, cái người lúc đưa mắt lên nhìn trời, khi lại cúi mặt nhìn xuống, tìm kiếm, suy nghĩ, thở dài.

Digby, vốn dĩ bị cái mệnh lệnh vừa xong của ông tướng, và đặc biệt âm điệu phát ra mệnh lệnh đó, thoạt tiên gây cho hơi xúc động, Digby còn đi theo hai người dạo chơi đêm chừng hai chục bước chân; nhưng tướng quân bỗng quay phắt lại, ông ta sửng sốt thấy lính của mình không làm theo đúng lệnh, thế cho nên viên sĩ quan tùy tùng hiểu mình đang tỏ ra tọc mạch, bèn quay về lều.

Anh ta đoán ông tướng muốn vi hành đi củ soát ngầm trong trại, cái công việc mọi thống lĩnh cầm quân lọc lõi đều sẽ làm ở trước một cuộc giao tranh nhiều tính cách quyết định, trong trường hợp ấy sự hiện diện của Athos cũng được giải thích luôn, giống như một thuộc hạ luôn luôn tự giải thích cái điều gì bí hiểm ở vị chỉ huy mình. Athos có thể là, trong mắt của Digby đó hẳn phải là một tay gián điệp mang những thông tin sẽ giúp ích được nhiều cho tướng quân.

Sau chừng mười phút đi giữa những lều và chốt gác, ken sát nhau hơn ở quanh đại bản doanh, Monck bước vào một lối chẽ làm ba ngả. Ngả bên trái dẫn ra sông, ngả chính giữa thì tới tu viện Newcastle trên đầm lầy, còn ngả bên phải thì băng qua phòng tuyến đầu tiên của trại Monck, tức là phòng tuyến gần trại của Lambert hơn cả. Quá bên kia sông là một chốt gác xa thuộc đạo quân của Monck, dùng để dòm thẳng vào quân thù; nó gồm một trăm năm mươi người Ê-cốt. Họ đã bơi vượt sông Tweed để báo nguy; nhưng vì ở chỗ đó không có cầu, thêm vào đó lính của Lambert chẳng chịu mau mắn nhảy xuống nước giống lính của Monck, ông ta dường chẳng thấy có mấy sự đáng lo từ phía này.

Trước khi ra đến sông, cách tòa tu viện chừng năm trăm bước, chính là chỗ cư ngụ tạm của đám ngư dân, một đám lều nhỏ đông đặc dựng lên bởi tay lính của các bộ lạc lân cận, bọn họ mang theo cùng vợ con.

Toàn bộ cuộc ngổn ngang hỗn độn dưới ánh trăng này bày ra một quang cảnh quá chừng thu hút; cái bóng tối nhờ nhợ kia tôn vẻ cao quý cho mọi chi tiết và ánh sáng, vốn dĩ là kẻ phỉnh nịnh chỉ chăm chăm dính chặt vào với cái bên lịch sự của mọi điều, làm hiện ra trên mỗi khẩu súng gỉ hoen cái phần hẵng còn lành lặn, rồi thì trên mọi vải vóc rách rưới, cái phần trắng trẻo nhất, ít dơ bẩn nhất.

Vậy là Monck cùng với Athos tới nơi, băng ngang cái phong cảnh u tối kia, được chiếu sáng bởi hai luồng sáng một lúc, luồng dát bạc của mặt trăng, rồi là ánh sáng đỏ ửng của những đống lửa đang tàn dần nơi ngã rẽ của ba ngả con đường. Tại đó, ông ta dừng bước, quay sang nói với người đồng hành:

- Thưa ông, ông có nhận ra đường không vậy?

- Tướng quân, nếu tôi không nhầm, đường giữa dẫn thẳng đến tu viện.

- Chính nó đấy; nhưng chắc chúng ta sẽ cần tới ánh sáng thì mới đi lại được dưới hầm.

Monck quay người lại.

- A! Dường Digby đi theo chúng ta, ông ta nói; tốt quá, hắn sẽ kiếm cho ta những gì mà ta cần.

- Vâng, thưa tướng quân, quả đằng kia có một người đi sau chúng ta được một lúc lâu rồi.

- Digby! Monck kêu to, Digby! tới đây ngay.

Nhưng, thay vì nghe lời, cái bóng lại tỏ ra hoảng hốt và, lùi bước thay vì tiến lên, nó cúi người xuống rồi chạy biến mất dọc theo bờ đường bên trái, về phía chỗ cư ngụ của đám ngư dân.

- Hình như đó không phải Digby, Monck nói.

Cả hai nhìn dõi theo cái bóng giờ đã biến mất; nhưng chẳng phải hiếm gặp chuyện một người đi lảng vảng đây đó lúc mười một giờ đêm trong một trại lính có từ một chục đến mười hai nghìn người, cho nên Athos cùng Monck đâu có phải lấy làm lo vì vụ biến mất kia.

- Trong lúc chờ đợi, vì chúng ta cần đèn lồng, một cái đèn, một ngọn đuốc để còn nhìn chỗ mà đặt chân, ta hãy tìm ngọn đèn ấy thôi, Monck nói.

- Thưa tướng quân, bất kỳ người lính nào ta gặp đều có thể soi đường cho chúng ta.

- Không, Monck đáp, ấy là nhằm biết xem có sự thông mưu nào giữa bá tước de La Fère và đám ngư dân hay không; không, tôi thích ai đó trong số những thủy thủ người Pháp tối nay tới đây bán cá cho tôi hơn. Mai họ đi rồi, bọn họ sẽ giữ bí mật được tốt hơn. Trong khi mà, nếu trong đạo quân Ê-cốt lan đi cái tin ở tu viện Newcastle có kho tàng chôn giấu, đám highlander của tôi cầm chắc sẽ nghĩ bên dưới mỗi viên đá lát đều có một triệu, rồi thì bọn họ sẽ chẳng để cho viên đá nào được yên lành ở trong đó đâu.

- Ngài cứ làm như ngài muốn, thưa tướng quân, Athos đáp, giọng ông tự nhiên đến nỗi hiển nhiên là, dẫu là lính hay ngư dân, đối với ông thế nào cũng được hết, ông chẳng có chút thiên ái nào.

Monck tiến lại gần con đường, đằng sau đó cái kẻ tướng quân lúc nãy tưởng là Digby đã biến mất, và bắt gặp một đội tuần tra đang đi vòng quanh các túp lều, tiến về phía đại bản doanh; ông ta cùng người đồng hành bị chặn lại hỏi mật khẩu, rồi đi tiếp.

Một người lính, bị tiếng ồn đánh thức, bật dậy trong cái chăn đắp để xem chuyện gì đang xảy ra.

- Hỏi anh ta đi, Monck nói với Athos, xem đám ngư dân ở đâu; nếu tôi hỏi thì hắn sẽ nhận ra tôi mất.

Athos tiến lại gần người lính, anh ta chỉ cho ông túp lều; Monck và Athos bèn đi ngay về hướng đó.

Ông tướng có cảm giác chừng như đúng vào lúc ông ta tiến lại gần, một bóng người, giống hệt cái bóng ông đã nom thấy lúc ban nãy, lẩn vào trong cái lều ấy; nhưng khi lại gần hơn, ông nghĩ chắc mình đã nhầm, bởi tất tật đều đang nằm ngủ ngổn ngang, chỉ nhìn thấy một đống tay với chân quấn vào nhau.

Athos, e bị ngờ là có thông mưu với người đồng bào nào đó của mình, đứng lại bên ngoài lều.

- Hầy! Monck nói bằng tiếng Pháp, các anh dậy đi.

Dăm ba người đang ngủ nhỏm dậy.

- Ta cần một người để soi đường cho ta, Monck nói tiếp.

Ai ai cũng làm động tác nào đấy, một số thì nhỏm người, một số khác nữa đứng hẳn dậy. Viên thủ lĩnh là người đứng lên đầu tiên.

- Tôn Ông có thể trông cậy vào chúng tôi, ông nói, giọng của ông làm Athos phát run. Cần phải đi đâu?

- Anh sẽ thấy. Một ngọn đèn! Nào, mau lên!

- Vâng, thưa Tôn Ông. Tôn Ông có ưng để cho tôi đi theo ngài chăng?

- Anh hay một ai khác, quan trọng gì, miễn sao ta có người soi đường.

- Lạ quá, Athos nghĩ, tay ngư dân kia sao lại có giọng kỳ vậy nhỉ!

- Lửa đâu, mấy anh kia! tên ngư dân hét lên; nào, mau mau chóng chóng lên!

Rồi, hạ giọng thật thấp, nói với người thân cận nhất với ông trong đám đồng hành:

- Menneville, đi soi đường đi, ông nói, và hãy sẵn sàng với mọi sự nhé.

Một trong đám ngư dân cọ đá cho bắn ra tia lửa, châm một mẩu bùi nhùi, rồi dùng một cái que nhỏ châm lửa cho một ngọn đèn.

Ánh sáng liền ngập tràn trong lều.

- Ông đã sẵn sàng chưa, thưa ông? Monck hỏi Athos, ông quay mặt đi để không để lộ mặt mình ra ánh sáng.

- Rồi, thưa tướng quân, ông đáp.

- A! ra là nhà quý phái người Pháp! viên thủ lĩnh đám ngư dân thì thầm. Chậc! tôi đã rất đúng khi giao việc cho anh, Menneville, nếu không hắn nhận ra tôi mất. Soi đường đi, soi đường đi!

Đoạn nói chuyện ấy diễn ra tận sâu trong góc lều, nhỏ đến nỗi Monck không thể nghe thấy lời nào; vả, ông ta đang nói chuyện với Athos.

Trong lúc đó Menneville sửa soạn, nói đúng hơn anh ta nhận các mệnh lệnh của viên thủ lĩnh.

- Ơ kìa? Monck nói.

- Tôi đây ạ, thưa tướng quân, người dân chài nói.

Monck, Athos cùng người dân chài rời khỏi lều.

- Không thể nào, Athos nghĩ. Vừa nãy mình đã nghĩ ngợi lẩn thẩn quá rồi!

- Đi trước đi, theo lối giữa và rảo cẳng lên, Monck nói với người dân chài.

Họ mới đi được chưa đầy hai mươi bước, cùng cái bóng dường đã quay trở vào trong túp lều đã ra, lén lút bò tới chỗ hàng cột cắm xuống nước, rồi, được bảo vệ bởi hàng lan can đặt quanh đường ấy, tò mò quan sát xem ông tướng đi đâu.

Cả ba biến mất vào màn sương. Họ bước về phía Newcastle, đã có thể nom rõ những tảng đá trắng của nó, thật giống các mộ phần.

Sau khi dừng lại vài giây dưới cổng, họ bước vào bên trong. Cánh cửa đã bị rìu băm nát. Một tốp lính canh bốn người ngủ quay lơ trong một cái hốc, bọn họ chắc mẩm từ phía này sẽ chẳng thể có cuộc tấn công nào của địch quân.

- Mấy đứa kia không làm ông thấy phiền chứ? Monck hỏi Athos.

- Ngược lại, thưa ngài, họ sẽ giúp ta lăn mấy cái thùng, nếu Tôn Ông cho phép.

- Ông đúng.

Toán lính gác, dầu đang say ngủ, choàng tỉnh khi nghe những bước chân đầu tiên của hai kẻ viếng thăm giữa đám cây mọc lúp xúp cùng cỏ che kín chỗ cổng. Monck nói khẩu lệnh rồi đi vào trong tu viện, vẫn có cái đèn phía trước. Ông ta đi cuối, kiểm soát từng cử động nhỏ nhất của Athos, con dao tuốt trần cầm sẵn trên tay, dưới ống tay áo và sẵn sàng thọc nó vào sườn nhà quý phái nếu có bất kỳ cử chỉ khả nghi nào. Nhưng Athos, bước chân vững chãi và chắc chắn, cứ thế đi ngang những phòng và sân.

Tại nơi này không còn cánh cửa nào, cũng chẳng còn lấy một cửa sổ. Cửa giả đều đã bị đốt, một số bị đốt ngay tại chỗ, lưỡi lửa liếm tạo thành những đoạn răng cưa, nó đã tự tắt đi, chắc hẳn không đủ sức ngoạm cho đến cùng các mộng lớn bằng gỗ sồi dùng đinh sắt ghép lại. Còn những cửa sổ, mọi ô kính đã vỡ tan tành, ta có thể thấy lũ chim đêm bị luồng sáng ngọn đèn làm hoảng sợ vùng bỏ trốn qua mấy cái lỗ. Cùng lúc đó, lũ dơi khổng lồ khởi sự lẳng lặng bay vòng vòng quanh hai kẻ chẳng mời mà tới kia, rồi thì trong luồng ánh sáng rọi lên các vách đá cao, ta thấy bóng của họ run rẩy. Cảnh tượng này gây an tâm cho những kẻ thích luận lý. Monck kết luận rằng trong tu viện không có ai, vì lũ thú hoang vẫn còn ở đó, chúng bay vụt lên lúc họ tiến lại gần.

Sau khi vượt qua đống đổ nát, phải giật đứt không ít dây thường xuân mọc ở đó như lính gác cho nỗi cô độc, Athos tới được chỗ hầm nằm bên dưới gian phòng lớn, nhưng phải đi xuống đó từ nhà nguyện. Ông dừng chân.

- Ta tới nơi rồi đấy, thưa tướng quân, ông nói.

- Chính nơi này đấy nhỉ?

- Phải.

- Có thế thật, ta nhận ra cái vòng sắt; nhưng nó bị bắt chết vào đá rồi.

- Chắc ta sẽ cần một thanh cứng để bẩy.

- Dễ thôi.

Nhìn quanh, Athos và Monck nom thấy một cây tần bì nhỏ đường kính độ ba tấc mọc lên trong một góc tường, vươn đến tận một cửa sổ bị đám cành của nó che khuất.

- Anh có dao chứ? Monck hỏi người ngư dân.

- Thưa, có.

- Chặt cái cây kia đi.

Người ngư dân tuân lời, nhưng con dao của anh ta bị mẻ vì chặt cái cây. Lúc cây đã được chặt rồi đẵn thành cái đòn bẩy, ba người đi được xuống dưới hầm.

- Anh, dừng lại ở đây, Monck nói với người ngư dân, chỉ tay vào một góc hầm mộ; chúng tôi sắp phải đào thuốc súng lên đấy, ngọn đèn của anh sẽ gây nguy hiểm.

Người đàn ông bước thụt lùi, tỏ lộ vẻ hoảng sợ, rồi nhẫn nại đứng yên lại ở chỗ đã được chỉ, còn Monck và Athos đi vòng ra đằng sau một cây cột, ở dưới chân nó, qua một cửa nhỏ, lọt vào một tia sáng trăng phản chiếu chính từ tảng đá mà bá tước de La Fère vừa từ thật xa tới để kiếm.

- Ta đến đúng chỗ rồi, Athos nói, chỉ cho tướng quân dòng chữ tiếng La tanh.

- Phải, Monck đáp.

Rồi, như thể còn muốn để cho tay người Pháp thêm một lối thoát:

- Ông có nhận thấy, ông ta nói, rằng đã có người xuống dưới hầm này, nhiều bức tượng đã bị đập vỡ?

- Milord, chắc ngài từng nghe nói rằng tín ngưỡng nơi những người Ê-cốt của ngài thích giao cho các bức tượng người chết giữ những thứ đồ quý họ từng sở hữu được lúc sinh thời. Vậy nên, lũ lính chắc đã nghĩ bên dưới bệ những bức tượng dùng để trang trí phần lớn các ngôi mộ kia, có một kho tàng được chôn; vì thế bọn họ đã đập vỡ bệ cùng tượng. Nhưng mộ của ông thầy tu đáng kính chúng ta đang đứng trước đây thì không có đặt bức tượng nào; nó rất giản dị, và rồi nó được bảo vệ bởi nỗi sợ hãi mê tín mà những người thanh giáo của các ngài luôn luôn chứa bên trong mình, sợ báng bổ; không có lấy một mẩu nhỏ trên ngôi mộ này từng bị xâm phạm.

- Đúng thật, Monck đáp.

Athos cầm lấy thanh đòn.

- Ông có muốn tôi giúp không? Monck hỏi.

- Cám ơn, milord, tôi không muốn Tôn Ông phải đụng tay vào một công việc mà hẳn ngài sẽ chẳng muốn phải lĩnh chịu trách nhiệm nếu biết các hậu quả có thể xảy ra từ đó.

Monck ngẩng phắt đầu lên.

- Ông nói gì thế? ông ta hỏi.

- Tôi muốn nói… Nhưng cái kẻ kia…

- Hượm đã, Monck nói, ta hiểu ông đang e ngại điều gì rồi, ta sẽ thử xem sao.

Monck quay sang nhìn người ngư dân, có thể trông thấy bóng dáng anh ta được ngọn đèn rọi sáng.

- Come here, friend, ông ta cất giọng ra lệnh.

Người ngư dân không nhúc nhích.

- Tốt rồi, ông ta lại nói, hắn không biết tiếng Anh đâu. Nói với tôi bằng tiếng Anh đi, thưa ông.

- Milord, Athos đáp, tôi vẫn thường thấy nhiều người vào hoàn cảnh nhất định, đủ sức mạnh để không cất lời đáp lại một câu hỏi trong thứ tiếng mà anh ta biết. Tên ngư dân kia có thể hiểu biết hơn mức chúng ta nghĩ. Xin ngài đuổi hắn ra ngoài đi, milord.

- Nhất định là, Monck nghĩ, ông ta muốn chỉ có một mình ta trong căn hầm này. Quan trọng gì chứ, cứ đi cho đến cùng, chỉ là một người cự với một người, và chỉ có chúng ta với nhau… Anh bạn, Monck nói với người ngư dân, quay lên cái cầu thang chúng ta vừa dùng để đi xuống đi, canh gác trên đó sao cho đừng để cho ai xuống đây quấy rầy chúng ta.

Người ngư dân dợm bước đi.

- Để đèn của anh lại đó, Monck nói, nếu anh cầm nó người ta sẽ biết là có anh, anh rất dễ nếm một viên đạn do hoảng sợ gây ra đấy.

Người ngư dân tỏ vẻ mầng lòng vì lời khuyên, đặt ngọn đèn xuống đất rồi biến mất dưới vòm cầu thang.

Monck bước ra nhặt lấy đèn, mang nó trở lại dưới chân cây cột.

- Vậy tức là, ông ta nói, quả có tiền giấu dưới nấm mồ này?

- Vâng, milord, chỉ năm phút nữa thôi ngài sẽ chẳng cần phải ngờ nữa đâu.

Cùng lúc đó, Athos đập thật mạnh vào lớp vữa, nó toác ra thành một cái kẽ. Athos thọc thanh đòn vào cái lỗ vừa hiện ra rồi bẩy, thế là từng mảng vữa lớn mau chóng rụng xuống thành những đống vun lên. Thế rồi, bá tước de La Fère bắt đầu vần các tảng đá ra, mạnh mẽ khó có thể tưởng tượng nổi nếu nhìn vào hai bàn tay mảnh dẻ của ông.

- Milord, Athos nói, đây chính là chỗ được xây bịt lại tôi đã nói với Tôn Ông.

- Phải rồi, nhưng tôi vẫn chưa nhìn thấy mấy cái thùng, Monck đáp.

- Nếu tôi có một con dao găm, Athos nói và nhìn quanh, ngài sẽ sớm thấy chúng thôi, thưa ngài. Thật không may, tôi đã để quên dao của tôi trong lều của Tôn Ông rồi.

- Tôi sẽ đưa cho ông dao của tôi, Monck nói, nhưng tôi thấy dường lưỡi dao quá mảnh không đủ dùng cho việc của ông.

Athos tỏ vẻ kiếm xung quanh một vật nào đó có thể thay thế cho thứ vũ khí mà ông muốn có.

Monck không để sót cử động nào của hai bàn tay ông, biểu hiện nào của ánh mắt ông.

- Hay ông hỏi mượn con dao to bản của tên dân chài? Monck hỏi. Anh ta có một con đấy.

- A! đúng rồi, Athos đáp, anh ta đã dùng nó để chặt cái cây kia.

Và ông bước về phía cầu thang.

- Anh bạn, ông nói với người ngư dân, ném xuống cho tôi con dao của anh, tôi cần đến nó.

Tiếng con dao vang lên lanh lảnh trên các bậc thang.

- Cầm lấy đi, Monck nói, đó là một con dao rất khỏe, như ta đã thấy, một bàn tay vững chắc có thể dùng nó làm được khối việc.

Athos tỏ ra chỉ hiểu những lời của Monck theo nghĩa thông thường và đơn giản, chúng hẳn nên được nghe và hiểu như vậy. Ông cũng không nhận ra, hoặc ít nhất ông không tỏ ra là mình nhận ra rằng lúc ông quay trở lại chỗ Monck, Monck bước tránh sang một bên, tay trái đặt lên báng khẩu súng của ông ta; còn tay phải, ông ta đã cầm con dao hờm sẵn. Ông bắt tay vào việc luôn, quay lưng về phía Monck, bày ra mạng sống của ông chẳng buồn che chắn chút nào. Thế là, trong vòng vài giây ông đập thật khéo và thật nét lên lớp vữa trung gian, tách tất tật ra được làm đôi, Monck liền nhìn thấy hai cái thùng đặt chụm đầu vào nhau, vì đựng rất nặng nên chúng cứ ở yên đó, phủ đầy vữa.

- Milord, Athos nói, ông thấy rồi đấy, các dự cảm của tôi đã không hề sai chút nào.

- Phải rồi, thưa ông, Monck đáp, và tôi có đủ căn cứ để nghĩ ông rất sung sướng, có phải chăng?

- Hẳn rồi; nếu mất đi chỗ tiền này tôi sẽ thấy chẳng có gì tệ hại hơn được nữa; nhưng tôi chắc chắn rằng Chúa, vốn dĩ bảo vệ cho lẽ phải, hẳn sẽ chẳng cho phép kẻ nào cưỡng đoạt mất nó, vốn dĩ nó được dành để làm cho lẽ phải được chiến thắng.

- Lấy danh dự mà nói, ông cũng bí hiểm trong lời nói ngang mức với trong hành động đấy, thưa ông, Monck nói. Ban nãy, tôi đã không hiểu ông lắm, lúc ông nói rằng ông không muốn tôi phải lĩnh lấy trách nhiệm cho cái công việc mà chúng ta đang hoàn thành đây.

- Tôi có lý do để nói vậy, milord.

- Và giờ đây, ông lại nói với tôi về lẽ phải. Ông định nói gì thế, lẽ phải? Vào lúc này, tại Anh-cát-lị chúng tôi đang bảo vệ năm hoặc sáu cái lẽ liền, điều đó chẳng hề ngăn cản kẻ nào cũng xem lẽ của mình không chỉ phải, mà còn tốt đẹp nhất nữa. Thế lẽ phải của ông là gì thế, thưa ông? Hãy mạnh dạn mà nói, để xem ở điểm này, cái điểm dường ông coi là hết sức quan trọng, chúng ta có nhất trí với nhau hay không.

Athos chĩa vào Monck cái ánh mắt đăm đăm sâu thẳm như thể mang tới cho người bị nhìn như vậy sự thách thức xem thử có dám giấu giếm dầu chỉ một ý nghĩ riêng hay chăng; rồi, nhấc mũ lên, ông khởi sự cất tiếng nói, giọng trang nghiêm, trong khi người còn lại, một tay đặt trên mặt, để cho bàn tay dài và nóng nảy ấy vân vê hàng ria cùng chòm râu, cùng lúc ánh mắt mơ hồ và u buồn của ông ta lang thang tới những hốc sâu thẳm của căn hầm.







XXVI

Trái tim và trí tuệ


- Milord, bá tước de La Fère nói, ngài là một nhà quý tộc Anh, ngài là một con người trung tín, ngài đang nói chuyện với một nhà quý tộc Pháp, một người nặng về trái tim. Chỗ vàng này, đựng trong hai cái thùng đây, tôi đã nói với ngài nó thuộc về tôi, tôi đã nhầm; đó là lời nói dối đầu tiên tôi từng nói ra trong đời, lời nói dối nhất thời, quả là vậy: chỗ vàng này là tài sản của hoàng thượng Charles Đệ nhị, bị lưu đày khỏi đất nước của ngài ấy, bị đánh đuổi khỏi cung điện của ngài ấy, trở nên đứa con côi vừa của phụ thân ngài ấy lại vừa của ngai vàng của ngài ấy, bị tước đoạt mọi thứ, cho tới cả niềm hạnh phúc đáng buồn là được quỳ xuống mà hôn lên tảng đá trên đó bàn tay những kẻ sát nhân đã viết dòng bi ký giản đơn này, nó sẽ vĩnh viễn kêu gào đòi trả thù:

“Vua Charles Đệ nhất nằm đây.”

Mặt Monck hơi tái đi, một cơn run rẩy khó nhận biết làm làn da ông ta nhăn lại, cũng làm hàng ria bạc của ông ta dựng lên.

- Còn tôi, Athos nói tiếp, còn tôi, bá tước de La Fère, kẻ trung tín duy nhất và cuối cùng còn lại đối với vị phế đế khốn khổ bị bỏ rơi, tôi đã tình nguyện với ngài ấy tới đây tìm cái người ngày hôm nay số mệnh của vương quyền tại Anh-cát-lị đang phải phụ thuộc vào, và tôi đã đến, và tôi đã ở ngay trước ánh mắt con người ấy, và tôi đã tự lột trần tôi ra, từ bỏ vũ khí nộp cho người ấy, và nói với người ấy như sau:

“Milord, đây là nguồn sống cuối cùng của một vị vua Chúa đã phái xuống làm ông chủ của ngài, xuất thân của ngài ấy biến ngài ấy trở thành vua của ngài; mệnh hệ của ngài ấy, tương lai của ngài ấy chỉ tùy thuộc vào một mình ngài. Ngài có muốn dùng số tiền này để an ủy cho nước Anh khỏi những đớn đau mà nó từng phải gánh chịu trong cái hồi hỗn loạn, tức là ngài có muốn giúp đỡ, hoặc, nếu không phải giúp đỡ thì ít nhất cũng để mặc cho hoàng thượng Charles Đệ nhị làm gì thì làm chăng? Ngài là chủ ông, ngài là ông vua, chủ ông và đức vua toàn năng, bởi sự tình cờ đôi lúc phá bỏ công trình của thời gian và của Chúa. Tôi đang ở với một mình ngài, milord; nếu ngài kinh sợ thành công do phải chia sớt nó, nếu tôi đây làm cho ngài thấy nặng nề, thì ngài đang mang vũ khí, milord, và đây là một hầm mộ được đào sẵn; nếu, ngược lại, sự hào hứng đặt vào lẽ phải nơi ngài khiến lòng ngài dạt dào, nếu ngài đúng là người mà ngài vẫn tỏ ra, nếu bàn tay ngài, nơi những gì nó thực hiện, tuân theo trí tuệ của ngài, và trí tuệ của ngài thì lại tuân theo trái tim ngài, thì đây là phương cách để làm tiêu biến vĩnh viễn lẽ phải kẻ thù của ngài, Charles Stuart: hãy giết cái kẻ đang đứng ngay trước ngài đây, bởi kẻ ấy sẽ không quay trở lại bên người đã cử hắn đi nếu không mang theo món vàng mà Đức Charles Đệ nhất đã giao phó cho hắn, tức là phụ thân của ngài ấy, và hãy giữ lấy chỗ vàng hẳn sẽ giúp ích nhiều để tiến hành cuộc nội chiến. Hỡi ôi! milord, đó là điều kiện định mệnh của ông vua khốn khổ kia. Ngài ấy buộc lòng phải đi mua chuộc hoặc giết chóc; bởi vì mọi thứ kháng cự lại ngài ấy, mọi thứ đẩy ngài ấy ra xa, mọi thứ thù địch với ngài ấy, thế nhưng ngài ấy được nhận dấu ấn thánh thần, và cần phải, để khỏi phải dối trá lại địa vị của ngài ấy, ngài ấy lên ngai vàng, hoặc giả ngài ấy chết trên mảnh đất thiêng liêng của tổ quốc.

“Milord, ngài đã nghe tôi nói. Với bất kỳ người nào khác chứ không phải con người xuất chúng đang lắng nghe tôi đây, hẳn tôi sẽ nói: Milord, ngài nghèo; milord, nhà vua tặng cho ngài một triệu này làm món tiền cược cho một giao kèo cực lớn; hãy nhận lấy nó rồi phụng sự Charles Đệ nhị như tôi từng phụng sự Charles Đệ nhất, và tôi chắc chắn rằng Chúa, đang lắng nghe chúng ta, nhìn thấy chúng ta, chỉ mình Người đọc được trong trái tim chúng ta đóng kín lại trước mọi ánh mắt con người; tôi chắc chắn rằng Chúa sẽ trao cho ngài một cuộc sống vĩnh hằng sung sướng sau một cái chết sung sướng. Nhưng với tướng quân Monck, với con người xuất chúng, người tôi nghĩ đã đo được tầm vóc, tôi xin nói như sau:

“Milord, dành cho ngài trong lịch sử các dân tộc và của các vị vua có một vị trí chói ngời, một vinh quang bất tử, vĩnh viễn, nếu như chỉ một mình ngài, chẳng vì lợi ích nào khác ngoài điều tốt đẹp cho đất nước ngài và lợi ích của công lý, ngài trở thành chỗ dựa cho đức vua của ngài. Rất nhiều kẻ khác từng trở thành những người chinh phục và soán đoạt vinh quang. Còn ngài, milord, ngài sẽ được là người đức hạnh nhất, người nhiều lòng trung nhất và người kiên tâm nhất trong số những con người; ngài sẽ được cầm một cái vương miện trên tay và, thay vì đội nó lên trán của mình, ngài lại đặt nó lên đầu cái người nó được làm ra để đội lên. Ôi! Milord, hãy hành động như vậy, rồi ngài sẽ để lại cho hậu thế cái tên đáng ghen tị nhất mà chẳng có lấy một con người nào dám huênh hoang là mình được mang.”

Athos ngừng nói. Trong suốt thời gian nhà quý phái cao quý nói, Monck chẳng hề tỏ lộ một dấu hiệu tán thành hay phản đối; chỉ có mỗi, trong lúc bài diễn thuyết nhiệt thành ấy vang lên, cặp mắt ông ta hoạt náo lên vì cái ngọn lửa nó diễn đạt trí năng. Bá tước de La Fère buồn bã nhìn ông ta và, nom thấy khuôn mặt sầm tối kia, cảm thấy sự nản chí nhập tận sâu vào trái tim mình. Sau rốt Monck tỏ ra sống động lên, rồi, phá vỡ màn im lặng:

- Thưa ông, ông ta nói, giọng êm ái và trang nghiêm, tôi sẽ, nhằm đáp lời ông, dùng đến chính những lời của ông. Với bất kỳ kẻ nào khác, hẳn tôi sẽ trả lời bằng sự đuổi đi, nhà tù hoặc còn tệ hơn thế. Bởi sau rốt, ông đang cám dỗ tôi đấy, ông lại còn gây hấn lên tôi nữa kia. Nhưng ông thuộc vào số những người, thưa ông, kẻ khác chẳng thể từ chối lòng quan tâm và những coi trọng mà họ xứng đáng được hưởng: ông là một nhà quý phái trung hậu, thưa ông, tôi nói điều đó, điều tôi đây vốn biết rõ. Vừa mới rồi, ông đã nhắc với tôi về một món vàng mà nhà vua đã băng hà truyền lại cho con trai ông ta; chẳng phải ông chính là một trong những người Pháp từng, tôi đã nghe nói, muốn mang Charles đi, tại White-Hall năm xưa?

- Vâng, milord, tôi chính là người ở dưới đoạn đầu đài khi diễn ra cuộc hành quyết; chính tôi, vì đã không chuộc được ngài ấy, nhận lên trán tôi máu nhà vua tử nạn rỏ xuống; cùng lúc tôi đã nhận di huấn của Đức Charles Đệ nhất; chính là để cho tôi nghe mà ngài ấy đã nói Remember! và, khi nói với tôi Hãy nhớ lấy! ngài ấy muốn ám chỉ số tiền đang nằm dưới chân ngài đó, milord.

- Tôi đã nghe người ta nói rất nhiều đến ông, thưa ông, Monck nói, nhưng tôi sung sướng vì trước hết tôi đã được trân trọng ông do bởi chính tôi đây chứ không phải do các kỷ niệm của tôi. Vậy nên tôi sẽ cho ông những lời giải thích mà tôi chưa từng cho ai, và ông hẳn sẽ coi trọng khi biết tôi phân biệt ông với những kẻ khác từng được sai tới gặp tôi đến mức nào.

Athos nghiêng người, sẵn sàng chú tâm hết mức hứng lấy những lời lần lượt rơi ra từ miệng của Monck, những lời thật hiếm và chúng cũng quý, như giọt sương lành tươi mát trên sa mạc.

- Ông đã nhắc với tôi, Monck nói, về vua Charles Đệ nhất; nhưng thưa ông, xin ông nói cho tôi hay, đối với tôi cái bóng ma vua chúa ấy thì có quan trọng gì nào? Tôi đã già đi trong chiến trận và trong chính trị, ngày nay chúng gắn bó rất đỗi mật thiết với nhau, tới nỗi mọi chiến binh đều phải tranh đấu vì quyền của hắn hay tham vọng của hắn, với một lợi ích cá nhân, chứ chẳng hề theo đường lối mù quáng sau lưng một vị đầu lĩnh nào, như trong những cuộc chiến tranh thông thường. Tôi, rất có lẽ tôi chẳng muốn điều gì, nhưng tôi e sợ rất nhiều thứ. Trong chiến tranh, ngày nay, có tự do của nước Anh, và có lẽ cả tự do của mỗi người Anh nữa đó. Tại sao ông lại muốn, đang được tự do trong vị thế mà tôi đã tự tạo lập cho bản thân tôi, tôi lại tự cùm tay mình lại để giao nộp chính tôi cho một người lạ? Đối với tôi đây Charles chẳng qua chỉ là vậy mà thôi. Ở nơi đây ông ta đã tiến hành những cuộc chiến, và đã thua trận, vậy, đó là một đầu lĩnh tồi; ông ta đã không thành công được trong cuộc thương thuyết nào, vậy nên đó là một nhà ngoại giao tồi; ông ta đã đi rêu rao nỗi khốn cùng riêng tại mọi triều đình Âu châu, vậy đó là một trái tim yếu ớt và nhơ nhớp. Chẳng có gì cao quý, chẳng có gì to lớn, chẳng có gì mạnh mẽ từng toát ra từ cái thiên linh mong muốn được cai trị một trong những vương quốc lớn nhất trên đời. Vậy nên, tôi chỉ biết cái ông Charles ấy dưới toàn các khía cạnh tồi tệ, thế mà ông lại muốn rằng tôi, một con người chín chắn, tôi đây lại tự động biến mình trở thành nô lệ cho một con người kém cỏi hơn tôi về khả năng quân sự, về chính trị và về phẩm giá, ư? Không, ông ơi; chừng nào có hành động to lớn và cao quý nào đó khiến cho tôi được trân trọng Charles, có lẽ tôi sẽ công nhận các quyền của ông ta đối với một ngai vàng từ đó chúng tôi đã hất đổ ông bố, bởi vì ông ta thiếu những phẩm hạnh cho tới giờ cũng thiếu vắng nơi người con trai; nhưng cho tới lúc này, trên phương diện các quyền, tôi chỉ công nhận các quyền của tôi mà thôi: cách mạng đã biến tôi trở thành tướng quân, thanh gươm của tôi sẽ biến tôi thành giám quốc nếu như mà tôi muốn. Charles cần phải xuất hiện, phải có mặt, phải chịu cuộc đua tranh công khai vươn tới thiên linh, và nhất là ông ta cần phải nhớ ông ta thuộc một dòng giống bị người ta đòi hỏi nhiều hơn mọi dòng giống khác. Như vậy, thưa ông, ta đừng nói chuyện ấy nữa, tôi đây không từ chối cũng chẳng chấp nhận: tôi giữ mình, tôi chờ đợi.

Athos biết Monck được thông tin rất tốt về mọi điều gì quan hệ tới Charles Đệ nhị nên không đẩy đi xa thêm cuộc tranh luận nữa. Không phải thời điểm, cũng chẳng phải địa điểm tốt.

- Milord, ông nói, như thế, tôi chỉ còn mỗi một việc để làm là tỏ lòng biết ơn ngài.

- Về điều gì, thưa ông? về chuyện ông đã đánh giá đúng tôi, vì tôi đã hành động theo đúng những gì ông đánh giá, ư? Ồ! thật thế đấy, có đáng hay chăng? Số vàng này, ông sẽ mang nó tới cho vua Charles, tôi sẽ dùng nó làm thử thách đối với ông ta: chứng kiến ông ta sẽ làm gì với nó, chắc hẳn tôi sẽ có một ý kiến mà tôi hẵng còn chưa có, lúc này.

- Tuy nhiên Tôn Ông không sợ tự gây hại cho bản thân nếu thả cho đi khỏi một món tiền dùng để tạo dựng các thứ vũ khí cho kẻ thù của ngài?

- Kẻ thù của tôi, ông nói gì? Kìa! thưa ông, tôi đâu có kẻ thù nào. Tôi phụng sự cho pắc-lơ-măng, pắc-lơ-măng ra lệnh cho tôi đánh nhau với tướng Lambert cùng vua Charles, những kẻ thù của nó, chứ không phải của tôi; vậy nên tôi đánh nhau. Nếu ngược lại, pắc-lơ-măng lệnh cho tôi trưng cờ nơi bến cảng London, tập hợp lính tráng lại trên bờ, rồi thì đón tiếp vua Charles Đệ nhị…

- Thì ông sẽ tuân lời? Athos vui mầng kêu lên.

- Xin thứ lỗi cho tôi, Monck mỉm cười đáp, tôi sẽ, tôi đây, tóc tôi bạc rồi… mà đúng, đầu óc tôi đã để đâu thế nhỉ? suýt thì tôi đã buộc miệng nói một điều rồ dại của đám trẻ người non dạ.

- Thế tức là ngài sẽ không tuân lời? Athos hỏi.

- Tôi cũng không nói điều đó, thưa ông. Trước nhất, là cứu rỗi tổ quốc của tôi. Chúa, vốn dĩ đã muốn trao cho tôi sức mạnh, chắc hẳn muốn tôi có được sức mạnh ấy vì điều tốt cho tất cả mọi người, và cùng lúc Người đã trao cho tôi khả năng nhìn nhận mọi sự. Nếu pắc-lơ-măng ra lệnh cho tôi một điều tương tự, tôi sẽ suy nghĩ.

Mặt Athos sạm lại.

- Nào, ông nói, tôi thấy rồi, nhất quyết, Tôn Ông chẳng hề sẵn lòng ủng hộ Đức Vua Charles Đệ nhị.

- Ông vẫn cứ hỏi tôi, thưa ông bá tước; giờ đến lượt tôi rồi.

- Ngài hỏi đi, thưa ngài, và cầu Chúa truyền cho ngài cái ý nghĩ đáp lại tôi cũng thẳng thắn như tôi sắp đáp lại ngài!

- Chừng nào ông mang chỗ một triệu này về cho vua của ông, ông sẽ cho ông ta lời khuyên nào?

Athos chĩa vào Monck một ánh mắt chăm chăm, đầy kiêu hãnh và cả quyết.

- Milord, ông nói, chỗ một triệu này, hẳn những người khác có lẽ sẽ dùng để thương thuyết, tôi muốn khuyên nhà vua gây dựng lấy hai trung đoàn, tiến vào theo ngả xứ Ê-cốt, nơi mà ngài vừa mới bình định xong; rồi thì miễn thuế cho dân chúng, điều mà cách mạng đã hứa nhưng không thực sự giữ lời. Tôi sẽ khuyên ngài ấy tự mình đích thân chỉ huy đội quân nhỏ kia, nó sẽ trở nên lớn mạnh, ngài hãy tin điều đó, để cho mình bị giết trong khi tay cầm chắc lá cờ cùng thanh gươm, mà nói: “Thần dân nước Anh! đây là nhà vua thứ ba thuộc dòng dõi của ta mà các ngươi giết chết; hãy nghĩ tới công lý của Chúa!”

Monck cúi đầu xuống, tỏ vẻ mơ mộng một lúc.

- Nếu ông ta thành công, ông ta nói, điều này khó xảy ra lắm, nhưng chẳng phải không thể, bởi trên cõi đời này điều gì mà chẳng có thể, ông sẽ khuyên ông ta điều gì?

- Nghĩ rằng nhờ ý chí của Chúa ngài ấy đã để mất vương miện, nhưng nhờ ý chí cao cả của những con người ngài ấy đã đoạt lại được nó.

Một thoáng cười châm biếm lướt qua trên môi của Monck.

- Thật không may, thưa ông, ông ta nói, các ông vua chẳng biết làm theo một lời khuyên khôn ngoan đâu.

- A! milord, Hoàng Thượng Charles Đệ nhị đâu phải một ông vua, Athos mỉm cười đáp, nhưng với một biểu hiện hoàn toàn khác so với Monck.

- Kìa, ta hãy ngắn gọn, thưa ông bá tước… Đó là mong muốn của ông, chẳng phải thế ru?

Athos nghiêng mình.

- Tôi sẽ hạ lệnh cho chúng mang hai cái thùng này tới nơi nào ông muốn. Ông ở đâu vậy, thưa ông?

- Tại một trấn nhỏ, nơi cửa sông, thưa Tôn Ông.

- Ồ! ta biết cái trấn đó, nó chỉ gồm tổng cộng năm, sáu nhà, phải chăng?

- Chính thế. Tôi ở cái nhà đầu tiên; hai người thợ đan lưới ở cùng với tôi; chính họ lái thuyền đưa tôi lên bờ đấy.

- Thế còn tàu của ông, thưa ông?

- Tàu của tôi neo ngoài biển đợi tôi, cách bờ một phần tư dặm.

- Ấy mà ông không định đi luôn đấy chứ?

- Milord, tôi sẽ còn cố thử thuyết phục Tôn Ông thêm một lần nữa.

- Ông không làm nổi việc đó đâu, Monck đáp; nhưng sẽ rất quan trọng việc ông rời khỏi Newcastle mà không để lại chút ngờ vực nào về chuyến ghé qua của ông, cái đó hẳn có thể sẽ gây hại hoặc cho ông, hoặc cho tôi. Ngày mai, các cận thần của tôi nghĩ Lambert sẽ tấn công sang đấy. Còn tôi, ngược lại, tôi đảm bảo ông ta sẽ chẳng nhúc nhích đâu; trong mắt tôi điều đó là vô kế khả thi. Lambert chỉ huy một đạo quân nhộn nhạo ô hợp, chẳng thể có đạo quân nào với cái đám người ấy. Còn tôi, tôi đã dạy dỗ cho lính của tôi tuân phục uy quyền của tôi trước một uy quyền cao hơn, điều ấy khiến cho đằng sau tôi, quanh tôi, bên dưới tôi, họ vẫn còn cố gắng làm điều gì đó. Kết quả là, nếu tôi chết đi, chuyện này hoàn toàn có thể xảy đến, đạo quân của tôi sẽ không bị mất tinh thần ngay đâu; kết quả là, nếu tôi chợt thích vắng mặt đi mất, chẳng hạn thế, như đôi khi tôi vẫn thích, hẳn trong trại của tôi sẽ chẳng có lấy chút bóng dáng nào của lo lắng hoặc của hỗn loạn. Tôi là thỏi nam châm, là lực hút và tự nhiên trước người dân Anh. Tất tật những mạt sắt tung tóe kia, người ta cử đi chống lại tôi, tôi sẽ đều hút hết cả vào. Lambert vào lúc này đang dẫn đầu mười tám nghìn tên đào ngũ; nhưng tôi đã chẳng hề nêu điều đó lên với các thống lĩnh dưới quyền tôi, hẳn ông cảm thấy rõ điều đó. Chẳng gì hữu dụng cho một đạo quân hơn so với cảm giác về một trận đánh sắp diễn ra: tất cả mọi người đều tỉnh như sáo, tất cả mọi người phòng vệ cẩn trọng. Tôi nói điều này với ông là để cho ông cảm thấy mình được an ninh hết mực. Vậy nên ông đừng vội đi qua biển ngay: từ giờ đến tám hôm nữa, sẽ có chuyện mới đấy, hoặc trận đánh, hoặc hòa hoãn. Vậy nên, bởi ông đã đánh giá tôi là người trung tín và đã trao bí mật của ông cho tôi, tôi cần cảm ơn ông vì lòng tin tưởng ấy, tôi sẽ tới gặp ông, hoặc cho người đến mời ông lại chỗ tôi. Vậy nên đừng đi khỏi đây trước khi có lời của tôi, tôi xin nhắc lại lời mời.

- Tôi xin hứa với ngài điều đó, thưa tướng quân, Athos kêu lên, trong lòng ông thấy mầng rỡ quá sức, tới nỗi mặc cho toàn bộ lòng cẩn trọng, ông chẳng thể tự ngăn mình để cho một tia sáng nó lấp lánh lên trong mắt.

Monck bắt chợt được cái đốm lửa ấy, ông ta dập tắt ngay nó bằng một cú mỉm cười câm lặng nó luôn luôn ngắt đứt nơi những ai nói chuyện với ông ta con đường bọn họ tưởng đâu đã vạch ra được trong tinh thần ông ta.

- Thế tức là, milord, Athos nói, ngài cho tôi một hạn định tám ngày?

- Tám ngày, phải rồi, thưa ông.

- Trong tám ngày ấy, tôi sẽ làm gì?

- Nếu có trận đánh xảy ra, ông hãy lui xa nhé. Ta biết người Pháp vốn dĩ hay hiếu kỳ về cái trò giải trí đó lắm; hẳn ông sẽ muốn coi xem chúng ta đây đánh đấm như thế nào, và ông rất có cơ lĩnh phải một viên đạn lạc đấy; người Ê-cốt chúng tôi bắn kém lắm, tôi lại chẳng muốn một nhà quý phái cao quý như ông quay về đất Pháp mà mang thương tích trên mình. Sau rốt tôi không muốn phải buộc lòng đích thân gửi về cho ông vua của ông một triệu ông bỏ lại như vậy; bởi vậy thì hẳn người ta sẽ bảo, mà cũng đúng đôi phần, rằng tôi đây trả tiền cho kẻ mưu toan chiếm ngai vàng nhằm khiến cho ông ta gây cuộc chiến tranh với pắc-lơ-măng. Vậy nên ông hãy đi, và cứ để mặc chuyện gì xảy ra giữa chúng ta cứ xảy ra thôi.

- A! milord, Athos đáp, thật mầng lòng làm sao cho tôi, khi trở nên người đầu tiên xâm nhập được trái tim cao quý đang đập bên dưới tấm áo ngự hàn kia.

- Vậy ra ông cứ nhất quyết nghĩ là tôi có các bí mật, Monck đáp, khuôn mặt chẳng hề đổi đi cái vẻ nửa như đùa nghịch. Kìa! thưa ông, vậy ông muốn có bí mật nào đây nằm trong cái đầu trống rỗng của một tên lính? Nhưng muộn rồi, ngọn đèn của chúng ta sắp tắt, thôi ta gọi người của ta thôi. Hầy! Monck kêu lên bằng tiếng Pháp; rồi ông ta tiến lại gần cầu thang: Hầy, anh ngư dân!

Người ngư dân, tê cóng vì đêm lạnh, khàn giọng đáp lại, hỏi xem ông ta muốn sai bảo điều gì nữa.

- Đi ra ngoài chỗ có lính gác đi, Monck nói, rồi ra lệnh cho viên đội, bảo là lệnh của tướng Monck, tới đây ngay tắp lự.

Đó là một nhiệm vụ rất dễ thực hiện, bởi viên đội, vốn dĩ tò mò hết mức vì tướng quân xuất hiện nơi cái tu viện bỏ hoang này, đã dần dà sáp lại gần, lúc này chỉ còn ở cách người ngư dân vài bước chân.

Vậy cho nên lệnh của tướng quân tới thẳng luôn anh ta, anh ta bèn chạy bổ lại.

- Đi lấy một con ngựa, cùng hai người, Monck nói.

- Một con ngựa cùng hai người? viên đội hỏi lại.

- Phải rồi, Monck đáp. Anh có cách nào kiếm một con ngựa đóng sẵn ván trên lưng hay đeo giỏ hai bên không?

- Chắc được, cách đây trăm bước, tại trại Ê-cốt.

- Tốt.

- Rồi tôi làm gì với con ngựa, thưa tướng quân?

- Nhìn đây.

Viên đội đi xuống ba, bốn bậc thang ngăn cách anh ta với Monck, xuất hiện dưới vòm trần.

- Anh có thấy kia không, Monck hỏi, nhà quý phái đó?

- Có ạ, thưa tướng quân.

- Anh có thấy hai cái thùng?

- Dạ, rất rõ.

- Đó là hai cái thùng một đựng thuốc súng, một đựng đạn; ta muốn cho chuyển chúng về cái trấn nhỏ nằm trên bờ sông, chỗ đó ta định ngày mai cho hai trăm tay súng đến đóng. Anh phải hiểu nhiệm vụ này rất bí mật, bởi đây là một cái mưu có thể quyết định thành bại của trận đánh.

- Ồ! thưa tướng quân, viên đội thì thầm.

- Được rồi! Vậy hãy cho người buộc hai cái thùng này lên ngựa, rồi áp giải nó đi, hai người của anh cùng với anh, cho đến nhà của ông đây, ông đây là bạn của ta; nhưng anh hiểu rồi đấy, không được để cho ai biết chuyện này.

- Tôi sẵn sàng băng qua đầm lầy nếu mà biết đường, viên đội nói.

- Tôi có biết một con đường, Athos cất tiếng; nó không rộng, nhưng vững chắc, được đặt trên các cột chống, nếu đi cẩn thận thì có thể tới nơi được.

- Hãy làm những gì mà ông đây ra lệnh cho các anh, Monck nói.

- Ôi! ôi! hai cái thùng này nặng quá, viên đội nói, anh ta thử nhấc một thùng lên.

- Mỗi thùng nặng bốn trăm livre, nếu chúng đựng những gì chúng cần phải đựng, có phải vậy chăng, thưa ông?

- Cỡ đó, Athos đáp.

Viên đội chạy đi kiếm ngựa và người. Monck còn lại một mình với Athos, ra chiều chỉ còn nói với ông toàn những điều không quan hệ, vừa nói vừa lơ đãng săm soi căn hầm. Rồi, vào lúc nghe thấy tiếng vó ngựa:

- Tôi để ông lại với người của ông nhé, thưa ông, ông ta nói, rồi quay về trại. Ông được an toàn.

- Thế tôi sẽ có gặp lại ngài không, milord? Athos hỏi.

- Tôi xin hứa, thưa ông, tôi rất lấy làm vui sướng.

Monck chìa tay cho Athos.

- A! milord, nếu như mà ngài muốn! Athos thì thầm.

- Suỵt! thưa ông, Monck đáp, ta đã thỏa thuận là sẽ không nhắc đến chuyện ấy nữa.

Rồi, chào Athos, ông ta đi lên, giữa cầu thang thì gặp người của ông ta đang xuống. Ông ta đi khỏi ngôi tu viện chưa đầy hai mươi bước thì bỗng nghe thấy một tiếng huýt sáo nho nhỏ xa xa, kéo dài. Monck dỏng tai lên; nhưng vì chẳng nhìn thấy gì nữa, ông ta lại đi tiếp. Đúng lúc đó, ông ta chợt nhớ đến người ngư dân nên đưa mắt tìm, nhưng kẻ đó đã mất dạng. Tuy nhiên, nếu nhìn chăm chú hơn, hẳn ông ta đã nom thấy kẻ kia gập người làm đôi, trườn đi như một con rắn dọc theo các tảng đá và mất hút vào giữa màn sương mù, ẹp người xuống thật sát mặt cái đầm lầy; hẳn ông ta cũng đã thấy, nếu gắng sức vạch sương, một cảnh tượng chắc hẳn sẽ làm ông ta phải để tâm: đó là cột buồm chính của con thuyền dân chài đã dịch khỏi chỗ cũ, giờ đang ở gần bờ sông hơn.

Nhưng Monck chẳng nhìn thấy gì, và nghĩ không có gì phải lo sợ, ông ta đi vào con đường hoang vắng dẫn về trại. Chính lúc đó sự biến mất kia của người ngư dân khiến ông ta thấy kỳ khôi, một nỗi nghi có thực bắt đầu chiếm lấy tâm trí ông ta. Ông ta vừa giao cho Athos toán lính duy nhất hòng bảo vệ được ông ta. Ông ta còn phải băng qua một dặm đường thì mới về được tới trại.

Màn sương mù dâng lên dày đặc đến nỗi cách mười bước chân người ta gần như chẳng nom thấy gì.

Đúng vào lúc đó Monck dường nghe thấy có tiếng mái chèo âm thầm đập nước phía bên tay phải ông ta.

- Kẻ nào đó? ông ta kêu lên.

Nhưng không ai đáp. Thế là ông ta bèn rút khẩu súng ra, cầm gươm trên tay, rảo bước chân nhưng lại cũng không muốn gọi ai. Nếu mà gọi, vào cái lúc chưa hẳn là tuyệt đối ngặt nghèo, ông ta thấy thật không xứng với mình.






XXVII

Ngày hôm sau


Bảy giờ sáng: những tia nắng đầu tiên rọi lên các ao đầm, mặt trời phản chiếu lên đó như một quả đạn pháo đỏ ửng, Athos, tỉnh dậy, mở cửa sổ phòng ngủ của ông nhìn ra bờ sông, trông thấy cách khoảng mười lăm bước chân, viên đội và những người hôm qua đã đi cùng ông về, bọn họ, sau khi để hai cái thùng lại chỗ của ông, quay về trại bằng lối đi bên phải.

Tại sao quay về trại rồi, bọn họ lại còn tới đây nữa? Câu hỏi ấy đột nhiên hiện ra trong óc Athos.

Viên đội, đầu ngửng cao, có vẻ đang rình đợi lúc nhà quý phái xuất hiện để gọi ông. Athos, sửng sốt vì gặp lại ở đó những người ông đã thấy đi khỏi hôm trước, không thể tự ngăn mình thể hiện với họ nỗi kinh ngạc của ông.

- Không có gì đáng sửng sốt đâu, thưa ông, viên đội nói luôn, vì hôm qua tướng quân đã ra lệnh cho tôi phải trông coi sự an toàn cho tôn ông; tôi phải tuân thượng lệnh.

- Tướng quân đang ở bên trại? Athos hỏi.

- Hẳn rồi, thưa tôn ông, bởi vì ông đã chia tay ngài hôm qua, lúc đó ngài ấy về kia.

- Tốt quá! đợi tôi; tôi sẽ sang đó để báo cáo về lòng trung thành của các anh khi thực hiện nhiệm vụ, cùng là lấy lại thanh gươm của tôi nữa, hôm qua tôi để quên nó trên bàn của tướng quân.

- Tuyệt quá, thưa tôn ông, viên đội đáp, vì chúng tôi cũng đang định bảo ông làm vậy đây.

Athos nghĩ mình nhận ra một thoáng vẻ mập mờ trên mặt của viên đội; nhưng cuộc phiêu lưu dưới hầm có thể đã kích thích lòng hiếu kỳ của anh ta, và nếu vậy thì không đáng kinh ngạc nếu anh ta tỏ lộ ra trên khuôn mặt chút ít những tình cảm đang khuấy động trong tâm trí.

Athos bèn đóng kỹ cửa, rồi ông giao chìa khóa cho Grimaud giữ, ông người hầu đã chọn chỗ cho mình ngay căn phòng nhỏ dẫn thẳng xuống hầm nhà, dưới đó cất hai cái thùng. Viên đội đi hộ tống bá tước de La Fère về trại. Tại đó, một đội gác khác đang đợi sẵn, thế chỗ cho ba người vừa dẫn Athos đến.

Toán lính gác này do Digby, viên sĩ quan tùy tùng, chỉ huy, anh ta, trong suốt lúc đi, dán lên Athos những ánh mắt ít tính cách khích lệ tới mức người Pháp tự hỏi chẳng hiểu làm sao người ta lại cảnh giác và nghiêm trọng đối với ông như vậy, trong khi mới hôm trước ông còn được để cho tự do hoàn toàn.

Dầu có thế ông vẫn đi tiếp về phía đại bản doanh, giữ chặt trong lòng những nhận xét mọi con người, mọi sự vật buộc ông phải có. Dưới mái lều của tướng quân nơi hôm trước ông đã được dẫn vào ông thấy có ba viên thống lĩnh cấp cao; đó là vị phó tướng của Monck cùng hai viên đại tá. Athos nhận ra thanh gươm của ông; nó vẫn nằm trên bàn của tướng quân, đúng cái chỗ nó đã được để lại hôm qua.

Không ai trong số các thống lĩnh từng gặp Athos, bởi thế chẳng ai quen ông. Viên phó tướng của Monck bèn hỏi, lúc nom thấy Athos, xem đó có phải cùng là nhà quý phái đã cùng tướng quân đi ra khỏi lều hôm qua hay chăng.

- Vâng, thưa tướng công, viên sĩ quan tùy tùng nói, chính là ông ấy.

- Nhưng, Athos tỏ vẻ cao ngạo, nói, tôi có chối điều đó đâu nhỉ; và giờ đây, thưa các ông, đến lượt tôi, cho phép tôi hỏi các ông những câu hỏi vừa xong là vì lẽ gì, nhất là cần vài lời giải thích cho cái giọng mà các ông dùng để hỏi nữa.

- Thưa ông, viên phó tướng nói, chúng tôi đặt những câu hỏi ấy cho ông là bởi chúng tôi có quyền làm như thế, và chúng tôi nói với cái giọng đó vì cái giọng đó phù hợp, xin ông cứ tin tôi, với hoàn cảnh.

- Thưa các ông, Athos đáp, các ông không biết tôi là ai, nhưng tôi cần phải nói với các ông rằng ở nơi này tôi chỉ công nhận tướng Monck là người ngang hàng với tôi mà thôi. Ông ấy đâu? Cho người dẫn tôi đến gặp ông ấy đi, nếu ông ấy cần hỏi tôi điều gì, tôi sẽ trả lời ông ấy, mà là trả lời để ông ấy hẳn sẽ thấy được đẹp lòng. Tôi xin nhắc lại, thưa các ông, tướng quân đâu?

- Hỡi ôi! ông biết rõ hơn chúng tôi là ngài ấy đang ở đâu, viên phó đáp.

- Tôi?

- Chắc chắn rồi, ông.

- Thưa ông, Athos nói, tôi không hiểu ông nói gì.

- Ông sẽ hiểu thôi, mà trước hết, ông nói nhỏ thôi, thưa ông. Hôm qua tướng công đã nói gì với ông?

Athos nở nụ cười khinh miệt.

- Không được cười, một trong hai viên đại tá vội kêu lên, trả lời đi.

- Còn tôi, thưa các ông, tôi tuyên bố với các ông là tôi sẽ chẳng trả lời gì hết, nếu không có mặt tướng quân.

- Nhưng, vẫn viên đại tá ấy lại nói, ông cũng biết rõ ông đang đòi hỏi một điều bất khả thi.

- Đã hai lần các ông đáp lại tôi bằng cái câu kỳ khôi ấy rồi, trước mong muốn mà tôi bày tỏ, Athos lại nói. Tướng quân đang vắng mặt?

Câu hỏi của Athos được phát ra thành thực quá, và nhà quý phái tỏ vẻ sửng sốt ngây thơ quá, thành thử ba viên thống lĩnh quay ra nhìn nhau. Viên phó tướng cất lời, sau khi đã có một thỏa thuận ngầm từ phía hai thống lĩnh còn lại.

- Thưa ông, ông ta nói, có phải hôm qua tướng công đã từ biệt ông ở rìa tu viện?

- Đúng vậy, thưa ông.

- Và ông đã đi?…

- Điều này tôi chẳng cần phải trả lời, các ông cứ hỏi những người đã đi cùng với tôi. Đó là lính của các ông, cứ hỏi bọn họ.

- Nhưng nếu như chúng tôi muốn hỏi ông, chính ông?

- Thế thì tôi sẽ thích trả lời ông, thưa ông, rằng tôi không đáp lại bất kỳ ai tại đây, rằng ở nơi này tôi chỉ biết độc có tướng quân, và rằng tôi sẽ chỉ trả lời một mình ông ấy mà thôi.

- Được, thưa ông, nhưng bởi chúng tôi là chủ nhà, chúng tôi sẽ lập hội đồng chiến tranh, và chừng nào ông đứng trước các vị thẩm phán, rồi thì ông sẽ phải trả lời thôi.

Mặt Athos không biểu lộ điều gì khác ngoài sự sửng sốt và vẻ khinh miệt, thay vì nỗi hãi hùng trước lời đe dọa ấy, thứ mà các thống lĩnh tưởng đâu bọn họ sẽ thấy.

- Những thẩm phán Ê-cốt hoặc Anh-cát-lị, dành cho ta, thần dân của đức hoàng thượng Pháp! cho ta, người được đặt dưới sự bảo trợ của danh dự nước Anh! Các ông điên mất rồi! Athos đáp, và nhún vai.

Mấy viên thống lĩnh nhìn nhau.

- Vậy, thưa ông, họ nói, ông định bảo rằng ông không biết tướng công đang ở đâu?

- Điều này thì tôi đã trả lời rồi, thưa ông.

- Phải; nhưng ông đã trả lời một điều không thể tin nổi.

- Tuy nhiên nó lại đúng, thưa các ông. Những người thuộc hạng tôi thông thường chẳng bao giờ nói dối. Tôi là nhà quý phái, tôi đã nói với các ông rồi, và chừng nào tôi mang bên mình thanh gươm của tôi, cái thanh gươm, do tế nhị, hôm qua tôi đã để lại đây trên cái bàn kia, mà nó vẫn nằm yên ở đó, không một ai, hãy tin điều này, được phép nói với tôi những điều mà tôi chẳng muốn nghe. Hôm nay, tôi không có vũ khí; nếu các ông định làm thẩm phán xử tôi, thì cứ xử; nếu các ông chỉ là đám đao phủ của tôi, thì cứ giết tôi đi.

- Nhưng, thưa ông?… viên phó tướng lại hỏi, giọng đã mềm mỏng hơn, do bị ấn tượng mạnh trước vẻ khôi vĩ và thản nhiên của Athos.

- Thưa ông, tôi đã tới nói chuyện kín với tướng quân của các ông, việc hệ trọng. Ông ấy đã không đón tiếp tôi theo lối thường. Các ông cứ căn vặn lính của ông, là có thể tin điều đó. Tức, tướng quân tiếp tôi như vậy là bởi ông ấy biết rõ tôi đáng được coi trọng vì lẽ gì. Giờ, các ông không cho, tôi giả định vậy, là tôi sẽ nói với các ông những điều bí mật của tôi đấy chứ, những bí mật của ông ấy thì lại càng không.

- Nhưng sau rốt, mấy cái thùng đó, chúng đựng gì?

- Các ông đã không hỏi lính của các ông ư? Bọn họ đã trả lời như thế nào?

- Rằng chúng đựng thuốc súng và đạn.

- Thế từ ai mà bọn họ có các thông tin ấy? Chắc bọn họ cũng đã nói cho các ông rồi.

- Từ tướng công; nhưng chúng tôi không bị đánh lừa đâu.

- Cẩn thận nhé, thưa ông, không phải ông đang ngờ vực tôi nữa đâu, mà là ngờ vực tướng quân chỉ huy của các ông đấy.

Mấy viên đầu lĩnh lại nhìn nhau. Athos tiếp tục:

- Trước mặt quân lính của các ông, tướng quân đã bảo tôi đợi tám ngày; rằng tám hôm nữa, ông ấy sẽ cho tôi câu trả lời về một điều. Tôi có chạy trốn không nào? Không hề, tôi đang đợi đấy chứ.

- Ngài ấy đã bảo ông đợi ngài ấy tám ngày! viên phó tướng kêu lên.

- Ông ấy đã nói với tôi rất rõ, thưa ông, thành ra tôi đã cho tàu thả neo chỗ cửa sông, hôm qua tôi hoàn toàn có thể lên thuyền đi khỏi đây luôn. Thế nhưng, tôi đã ở lại, chỉ nhằm làm đúng theo các mong muốn của tướng quân, vì Tướng Quân đã nói với tôi là đừng đi trước cuộc gặp cuối cùng giữa chúng tôi, ông ấy ấn định nó vào tám hôm nữa. Vậy, tôi nhắc lại với các ông, tôi đang đợi.

Viên phó tướng quay sang hai đầu lĩnh kia, rồi hạ giọng nói:

- Nếu nhà quý phái này nói đúng, chắc vẫn còn hy vọng, ông ta nói. Chắc tướng quân phải đi thực hiện những thương thuyết bí mật đến nỗi ngài ấy cho sẽ là thiếu cẩn trọng nếu báo trước, kể cả là cho chúng ta. Thế nên, chắc ngài ấy sẽ đi vắng tối đa tám ngày.

Rồi, quay qua Athos:

- Thưa ông, ông ta nói, lời ông nói có sự quan hệ đặc biệt lớn; ông có sẵn lòng nhắc lại nó sau khi tuyên thệ không?

- Thưa ông, Athos đáp, tôi vẫn luôn luôn sống trong một thế giới nơi chỉ lời của tôi thôi cũng đã được xem như lời thệ thiêng liêng nhất rồi.

- Tuy nhiên, lần này, thưa ông, hoàn cảnh ở mức nghiêm trọng hơn so với mọi hoàn cảnh ông từng kinh qua. Chuyện dính dáng tới sự sống còn của cả một đạo quân. Ông hãy nghĩ kỹ về điều này, tướng công của chúng tôi đã biến mất, chúng tôi đang đi tìm. Sự biến mất đó có tự nhiên hay chăng? Hay đã có một tội ác xảy ra? Chúng tôi có cần phải hết sức tìm hiểu hay chăng? Hay chúng tôi sẽ phải kiên nhẫn mà chờ? Vào lúc này, thưa ông, mọi điều tùy thuộc vào lời mà ông sẽ nói đấy.

- Khi bị tra hỏi như thế này, thưa ông, tôi chẳng còn do dự nữa, Athos nói. Phải, tôi đã tới nói chuyện kín với tướng quân Monck và xin từ ông một câu trả lời về một số điều; phải, tướng quân, chắc hẳn vì chẳng thể nào nói trước trận đánh mà ai ai cũng đợi đây, đã bảo tôi ở lại thêm tám hôm tại căn nhà mà tôi đang ở, hứa với tôi rằng tám ngày nữa tôi sẽ được gặp lại ông ấy. Phải, toàn bộ điều đó là đúng, tôi xin thề trước Chúa, đó là ông chủ tuyệt đối của cuộc đời tôi, cũng như cuộc đời các ông.

Athos nói những lời ấy với dáng vẻ cao quý và trang trọng tới nỗi ba viên đầu lĩnh gần như đã tin. Tuy nhiên một đại tá vẫn gắng gượng cố nốt lần cuối:

- Thưa ông, ông ta nói, dẫu giờ đây chúng tôi đã tin những gì ông nói là đúng, thì vẫn còn, trong tất tật chuyện này, một điều bí ẩn lạ thường. Tướng quân là một người rất cẩn trọng, ngài chẳng thể nào bỏ quân đội của ngài vào ngay trước hôm có trận đánh, mà không ít nhất là báo cho một ai đó trong số chúng tôi. Về phần mình, tôi không thể tin, tôi xin thú nhận, là đã có một sự biến rất lạ nó gây ra sự biến mất ấy. Hôm qua, đám ngư dân nước ngoài đã tới đây bán cá của bọn họ; chúng tôi đã cho bọn họ trú tạm bên chỗ quân Ê-cốt, tức là trên con đường mà tướng quân đã đi tới tu viện cùng ông đây, rồi từ đó quay về. Chính một tên ngư dân trong số đó đã đi cùng tướng quân, cầm một ngọn đèn. Thế mà sáng hôm nay, cả thuyền lẫn ngư dân đều đã mất hút, theo thủy triều đêm qua đi mất.

- Còn tôi, viên phó tướng cất lời, tôi chẳng thấy có gì không tự nhiên trong chuyện ấy; bởi xét cho cùng, những kẻ đó đâu phải tù nhân.

- Không; nhưng, tôi xin nhắc lại, chính một kẻ trong số bọn họ đã đi soi đuốc cho tướng quân cùng ông đây dưới hầm tu viện, và Digby đã đảm bảo với chúng ta rằng tướng quân thấy đám người ấy rất khả nghi. Vậy mà, ai dám nói với chúng ta là đám ngư dân ấy không có thông mưu với ông đây, và thêm nữa, xong việc rồi, ông đây, hẳn là người vốn dĩ can đảm lắm, ở lại với mục đích bằng sự có mặt của mình khiến chúng ta an tâm, để mà ngăn cản không cho chúng ta tìm kiếm đúng lối?

Những câu nói đó gây tác động mạnh lên hai đầu lĩnh còn lại.

- Thưa ông, Athos nói, cho phép tôi nói với ông rằng lập luận của ông, vẻ ngoài thì chi chút lắm, thiếu mất sự vững chãi ở những gì liên quan đến tôi. Tôi đã ở lại, ông nói, nhằm đánh lạc hướng những mối nghi. Kìa! ngược lại, những mối nghi cũng nảy ra nơi tôi cũng như ở các ông và tôi xin nói với các ông: Chẳng thể nào, thưa các ông, có chuyện tướng quân, ngay trước hôm nổ ra một trận đánh, lại đi mất mà chẳng nói với ai. Phải, có một sự biến lạ thường trong toàn bộ câu chuyện này; phải, thay vì biếng nhác ở yên tại chỗ mà chờ đợi, các ông cần phải tiến hành toàn bộ mọi hành động nào có thể làm được. Tôi là tù nhân của các ông, thưa các ông, do lời hứa hoặc theo một lối khác. Danh dự của tôi liên thuộc vào điều người ta biết tướng quân Monck ra sao rồi, đến mức mà giá kể các ông có bảo tôi: Ông hãy đi đi! thì tôi sẽ đáp: Không, tôi ở lại. Và nếu các ông hỏi ý kiến của tôi, tôi sẽ nói thêm: Phải, tướng quân là nạn nhân của một âm mưu nào đó, bởi nếu phải rời khỏi trại, chắc hẳn ông ấy đã nói với tôi rồi. Vậy nên các ông hãy tìm, hãy lùng sục, hãy khuấy trời đảo nước; tướng quân đã chẳng hề đi đâu, hay ít nhất đã không tự ý mình đi mất.

Viên phó tướng ra hiệu với hai đầu lĩnh.

- Không, thưa ông, ông ta nói, không, ấy chớ; đến lượt ông đi xa quá rồi. Tướng công của chúng tôi đã chẳng việc gì phải gánh chịu các sự biến, và chắc hẳn, ngược lại, ngài ấy đã tạo ra chúng. Cái điều Monck đang làm lúc này, ngài ấy từng vẫn làm suốt rồi. Vậy nên sẽ thật sai lầm nếu chúng tôi làm rộn lên; sự vắng mặt của ngài ấy sẽ ngắn thôi, chắc vậy; vì thế chúng tôi cần phải tránh, do một sự nhát hèn tướng quân hẳn sẽ kết tội nặng chúng tôi, làm rầm lên về sự vắng mặt của ngài ấy, rất có thể điều đó sẽ làm đạo quân bị mất tinh thần. Tướng quân đang cho thấy là ngài ấy đặt tin tưởng rất nhiều vào chúng tôi, chúng tôi cần tỏ ra xứng đáng với điều đó. Thưa các ông, phải tuyệt đối giữ im lặng, sao cho sự im lặng phủ lên tất tật chuyện này một tấm màn bất khả xuyên thấu; chúng tôi sẽ giữ ông đây lại, chẳng phải vì ngờ ông đây có liên quan tới tội ác, nhưng là nhằm đảm bảo giữ bí mật hữu hiệu hơn về sự đi vắng của tướng quân, không để cho tin tức lọt ra ngoài; vậy nên, cho tới khi có lệnh mới, ông đây sẽ ở luôn trong đại bản doanh.

- Thưa các ông, Athos đáp, các ông quên mất là đêm qua tướng quân đã giao cho tôi một thứ mà tôi cần phải trông coi. Các ông cứ việc canh giữ tôi chặt chẽ hết mức mà các ông muốn, cứ trói tôi lại nếu cần, nhưng hãy để lại cho tôi ngôi nhà mà tôi đang ở, lấy nó làm nhà tù luôn. Tướng quân, khi ông ấy quay về, hẳn sẽ trách cứ các ông, tôi xin thề với các ông đấy, trên lòng tin nhà quý phái của tôi đây, vì làm ông ấy phiền lòng do chuyện đó.

Mấy viên đầu lĩnh nói chuyện với nhau một lát; rồi sau đó:

- Được, thưa ông, viên phó tướng cất lời; ông quay về nhà ông đi.

Rồi họ cấp cho Athos một đội lính canh gồm năm mươi người, bọn họ nhốt chặt ông vào trong nhà, không rời mắt khỏi ông một giây phút nào.

Bí mật được giữ kín, nhưng những giờ, nhưng những ngày cứ thế trôi đi mà tướng quân mãi không thấy về, chẳng ai nhận được tin tức nào của ông ta.






XXVIII

Món hàng lậu


Hai hôm sau các sự biến mà chúng tôi vừa thuật, trong lúc tại trại của tướng Monck người ta chờ đợi khắc khoải, mà mãi chẳng thấy ông ta đâu, một con tàu Hòa Lan nhỏ, chở theo mười người, tới thả neo trên bờ Scheveningen, cách đất liền chừng một tầm đạn đại bác. Trời tối thẳm, bóng đêm bao trùm, biển dâng sóng trong bóng tối; ấy là một cái giờ tuyệt hảo để đưa cập bờ người cùng hàng hóa.

Vũng tàu Scheveningen là một vòng cung rộng; nó không sâu lắm, và nhất là không mấy ổn định, vậy nên ở đó người ta chỉ nhìn thấy những bè lớn Flamand đậu, hoặc những còn thuyền Hòa Lan kia, đang được đám ngư dân dùng hệ thống bánh xe lăn kéo lên bờ cát, giống người xưa vẫn hay làm, nếu tin theo lời Virgile*****. Vào lúc sóng lớn lên, dâng cao rồi tiến vào đất liền, thật không cẩn trọng nếu đưa thuyền lại quá sát bờ, vì nếu gió thổi mạnh, thì mũi thuyền sẽ bị cắm vào cát, mà cát trên bờ biển này thì xốp lắm; cát nơi đây ngoạm mọi thứ thì nhanh lắm, nhưng hiếm khi chịu nhả ra. Chắc hẳn vì lẽ ấy mà cái sà lúp tách khỏi con tàu ngay khi tàu thả neo, và ra đi cùng tám thủy thủ, đặt ở giữa bọn họ có thể nom thấy rõ một vật gì thuôn dài, một cái giỏ, hay bọc.

Trên bờ hoang vắng bóng người: một ít ngư dân sống nơi đụn cát đều đã đi ngủ. Đội gác duy nhất canh bờ (cái bờ được canh giữ rất đỗi lỏng lẻo, ấy là do tàu lớn chẳng thể nào cập vào đây cho được), dầu đã chẳng thể hoàn toàn noi gương các ngư dân đi ngủ, cũng đã bắt chước bọn họ ở mức độ lăn ra nơi góc cái đồn, cũng nồng giấc điệp y như những người kia, trên giường. Vậy nên thanh âm duy nhất mà người ta nghe thấy là tiếng rít của làn gió đêm luồn lách qua đám thạch thảo mọc trên đụn cát. Nhưng chắc hẳn những kẻ đang sáp lại gần là những người đa nghi lắm, bởi vì sự im lìm có thực kia, cùng là nỗi cô độc vẻ ngoài kia chẳng hề khiến họ an lòng; thành thử chiếc sà lúp của bọn họ, chỉ thấp thoáng như một cái chấm sẫm màu trên Đại Dương, lướt đi không tiếng động, tránh khua mái chèo do sợ bị nghe thấy, và chạm bờ thật rón rén.

Vừa chỉ mới thấy chạm đất, một người duy nhất đã nhảy xuống khỏi xuồng sau khi mau chóng ra mệnh lệnh, với cái giọng cho thấy thói quen truyền lệnh người khác phải nghe. Đáp lại mệnh lệnh này, nhiều khẩu súng hỏa mai ngay tức khắc sáng loáng lên trong luồng sáng yếu ớt của biển, tấm gương của bầu trời kia, và cái bọc thuôn dài mà chúng tôi đã nhắc, chắc hẳn trong đó đựng một thứ đồ buôn lậu nào đó, được chuyển lên bờ với những cẩn trọng vô biên. Ngay lập tức, người đã lên trước nhất chạy xiên chéo về phía ngôi làng Schveningen, tiến về phía mỏm xa nhất của cánh rừng. Tại đó ông ta tìm kiếm cái ngôi nhà một lần chúng ta từng thoáng nom thấy xuyên qua đám cây, mà chúng tôi đã miêu tả như là chốn cư ngụ tạm thời, chốn cư ngụ rất mực khiêm nhường, của cái người mà do phép lịch sự người ta gọi là vua nước Anh.

Mọi thứ ở đó đều say ngủ, giống như khắp mọi nơi; chỉ có một con chó lớn, thuộc nòi những con chó mà ngư dân Scheveningen hay thắng vào các xe kéo nhỏ để chở cá đến La Haye, cất tiếng sủa toáng lên, ngay lúc kẻ lạ bước tới trước dãy cửa sổ. Nhưng âm thanh vang lừng ấy, thay vì gây hoảng sợ cho người mới lên bờ, dường ngược lại còn khiến ông ta mầng lòng lắm, bởi có lẽ giọng ông ta sẽ không đủ lớn để đánh thức những người trong nhà, ấy thế mà, với một trợ thủ có tầm vóc ngần kia, giọng của ông ta bỗng trở nên gần như là vô ích. Kẻ lạ bèn đợi cho đến lúc những tiếng sủa vang rền kéo dài tạo ra được tác dụng, tới khi ấy ông ta mới chịu lên tiếng gọi. Nghe thấy giọng ông ta, con chó lớn rít lên khủng khiếp đến nỗi bên trong mau chóng có một giọng khác vang lên, nạt con chó cho nó im đi. Rồi, lúc con chó đã yên:

- Ông muốn gì? cái giọng ấy, vừa yếu ớt, khản đặc lại vừa lịch thiệp, cất lên.

- Tôi muốn gặp Bệ Hạ đức vua Charles Đệ nhị, kẻ lạ đáp.

- Ông muốn gì?

- Tôi muốn nói chuyện với ngài ấy.

- Ông là ai?

- À khốn thật! ông hỏi tôi nhiều quá rồi đấy, tôi không ưa nói chuyện qua cửa như thế này.

- Vậy thì nói tên ông thôi cũng được.

- Tôi lại càng chẳng ưa nói tên tôi ra ở giữa đường giữa chợ; vả, ông yên tâm đi, tôi sẽ chẳng ăn thịt con chó của ông đâu, tôi cũng cầu Chúa nó cũng sẽ e dè tương tự đối với tôi.

- Có lẽ ông mang tin đến, có phải chăng, thưa ông? cái giọng lại hỏi, nhẫn nại, tra vấn, như giọng của một ông già.

- Cam đoan luôn, đúng, tôi mang tin tới, lại còn là tin chẳng hề được trông đợi nữa kia! Mở cửa đi nào, nhá?

- Thưa ông, ông già lại tiếp, trên linh hồn và lương tâm của ông, ông có nghĩ tin của ông đáng để đánh thức hoàng thượng hay chăng?

- Vì tình yêu Chúa! thưa ông thân mến, ông mở then ngay đi, làm vậy ông sẽ không phật ý đâu, tôi thề với ông đấy. Tôi đáng giá lượng vàng bằng cân nặng của tôi, lấy danh dự mà nói!

- Thưa ông, thế nhưng tôi chẳng thể mở cửa trước khi ông nói tên ông.

- Tức là cần phải vậy?

- Đó là lệnh của chủ tôi, thưa ông.

- Ơ kìa! tên của tôi, nó đây… nhưng tôi báo trước cho ông, tên tôi sẽ tuyệt đối chẳng nói cho ông biết điều gì đâu.

- Chẳng quan trọng, ông cứ nói.

- Ừ thì! tôi là hiệp sĩ d’Artagnan.

Giọng kia hét lên.

- A! Chúa tôi! ông già nói ở bên kia cánh cửa, ông d’Artagnan! sung sướng quá! Tôi đã tự nhủ, mình có nhận ra cái giọng nói kia.

- Chà! d’Artagnan nói, ở đây người ta biết giọng nói của ta! Thích ghê.

- Ôi! đúng, chúng tôi biết giọng của ông, ông già nói, rút then cài, và đây là bằng chứng.

Nói đoạn, ông dẫn lối cho d’Artagnan, dưới ánh sáng của ngọn đèn cầm trên tay ông già, ông nhận ra cái người bướng bỉnh cứ hỏi mãi không thôi vừa xong.

- A khốn thật! ông kêu lêu, là Parry! lẽ ra ta phải ngờ tới điều đó chứ.

- Parry, vâng, thưa ông d’Artagnan yêu quý, là tôi đây. Gặp lại ông tôi mầng lòng quá sức!

- Ông nói rất đúng: mầng lòng quá! d’Artagnan nói, nắm chặt lấy hai tay ông già. Ấy! ông sẽ vào báo cho nhà vua, phải chăng?

- Nhưng nhà vua đang ngủ, thưa ông yêu quý.

- Khốn thật! thì đánh thức ngài ấy đi, ngài ấy sẽ không quở ông vì vậy đâu, tôi đảm bảo với ông đấy.

- Ông từ chỗ ngài bá tước tới, phải chăng?

- Bá tước nào?

- Bá tước de La Fère.

- Từ chỗ Athos? Trời ơi, không; tôi tự đến đấy chứ. Nào mau lên, Parry, nhà vua! tôi cần nhà vua!

Parry không nghĩ mình nên cự cãi lâu thêm nữa; vốn ông biết d’Artagnan quá rõ đi rồi; ông biết rằng, dầu là người Gátxcông, lời ông nói chẳng bao giờ hứa hẹn nhiều hơn những gì chúng có thể chứa đựng. Ông băng ngang một cái sân rồi một vườn nhỏ, nạt chó cho nó im đi, con chó ấy đang nghiêm túc muốn xơi tái người ngự-lâm quân, rồi gõ vào chớp cửa sổ một gian phòng nhỏ nằm nơi tầng dưới cùng một ngôi nhà.

Ngay tắp lự một chú chó nhỏ sống ở trong phòng đó đáp trả con chó lớn sống ngoài sân.

- Ông vua khốn khổ! d’Artagnan thầm nhủ trong bụng, ấy là lính canh của ngài ấy đó; mà cũng đúng, chẳng vì vậy mà ngài ấy được canh gác kém cẩn mật hơn.

- Có chuyện gì? ông vua hỏi, từ tận góc gian phòng.

- Thưa Bệ Hạ, có ông hiệp sĩ d’Artagnan mang tin tới.

Người ta nghe thấy ngay trong phòng có tiếng ồn; một cánh cửa mở ra và một luồng ánh sáng lớn soi tỏ hành lang cùng cái vườn.

Vua đi qua trong ánh sáng một ngọn đèn. Trên bàn của chàng giấy tờ để bừa bãi, chàng đã khởi sự viết nháp một bức thư nó tố giác, thông qua rất nhiều gạch xóa, nỗi khó nhọc của chàng khi chàng viết nó.

- Vào đi, ông hiệp sĩ, chàng nói, quay người lại.

Rồi, khi nhìn thấy người dân chài:

- Ông vừa nói gì với ta thế, Parry, thế ông hiệp sĩ d’Artagnan đâu mất rồi? Charles hỏi.

- Ông ta đang ở ngay trước mặt ngài, thưa Bệ Hạ, d’Artagnan cất lời.

- Với bộ trang phục này?

- Thưa vâng. Bệ Hạ, ngài hãy nhìn tôi đây; ngài không nhận ra là ngài đã gặp tôi tại Blois tại chỗ các tiền phòng của hoàng thượng Lô y Thập tứ ư?

- A, phải, thưa ông, thậm chí ta còn nhớ khi ấy ta đã phải ca ngợi ông rất nhiều nữa kia.

D’Artagnan nghiêng người.

- Là nghĩa vụ của tôi đây, hành xử giống như tôi đã làm, ngay khi tôi được biết đó là Bệ Hạ.

- Ông mang tin tới cho ta, phải chăng?

- Vâng, thưa Bệ Hạ.

- Từ nhà vua Pháp?

- Trời ơi, thưa không, Bệ Hạ ôi, d’Artagnan đáp. Bệ Hạ hẳn đã thấy ở đó rằng nhà vua Pháp chỉ để tâm đến Ngài Ngự bản thân ngài ấy mà thôi.

Charles ngước lên nhìn trời.

- Không, d’Artignan nói tiếp, không, thưa Bệ Hạ. Tôi đây mang tới tin tức chỉ thuần có tính cách cá nhân mà thôi. Tuy nhiên, tôi dám mong mỏi Bệ Hạ sẽ lượng cả mây rồng tấn dương lắng nghe, những sự kiện cùng tin tức.

- Nói đi, thưa ông.

- Nếu tôi không nhầm, thưa Bệ Hạ, Hoàng Thượng lúc ở Blois đã nói đến nỗi lúng túng trong sự vụ bên Anh-cát-lị.

Charles đỏ mặt.

- Ông ơi, chàng đáp, ta chỉ kể riêng cho vua Pháp nghe thôi cơ mà.

- Ồ! Bệ Hạ hiểu nhầm lời tôi rồi, viên ngự lâm quân lạnh lùng nói; tôi biết cách nói chuyện với các ông vua trong cơn bất hạnh; mà họ cũng chỉ nói chuyện với tôi chừng nào rơi vào nỗi bất hạnh mà thôi; chừng đã được sung sướng rồi, họ đâu còn thèm nhìn tôi nữa. Tức, tôi dành cho Bệ Hạ không chỉ sự kính trọng lớn nhất mà còn cả lòng tận tụy tuyệt đối nhất, và cái đó, ngài hãy tin, ở tôi, thưa Bệ Hạ, cái đó có một ý nghĩa nhất định. Thế mà, bởi nghe thấy Bệ Hạ than phiền về mệnh số hẩm hiu, tôi đây thấy rằng ngài là người cao quý, hào phóng và giỏi chịu đựng nỗi bất hạnh.

- Nói cho đúng, Charles sửng sốt đáp, ta chẳng biết phải thiên ái cái nào hơn nữa, tự do của ông hay lòng kính trọng của ông.

- Lát rồi ngài sẽ chọn, thưa Bệ Hạ, d’Artagnan nói. Vậy, Bệ Hạ đã than phiền với người anh em Lô y Thập tứ của ngài về nỗi khó nhọc ngài đương phải kinh qua, không sao về được Anh-cát-lị và lên lại ngai vàng để ngồi, bởi không có quân, cũng không có tiền.

Charles để lộ một cử chỉ sốt ruột.

- Và trở ngại chính yếu mà ngài gặp phải trên đường đi của mình, d’Artagnan vẫn nói tiếp, là một viên tướng nào đó chỉ huy quân lính của pắc-lơ-măng, ở bên đó từng đóng vai trò của một Cromwell khác. Bệ Hạ đã không nói những điều đó ư?

- Có; nhưng ta nhắc lại với ông, thưa ông, những lời ấy chỉ để dành riêng cho tai của nhà vua mà thôi.

- Và ngài sẽ thấy, thưa Bệ Hạ, rằng thật may mắn khi chúng lại rơi vào tai viên thống lĩnh ngự lâm quân của ngài ấy. Cái kẻ quá đỗi phiền nhiễu đối với Bệ Hạ là tướng Monck, nếu tôi không nhầm; tôi có nghe đúng tên ông ta không, thưa Bệ Hạ?

- Đúng, thưa ông; nhưng, thêm một lần nữa, những câu hỏi này là để làm gì vậy?

- Ồ! tôi biết chứ, thưa Bệ Hạ, lễ nghi đâu có để cho người ta tra hỏi các ông vua. Tôi mong mỏi rằng lát nữa thôi Bệ Hạ sẽ tha lỗi cho tôi vì tội coi thường nghi lễ. Bệ Hạ cũng có nói thêm rằng nếu ngài gặp được ông ta, nói chuyện với ông ta, đối mặt với ông ta, thì ngài hẳn sẽ chiến thắng, hoặc nhờ sức mạnh, hoặc do sự thuyết phục, trước trở ngại đó, trở ngại duy nhất nghiêm túc, trở ngại duy nhất có thực mà ngài vấp phải trên đường đi của ngài.

- Tất tật những điều ấy đúng cả, thưa ông; số phận ta, tương lai của ta, sự lu mờ của ta hay vinh quang của ta đều tùy thuộc cả vào con người đó; nhưng từ chỗ ấy ông muốn suy ra điều gì thế?

- Chỉ một điều duy nhất mà thôi: rằng nếu cái ông tướng Monck kia gây nhiều phiền nhiễu giống như ngài nói, thì cứ tiện nhất là Bệ Hạ thanh toán ông ta đi, hoặc biến ông ta thành một đồng minh.

- Thưa ông, một vị vua không có cả quân đội lẫn tiền, vì ông đã nghe cuộc nói chuyện của ta với người anh em ta, chẳng thể làm nổi điều gì chống lại một người như Monck.

- Vâng, thưa Bệ Hạ, đó là ý kiến của ngài, tôi vốn biết rõ, nhưng, thật may cho ngài, đó lại chẳng phải ý kiến của tôi.

- Ông muốn nói gì?

- Rằng không quân đội cũng chẳng có triệu nào tôi đã, tôi đây, làm cái điều Bệ Hạ từng tưởng chỉ có thể làm với một đội quân và một triệu.

- Sao! Ông nói gì? Ông đã làm gì vậy?

- Tôi đã làm gì ư? Kìa, thưa Bệ Hạ, tôi đã sang bên đó bắt về cái kẻ gây nhiều phiền nhiễu đến vậy cho Bệ Hạ.

- Sang Anh-cát-lị?

- Chính xác, thưa Bệ Hạ.

- Ông đã sang Anh bắt Monck?

- Tôi có tình cờ làm việc gì tồi tệ không thế?

- Nói cho đúng, ông điên rồi, thưa ông!

- Không hề chút nào, thưa Bệ Hạ.

- Ông đã bắt Monck?

- Vâng, thưa Bệ Hạ.

- Ở đâu thế?

- Ngay giữa trại của ông ta.

Ông vua run lên vì sốt ruột và nhún vai.

- Và bởi đã tóm được ông ta trên con đường ở Newcastle, d’Artagnan giản dị nói, tôi bèn mang ông ta tới cho Bệ Hạ.

- Ông mang ông ta tới cho ta? vua kêu lên, gần như nổi cơn phẫn nộ trước cái mà chàng coi như một trò lừa dối.

- Phải, thưa Bệ Hạ, d’Artagnan đáp, giọng không chút sái đổi, tôi mang ông ta đến cho ngài; ông ta ở kia, trong một cái thùng lớn có đục lỗ để ông ta có thể thở ra hít vào.

- Chúa ơi!

- Ồ! ngài hãy an lòng, thưa Bệ Hạ, chúng tôi đã săn sóc ông ta hết mức. Vậy nên ông ta đến đây trong tình trạng rất tốt, được chuyên chở hết sức hoàn hảo. Thế Bệ Hạ muốn gặp ông ta, nói chuyện với ông ta, hay ném luôn ông ta xuống nước?

- Ôi! Chúa ơi! Charles nhắc lại, ôi! Chúa ơi! thưa ông, ông nói thật đấy chăng? Hay ông đang sỉ nhục ta bằng một trò đùa nhơ nhớp đấy? Ông đã làm nổi cái việc táng đởm kinh hồn nó đòi hỏi thiên tài kia sao? Không thể nào!

- Bệ Hạ có cho phép tôi mở cửa sổ ra không? d’Artagnan hỏi, rồi mở nó ra.

Thậm chí vua còn chẳng kịp có thời gian đồng ý. D’Artagnan đã cất lên một tiếng huýt lanh lảnh kéo dài, lặp lại ba lần, vào sự im lặng của màn đêm.

- Đó! ông nói, người ta sẽ mang ông ta tới đây cho Bệ Hạ.






XXIX

Ở thiên này, d’Artagnan bắt đầu e tiền của ông cùng tiền của Planchet đã bị đặt nhầm chỗ


Vua không ngớt cơn sửng sốt, lúc nhìn khuôn mặt tươi cười của viên ngự lâm quân, khi lại ngó ra cái cửa sổ tối tăm mở vào màn đêm kia. Nhưng trước khi chàng ta kịp sắp đặt các ý nghĩ trong đầu, tám người của d’Artagnan, bởi vì hai người ở lại trông thuyền, đã mang đến nhà, tại đó Parry tiếp nhận nó, cái vật thể thuôn dài lúc này đang nhốt kín vận mệnh của nước Anh-cát-lị.

Trước khi từ Calais lên đường, d’Artagnan đã đặt làm ở thành phố đó một thứ giống như quan tài khá rộng rãi và đủ sâu để một người có thể thoải mái xoay trở trong đó. Đáy và các thành, lót nệm dày, tạo thành một cái giường khá êm để mà sóng biển chẳng thể biến cái lồng ấy trở nên một món đồ dùng để giết người. Mảng lưới sắt d’Artagnan đã nói với vua, trông giống lưỡi trai của một cái mũ, nằm ngang mức mặt của người kia. Nó được khoét sao cho chỉ cần có một tiếng hét phát ra là tức thì một cú đòn giáng vào có thể ngay tức khắc dập cho tắt ngấm cái tiếng hét kia, và nếu cần thì luôn cái kẻ cả gan cất tiếng hét.

D’Artagnan vốn biết rõ thủy thủ đoàn của ông, lại biết rõ tù nhân đến độ trên suốt đường đi, ông đã e ngại hai điều: hoặc ông tướng chọn cái chết thay vì sự nô lệ kỳ quặc kia, cho nên tự nguyện để cho mình bị bóp ngạt; hoặc là những kẻ gác bị tù nhân dụ dỗ, để rồi bọn họ nhét luôn d’Artagnan vào trong cái hòm, đúng vào chỗ của Monck.

Vậy nên d’Artagnan suốt hai ngay hai đêm túc trực bên cái hòm, một mình với ông tướng, mời ông ta rượu vang và những món đồ ăn, ông ta từ chối, không ngớt ra sức trấn an với ông ta về phần số đang đợi sẵn ông ta sau cú bắt cóc dị thường kia. Hai khẩu súng đặt trên bàn cùng thanh gươm tuốt trần làm d’Artagnan được yên tâm về những sự tọc mạch ở bên ngoài.

Chừng đã tới Scheveningen, ông được yên tâm hoàn toàn. Người của ông rất sợ bị đụng độ với những kẻ cầm quyền trên mặt đất. Vả, ông đã ủy lạo được tới nơi tới chốn cái người coi như là phó của ông, chúng ta đã thấy rằng người đó tên là Menneville. Anh ta vốn chẳng hề là một kẻ đần độn, lại chịu nhiều hiểm nguy hơn so với những kẻ khác, bởi anh ta có nhiều ý thức hơn. Cho nên anh ta tin vào một tương lai mình được phục vụ d’Artagnan và, do đó, anh ta thà bị băm nhừ người còn hơn vi phạm công xinh thủ lĩnh đã truyền. Vì cái lẽ ấy ngay khi đổ bộ d’Artagnan đã giao phó cho anh ta cái hòm cùng là sự hít thở của ông tướng. Cũng chính anh ta được truyền lời phải dẫn bảy người vác cái hòm tới ngay lúc nào nghe thấy ba tiếng huýt sáo. Chúng ta thấy rằng viên phó đã tuân lời.

Cái hòm đã được mang vào nhà của vua rồi, d’Artagnan xua người của mình đi khỏi bằng một nụ cười ân cần, nói với bọn họ:

- Thưa các anh, các anh đã làm nên một công quả lớn cho Hoàng Thượng đức vua Charles Đệ nhị, chỉ chưa đầy sáu tuần nữa ngài ấy sẽ trở thành vua Anh-cát-lị. Các anh sẽ được nhận tiền công gấp đôi, để thưởng; giờ quay về thuyền đợi tôi nhé.

Nghe thấy vậy tất cả đi ra, mầng lòng khôn xiết kể, làm chính con chó dữ cũng phải hoảng sợ.

D’Artagnan đã cho mang cái hòm vào đến tiền phòng của vua. Ông cẩn thận hết sức đóng chặt cửa giả của tiền phòng ấy; đoạn, ông mở hòm, nói với ông tướng bên trong:

- Thưa tướng quân, ngàn lần tôi xin ngài thứ lỗi; cung cách của tôi thực không xứng với một người như ngài, tôi đây biết rõ lắm; nhưng tôi đã rất cần ngài coi tôi là một tên chủ thuyền. Và rồi Anh-cát-lị vốn dĩ là cái xứ hết sức bất tiện cho công việc chuyên chở. Vậy, tôi mong mỏi ngài bao dong mà nhìn nhận toàn bộ câu chuyện này. Nhưng ở đây, thưa tướng quân, d’Artagnan lại nói tiếp, ngài được tự do đứng dậy, bước đi.

Nói xong, ông cắt các dây trói cánh tay và bàn tay của ông tướng. Ông ta ngồi nhỏm dậy với dáng dấp của một người chờ chết.

D’Artagnan bèn mở cửa cabinet của Charles và nói với vua:

- Thưa ngài, Monck, kẻ thù của ngài, ở kia; tôi đã tự cho phép mình làm việc này để phục vụ ngài. Việc đã xong rồi, giờ ngài hãy ra lệnh. Thưa ông Monck, ông quay sang người tù, nói, ông đang ở trước Đức Hoàng Thượng Charles Đệ nhị, vị Chúa tối cao của Đại-Bờ-ri-tên.

Monck ngẩng đầu chĩa vào ông vua trẻ tuổi ánh mắt kham khổ lạnh lùng, rồi đáp:

- Tôi không công nhận ông vua nào của Đại-Bờ-ri-tên; thậm chí tôi không công nhận ở đây có ai xứng danh nhà quý phái; bởi chính nhân danh vua Charles Đệ nhị một kẻ phái viên, cái kẻ tôi đã nhầm tưởng đâu là một con người trung thực, đã tới chăng với tôi một cái bẫy đê hèn. Tôi đã rơi vào bẫy, mặc xác tôi thôi. Giờ, ông, kẻ chủ mưu, ông ta nói với vua; và ông, kẻ thực thi, ông ta nói với d’Artagnan, hãy nhớ những gì tôi sắp nói với các ông đây: các ông có thân xác của tôi, các ông có thể giết nó đi, tôi còn khuyến khích các ông làm vậy, vì các ông sẽ chẳng bao giờ chiếm được cả tâm hồn lẫn ý chí của tôi. Và giờ đây đừng đòi ở tôi dầu chỉ một lời, bởi kể từ giờ phút này, tôi thậm chí sẽ chẳng mở miệng để la hét đâu. Tôi đã nói xong.

Ông ta nói những lời ấy với vẻ cả quyết hung dữ bất khả chiến bại của người thanh giáo toàn tòng nhất. D’Artagnan nhìn tù nhân của mình ở tư cách một người biết giá trị của từng từ và xác định cái giá trị ấy theo giọng điệu chúng được nói ra.

- Quả đúng, ông hạ giọng nói nhỏ với vua, tướng quân đây là người kiên quyết lắm; ông ấy đã nhất định chẳng chịu nhận một miếng bánh nào, cũng không uống lấy một giọt rượu từ hai hôm nay. Nhưng vì từ giờ phút này Bệ Hạ mới là người quyết định mệnh số của ông ta, cho nên tôi xin phủi tay, giống Pilate từng nói.

Monck, đứng đó, mặt tái nhợt và vẻ nhẫn nhục, chờ đợi, ánh mắt chăm chăm, hai tay khoanh lại.

D’Artagnan quay sang ông ta.

- Ông hiểu rất rõ, ông nói với ông ta, rằng câu nói của ông, mà nó rất hay, chẳng có ích cho ai, kể cả ông. Hoàng Thượng từng muốn nói chuyện với ông, ông đã từ chối một cuộc hội kiến; tại sao giờ, khi ông ở đây, trong một cuộc mặt đối mặt, ông ở đây do bởi một lực lượng chẳng hề quan hệ gì đến ý chí của ông, tại sao ông lại buộc chúng tôi phải có những điều hà khắc mà tôi thấy là thật vô tích sự và phi lý? Nói đi, quỷ thật! dầu chỉ là để nói không.

Monck chẳng hé răng, Monck chẳng hề nhìn đi chỗ khác, Monck vân vê hàng ria vẻ lo lắng nó báo trước rằng mọi sự sẽ hỏng bét.

Suốt thời gian ấy, Charles Đệ nhị chìm đắm trong suy tư sâu sắc. Lần đầu tiên, chàng ở trước mặt Monck, nghĩa là cái con người chàng từng mong mỏi xiết bao được gặp, với cái ánh mắt đặc biệt Chúa đã trao cho loài đại bàng cùng những ông vua, chàng dò tận vào vực thẳm trái tim của ông ta.

Vậy nên chàng đã thấy quả thật Monck nhất quyết thà chết chứ không chịu hé răng, điều này vốn không mấy lạ thường nơi một con người tót vời như thế, cái người vào giờ phút này hẳn cảm thấy bị tổn thương ghê gớm lắm. Charles Đệ nhị giây phút ấy có một sự cả quyết, cái sự cả quyết một người thường dùng để đặt cược tính mạng mình, một ông tướng thì cược vận hạn của mình, một ông vua thì cược vương quốc của mình.

- Thưa ông, chàng nói với Monck, ông tuyệt đối đúng về một số điểm. Vậy nên tôi không đòi ông phải trả lời tôi, mà chỉ nghe tôi nói thôi.

Một quãng im lặng, trong quãng im lặng ấy vua nhìn Monck, ông ta vẫn trơ trơ ở đó.

- Vừa xong ông đã trách cứ tôi rất nặng lời, thưa ông, vua nói tiếp. Ông nói, một trong các phái viên của tôi đã tới Newcastle giăng cho ông một cuộc phục kích và, tôi nói thêm, điều đó hẳn một người ở đây sẽ chẳng hiểu gì, ấy là ông d’Artagnan, người mà tôi, trước mọi sự, tôi phải hết lòng cảm tạ chân thành vì lòng tận tụy hào hiệp, vì lòng tận tụy anh hùng.

D’Artagnan kính cẩn cúi mình. Monck chẳng hề nhíu mày.

- Bởi vì ông d’Artagnan đây, ông Monck, ông hãy thấy cho rõ, tôi nói điều này không phải để tự biện hộ, bởi vì ông d’Artagnan, vua nói tiếp, đã tự ý ông ấy đi sang Anh, chẳng hề vì lợi ích, không mệnh lệnh, không niềm hy vọng, đúng như một nhà quý phái, mà vốn dĩ ông thực là một nhà quý phái, nhằm phụng sự cho một ông vua bất hạnh và nhằm thêm một chiến công rực rỡ nữa vào số những hành động xuất chúng của một cuộc đời vốn tạo ra rất nhiều những chiến công.

D’Artagnan hơi đỏ mặt và húng hắng ho cho đỡ ngượng. Monck không nhúc nhích.

- Ông không tin lời tôi đang nói với ông, phải chăng ông Monck? vua lại nói. Tôi hiểu điều đó: những ấn chứng tương tự về lòng tận tụy thì hiếm lắm, thành thử hẳn người ta đâm ra nghi ngờ chúng không có.

- Ông đây sẽ nhầm to nếu không tin lời ngài, thưa Bệ Hạ, d’Artagnan kêu lên, bởi vì những gì Bệ Hạ vừa nói là sự thật chuẩn xác, sự thật chuẩn xác đến nỗi mà dường tôi đã gây ra, bằng cách tới gặp tướng quân, một điều gì đó làm lộn nhào hết mọi sự. Quả tình, nếu chuyện là vậy, thì tôi lâm vào cảnh tuyệt vọng rồi.

- Thưa ông d’Artagnan, vua kêu lên, cầm lấy tay viên ngự lâm quân, ông đã tốt với tôi, hãy tin tôi, còn hơn so với nếu ông giúp tôi làm được việc kia đấy, bởi ông đã hé lộ cho tôi thấy một người bạn chưa quen mà tôi sẽ hàm ơn mãi mãi, mà tôi sẽ vĩnh viễn yêu quý.

Rồi vua thân tình bắt tay ông.

- Và, chàng nói tiếp, quay sang Monck, một kẻ thù kể từ nay tôi sẽ kính trọng cái giá trị.

Cặp mắt con người thanh giáo bắn ra một tia chớp, nhưng chỉ một tia chớp mà thôi, còn khuôn mặt ông ta, sau giây lát bừng sáng lên do tia chớp kia, quay trở lại với vẻ thản nhiên u tối.

- Vậy, thưa ông d’Artagnan, Charles nói tiếp, sau đây là chuyện lẽ ra đã xảy đến: ông bá tước de La Fère, mà vốn dĩ ông quen, tôi nghĩ vậy, đã lên đường đi Newcastle…

- Anh A-tố? d’Artagnan kêu lên.

- Phải rồi, đó là biệt danh của ông ấy, tôi nghĩ thế. Tức, bá tước de La Fère đã đi Newcastle, ông ấy hẳn có thể sẽ dẫn tướng quân tới một cuộc hội kiến với tôi hoặc với người của tôi, đúng cái lúc ấy thì ông đã nhảy xổ vào can thiệp, mà dường ông can thiệp hung lắm đó.

- Khốn thật! d’Artagnan đáp, chắc chính là ông ấy đi vào trại cái buổi tối tôi cũng vào đó cùng đám ngư dân của tôi…

Một cái nhíu mày gần như không thể nhận biết của Monck xác nhận với d’Artagnan là ông đã đoán đúng.

- Phải, phải, ông thì thầm, tôi đã tưởng đâu tôi nhận ra vóc dáng ông ấy, tôi đã tưởng đâu tôi nghe thấy giọng nói của ông ấy. Ôi, tôi đáng nguyền rủa quá! Ôi! Thưa Bệ Hạ, xin thứ lỗi cho tôi; thế mà tôi cứ tưởng đã dẫn lối cho con thuyền của tôi cừ khôi lắm.

- Chẳng có gì xấu đâu, thưa ông, vua nói, nếu chẳng phải tướng quân buộc tội cho tôi đã chăng bẫy ông ấy, cái việc vốn không có. Không, thưa tướng quân, đó hoàn toàn chẳng phải những vũ khí tôi đây định dùng để đối phó với ông; ông sẽ sớm thấy điều đó thôi. Trong khi chờ đợi, tôi xin trao ông lời nhà quý phái của tôi, hãy tin tôi, thưa ông, hãy tin tôi. Giờ, thưa ông d’Artagnan, xin ông một lời.

- Tôi xin quỳ gối nghe đây, thưa Bệ Hạ.

- Ông nghe lời tôi, có phải chăng?

- Bệ Hạ đã thấy rồi còn gì. Nghe lời quá mức là đằng khác!

- Tốt. Từ một người như ông, chỉ một lời là đủ. Vả, bên cạnh lời nói lại còn hành động nữa chứ. Tướng quân, xin đi theo tôi. Tới đây với chúng tôi, ông d’Artagnan.

D’Artagnan, rất sửng sốt, sẵn sàng tuân lời. Charles Đệ nhị đi ra, Monck theo bước, d’Artagnan thì đi sau Monck. Charles đi theo con đường d’Artagnan đã qua để tới nhà của chàng; làn không khí mát rượi của biển mau chóng thổi lên mặt ba người dạo chơi ban đêm và, cách cánh cửa nhỏ Charles đã mở năm mươi bước, họ ở trên đụn cát, trước Đại Dương nó, đã ngừng phồng lên, đang ngơi nghỉ trên bờ giống một con quái vật mệt nhoài. Charles Đệ nhị, vẻ tư lự, bước đi đầu cúi gằm, bàn tay thọc vào bên trong cái áo ngự hàn. Monck đi theo chàng, hai cánh tay được tự do và ánh mắt đầy lo âu. D’Artagnan đi sau cùng, tay đặt hờm sẵn trên chuôi thanh gươm.

- Con thuyền chở các ông đến đây ở đâu rồi, thưa các ông? Charles hỏi d’Artagnan.

- Đằng kia, thưa Bệ Hạ; tôi có bảy người cùng một tên phó đang đợi tôi trên cái thuyền nhỏ, nó đang được một đống lửa chiếu sáng.

- À! phải rồi, con thuyền đã được kéo lên cát, ta nhìn thấy nó; nhưng chắc chẳng phải các ông đã đi từ Newcastle sang đây bằng con thuyền đó đấy chứ?

- Thưa không, tâu Bệ Hạ, tôi đã bỏ tiền thuê lấy một tàu nhỏ bỏ neo cách những đụn cát một tầm đại bác. Chúng tôi đã đi bằng con tàu ấy.

- Thưa ông, vua nói với Monck, ông được tự do.

Monck, dầu ý chí sắt thép là thế, không sao ngăn để buột một tiếng la. Vua gật đầu ra dấu khẳng định lời mình, rồi tiếp:

- Chúng tôi sẽ đi đánh thức một người dân chài của làng này, ngay đêm nay người đó sẽ giong thuyền ra khơi và đưa ông tới chỗ nào mà ông muốn tới. Ông d’Artagnan đây sẽ đi theo hộ tống Tôn Ông. Tôi đặt ông d’Artagnan dưới sự bảo trợ của lòng trung tín nơi ông, thưa ông Monck.

Monck phát ra một tiếng hì hầm sửng sốt, còn d’Artagnan, một tiếng thở dài sâu thẳm. Vua, tỏ vẻ chẳng hề nhận ra gì hết, đập tay lên thanh ván gỗ thông chẹn lối vào căn nhà người dân chài đầu tiên sống trên đụn cát.

- Hầy, Keyser! chàng kêu to, dậy đi!

- Ai gọi đấy? người dân chài hỏi.

- Là tôi, Charles, ông vua.

- A! milord, Keyser kêu lên, nhỏm người dậy, người quấn trong mảnh bạt ông ta dùng để ngủ, giống người ta nằm võng, tôi giúp được gì cho ngài đây?

- Ông chủ Keyser, Charles nói, ông đi thuyền ra khơi luôn nhé. Đây là một hành khách muốn thuê con thuyền của ông và sẽ trả nhiều tiền cho ông; hãy phục vụ ông ấy cho tốt.

Rồi vua bước lùi lại, để cho Monck tự do nói chuyện với người dân chài.

- Tôi muốn đi sang Anh, Monck nói, ông ta nói tiếng Hòa Lan, vừa đủ để người ta có thể hiểu ông ta muốn gì.

- Đợi một lát, ông chủ đáp; đi luôn cũng được, nếu ông muốn.

- Sẽ lâu không? Monck hỏi.

- Chưa đến nửa giờ đâu, thưa Tôn Ông. Thằng con đầu của tôi đang sửa soạn thuyền rồi, vì chúng tôi sẽ phải khởi hành đi đánh cá lúc ba giờ sáng.

- Thế nào, xong chưa? Charles tiến lại gần hỏi.

- Chỉ còn chưa bàn về giá cả thôi, người dân chài nói; vâng, thưa Bệ Hạ.

- Tiền nong thì để ta lo, Charles nói; ông đây là bạn của ta. Monck thót người và nhìn sang Charles khi nghe thấy cái từ đó.

- Vâng, milord, Keyser đáp.

Đúng lúc đó có tiếng người con đầu của Keyser từ ngoài rìa nước thổi tù và kêu váng lên.

- Giờ thì, thưa các ông, các ông hãy đi, vua nói.

- Thưa Bệ Hạ, d’Artagnan nói, xin Hoàng Thượng cho tôi vài phút. Tôi đã thuê người, giờ tôi đi một mình, tôi phải báo với họ.

- Thì huýt sáo với họ đi, Charles mỉm cười, nói.

Quả d’Artagnan huýt sáo luôn, trong khi ông chủ Keyser đáp lời người con trai, và bốn người, dẫn đầu là Menneville, chạy bổ tới.

- Thêm một khoản ứng trước hậu hĩnh nhé, d’Artagnan nói, đưa cho họ một cái túi trong đựng hai nghìn rưởi livre bằng vàng. Về Calais đợi tôi, ở chỗ các anh đã biết.

Rồi d’Artagnan, thở dài não nuột, thả cho túi tiền rơi xuống tay Menneville.

- Sao cơ! ông rời khỏi chúng tôi? mấy người kia kêu lên.

- Sẽ không lâu đâu, d’Artagnan đáp, hoặc cũng có thể là rất lâu, ai mà biết? Nhưng với hai nghìn rưởi livre này cùng hai nghìn rưởi khác mà các anh đã nhận, các anh đã được trả đúng theo thỏa thuận giữa chúng ta. Vậy nên chúng ta chia tay nhau thôi, các con của ta.

- Nhưng còn con tàu?

- Khỏi phải lo cho nó.

- Đồ đạc của chúng tôi còn ở trên tàu.

- Đi lấy đi, rồi ngay sau đó thì lên đường.

- Vâng, thưa com măng đăng.

D’Artagnan quay về chỗ Monck, nói với ông ta:

- Thưa ông, tôi xin chờ lệnh của ông, bởi vì chúng ta sẽ đi cùng với nhau, trừ phi tôi đi cùng thế này ông không thấy dễ chịu.

- Ngược lại mới đúng, thưa ông, Monck đáp.

- Nào, các ông, lên thuyền thôi! người con trai của Keyser hét lên.

Charles kính cẩn và long trọng chào tướng quân, nói với ông ta:

- Xin ông thứ lỗi cho tôi vì nỗi bất tiện và sự xâm phạm ông đã phải chịu, chừng nào ông đã tin là tôi đã chẳng hề gây ra chúng.

Monck cúi người thật sâu, không đáp một lời. Về phần mình, Charles cố tình không nói riêng một lời nào với d’Artagnan, nhưng thật lớn giọng:

- Tạ ân ông một lần nữa, ông hiệp sĩ, chàng nói với ông, tạ ân vì những việc ông đã làm. Những việc ấy sẽ được Đức Chúa Trời ban thưởng, tôi cũng mong mỏi Người chỉ giành những thử thách đau đớn mà thôi cho riêng mình tôi mà thôi.

Monck đi theo Keyser cùng người con trai, và cùng với họ lên trên thuyền.

D’Artagnan tiếp bước họ, thì thầm:

- A! Planchet khốn khổ của ta, ta e dữ là chúng ta đã có một món đầu cơ tồi tệ quá!






XXX

Cổ phần của hãng Planchet và Compagnie tăng giá vùn vụt


Trong suốt chuyến đi, Monck chỉ mở lời nói chuyện với d’Artagnan nếu mà có việc gì khẩn thiết lắm. Ví như, lúc người Pháp chậm tới ăn, cái bữa ăn đạm bạc chỉ có cá muối, bánh quy cùng rượu bách xù, Monck gọi ông:

- Vào bàn thôi, thưa ông!

Chỉ có mỗi vậy. D’Artagnan, chính do bản thân ông ở vào những dịp trọng đại ông cũng ít lời quá lắm, cho nên ông không rút được từ sự ít lời kia một dấu hiệu tốt đẹp nào cho kết quả nhiệm vụ của ông. Thế nhưng, bởi có rất nhiều thời gian, ông đào bới đầu óc suốt quãng thời gian ấy để tìm hiểu xem A-tố đã gặp Charles Đệ nhị như thế nào, ông đã âm mưu với vua về chuyến khởi hành kia ra sao, sau rốt bằng con đường nào ông đã đến được trại của Monck; và viên thống lĩnh ngự lâm quân khốn khổ giật một sợi trên hàng ria mỗi khi nào ông nghĩ chắc hẳn A-tố chính là người kỵ sĩ đi cùng Monck trong cái đêm xảy ra vụ bắt cóc trứ danh. Cuối cùng, sau hai đêm và hai ngày lênh đênh, ông chủ Keyser cập thuyền vào bờ tại nơi Monck, vốn dĩ là người ra tất cả mọi mệnh lệnh trong chuyến đi, đã chỉ. Đó chính là nơi cửa con sông nhỏ gần chỗ A-tố đã chọn để trú ngụ.

Trời sắp tối; một mặt trời thật đẹp, giống một cái khiên bằng thép đỏ ửng lên, nhúng cái cạnh phía bên dưới đĩa tròn của nó vào đường vạch xanh lơ của biển. Con tàu tiếp tục chạy, đi ngược sông, ở đoạn này phình rộng ra; nhưng Monck, sốt ruột quá, ra lệnh lên bờ, và chiếc xuồng của Keyser đưa ông ta cùng d’Artagnan cập đất liền, trên cái đoạn bờ nhiều sình lầy của dòng sông, giữa đám sậy.

D’Artagnan, nhịn nhục vâng lời, nhất nhất đi theo Monck giống như con gấu bị trói chặt theo bước chủ của nó; nhưng vị thế của ông khiến ông thấy nhục quá, đến lượt ông, ông thấp giọng lầm bầm rằng phục vụ các ông vua sao là chuyện chua chát thế, ông vua tốt nhất thì cũng chẳng đáng nỗi gì.

Monck rảo bước chân. Dường có thể nói ông ta còn chưa chắc chắn mình đã tái chinh phục đất Anh-cát-lị, và đã nom tỏ vài ngôi nhà thủy thủ cùng dân chài nằm rải rác trên bờ kè nhỏ của bến cảng khiêm nhường kia. Đột nhiên d’Artagnan kêu lên:

- Kìa! nhưng mà, xin Chúa tha tội, có một cái nhà đang cháy kìa!

Monck ngẩng đầu lên nhìn. Quả, lửa đang bừng bừng cháy ngấu nghiến lăm le nuốt chửng một ngôi nhà. Nó bắt đầu lan từ một nhà kho nhỏ tựa vào ngôi nhà ấy, giờ bắt lên đến mái. Làn gió của buổi chiều tối càng trợ sức làm lửa cháy thêm đượm.

Hai người lữ hành vội rảo bước chân, họ nghe thấy những tiếng la hét om sòm và nom tỏ, lúc tiến lại gần, đám lính tráng đang huơ vũ khí chỉ tay về phía ngôi nhà cháy. Chắc hẳn chính mối nguy lớn này đã khiến bọn họ không để ý thấy có con tàu mới tới.

Monck dừng sững lại giây lát, và lần đầu tiên ông ta nói ra thành lời suy nghĩ riêng.

- Kìa! ông ta nói, có lẽ đây chẳng còn là lính của ta nữa, mà là lính của Lambert.

Những lời ấy chứa đựng cùng một lúc nỗi đau đớn, lòng e sợ, lẫn luôn cả một lời trách cứ d’Artagnan hiểu mồn một. Quả thật, trong khi tướng quân vắng mặt, Lambert rất có thể đã tiến đánh, thắng trận, đuổi tan tác những người ủng hộ pắc-lơ-măng rồi thì với đạo quân của mình chiếm luôn chỗ của đạo quân Monck, vốn dĩ bị thiếu đi mất chỗ dựa vững chắc nhất của nó. Trước mối ngờ ấy nó chạy từ tâm trí Monck sang tâm trí d’Artagnan, ông nêu lý luận sau đây:

- Sẽ xảy ra một trong hai điều: hoặc Monck nói đúng, tức chỉ còn toàn người của Lambert ở trong vùng, như thế kẻ thù sẽ đón tiếp ta trọng thể, bởi chính do ta đây mà bọn họ chiến thắng nổi; hoặc vẫn chưa có gì thay đổi, và Monck, mầng quá khi gặp lại trại của ông ta vẫn ở yên một chỗ, sẽ chẳng mấy khắc nghiệt nếu muốn trả đũa.

Vừa nghĩ trong bụng như vậy, hai lữ khách vừa tiến lên, vụt một cái họ ở vào chính giữa một toán thủy thủ nhỏ đang đau đớn đứng nhìn ngôi nhà cháy, nhưng không dám nói gì, hoảng sợ trước vẻ đe dọa của đám lính. Monck hỏi một người trong số bọn họ.

- Có chuyện gì thế? ông ta hỏi.

- Thưa ông, người kia đáp, không nhận ra Monck là một thống lĩnh cầm quân ở bên dưới cái áo ngự hàn dày cộp ông ta đang mang, có cái nhà kia, một người ngoại quốc đã ở đó, rồi người ấy trở thành kẻ tình nghi trong mắt bọn lính. Vậy là bọn chúng tính vào nhà của ông ta, lấy cái cớ là để đưa ông ta về trại; nhưng ông ta, chẳng hề e dè trước số lượng của bọn chúng, đã dọa sẽ giết chết kẻ nào dám cả gan bước qua ngưỡng cửa nhà ông ta; và bởi có một kẻ thử làm điều đó thật, ông người Pháp đã bắn súng hạ hắn luôn.

- A! đó là một người Pháp? d’Artagnan hỏi, xoa hai tay vào nhau. Tốt!

- Sao tốt? người dân chài hỏi.

- Không, tôi chỉ muốn nói… sau… tôi nói nhảm ấy mà.

- Sau gì cơ, thưa ông? những tên khác mới nổi xung lên như sư tử; bọn chúng đã bắn hơn trăm phát đạn vào nhà; nhưng cái ông người Pháp núp sau bức tường, hễ lần nào bọn kia định vào theo lối cửa thì lại phải nếm một phát đạn của người hầu ông ta, tay này bắn chuẩn lắm đó! Mỗi lần nào xông lên từ đường cửa sổ, thì bọn họ lại vấp phải khẩu súng của ông chủ. Đếm thử mà xem, có bảy người nằm dưới đất rồi.

- A! người đồng bào can đảm của tôi! d’Artagnan kêu lên, mà hượm đã, hượm đã, tôi đến với bạn đây, chúng ta sẽ xơi tái tất tật lũ khốn kiếp kia!

- Đợi chút, thưa ông, Monck nói, đợi chút.

- Lâu không?

- Không, chỉ để hỏi một câu thôi.

Rồi quay sang người thủy thủ:

- Anh bạn, ông ta hỏi, bộ hồi hộp lắm, cái thứ đó dầu vận hết sức lực để chế ngự ông ta vẫn không che giấu đi được, đám lính kia là quân của ai thế?

- Thế ông muốn là quân của ai nữa đây, nếu chẳng phải là của cái ông Monck hung bạo?

- Tức là đã không có trận đánh nào?

- A! có chứ! Nhưng để làm gì? Đội quân của Lambert tan như tuyết tháng Tư. Mọi thứ về tay Monck hết, thống lĩnh cùng lính tráng. Tám hôm nữa, Lambert sẽ chẳng còn đến tám người đâu.

Người dân chài bị ngắt ngang lời do có một tràng đạn mới vang lên, tràng đạn bắn về phía ngôi nhà, rồi thì có thêm một phát súng đáp lại tràng đạn kia, hạ sát kẻ hăng hái nhất trong số đám người tấn công. Cơn giận dữ của đám lính đã lên đến cực điểm.

Lửa vẫn ngùn ngụt bốc lên và một cột lớn gồm lửa cùng khói quay cuồng trên đỉnh nhà. D’Artagnan không sao kiềm chế lâu hơn được nữa.

- Khốn thật! ông nói với Monck, liếc xéo sang nhìn, ông là tướng quân, thế mà ông để cho lính của ông đốt nhà, sát hại người ta! rồi ông lại còn thản nhiên mà đứng nhìn, hơ tay lên lửa của đám cháy cho ấm! Khốn thật! ông chẳng phải một con người!

- Khoan hẵng nào, thưa ông, khoan hẵng nào, Monck mỉm cười nói.

- Khoan! khoan! cho tới lúc nhà quý phái can đảm nhất mực kia bị nướng chín, có phải chăng?

Rồi d’Artagnan lao lên.

- Ở lại đây, thưa ông, Monck nói, vẻ kiên quyết.

Và ông ta tiến về phía ngôi nhà. Đúng lúc đó một viên thống lĩnh vừa lại gần, nói với người đang bị vây hãm:

- Nhà đang cháy, mi sẽ bị thiêu sống trong vòng một tiếng đồng hồ nữa! Vẫn còn kịp thời gian; kìa, mi có định nói cho chúng ta biết những gì mi biết về tướng Monck hay không, sau đó chúng ta sẽ để cho mi được toàn mạng. Trả lời đi, nếu không nhân danh thánh Patrick!…

Kẻ bị vây hãm chẳng buồn đáp lại; chắc hẳn ông đang nạp đạn khẩu súng.

- Bọn ta đã đi gọi quân tiếp viện, viên thống lĩnh lại nói tiếp; chỉ một khắc nữa thôi, sẽ có một trăm người vây chặt ngôi nhà này.

- Ta muốn, để trả lời, người Pháp nói, tất cả phải lùi ra xa; ta muốn tự do đi ra ngoài, tự mình ta đi sang bên trại, bằng không, cứ việc giết ta ở đây!

- Trời đất quỷ thần ơi! d’Artagnan kêu lên, nhưng đó là giọng của anh A-tố đây mà! A! lũ rác rưởi!

Và thanh gươm của d’Artagnan đã ngời sáng ở ngoài vỏ.

Monck chặn ông lại, bản thân ông ta cũng dừng bước; rồi, cất giọng rền vang:

- Hầy! ở đây đang làm gì thế? Digby, tại sao lại có lửa? Tại sao la hét lắm thế kia?

- Tướng quân! Digby hét lên, để rơi thanh gươm xuống đất.

- Tướng quân! đám lính nhắc lại.

- Ơ kìa! có gì đáng sửng sốt vậy? Monck nói, giọng rất mực bình thản.

Rồi, khi sự im lặng đã được tái thiết lập:

- Nào, ông nói, ai đã đốt lửa?

Đám lính cúi gằm mặt xuống.

- Sao! ta hỏi mà không kẻ nào đáp! Monck nói. Sao! ta trách cứ, mà chẳng ai chịu sửa chữa! Lửa kia vẫn cháy đấy nhỉ?

Ngay tắp lự, hai chục người chạy bổ đi tìm xô chậu, thùng, sau rốt bọn họ dập tắt đám cháy với lòng hăng hái, vẫn chính cái hăng hái mới một lúc trước bọn họ đã dùng để châm lửa lên. Nhưng, trước mọi sự và là người đầu tiên, d’Artagnan đã chống một cái thang vào nhà, hét to:

- Anh A-tố! tôi đây, là tôi, d’Artagnan! Đừng giết tôi đấy nhé, bạn ơi.

Và vài phút sau ông đã ôm choàng lấy bá tước.

Trong quãng thời gian ấy, Grimaud, vẫn giữ vẻ bình thản, dẹp bớt công sự nơi tầng trệt, rồi, sau khi mở cửa, thản nhiên đứng trên bậu cửa, hai tay khoanh lại. Chỉ có, nghe thấy giọng d’Artagnan, ông hét lên một tiếng kinh ngạc.

Lửa tắt, đám lính đứng đó, vẻ bối rối tơ vò, Digby cầm đầu.

- Thưa tướng quân, anh ta cất lời, xin thứ lỗi cho chúng tôi. Việc chúng tôi vừa làm cũng chỉ vì tình yêu dành cho Tướng Quân mà thôi, chúng tôi lo ngài bị làm sao.

- Các anh điên mất rồi. Bị làm sao! Một người như ta mà có thể bị làm sao thật ư? Có phải tình cờ ta đây không được phép tự ý đi vắng mất mà không báo trước, hả? Có phải tình cờ mà các anh coi ta là một kẻ trưởng giả nơi Đô Thành không đó? Sao mà một nhà quý phái, bạn của ta, người khách của ta, lại có thể bị vây hãm, truy đuổi, bị đe dọa đến tính mạng, bởi vì ông ấy bị nghi ngờ? Thế này là nghĩa làm sao, nghi ngờ? Chúa hành tội ta! nếu ta không xử bắn tất tật những kẻ mà nhà quý phái can đảm đây đã để cho còn sống sót.

- Thưa tướng quân, Digby nói, dáng vẻ thảm hại, chúng tôi có tổng cộng hăm tám người, đã có tám bị hạ.

- Ta cho phép ông bá tước de La Fère gửi nốt hai mươi kẻ còn lại đến chỗ tám tên kia, Monck nói.

Rồi ông ta chìa tay cho Athos.

- Ta về trại thôi, Monck nói. Ông Digby, ông bị phạt cấm túc một tháng.

- Tướng quân…

- Chuyện này sẽ dạy cho anh, lần khác, chỉ được hành động theo đúng mệnh lệnh của ta.

- Tôi đã được lệnh của phó tướng, thưa tướng quân.

- Phó tướng không được phép ra những mệnh lệnh như vậy với anh, chính hắn sẽ bị cấm túc thay cho anh, nếu quả tình hắn đã ra lệnh cho anh thiêu cháy nhà quý phái đây.

- Ông ấy đã không ra mệnh lệnh đó, thưa tướng quân; ông ấy đã ra lệnh dẫn ông ta sang bên trại; nhưng ông bá tước đã không muốn đi theo chúng tôi.

- Tôi đã không muốn để cho người ta vào nhà tôi mà cướp phá, Athos nói, kèm theo một ánh mắt nhiều ẩn ý hướng tới Monck.

- Và ông đã làm rất đúng. Về trại đi, ta đã nói rồi!

Đám lính đi khỏi, đầu cúi gục.

- Giờ, chỉ còn lại chúng ta, Monck nói với Athos, xin ông nói cho tôi biết, thưa ông, tại sao ông cứ nhất định ở lại đây, ông có thuyền cơ mà…

- Tôi đợi ngài, thưa tướng quân, Athos đáp; chẳng phải Tôn Ông đã hẹn gặp tôi trong vòng tám hôm nữa đấy ư?

Một ánh mắt hùng hồn của d’Artagnan tỏ lộ cho Monck thấy rằng hai con người can đảm và trung tín rất mực kia hoàn toàn chẳng hề thông mưu để thực hiện vụ bắt cóc. Ông ta đã biết rồi.

- Thưa ông, ông ta nói với d’Artagnan, ông đã tuyệt đối đúng. Xin ông cho phép tôi nói chuyện riêng với ông bá tước de La Fère một lúc.

D’Artagnan tận dụng lúc này để tới chào Grimaud.

Monck bảo Athos dẫn ông ta vào căn phòng của ông. Căn phòng này vẫn còn ngập ngụa khói và những đổ nát. Hơn năm chục phát đạn đã bắn qua cửa sổ làm tróc lở những bức tường. Trong đó có một cái bàn, một lọ mực cùng tất tật những gì cần cho việc viết lách. Monck cầm lấy một cây bút và viết một dòng duy nhất, ký tên, gập tờ giấy lại, đóng xi niêm bức thư bằng mặt cái nhẫn ông ta đeo trên ngón tay, rồi đưa nó cho Athos, bảo với ông rằng:

- Thưa ông, hãy cầm lấy, bức thư này gửi cho vua Charles Đệ nhị, rồi ông đi khỏi đây luôn đi, nếu không còn điều gì ngăn cản ông nữa.

- Còn mấy cái thùng thì sao? Athos hỏi.

- Mấy người ngư dân đã đưa tôi tới đây sẽ giúp ông chuyển chúng lên tàu. Nếu có thể, ông đi ngay trong vòng một tiếng nữa đi.

- Vâng, thưa tướng quân, Athos đáp.

- Ông d’Artagnan! Monck hét to từ cửa sổ.

D’Artagnan vội chạy lên.

- Hãy ôm hôn bạn của ông, rồi chào ông ấy, thưa ông, vì ông ấy sắp quay về Hòa Lan.

- Hòa Lan! d’Artagnan kêu lên, thế còn tôi?

- Ông được tự do đi theo ông ấy, thưa ông; nhưng tôi xin ông ở lại, Monck đáp. Ông có từ chối tôi chăng?

- Ồ! không, thưa tướng quân. Tôi xin tuân theo mệnh lệnh của ngài.

D’Artagnan ôm hôn A-tố, chỉ vừa kịp có thời gian để từ biệt ông. Monck chăm chú quan sát họ. Rồi ông ta đích thân coi sóc những chuẩn bị cho cuộc khởi hành, việc chuyên chở hai cái thùng lên tàu, rồi thì Athos cũng lên, rồi nắm lấy cánh tay d’Artagnan đang ngây cả ra vì cảm động, dẫn ông đi về phía Newcastle. Vừa để cho Monck lôi đi xềnh xệch, d’Artagnan vừa thấp giọng thì thầm:

- Nào, nào, vậy, ta thấy dường như là thế, cổ phần của hãng Planchet và Compagnie lại lên giá rồi.






XXXI

Monck tỏ lộ hình dáng


D’Artagnan, dầu lòng mầng rỡ khôn xiết kể vì thu được thành công lớn hơn, đã không hiểu thật rõ tình hình. Đối với ông chuyến A-tố đi sang Anh-cát-lị là cả một chủ đề suy tư trầm trọng; mối liên kết kia giữa nhà vua và A-tố cùng là mối quấn quýt lạ thường của dự đồ nơi chàng ta với dự đồ nơi bá tước de La Fère. Tốt hơn hết là cứ để mặc mọi sự trôi đi thôi. Đã xảy ra một sự thiếu cẩn trọng và, mặc dù thành công được đúng như ông đã hứa, d’Artagnan thấy té ra mình chẳng thu được chút lợi thế nào từ thắng lợi. Bởi đã mất hết mọi thứ rồi, người ta chẳng còn mắc phải nguy cơ nào nữa.

D’Artagnan đi theo Monck về giữa trại của ông ta. Sự trở về của ông tướng đã tạo nên một tác động tuyệt vời, vì người ta tưởng đâu ông đã mất tích. Nhưng Monck, vẻ mặt khổ hạnh cùng dáng điệu băng giá, dường hỏi các thống lĩnh dưới quyền đang xăng xái, cùng là lính tráng mầng vui, sao lại rộn ràng lên làm vậy. Thế nên, với viên phó tướng đã tiến tới trước ông ta, bày tỏ với ông ta nỗi lo lắng mình cảm thấy vì sự ông đi mất:

- Tại sao lại thế? ông ta hỏi. Ta có buộc phải báo cáo cho anh không hử?

- Nhưng, thưa Tướng Quân, lũ chiên không người chăn có thể sẽ run rẩy.

- Run rẩy! Monck đáp, giọng thẳng băng và hùng mạnh; a! thưa ông, nói hay quá đó!… Chúa đày đọa ta! nếu lũ chiên của ta chẳng có răng và móng, ta đã chối phắt chẳng muốn trở thành kẻ chăn chúng. A! ra là ông run rẩy đấy, thưa ông!

- Thưa tướng quân, ấy là vì ngài.

- Đừng dính vào những chuyện không quan hệ đến ông, nếu mà ta đây không có nổi cái tinh thần Chúa từng gửi đến cho Oliver Cromwell, thì ta cũng có tinh thần Người đã gửi cho ta; ta sung sướng với nó, dầu nó có nhỏ bé chừng nào.

Viên thống lĩnh không đáp gì, thế là Monck, đã khiến tất cả người của ông ta phải im lặng, ai ai cũng cho ông ta đã thành tựu được một công trình quan trọng hoặc giả đã thử thách bọn họ. Vậy cũng có nghĩa là biết quá ít về cái thiên tài chứa đựng rất nhiều nỗi đắn đo cùng là nhẫn nại kia. Monck, nếu ông ta có lòng tin chuyên nhất của những người thanh giáo, các đồng minh của ông ta, thì ông ta đã phải hết lòng mà cảm tạ vị thánh bảo trợ khiến ông ta bị nhốt vào trong cái hòm của ông d’Artagnan.

Trong khi những chuyện kia diễn ra, viên ngự lâm quân của chúng ta chẳng ngừng nhắc đi nhắc lại:

- Chúa ôi! Người hãy làm cho ông Monck kia không có nhiều lòng tự ái như bản thân tôi đây vẫn có; bởi, tôi đây xin tuyên bố, nếu có kẻ nào đem nhốt tôi vào một cái hòm trổ lỗ bịt lưới sắt ở ngang mồm rồi đưa đi như vậy, vận chuyển như một con bê băng qua biển, thì tôi hẳn sẽ giữ từ chuyện ấy một kỷ niệm thậm tồi tệ về cái nét mặt thảm hại của tôi ở trong cái hòm đó, rồi thì một nỗi hận thật xấu xí với kẻ nào dám nhốt tôi như thế; tôi rất sợ phải chứng kiến bừng nở trên khuôn mặt của cái kẻ ma mãnh kia một nụ cười châm biếm, hoặc giả trong tư thái của ông ta một sự bắt chước thô kệch nào vị thế của tôi đây ở trong cái hòm, đến mức mà, khốn thật!… chắc hẳn là tôi đâm xuyên luôn một mũi dao vào cổ họng hắn cho hắn chết tốt, hòng đền bù cho cái lưới sắt, rồi thì tôi sẽ đóng đinh hắn vào một linh cữu đúng nghĩa nhằm tưởng nhớ cỗ quan tài giả nơi tôi bị nhốt vào để mục người ra suốt hai ngày liền.

D’Artagnan rất đỗi thành thực khi nói vậy, vì con người Gátxcông của chúng ta đây, ấy là một người giàu lòng tự ái lắm đó. Thật may quá, Monck có những ý tưởng khác. Ông ta đã chẳng hề mở miệng nhắc gì đến quá khứ với cái kẻ chiến thắng ông ta đang rụt rè rúm cả người lại kia, không những thế ông ta lại còn để cho kẻ ấy ở sát bên mình, dẫn ông theo trong vài chuyến thám thính, sao cho đoạt được cái điều chắc hẳn ông ta mong mỏi hết lòng, ấy là khôi phục nổi tầm vóc của ông ta trong tâm trí d’Artagnan. D’Artagnan cư xử khéo làm sao: ông ngưỡng mộ tất tật chiến thuật của Monck cùng sự củ soát doanh trại; ông cất lời nói đùa hết sức dễ chịu về kế sách thành cao hào sâu của Lambert, kẻ, ông nói, đã tự làm khó mình một lối vô ích vì đi làm cái trại hẳn cho hai mươi nghìn con người, trong khi lẽ ra chỉ một arpent đất hẳn cũng đã đủ cho ông ta, tên đội của ông ta và năm mươi lính gác có lẽ còn trung thành với ông ta.

Monck, ngay khi về tới nơi, đã nhận lời mời hội kiến, Lambert hôm trước đó đã cho sứ sang, bị các thống lĩnh của Monck từ chối phắt, viện cái cớ tướng quân đang ốm. Cuộc hội kiến ấy không dài cũng chẳng có chi thú vị. Lambert đòi địch thủ phải bày tỏ lòng tin riêng. Đối thủ của ông ta thì tuyên bố mình chẳng có ý kiến nào khác với ý kiến của đa số. Lambert hỏi lẽ đâu sẽ tốt hơn nếu chấm dứt cuộc giằng co bằng một mối liên minh thay vì một trận đánh. Monck, đến lúc này, đòi tám ngày để suy nghĩ. Thế nhưng, Lambert không thể từ chối, dầu Lambert đã tới đây, nói phao lên rằng ông ta sẽ làm cỏ đạo quân của Monck. Vậy nên khi, tiếp sau cuộc hội kiến, cái cuộc gặp người của bên Lambert sốt ruột chờ đợi, chẳng có gì được quyết định, không hiệp ước cũng chẳng đánh đấm, đạo quân nổi loạn bắt đầu, đúng như ông d’Artagnan đã đoán trước, tỏ ra ưa lý tưởng tốt hơn lý tưởng xấu, và đâm ra thiên ái pắc-lơ-măng, dẫu nó có Phao Câu tới mức nào, hơn so với cái trống rỗng hào nhoáng của những dự đồ nơi tướng Lambert.

Ngoài ra, người ta lại còn nhớ nhung những bữa ăn thịnh soạn tại London, bia ale cùng rượu sherry tuôn trào, những thứ mà người trưởng giả Thành Đô thết bạn bè, lính tráng; người ta hãi hùng nhìn thứ bánh mì đen thủi của chiến trận, thứ nước đục ngầu của con sông Tweed, quá mặn chẳng uống nổi, quá ít cho cái nồi, và người ta nhủ thầm trong bụng: “Chẳng phải chúng ta sẽ được sướng hơn nếu ở bờ bên kia đấy chăng? Chẳng phải thịt được nướng ở London cho Monck đấy ư?”

Ngay từ lúc ấy, người ta chỉ còn nghe nói đến sự đào ngũ bên đội quân của Lambert nữa mà thôi. Lính thì bị lôi kéo bởi sức mạnh các nguyên tắc chúng, cũng như kỷ luật, là sợi dây buộc phải có của mọi đám đông được lập ra vì một mục đích nào đó. Monck bảo vệ cho pắc-lơ-măng, còn Lambert thì tấn công nó. Monck chẳng muốn ủng hộ pắc-lơ-măng hơn so với Lambert, nhưng ông ta đã viết điều đó lên những lá cờ của mình, thành thử tất cả những ai thuộc phe đối ngược đành phải viết lên cờ của mình: “Nổi loạn”, cái từ đó vang lên sao mà tệ quá nơi những cái tai thanh giáo. Vậy nên người ta đổ từ bên Lambert sang phe của Monck, giống đám ngư dân từ Baal đến với Chúa.

Monck tính toán: nếu cứ mỗi ngày có một nghìn vụ đào ngũ, Lambert sẽ tiêu tùng trong vòng hai chục ngày; nhưng trong mọi sự gì diễn ra đều có đoạn tăng trưởng của trọng lượng và tốc độ, thế cho nên hôm đầu một trăm kẻ bỏ đi, hôm sau năm trăm, hôm thứ ba là một nghìn. Monck nghĩ vậy là đã đạt mức bình quân rồi. Nhưng kể từ một nghìn, sự đào ngũ mau chóng đạt mức hai nghìn, rồi mức bốn nghìn, rồi thì chỉ tám hôm sau, Lambert, cảm thấy rất rõ là mình chẳng còn đủ khả năng chấp nhận trận chiến nếu như mà bên đối phương thách đấu, chọn lấy giải pháp khôn ngoan là đang đêm người ngậm tăm ngựa ngậm rơm cuốn gói đi khỏi, về luôn London, dọa Monck là sẽ gầy dựng lại lực lượng với đám tàn binh của phe quân đội.

Nhưng Monck, được tự do và chẳng vương nỗi lo lắng nào, tiến quân về London với tư cách người chiến thắng, đội quân của ông ta lớn mạnh thêm trên đường đi nhờ được các đảng ngập ngừng gộp vào. Ông ta tới lập trại tại Barnet, tức là chỉ cách có bốn dặm, pắc-lơ-măng chiều chuộng ông ta lắm, vốn dĩ nó nhìn thấy nơi ông ta một người bảo trợ, và dân chúng thì trông đợi ông ta, họ muốn nom thấy ông ta tỏ lộ hình dáng hòng đánh giá ông ta. Bản thân d’Artagnan cũng đã chẳng thể nào đánh giá điều gì về chiến thuật của ông ta. Ông quan sát, ông ngưỡng mộ. Monck chẳng thể nào vào cứ thế đem quân xông vào London mà không vấp phải ở đó cuộc nội chiến. Ông ta chần chừ một thời gian.

Đột nhiên, đương khi chẳng ai chờ đợi, Monck cho đuổi đi khỏi London phe nhà binh, vào chiếm Kinh Thành ở giữa đám người trưởng giả theo lệnh của pắc-lơ-măng, và rồi, đúng thời điểm đám trưởng giả la hét chống lại Monck, đúng cái thời điểm bản thân lính tráng cũng buộc tội thủ lĩnh của bọn họ, Monck, thấy đã chắc chắn được về đa số, tuyên bố với pắc-lơ-măng Phao Câu rằng cần phải từ nhiệm đi, bỏ quyền lực, rồi nhường chỗ lại cho một chính phủ không phải một trò đùa. Monck lớn lời tuyên bố điều đó, được năm mươi nghìn tay kiếm chống lưng, ngay tối hôm đó lại có thêm, cùng với những tiếng hò reo mầng vui điên cuồng, năm trăm nghìn cư dân thành phố London tốt đẹp tới nhập bọn thêm.

Sau rốt, vào thời điểm dân chúng, sau chiến thắng của ông ta rồi thì sau những bữa tiệc truy hoan ngay giữa phố phường của ông ta, đưa mắt tìm cái người bọn họ rất muốn trở thành ông chủ của mình, thì người ta hay tin một con tàu vừa xuất phát từ La Haye, chở theo Charles Đệ nhị cùng vận hạn của chàng.

- Thưa các ông, Monck nói với các thống lĩnh của mình, tôi xin đi đón đức hoàng thượng hợp pháp. Ai yêu quý tôi thì hãy đi theo tôi!

Tiếng hoan hô dậy trời đất đón chào câu nói ấy, d’Artagnan nghe mà không khỏi thấy mình run lên vì hoan hỉ.

- Khốn thật! ông nói với Monck, cú này tợn quá đó, thưa ngài.

- Ông đi cùng tôi chứ, phải chăng? Monck hỏi.

- Trời ạ, thưa tướng quân! Nhưng, xin nói cho tôi biết, ông đã viết gì đưa cho anh A-tố thế, à tức là ông bá tước de La Fère… ông cũng biết đấy… cái hôm chúng ta đặt chân tới đây?

- Tôi chẳng có bí mật nào đối với ông đâu, Monck đáp: tôi đã viết dòng chữ sau đây: “Thưa Bệ Hạ, sáu tuần nữa hạ thần xin đợi Hoàng Thượng tại Douvres.”

- A! d’Artagnan bật thốt, tôi sẽ không nói nó tợn nữa; mà tôi nói, tài tình quá. Cú này thật tuyệt.

- Ông quá rành sáu câu vọng cổ còn gì, Monck chỉ đáp.

Đó là lời ám chỉ duy nhất tướng quân từng có bao giờ nói ra, quan hệ tới chuyến hải hành của ông ta sang bên Hòa Lan.






XXXII

Bằng cách nào mà Athos và d’Artagnan gặp lại nhau thêm lần nữa nơi ngôi khách sạn Sừng Hoẵng


Vua Anh-cát-lị uy nghi tiến vào Douvres, rồi sau đó ngài tiến về London. Ngài đã cho vời mấy người em trai; ngài đã dẫn theo mẹ cùng em gái của ngài. Nước Anh từ lâu lắm bị phó mặc cho chính nó, tức là cho chế độ bạo chúa, cho sự tầm thường và cho sự loạn óc, thành thử cuộc trở về ấy của vua Charles Đệ nhị, dầu là nhân vật dân Anh chỉ biết tới là con trai một người mà bọn họ đã cắt phăng thủ cấp, là cả một bữa tiệc cho ba vương quốc. Vậy nên, tất tật những lời chúc tụng, tất tật những tung hô vang lên trong suốt cuộc trở về đã gây tác động to lớn lên ông vua trẻ, tới độ ngài nghiêng người nói thầm vào tai Jack d’York, em trai của ngài, câu sau đây:

- Nói thật lòng, Jack, ta thấy dường chúng ta lỗi lớn quá bởi chúng ta đã vắng mặt lâu đến vậy khỏi một đất nước có thần dân yêu quý chúng ta nhường kia.

Đoàn diễu tráng lệ lắm. Thời tiết thì tuyệt đẹp lại càng gây thêm vẻ trang trọng. Charles đã thu hồi được toàn bộ tuổi trẻ của chàng, toàn bộ tâm trạng phơi phới ở nơi chàng; chàng như thể đã biến đổi hẳn; những trái tim cũng tươi cười với chàng, giống mặt trời.

Trong cái đoàn đông đảo ồn ào của những triều thần cùng người chiêm ngưỡng, những kẻ dường chẳng còn nhớ chính bọn họ từng đưa lên đoạn đầu đài tại White-Hall phụ thân của nhà vua mới, một người đàn ông, bận trang phục thống lĩnh ngự lâm quân, nhìn ngắm, cái miệng mím mỏng và đầy tinh quái nở nụ cười, lúc thì dân chúng gào thét những lời ca tụng, khi ông vua tỏ bày tình nồng nhiệt và chào nhiều nhất các phụ nữ ném bó hoa của họ xuống dưới chân con ngựa ngài cưỡi.

- Làm vua là một cái nghề mới đẹp sao! người ấy nói, ông say sưa ngắm nghía, nhập tâm đến độ dừng lại ngay giữa đường, để mặc cho đám diễu đi qua. Quả, kia là một ông vua lấp lánh vàng cùng kim cương giống Salomon, điểm trang đầy hoa như một cánh đồng mùa xuân vậy; ngài ấy sẽ vọc tay vào cái hòm lớn lao, nơi mà thần dân của ngài ấy, hôm nay mới trung thành làm sao, còn trước mới thiếu trung thành ghê chứ, đã thu thập lại cho ngài ấy, vài xe kéo chở toàn thoi vàng. Người ta tung hoa lên ngài ấy, nhiều tới nỗi khéo mà làm ngài ấy bị chết chìm luôn trong đó, thế mà mới cách đây có hai tháng thôi, nếu ngài ấy mà xuất hiện, chắc hẳn người ta sẽ bắn vào ngài ấy số đạn đại bác và đạn súng ngang với mức hôm nay đây bọn họ tung hoa lên ngài ấy. Nhất quyết, sinh ra trên đời theo một cách thức riêng cũng có ý nghĩa nào đó đấy chứ, dầu vậy thì sẽ gây khó chịu lắm cho lũ khốn kiếp cứ khăng khăng bảo rằng bọn họ sinh ra đã là kẻ khốn kiếp thì cũng có quan trọng gì đâu.

Đoàn diễu hành vẫn tiếp tục đi, rồi thì, cùng với ông vua, những tiếng hò reo bắt đầu đi xa dần về hướng tòa cung điện, điều này chẳng hề ngăn viên thống lĩnh của chúng ta bị xô đẩy thật dữ.

- Khốn thật! con người ưa lý luận lại tiếp, biết bao nhiêu kẻ giẫm lên chân ta, lại còn nhìn ngó ta như thể ta đây hèn kém lắm, hoặc là chẳng ra cái giống gì, bởi bọn họ là người Anh còn ta đây là người Pháp. Nếu đi mà hỏi tất tật đám người kia: “Ông d’Artagnan là ai thế?” thì chắc bọn họ sẽ đáp như thế này: “Nescio vos”. Nhưng nếu nói với bọn họ: “Kìa hoàng thượng đang đi qua, kìa ngài Monck đang đi qua”, thì bọn họ sẽ hú tướng lên: “Hoàng Thượng vạn tuế, Ngài Monck vạn tuế!” cho tới tận khi nào mấy lá phổi của bọn họ từ chối không chịu phục vụ nữa. Dẫu vậy, ông ta lại tiếp, vừa nói tiếp vừa nhìn, với cái ánh mắt tinh quái làm vậy và lắm khi kiêu hãnh làm vậy, đám đông trôi đi, tuy nhiên, hãy suy nghĩ một chốc lát đi nào, hỡi những con người tốt đẹp kia, đến những gì vua Charles của các người đã làm, đến những gì ngài Monck đã làm, rồi lại để tâm tới những gì cái kẻ xa lạ nghèo khổ hay được gọi là ông d’Artagnan đây đã làm. Quả đúng, các người chẳng biết được đâu, vì ông ta là một kẻ lạ, có lẽ điều này ngăn cản các người suy nghĩ. Nhưng mà, chậc chậc! quan trọng quách gì đâu! cái đó đâu ngăn Charles Đệ nhị là một ông vua vĩ đại, dầu cho ngài ấy đã sống đời lưu vong suốt mười hai năm ròng, và ngài Monck là một đầu lĩnh vĩ đại, mặc cho ông ta đã đi một chuyến sang Pháp trong một cái hòm. Ấy vậy mà, bởi tất cả đều công nhận một người là ông vua vĩ đại, còn người kia là vị đầu lĩnh vĩ đại, thế cho nên: Hurrah for the king Charles II! Hurrah for the captain Monck!

Giọng của ông hòa lộn vào với giọng hàng nghìn người đi xem, lừng vang nổi bật hẳn một lúc; rồi thì, nhằm chứng tỏ rõ thêm mình là con người tận tụy tới mức nào, ông giơ cao cái mũ lên. Ai đó chặn tay ông lại ngay giữa lúc nó đang thể hiện lòng trung quân dạt dào. (Hồi 1660 người ta gọi cái đó như vậy, còn giờ đây người ta gọi là bảo hoàng.)

- A-tố! d’Artagnan kêu lên. Anh ở đây?

Hai người bạn ôm chầm lấy nhau.

- Anh ở đây! và vì đang ở đây, người ngự lâm lại tiếp, anh không ở giữa các triều thần, bá tước yêu quý của tôi? Gì! anh là người hùng của bữa tiệc, vậy mà anh không cưỡi ngựa vắt vẻo bên tay trái Hoàng Thượng vừa mới trung hưng, giống ngài Monck cưỡi ngựa bên tay phải ngài! Nói thật, tôi chẳng hiểu nổi li hào nào tính cách anh, cũng như tính cách cái ông vua vốn dĩ phải nợ anh rất nhiều kia.

- Vẫn hay nói nhạo như ngày xưa, d’Artagnan yêu quý của tôi ơi, A-tố nói. Tức, anh chẳng bao giờ sửa nổi cái khiếm khuyết xấu xí đó nhỉ?

- Nhưng sau rốt, anh không đi cùng đoàn diễu hành?

- Tôi đâu có thuộc thành phần đoàn diễu hành, bởi tôi đã chẳng hề muốn vậy.

- Thế tại sao anh lại chẳng hề muốn vậy?

- Vì tôi vốn chẳng phải phái viên, hay sứ thần, hay đại biện cho vua nước Pháp, thật không thích hợp nếu tôi thò mặt ra như thế bên cạnh một ông vua khác Chúa đã chẳng hề trao cho tôi để làm ông chủ.

- Khốn thật! anh từng ló mặt ngay cạnh ông thân phụ tiên vương của ngài ấy còn gì.

- Đó là chuyện khác, bạn ơi: khi đó ngài ấy sắp chết.

- Và thế nhưng những gì anh đã làm cho cái ông vua này…

- Tôi đã làm vì tôi phải làm. Nhưng, anh cũng biết đấy, tôi chán ghét mọi sự phô trương. Hoàng thượng Charles Đệ nhị, giờ chẳng cần tôi nữa, cầu mong ngài ấy để tôi lại trong sự ngơi nghỉ, trong bóng tối của tôi, ấy là điều duy nhất tôi đòi từ ngài ấy.

D’Artagnan thở dài thườn thượt.

- Anh sao vậy? A-tố hỏi, nghe cứ như là cuộc trở về London đầy sung sướng của đức vua khiến anh buồn lòng ấy, bạn ơi, mà vốn dĩ anh đã làm rất nhiều việc cho Bệ Hạ, ít nhất cũng phải ngang cỡ với tôi đây.

- Chẳng phải, d’Artagnan nói, cười lớn, cái tiếng cười Gátxcông của ông, tôi cũng đã làm rất nhiều việc cho Bệ Hạ, dầu chẳng ai biết gì?

- Ồ! phải chứ, A-tố kêu lên; và nhà vua biết rõ lắm, bạn ơi.

- Ngài ấy biết? người ngự lâm chua chát hỏi lại; nói thật nhé, tôi chẳng tin đâu, thậm chí tôi còn đang cố gắng quên đi nữa kia.

- Nhưng ngài ấy, bạn ơi, sẽ không quên đâu, tôi xin cam đoan đấy.

- Anh chỉ nói vậy hòng an ủi tôi đây tí ti mà thôi, A-tố anh ơi.

- Về điều gì?

- Khốn thật! về tất tật những món tổn phí tôi đã phải bỏ ra! Tôi khánh kiệt rồi, bạn ơi, trụi thùi lụi vì cuộc trung hưng của ông vua trẻ vừa mới đi ngang trên con ngựa lông vàng bờm đen của ngài ấy.

- Đức vua không biết là anh bị khánh kiệt, bạn ơi, nhưng ngài ấy biết là ngài ấy nợ anh rất nhiều.

- Thế điều đó có giúp được gì cho tôi không vậy, hở A-tố anh ơi? nói nghe thử nào! bởi sau rốt, tôi sẽ công bằng với anh, anh đã làm việc lối cao quý lắm. Còn tôi, tôi đây, ở vẻ bên ngoài, tôi làm cho mưu của anh bị hỏng, trên thực tế chính tôi đây là kẻ làm cho nó thành công đấy. Anh cố theo nổi tính toán của tôi nhé: lẽ ra rất có thể anh đã chẳng thể nào, nhờ vào sự thuyết phục và lòng dịu dàng, thuyết được tướng Monck, trong khi mà tôi đây, tôi đã xử rất mạnh tay với ông ta, cái ông tướng yêu quý đó, đến nỗi mà tôi đã bày cho ông vua của anh cơ hội được tỏ ra mình rộng lượng lắm; cái sự rộng lượng ấy đã được truyền cảm hứng từ trò dại dột đầy phúc lành của tôi, Charles đã được đền bù do cuộc trung hưng Monck thực hiện cho ngài ấy.

- Tất tật điều này, bạn yêu quý ơi, vô cùng đúng, A-tố đáp.

- Ơ kìa, dẫu nó vô cùng đúng, cái sự thật đó, thì cũng không kém phần đúng, bạn yêu quý, rằng tôi sẽ quay trở về, mà tôi đây được tướng Monck cưng chiều lắm nhé, suốt cả ngày ông ta gọi tôi là my dear captain, dầu cho tôi chẳng hề là người yêu quý của ông ta, cũng đâu phải thống lĩnh dưới quyền ông ta, lại thêm được nhà vua coi trọng hết mức, ngài ấy đã kịp quên tên tôi rồi; cũng không kém phần đúng, tôi đang nói dở, rằng tôi sẽ quay trở về đất nước tươi đẹp của tôi, bị nguyền rủa từ miệng những tên lính tôi đã tuyển mộ với mong mỏi được nhận tiền khấm khá, bị luôn cả Planchet trung hậu nguyền rủa nữa, tôi đã vay hắn một phần tài sản của hắn đấy.

- Sao lại thế? Planchet xen vào tất tật chuyện này là nghĩa quái quỷ gì vậy?

- Kìa! phải, bạn yêu quý: cái ông vua trông đến là bảnh chọe kia, tươi cười làm sao, được ngưỡng mộ làm bao, ngài Monck thì cứ nghĩ mình đã gọi ngài ấy về, anh thì cứ nghĩ mình đã giúp cho ngài ấy, tôi lại nghĩ mình đã đưa ngài ấy về, dân chúng nghĩ đã tái chinh phục được ngài ấy, bản thân ngài ấy thì nghĩ mình đã thương thuyết rất tài cho nên trung hưng được, nhưng tất tật những điều ấy đâu có đúng: Charles Đệ nhị, vua Anh-cát-lị, Ê-cốt cùng Ái-nhĩ-lan, đã được đặt trở lại lên ngai vàng của ngài ấy bởi tay một tên chủ tiệm thực phẩm bên Pháp ngụ trên phố Lombards, hay được gọi là Planchet. Sự vĩ đại là như vậy đấy! “Phù phiếm! Thánh Kinh nói vậy; phù phiếm! thảy chỉ đều là phù phiếm mà thôi!”

A-tố không sao nín cười vì câu đùa tợn quá của bạn.

- D’Artagnan yêu quý ơi, ông nói, trìu mến nắm lấy tay người đối diện, chẳng phải anh chính là một triết gia đó ư? Đối với anh chẳng còn là nỗi sung sướng nữa ư, khi mà anh đã cứu mạng tôi giống như anh đã làm lúc mà may làm sao anh cùng Monck tới, lũ giời đày theo đuôi pắc-lơ-măng kia định thiêu cháy tôi đó?

- Nào, nào, d’Artagnan đáp, lẽ ra anh nên bị nướng mới phải, bá tước yêu quý ơi.

- Sao! bởi vì đã cứu cho vua Charles một triệu ư?

- Triệu nào đấy?

- A! đúng rồi, anh chưa bao giờ biết chuyện này, anh, bạn ơi; nhưng đừng có trách tôi đấy nhé, đó chẳng phải bí mật của tôi. Cái từ Remember! vua Charles đã thốt ra trên đoạn đầu đài…

- Có phải từ ấy muốn nói Hãy nhớ lấy?

- Đúng tuyệt đối. Cái từ ấy muốn nói như sau: Hãy nhớ lấy, rằng có một triệu chôn dưới hầm ở Newcastle, và một triệu đó thuộc về con trai trẫm.

- A! tốt quá, tôi hiểu rồi. Nhưng tôi cũng hiểu luôn, cái này thì gớm ghiếc lắm nhé, rằng, mỗi lần nào Hoàng Thượng Charles Đệ nhị nghĩ đến tôi đây, ngài ấy sẽ nhủ thầm trong bụng: “Đó là một kẻ thiếu điều đã làm ta mất tiêu vương miện. Thật may vì ta đã tỏ ra hào hiệp, to lớn, tâm trí nó thoáng đạt quá.” Đó là điều cái nhà quý phái trẻ tuổi bận áo chẽn màu đen xơ xác kia sẽ nói về tôi, ngài ấy từng đến lâu đài Blois, mũ cầm tay, hỏi tôi có cho phép ngài ấy vào gặp vua Pháp hay chăng.

- D’Artagnan! d’Artagnan! A-tố nói, đặt tay lên vai người ngự lâm quân, anh không công bằng rồi đó.

- Tôi đâu có quyền gì để mà công bằng.

- Không, vì anh chẳng hề biết tương lai.

D’Artagnan lé mắt nhìn bạn mình rồi phá lên cười.

- Thật thế, anh A-tố yêu quý ơi, ông nói, anh biết nói toàn lời hay ý đẹp vốn dĩ tôi đây chỉ biết đến từ anh cùng là ngài giáo chủ Mazarin thôi.

A-tố thoáng giật mình.

- Xin lỗi nhé, d’Artagnan cả cười nói tiếp, xin lỗi nếu như mà tôi xúc phạm tới anh. Tương lai! hự! những từ đẹp đẽ, những từ hứa hẹn, sao mà chúng giỏi tọng cho đầy mồm miệng khi thiếu mất những thứ khác vậy cơ chứ! Khốn thật! sau khi đã tìm ra vô số kẻ hứa hẹn, chừng nào thì tôi mới kiếm nổi một người chịu chi đây? Nhưng thôi bỏ đi, d’Artagnan lại tiếp. Anh làm gì ở đây thế hả, anh A-tố yêu quý? anh có phải quan chưởng kho lẫm của vua không thế?

- Thế nào kia? quan chưởng kho lẫm của vua?

- Phải rồi, vì vua có tận một triệu, thì cũng phải có người trông coi chứ. Vua Pháp ấy mà, ngài ấy chẳng có lấy một xu, thế mà cũng có một ông quan tổng quản kinh tài nhé, ngài Fouquet đó. Quả đúng thật, để đổi lại, ngài Fouquet thì lại có nhiều triệu liền.

- Ồ! cái triệu của chúng tôi đây đã tiêu hết sạch từ lâu rồi, đến lượt mình A-tố phá lên cười, nói.

- Tôi hiểu, nó đã bị biến thành xa tanh, đá quý, nhung gấm rồi thì lông chim đủ loại đủ màu. Tất tật những ông hoàng bà chúa kia đều rất mực cần thợ may rồi thì thợ khâu… Này! anh A-tố, anh có còn nhớ chúng ta đã tiêu pha những gì để trang bị cho chúng ta, hồi chiến dịch La Rochelle, rồi thì lại còn phải phi ngựa xông vào nữa, anh còn nhớ chăng? Dăm ba nghìn livre, Trời ơi! nhưng mà một cái áo nịt của nhà vua thì nó lớn hơn nhiều lắm, phải cần tận một triệu để mà mua vải. Ít nhất, anh nói đi, anh A-tố, nếu chẳng phải quan chưởng coi ngự phủ, anh có phải người của triều đình không?

- Xin lấy lòng tin nhà quý phái ra mà nói, tôi chẳng biết gì đâu, A-tố chỉ đáp có vậy.

- Nào, kìa! anh không biết?

- Không, tôi chưa hề gặp lại vua kể từ lúc ở Douvres.

- Thế có nghĩa ngài ấy cũng đã quên luôn anh rồi đó, khốn thật! đẹp mặt chưa kìa!

- Hoàng Thượng bận nhiều việc!

- Ồ! d’Artagnan kêu lên, kèm một cú nhăn mặt rất nhộn chỉ mình ông mới biết làm, kìa, lấy danh dự mà nói, tôi thấy mình lại đâm ra yêu monsignor Giulio Mazarini rồi đấy. Thế nào kia! anh A-tố yêu quý, vua còn chưa gặp lại anh ư?

- Chưa.

- Rồi thì anh không giận dữ?

- Tôi ư! tại sao? Có phải anh nghĩ, d’Artagnan yêu quý của tôi ơi, rằng tôi đã hành động như thế là vì nhà vua? Tôi đâu có quen biết cái chàng thanh niên ấy. Tôi từng bảo vệ ông bố, đối với tôi ông ấy từng đại diện cho một nguyên tắc thiêng liêng, thế cho nên tôi đã để mặc cho mình tiến về phía người con trai, vẫn do thiện cảm với cùng nguyên tắc đó. Thêm nữa, cái ông tiên vương phụ thân ấy, anh còn nhớ chứ, là một hiệp sĩ kỳ vĩ, một con người phàm tục nhưng cao quý.

- Có thế thật, một con người trung hậu quá, và rất tuyệt, đời ông ấy tệ quá nhỉ, nhưng cái chết thì thật đẹp.

- Ấy cho nên, anh d’Artagnan yêu quý, anh hãy hiểu điều này: với ông vua đó, với con người thuần hậu đó, với người bạn trong tâm tư tôi đó, nếu như mà tôi dám nói thế, tôi đã có lời thệ, vào giây phút sau chót, là sẽ trung tín mà giữ bí mật về một món quý được cất giấu, rồi về sau trao nó lại cho con trai ông ấy nhằm giúp cậu con trai khi có dịp; chàng thanh niên ấy đã đến gặp tôi; chàng ta đã kể cho tôi nỗi thống khổ của chàng, chàng ta chẳng hề hay biết đối với chàng ta tôi đâu chỉ là một kỷ niệm sống về phụ thân của chàng ta; tôi đã thành tựu cho Charles Đệ nhị điều tôi đã hứa với Charles Đệ nhất, chỉ vậy thôi. Thế nên có quan trọng gì với tôi đâu nếu ngài ấy biết ơn hay không! Chính là để cho tôi mà tôi đã thực hiện công việc đấy chứ, nhằm tự giải thoát cho mình khỏi món trách nhiệm kia, chứ chẳng phải cho ngài ấy.

- Tôi vẫn hay nói, d’Artagnan thở dài đáp lại, rằng sự không màng lợi ích chính là điều đẹp đẽ nhất trên cõi đời.

- Mà này! bạn yêu quý, A-tố lại nói, chẳng phải chính anh cũng ở vào cùng hoàn cảnh với tôi đấy ư? Nếu tôi hiểu đúng lời anh, thì lòng anh đã bị cảm động trước nỗi bất hạnh của chàng trẻ tuổi kia; từ phía anh chuyện còn đẹp hơn nhiều so với từ phía tôi, bởi tôi thì tôi có một bổn phận phải hoàn thành, trong khi mà anh, anh tuyệt đối chẳng nợ gì với con trai của người tử đạo. Anh đã chẳng hề cần phải trả cho ngài ấy cái giá của giọt máu quý giá từng rỏ xuống trán tôi đây từ sàn đoạn đầu đài. Thứ đã khiến anh hành động chỉ thuần là trái tim mà thôi, cái trái tim cao quý và tốt lành mà anh mang bên dưới vẻ hoài nghi của anh, bên dưới sự châm biếm chua cay của anh; anh đã đoạt lấy tiền bạc của một tên hầu, có lẽ chính là tiền bạc của anh luôn, tôi ngờ lắm, cái đồ hà tiện hảo tâm kia! và rồi người ta chẳng mấy biết đến sự hy sinh của anh. Quan trọng gì đâu kia chứ! anh muốn trả lại cho Planchet tiền của hắn phải không? Tôi hiểu điều đó, bạn ơi, vì thật bất tiện nếu như mà một nhà quý phái đi vay tiền của kẻ thuộc hạ mà chẳng chịu trả cả gốc lẫn lãi. Thì, tôi sẽ bán đất La Fère, nếu cần, hoặc giả, cần hơn nữa, bán đi một trang trại nhỏ nào đó. Anh sẽ trả lại tiền cho Planchet, thế rồi, cứ tin lời tôi, sẽ vẫn còn lại cho chúng ta cùng cả Raoul chút gì đó trên gác xép nhà tôi. Theo lối ấy, bạn ạ, anh sẽ chỉ còn bổn phận với chính anh nữa mà thôi, mà nếu đúng tôi biết rõ anh, tâm trí anh sẽ được sung sướng lắm khi nhủ thầm: “Ta đã tạo ra một ông vua.” Tôi nói có đúng?

- Anh A-tố! Anh A-tố! d’Artagnan, vẻ mơ mộng, thì thầm, tôi từng nói với anh một lần rồi, ngày nào anh đi giảng đạo, tôi sẽ tới nghe lễ; ngày nào anh bảo với tôi là quả có địa ngục thật, khốn chưa! thì tôi sẽ sợ lò lửa và đinh ba. Anh tốt đẹp hơn tôi, hay nói đúng hơn, anh tốt đẹp hơn tất cả mọi người, tôi đây chỉ tự công nhận là tôi có độc một phẩm tính mà thôi, ấy là tôi không ghen tị. Ngoài cái khiếm khuyết đó ra, Chúa đày đọa tôi! như người Anh vẫn hay nói, tôi có tất tật mọi tật xấu khác.

- Tôi chẳng biết một ai đáng giá ngang được với d’Artagnan, A-tố đáp; nhưng chúng ta đã yên lành đến cái nhà tôi đang ở rồi. Anh có muốn vào nhà tôi không thế, bạn ơi?

- Kìa! nhưng đây là quán Sừng Hoẵng, có đúng không? d’Artagnan nói.

- Tôi xin thú nhận với anh, bạn ạ, tôi đã chọn nó một phần cũng vì vậy. Tôi thích những mối quen biết cũ, tôi thích ngồi vào đúng cái nơi tôi từng ngã lăn ra vì quá mệt, tuyệt vọng khôn cùng, lúc anh quay trở lại, vào tối ngày 31 tháng Giêng.

- Sau khi đã phát hiện được nơi ở của tên đao phủ mang mặt nạ? Phải rồi, đó là một ngày khủng khiếp!

- Thế thì vào thôi, A-tố nói, ngắt ngang lời ông.

Họ bước vào gian phòng xưa kia là phòng chung. Cả quán, nói riêng là phòng này, đã thay đổi nhiều; chủ ông cũ của các ngự lâm quân, đã trở nên giàu có không còn thích hợp hành nghề chủ quán trọ nữa, đã đóng cửa tiệm rồi biến gian phòng chúng tôi đang nhắc đây thành một kho chứa hàng hóa chuyển từ thuộc địa về. Phần còn lại của ngôi nhà, ông ta cho người ngoại quốc thuê, kèm đủ đồ đạc.

D’Artagnan bồi hồi khôn xiết kể nhìn lại mọi thứ đồ trong gian phòng nơi từng trên: đồ gỗ, rồi thì thảm và cho tới cả tấm bản đồ Bô-tố từng thích thú xem xét kỹ lưỡng vô cùng.

- Mười một năm rồi đó! d’Artagnan kêu lên. Khốn thật! tôi thấy như là đã cả một thế kỷ trôi qua.

- Còn với tôi thì như thể mới chỉ một ngày, A-tố nói. Anh cũng thấy tôi mầng lòng đến thế nào, bạn ơi, khi nghĩ rằng tôi giữ anh ở đây, tôi bắt tay anh, tôi có thể vứt ra xa thanh gươm cùng con dao găm, chẳng chút nghi ngại chạm tay vào chai rượu sherry kia. Ôi! cái niềm vui đó, nói cho đúng, hẳn tôi sẽ chỉ có thể diễn tả được cho anh nếu như mà hai người bạn của chúng ta ở đây, ngồi nơi hai góc cái bàn này, rồi Raoul nữa, Raoul yêu quý của tôi, đứng trên ngưỡng cửa, nhìn chúng ta bằng cặp mắt lớn long lanh và êm ả!

- Phải rồi, phải rồi, d’Artagnan nói, cảm động hết sức, đúng thế. Nhất là tôi tán thành đoạn đầu ý nghĩ của anh: thật êm dịu khi được mỉm cười tại cái nơi chúng ta từng run lên vì sợ theo lối chính đáng đến thế, nghĩ rằng bất kỳ lúc nào ông Mordaunt cũng có thể xuất hiện ngoài thềm nhà.

Đúng lúc đó, cửa bật mở, d’Artagnan, dầu can đảm đến mấy, không sao kiềm chế nổi một thoáng hoảng hốt.

A-tố hiểu điều đó, ông mỉm cười:

- Là chủ ông của tôi đó, ông nói, ông ấy mang thư tới cho tôi.

- Vâng, milord, người kia cất tiếng, đúng là tôi mang một bức thư cho Tôn Ông đây ạ.

- Cám ơn, A-tố nói và cầm lấy bức thư mà chẳng hề nhìn nó. À này, ông chủ thân mến, ông không nhận ra ông đây ư?

Ông già ngẩng đầu lên, chăm chú nhìn d’Artagnan.

- Không, ông ta đáp.

- Đây là, A-tố nói, một trong mấy người bạn tôi đã nhắc với ông, ông ấy từng ở đây cùng tôi, hồi mười một năm trở về trước.

- Ồ! ông già đáp, nơi này từng có biết bao người ngoại quốc!

- Nhưng chúng tôi đã trọ ở đây vào ngày 30 tháng Giêng năm 1641, A-tố nói thêm, tưởng nếu thêm chi tiết đó thì có thể tiêm thuốc kích thích vào nổi ký ức biếng nhác của chủ ông.

- Cũng có thể, ông ta mỉm cười đáp, nhưng lâu quá rồi!

Ông ta chào và đi ra.

- Cám ơn, d’Artagnan nói, hãy cứ lập cho nhiều chiến công, làm các cuộc cách mạng, tìm cách dùng gươm sắc khắc tên ta lên đá hoặc lên thép, thì vẫn cứ có một thứ nhiều nổi loạn hơn, cứng hơn, hay quên hơn sắt, thép và đá, đó là cái đầu già nua của bất kỳ chủ nhà giàu có nào; lão không nhận ra tôi đấy! Kìa, thiếu điều thì tôi đã thực sự nhận ra lão.

A-tố, vẫn mỉm cười, bóc niêm bức thư.

- A, là thư của Parry.

- Ồ! ồ! d’Artagnan nói, đọc đi nào, bạn ơi, đọc đi, chắc có tin mới đấy.

A-tố lắc đầu, rồi ông đọc:


“Thưa ông bá tước,

Hoàng thượng rất lấy làm tiếc vì hôm nay ngài ngự không thấy ông ở bên ngài ngự lúc tiến vào cung điện; Bệ Hạ hạ lệnh cho tôi phải mời ông, phải nhắc cho ông nhớ tới hoàng thượng. Bệ Hạ sẽ đợi Tôn Ông tối nay, tại cung điện Saint-James, từ chín đến mười một giờ.

Rất mực kính ngưỡng, thưa bá tước Tôn Ông,

Kẻ hèn mọn hầu hạ tận tụy của ông,

                                 Parry.”


- Anh thấy chưa nào, d’Artagnan yêu quý, A-tố nói, không được tuyệt vọng về trái tim các ông vua chứ.

- Đừng tuyệt vọng về cái đó, anh đúng, d’Artagnan đáp.

- Ồ! bạn yêu quý, bạn rất yêu quý ơi, A-tố lại nói, ông đã không bỏ qua vẻ chua chát khó đoán nơi d’Artagnan, xin lỗi nhé. Hay là tôi đã, dẫu chẳng mong muốn, gây tổn thương cho người bạn thân quý nhất của tôi, chăng?

- Anh điên rồi, A-tố, bằng chứng là tôi sẽ đi cùng anh tới lâu đài, đến tận cổng luôn nhé; vậy, tôi sẽ được đi dạo bộ.

- Anh sẽ vào cùng tôi, bạn ạ, tôi muốn nói với Bệ Hạ…

- Nào! d’Artagnan đáp, với một vẻ kiêu hãnh đích thực, không gợn chút tạp chất nào, nếu còn có điều gì tệ hại hơn cả tự thân đi ăn mày, thì đó chính là nhờ người khác đi ăn mày hộ. Kìa, ta đi thôi, bạn ơi, chuyến dạo bộ sẽ tuyệt lắm đây; nhân tiện tôi cũng muốn chỉ cho anh nhà của ngài Monck, ông ấy đã kéo tôi về nhà ở cùng: một ngôi nhà đẹp lắm nhé, Trời ơi! Làm tướng quân ở bên Anh này kiếm bộn hơn làm thống chế tại Pháp đấy, anh có biết không?

A-tố để mặc cho bạn kéo mình đi, buồn bã rất mực vì cái vẻ vui tươi d’Artagnan đang vờ tỏ lộ kia.

Cả thành phố phấn chấn lắm; chốc chốc hai người bạn lại vấp phải những kẻ hào hứng, bọn họ, say sưa chuếnh choáng, đòi hai người phải hét: “Hoàng thượng Charles anh minh vạn tuế!” D’Artagnan chỉ gầm gừ đáp lại, còn A-tố, đáp bằng một nụ cười. Cứ thế, họ đến chỗ nhà của Monck, như chúng tôi đã nói, cần phải đi qua cái nhà đó thì mới tới được cung điện Saint-James.

A-tố cùng d’Artagnan trên đường đi chẳng nói chuyện mấy, ấy hẳn là bởi họ có quá nhiều điều để nói với nhau, nếu mà mở miệng nói. A-tố nghĩ rằng, nếu nói, hẳn ông sẽ tỏ bày lòng vui, và cái lòng vui ấy hẳn sẽ có thể gây tổn thương cho d’Artagnan. Còn d’Artagnan, sợ rằng nếu nói thì sẽ để lộ ra vẻ chua cay khiến đối với A-tố ông trở nên kẻ gây phiền. Đó là một cuộc đè nén câm lặng lạ thường giữa niềm sung sướng và tâm trạng tệ hại. D’Artagnan thua cuộc trước, bởi ông quá mức ngứa ngáy, cái thứ ông vẫn thường hay cảm thấy nơi đầu lưỡi.

- Anh có nhớ chăng, A-tố, ông nói, cái đoạn trong hồi ký của d’Aubigné, nói rằng cái kẻ bầy tôi tận tụy, vốn dĩ cũng là người Gátxcông giống như tôi, lại cũng nghèo khổ giống như tôi, suýt thì tôi còn nói cũng can đảm giống như tôi, kể về những trò keo kiệt của Henri Đệ tứ? Ông thân tôi vẫn nói với tôi suốt, tôi nhớ lắm, rằng ông d’Aubigné nói dối. Ấy thế nhưng, hãy cứ thử xem cho kỹ, tất tật các ông vua hậu duệ của Henri vĩ đại đều mắc cái tính đó!

- Nào, nào, d’Artagnan ơi, A-tố đáp, các ông vua Pháp hà tiện ấy hả? Anh điên rồi, anh bạn ạ.

- Ồ! anh chẳng bao giờ chịu thừa nhận những tật xấu của kẻ khác, bởi vốn dĩ anh hoàn hảo quá. Nhưng, trên thực tế, Henri Đệ tứ hà tiện, Lô y Thập tam, con trai ông ta, cũng vậy; chúng ta đây cũng biết được đôi chút về cái đó, có đúng không nào? Gaston thì đẩy cái tật ấy đến tận mức cực đại, và ở phương diện này khiến cho mọi kẻ nào ở bên ông ta đều đâm căm ghét ông ta. Henriette, người phụ nữ khốn khổ ấy! trở nên bủn xỉn là quá tốt, đâu phải ngày nào bà ấy cũng được ăn và chẳng phải năm nào cũng được sưởi; ấy chính là một tấm gương bà ấy nêu cho con trai Charles thứ hai của bà ấy, tức là cháu của Henri Đệ tứ vĩ đại, hà tiện y như mẹ và như người ông. Kìa, tôi suy luận có chuẩn xác về phả hệ những kẻ hà tiện hay chăng?

- D’Artagnan bạn ơi, A-tố kêu lên, anh quá khắc nghiệt với dòng giống những con đại bàng người ta gọi là nhà Bourbon đấy.

- Mà tôi còn quên bẵng cái hình mẫu đẹp nhất nữa đó!… đứa cháu kia của con người xứ Béarn, Lô y Thập tứ, cựu chủ ông của tôi. Nhưng tôi mong mỏi ngài ấy hà tiện, cái ngài ấy, người từng chẳng muốn cho người anh em Charles của ngài ấy vay một triệu! Thôi được rồi! tôi thấy là anh đang nổi giận. Thật may quá đi, chúng ta đến gần nhà tôi rồi, hay nói cho đúng hơn, gần nhà ông bạn Monck của tôi.

- D’Artagnan yêu quý, anh không hề làm tôi nổi giận, mà anh làm tôi buồn; thật thế, bất nhẫn quá khi phải chứng kiến một con người thế giá như anh trượt đi bên cạnh vị trí lẽ ra những gì anh từng làm phải khiến anh được hưởng lấy; tôi thấy rằng tên của anh, bạn yêu quý, cũng rạng ngời như những cái tên chiến binh và nhà ngoại giao đẹp nhất. Thử nói cho tôi xem, những de Luynes, những Bellegarde rồi thì những Bassompierre có xứng đáng được như chúng ta với tài sản và vinh dự hay chăng; anh đúng, trăm lần đúng, bạn tôi ơi.

D’Artagnan thở dài, rồi tiến lên trước bạn, đến dưới cái cổng nhà của Monck:

- Cho phép tôi, ông nói, vào nhà cất cái túi tiền; bởi vì nói dại mồm, trong đám đông, đám phì lủ thiện xạo của London kia, mà chúng được ca ngợi ghê lắm, cả ở bên Ba-lê luôn, thó mất những gì còn lại từ những đồng ê-cưu tội nghiệp của tôi, thì chắc tôi chẳng còn dám quay về Pháp nữa đâu. Thế mà, tôi đã từ Pháp ra đi sao mà phấn khởi, rồi tôi lại phát điên vì mầng vui lúc quay về đó, vì tất tật những phòng ngừa xưa kia của tôi chống lại Anh-cát-lị đều đã quay trở lại, cộng thêm rất nhiều phòng ngừa mới nữa.

A-tố chẳng nói chẳng rằng.

- Vậy cho nên, bạn yêu quý, d’Artagnan nói với ông, đợi một giây thôi, tôi xuống liền. Tôi biết anh đang rất vội đi tới đó để nhận phần thưởng; nhưng hãy tin điều này, tôi cũng không kém sốt ruột được tận hưởng niềm vui của anh đâu, dầu chỉ từ xa… Đợi tôi nhé.

D’Artagnan đã đi hết tiền sảnh, đúng lúc đó một người, nửa là hầu hạ, nửa là lính, tại nhà Monck nắm giữ vị trí canh cửa đồng thời lính gác, chặn người ngự lâm quân của chúng ta lại, nói với ông bằng tiếng Anh:

- Xin thứ lỗi, Milord d’Artagnan!

- Kìa, ông đáp, gì vậy? Có phải tướng quân đuổi ta đi không vậy?… Chỉ còn thiếu mỗi nước là ta bị ông ấy tống cổ đi nữa mà thôi.

Câu vừa xong được nói bằng tiếng Pháp, chẳng hề hấn gì tới cái kẻ nghe nó, kẻ ấy chỉ nói một thứ tiếng Anh pha trộn với tiếng Ê-cốt cộc cằn nhất. Nhưng A-tố thấy não nuột quá, bởi vì d’Artagnan bắt đầu có vẻ đã nói đúng.

Tên người Anh chìa một bức thư cho d’Artagnan.

From the general, hắn cho biết.

- Tốt, thế cơ đấy; thư đuổi cổ tôi, người Gátxcông đáp lại. Có cần đọc không, hả, anh A-tố?

- Chắc anh nhầm, A-tố đáp, hoặc giả tôi đây chẳng còn biết ai là người trung tín nữa, ngoài anh và tôi.

D’Artagnan nhún vai rồi bóc niêm bức thư, trong lúc đó tên người Anh, bộ thản nhiên, đưa một ngọn đèn to tướng lại gần để chiếu sáng cho ông đọc.

- Ơ kìa! anh sao vậy? A-tố hỏi khi thấy mặt bạn biến sắc.

- Cầm lấy, anh tự đọc đi, người ngự lâm quân đáp.

A-tố cầm lấy tờ giấy và đọc:


“Thưa ông d’Artagnan, hoàng thượng đã rất tiếc vì ông không tới Saint-Paul cùng đoàn diễu hành của ngài ngự. Bệ Hạ nói rằng ngài ngự thấy nhớ ông cũng y như tôi nhớ ông, thưa ông thống lĩnh yêu quý. Chỉ có một cách để sửa chữa toàn bộ chuyện ấy. Bệ Hạ đợi tôi vào lúc chín giờ tại cung điện Saint-James; ông có muốn cũng đến đó cùng tôi? Bệ Hạ anh minh mong muốn được hội kiến với ông vào giờ đó.”


Bức thư là của Monck.






XXXIII

Cuộc hội kiến


- Kìa? A-tố kêu lên, vẻ trách cứ nhẹ nhàng, trong lúc d’Artagnan đọc bức thư Monck gửi cho ông.

- Kìa! d’Artagnan đáp, mặt đỏ lên vì sướng, hơi có chút ngượng ngập vì đã quá mức mau mắn buộc tội nhà vua cùng Monck, đây là một cử chỉ lịch thiệp… chẳng nói lên điều gì, đúng thế… nhưng sau rốt đây vẫn cứ là một cử chỉ lịch thiệp.

- Tôi đã rất khổ tâm khi nghĩ ông vua trẻ tuổi lại là người bội bạc, A-tố nói.

- Sự thật là hiện tại của ngài ấy vẫn còn rất gần quá khứ của ngài ấy, d’Artagnan đáp; nhưng sau rốt, cho tới lúc này mọi điều đều cho thấy là tôi đúng.

- Tôi công nhận, bạn yêu quý ơi, tôi công nhận. A! ánh mắt tốt lành của anh đã trở lại rồi kìa. Anh sẽ chẳng thể nào đoán được tôi sung sướng ngần nào đâu.

- Vậy, nhìn đây, d’Artagnan nói, Charles Đệ nhị tiếp ngài Monck vào lúc chín giờ, còn tôi, ngài ấy sẽ tiếp lúc mười giờ; đó là một cuộc hội kiến lớn, giống những cuộc hội kiến chúng ta hay gọi ở Louvre là cuộc chia chác nước thánh của triều đình. Thôi ta đi hứng dưới đường ống nước, bạn yêu quý ơi, ta đi nào.

A-tố chẳng nói chẳng rằng, họ vội rảo bước chân tiến về phía cung điện Saint-James, đám đông vẫn còn quây kín lấy nó, nhằm ngắm nhìn nơi các ô kính cửa sổ những bóng dáng triều thần cùng là các phản chiếu của đức vua tôn kính. Tám giờ điểm chuông khi hai người bạn yên vị trong galerie đông chật triều thần và những kẻ xin xỏ. Ai ai cũng liếc nhìn những bộ trang phục tồi tàn kia, cùng hình dáng lạ thường, hai khuôn mặt cao quý nhường kia, đầy ắp tính cách và sự khôn ngoan. Về phần mình, A-tố cùng d’Artagnan, sau khi chỉ cần hai cái liếc mắt đã ước lượng được toàn thể, khởi sự trò chuyện với nhau.

Một tiếng ồn lớn đột nhiên vang lên ở cuối galerie: tướng Monck đang bước vào, theo sau là hơn hai chục thống lĩnh chầu chực cố hứng nổi từ ông ta một nụ cười, vì mới chỉ hôm qua thôi ông ta còn là chủ ông của Anh-cát-lị, người ta đoán tương lai sẽ rực rỡ lắm đối với con người có công tích trung hưng cho gia đình Stuart.

- Thưa các ngài, Monck quay người lại, nói, kể từ nay, tôi xin các ngài nhớ, tôi chẳng còn là gì nữa. Trước đây tôi từng chỉ huy đạo quân lớn nhất của nền cộng hòa; giờ, đạo quân ấy thuộc về đức kim thượng, tôi sẽ đặt nó vào tay Bệ Hạ, tùy theo mệnh lệnh của Bệ Hạ, quyền lực ngày hôm qua của tôi.

Một nỗi sửng sốt to lớn hiện lên trên mọi khuôn mặt, và vòng tròn bọn xu nịnh cùng là bọn cầu xin quây kín lấy Monck mới một chốc lát trước đó dần dà nới rộng ra, sau rốt thì tan biến vào những dập dềnh to lớn của đám đông. Monck cũng sẽ đợi ở tiền phòng giống như mọi người. D’Artagnan không thể tự ngăn mình nêu lên nhận xét về điều đó với bá tước de La Fère, ông nhíu mày lại. Bỗng, cửa cabinet của Charles bật mở, rồi ông vua trẻ hiện ra, dẫn đường có hai viên thống lĩnh tùy tòng.

- Xin chào, thưa các ngài, chàng nói, tướng Monck có đây không?

- Tôi đây, tâu Bệ Hạ, ông tướng già đáp.

Charles chạy bổ đến chỗ ông ta, cầm lấy hai tay ông ta, vẻ thân tình lắm.

- Tướng quân, nhà vua nói lớn, ta vừa ký tên vào chỉ dụ; ông là quận công d’Albermale, chủ ý của ta là không để cho một ai ngang bằng được với ông về quyền lực và tài sản tại vương quốc này, cái nơi, ngoài Montrose không nói, đã chẳng ai sánh nổi với ông về lòng trung tín, về sự can đảm cũng như tài năng. Thưa các ông, quận công đây là tổng tư lệnh mọi quân đội, trên bộ cũng như trên bể, các ông hãy thi lễ với ông ấy.

Trong lúc ai ai cũng xúm xít vây lấy tướng quân, ông ta nhận mọi chúc tụng, thi lễ ấy mà không giây phút nào đánh mất đi vẻ thản nhiên quen thuộc, d’Artagnan nói với A-tố:

- Cứ nghĩ rằng cái tước hiệu quận công kia, cái quyền chỉ huy quân bộ quân thủy kia, nói tóm lại là tất tật những vinh dự cao ngời kia, từng bị nhốt vào trong một cái hòm dài sáu bộ rộng ba bộ!

- Bạn ơi, A-tố đáp, có rất nhiều vinh dự còn kỳ vĩ hơn nhiều nằm trong những cái hộp còn ít lớn bằng cơ; chúng khóa chặt vĩnh viễn!…

Đột nhiên Monck nom thấy hai nhà quý phái đang đứng tách riêng ra một chỗ, đợi làn sóng người rút đi. Ông ta vạch lấy một lối, tiến về phía họ, thành thử ông ta bắt chợt họ đúng cái khi họ đang chìm đắm ở trong các suy tư triết học.

- Các ông vừa nói về tôi, ông ta mỉm cười nói.

- Milord, A-tố đáp, chúng tôi cũng vừa nói đến Chúa.

Monck suy nghĩ một hồi, đoạn vui vẻ nói:

- Thưa các ông, ta cũng hãy nhắc chút ít tới hoàng thượng chứ nhỉ, bởi vì, tôi nghĩ, các ông có hẹn vào yết kiến Bệ Hạ.

- Lúc chín giờ, A-tố nói.

- Lúc mười giờ, d’Artagnan nói.

- Ta vào luôn phòng cabinet này đi, Monck đáp, ra dấu cho hai người bọn họ đi trước, điều này cả hai đều không muốn nghe theo.

Nhà vua, trong khi đang diễn ra cuộc tranh luận đặc chất Phan-lang-sa ấy, đã quay trở lại giữa galerie.

- Ồ! những người Pháp của ta, chàng nói, giọng mầng vui vô ưu lắm, cái giọng xiết bao sầu muộn và trắc trở lúc trước cũng không làm cho chàng bỏ mất đi được. Những người Pháp, nỗi an ủi của trẫm!

A-tố cùng d’Artagnan nghiêng mình.

- Quận công, ông dẫn hai ông đây vào ngự phòng của ta. Ta đến gặp các ông luôn đây, thưa các me xừ, chàng nói thêm bằng tiếng Pháp.

Rồi chàng mau chóng giải tán triều thần để quay trở lại với những người Pháp của chàng, đúng như chàng gọi họ.

- Ông d’Artagnan, chàng bước vào cabinet, nói, gặp ông tôi thấy mầng quá.

- Thưa Bệ Hạ, tôi xiết bao mầng rỡ được chào Bệ Hạ tại cung điện Saint-James của ngài.

- Thưa ông, ông đã muốn làm cho ta một việc lớn lắm, ta nợ ân tứ ở ông thật nhiều. Nếu không e sẽ giẫm lên các quyền vị tổng tư lệnh của chúng ta, thì hẳn ta đã đề nghị với ông một vị trí nào nó xứng với ông, ở gần bên ta.

- Thưa Bệ Hạ, d’Artagnan đáp, tôi đã thôi phụng sự vua Pháp đồng thời hứa với vua của tôi là sẽ không phụng sự vua nào khác.

- Kìa, Charles nói, vậy thì ta bất hạnh quá rồi, ta rất muốn làm cho ông nhiều điều, ta rất thích ông.

- Thưa Bệ Hạ…

- Nào, Charles nói, kèm một nụ cười, ta chẳng thể làm ông làm sai lời được ư? Quận công, giúp ta nào. Nếu người ta đề nghị với ông, tức là nếu ta đề nghị với ông, chức vụ tổng chỉ huy lính ngự lâm quân của ta?

D’Artagnan cúi người còn thấp hơn lần trước:

- Thì hẳn tôi sẽ rất lấy làm tiếc phải từ chối điều mà Hoàng Thượng anh minh đề nghị với tôi, ông nói; một nhà quý phái chỉ có độc mỗi lời của hắn mà thôi, và cái lời đó, tôi đã có vinh dự nói với Bệ Hạ rồi, được giao phó cho nhà vua Pháp quốc.

- Vậy, thôi ta không nói đến nữa, vua đáp, rồi quay sang A-tố.

Và chàng để d’Artagnan lại đó, ngập trong những đau thương phật ý lớn nhất.

- A! ta đã nói mà, viên ngự lâm quân lẩm bẩm: lời với chả lẽ! nước thánh triều đình! Các ông vua lúc nào cũng có một tài năng tuyệt diệu trong việc đề nghị với chúng ta những gì bọn họ biết tỏng là chúng ta sẽ không nhận, tha hồ mà tỏ lượng hải hà nhưng chẳng mất gì. Xuẩn!… ta là kẻ ngu xuẩn nhân ba lần, vì có lúc từng lỡ đem lòng hy vọng! Thật là xót thay chút nghĩa cũ càng.

Trong lúc ấy Charles cầm lấy tay của A-tố.

- Thưa bá tước, chàng nói, đối với tôi ông đã là nghiêm đường thứ hai; việc ông đã làm cho tôi không thể tạ ân cho nổi. Tuy nhiên tôi cũng đã nghĩ tới chuyện tưởng thưởng cho ông. Ông đã được tiên vương phụ thân ta phong tước hiệp sĩ Nịt Tất; đó là danh hiệu chẳng phải ông vua Âu châu nào cũng được mang; từ tay thái hậu nhiếp chính, tước hiệp sĩ Thánh Linh, cái danh hiệu không kém phần xuất chúng; ta thêm vào đó huy chương Bộ Lông Vàng vua Pháp đã gửi cho ta, đó là cái vua Tây Ban Nha, quốc cữu của ngài ấy, đã trao hai cái nhân dịp hôn sự; nhưng, ngược lại, ta có một việc cần nhờ ông đây.

- Thưa Bệ Hạ, A-tố bối rối đáp, Bộ Lông Vàng cho tôi ư! chừng mà vua Pháp là người duy nhất tại đất nước tôi được hưởng vinh hạnh ấy!

- Ta muốn ở nước ông cũng như khắp mọi nơi ông ngang hàng với tất cả những ai từng được các vị vua chúa tặng cho vinh dự, Charles nói, gỡ sợi dây đeo trên cổ ra; và ta chắc chắn, thưa bá tước, phụ thân ta đang mỉm cười đồng tình với ta từ chốn cửu tuyền.

- Tuy nhiên cũng thật lạ, d’Artagnan nhủ lòng, trong lúc bạn của ông quỳ gối nhận danh hiệu tuyệt đỉnh vua trao cho, tuy nhiên chẳng thể nào tin nổi là ta đã luôn luôn chứng kiến những trận mưa giàu sang phú quý đổ ào ạt lên tất cả những ai vây quanh ta, nhưng chưa từng có lấy một giọt nào bắn sang phía ta sất! Đến phải tự giật đứt tóc trên đầu ra mất, nếu như mà ta đi ghen tị, lời nói danh dự đấy!

A-tố đứng dậy, Charles thân tình ôm lấy ông.

- Tướng quân, chàng nói với Monck.

Rồi ngừng lời, với một nụ cười tươi lắm trên môi:

- Xin lỗi, ta định nói quận công. Ông thấy đấy, ta nhầm là bởi đối với ta cái từ “quận công” còn quá ngắn… Ta vẫn đang tìm một tước hiệu để nối cho nó dài ra… Ta rất muốn thấy ông ở sát gần ngai vàng của ta đến độ ta có thể nói với ông, như với Lô y Thập tứ vậy: Người anh em của ta. Ồ! ta biết rồi, và ông sẽ gần như là người anh em của ta, vì ta phong cho ông làm kinh lược sứ Ái-nhĩ-lan cùng Ê-cốt, quận công yêu quý… Bằng cách đó, kể từ nay ta sẽ chẳng bị lầm lỡ nữa.

Quận công nắm lấy bàn tay vua, nhưng không hào hứng, chẳng mầng vui, giống hệt lúc ông ta làm mọi việc khác. Tuy nhiên trái tim của ông ta đã bị chao đảo bởi vinh hạnh vừa xong. Charles, nói lời ràng buộc thì tay cũng già, bằng cách sử thật khéo sự hào hiệp của mình, chàng đã để cho ông quận công đủ thời gian để mong muốn… dẫu hẳn ông ta chẳng thể mong muốn bằng như mức được ban cho.

- Khốn thật! d’Artagnan lẩm bẩm, cơn mưa rào lại tiếp tục đổ xuống rồi đó. Ôi! đến là loạn óc ta lên mất thôi.

Rồi ông quay đầu đi, vẻ rúm ró và thảm hại hí hước đến độ vua không sao kiềm nổi một nụ cười. Monck chuẩn bị rời phòng cabinet, từ biệt Charles.

- Ơ kìa, gì vậy! ái khanh, vua nói với quận công, ông đi đấy à?

- Nếu Bệ Hạ cho phép; bởi vì, quả là tôi bị nhọc lắm… Cảm xúc của ngày hôm nay đã làm tôi mất hết sức lực: tôi cần nghỉ ngơi.

- Nhưng, vua nói, ông không đi khỏi mà không có ông d’Artagnan đấy chứ, ta mong vậy?

- Tại sao, thưa Bệ Hạ? viên chiến binh già hỏi.

- Nhưng, vua đáp, ông biết rõ là tại sao mà.

Monck sửng sốt nhìn Charles.

- Xin Bệ Hạ thứ lỗi cho hạ thần, ông ta nói, tôi không biết… ngài định nói gì.

- Ồ! cũng có thể; nhưng nếu ông đã quên, thì ông d’Artagnan lại không quên đâu.

Sự sửng sốt hiện rõ trên cả khuôn mặt của viên ngự lâm quân.

- Nào, quận công, vua nói, chẳng phải ông ở cùng ông d’Artagnan đấy ư?

- Tôi có vinh dự được ông d’Artagnan cư trú ở nhà tôi, phải rồi, thưa Bệ Hạ.

- Cái ý đó là do tự ông, và chỉ bởi tự mình ông?

- Tự tôi, và chỉ tôi, phải, thưa Bệ Hạ.

- Ừ thì! nhưng cũng đâu thể khác được… tù nhân thì lúc nào cũng phải ở chỗ của người đã chiến thắng hắn.

Đến lượt mình, Monck đỏ mặt.

- A! cái đó đúng, ông ta đáp, tôi là tù nhân của ông d’Artagnan.

- Hẳn rồi, Monck, bởi ông còn chưa chuộc mình; nhưng ông khỏi phải lo, ta chính là người đã giật ông khỏi tay ông d’Artagnan, cho nên ta sẽ trả món tiền chuộc.

Hai con mắt d’Artagnan lấy ngay lại được vẻ vui tươi, cùng là sự tưng bừng sáng sủa của chúng; con người Gátxcông ấy bắt đầu hiểu ra. Charles tiến về phía ông.

- Tướng quân, chàng nói, không giàu và hẳn sẽ chẳng thể nào trả được cho ông số tiền ngài ấy xứng đáng. Còn ta, chắc chắn ta giàu hơn rồi; nhưng giờ, đây đã là quận công, nếu chẳng phải một ông vua thì cũng gần như một ông vua, ông ấy đáng giá số tiền có lẽ ta đây cũng chẳng thể nào trả nổi. Nào ông d’Artagnan, nói cho ta hay: ta nợ ông bao nhiêu?

D’Artagnan, quá sướng vì chuyện xoay sang hướng này, nhưng rất giỏi làm chủ bản thân, đáp:

- Thưa Bệ Hạ, Bệ Hạ thật nhầm khi phải rộn lòng. Cái lúc tôi may mắn bắt được Tôn Ông, ngài Monck đây mới chỉ là tướng quân; vậy nên ngài chỉ nợ tôi món tiền chuộc cho tướng quân thôi. Nhưng tướng quân chỉ cần đưa cho tôi thanh gươm của ông ấy, vậy là tôi coi như đã được trả tiền, vì trên đời này chỉ thanh gươm của tướng quân mới đáng giá được bằng tướng quân mà thôi.

Odds-fish! như cha ta vẫn hay nói, Charles Đệ nhị kêu lên, lời nói mới phong nhã làm sao, con người mới phong nhã làm sao, có phải chăng, quận công?

- Có thế thật! quận công đáp, thưa phải, Bệ Hạ ơi.

Rồi ông ta rút gươm.

- Thưa ông, ông ta nói với d’Artagnan, đây là cái mà ông đòi. Nhiều người từng cầm những lưỡi gươm hảo hạng hơn nhiều; nhưng, dầu gươm của tôi đây có khiêm nhường đến mức nào, thì tôi cũng chưa từng đưa nó cho bất kỳ ai.

D’Artagnan kiêu hãnh nhận lấy cái thanh gươm vừa mới rồi đã dựng lên một ông vua.

- Ồ! ồ! Charles Đệ nhị kêu lên: gì kia! một thanh gươm từng trả lại ngai vàng cho ta mà lại sẽ đi ra khỏi vương quốc của ta, để không xuất hiện, một ngày nào đó, giữa những báu vật vương triều ta? Không, thề có Chúa! không được như vậy! Thống lĩnh d’Artagnan, ta xin trả hai trăm nghìn livre cho thanh gươm này: nếu vậy là quá ít, xin ông cứ nói.

- Vậy quá ít, thưa Bệ Hạ, d’Artagnan đáp, kèm một vẻ nghiêm túc nó là chẳng thể bắt chước. Và trước hết, tôi chẳng hề muốn bán nó đi; nhưng Bệ Hạ muốn, vậy đó là một mệnh lệnh. Cho nên tôi xin vâng lời; nhưng lòng kính trọng tôi đây dành cho chiến binh xuất chúng đang nghe tôi nói buộc tôi đòi thêm phân nửa chỗ ấy nữa, đó là món cược cho vinh quang của tôi đây. Vậy, tôi đòi ba trăm nghìn livre cho thanh gươm, bằng không tôi xin đưa luôn nó cho Bệ Hạ mà không nhận gì.

Rồi, nắm lấy mũi thanh gươm, ông chìa nó cho vua.

Charles Đệ nhị phá lên cười thật lớn.

- Con người phong nhã, người đồng hành vui nhộn! Odds-fish, có phải chăng, hả quận công? Có phải chăng, hả bá tước? Ta thích ông ấy quá, ta yêu quý ông ấy. Đây, ông hiệp sĩ d’Artagnan, chàng nói, ông cầm lấy cái này.

Rồi, bước lại chỗ một cái bàn, chàng cầm lấy một cây bút, viết một tờ phiếu ghi, lấy ở chỗ quan chưởng ngân khố của chàng.

D’Artagnan cầm lấy nó, rồi trang trọng quay sang nhìn Monck:

- Tôi đã đòi vẫn quá ít, tôi biết, ông nói; nhưng xin hãy tin tôi, thưa quận công, tôi đây thà chết còn hơn là để cho mình bị dẫn lối bởi sự hà tiện.

Vua cười ha hả giống như tên cokney sung sướng nhất trong vương quốc của ngài.

- Trước khi lên đường ông phải quay lại đây gặp ta đấy nhé, hiệp sĩ, chàng nói; ta sẽ cần một liều lượng vui tươi dự trữ, giờ đây khi những người Pháp của ta sắp đi mất.

- A! thưa Bệ Hạ, với cái sự vui tươi thì sẽ không tốn kém giống như thanh gươm của quận công đâu, và tôi sẽ dâng tặng ngài, miễn phí, thưa Bệ Hạ, d’Artagnan đáp, hai chân ông đã không còn chạm xuống đất được nữa.

- Còn ông, bá tước, Charles nói thêm, quay về phía A-tố, xin ông cũng lại nhé, ta có một thứ mật quan trọng cần giao cho ông. Bắt tay nào, quận công.

Monck bắt tay vua.

- Tạm biệt, các ông, Charles nói, mỗi tay ngài chìa về phía một người Pháp, họ hôn lên đó.

- Kìa! A-tố nói, khi họ đã ra đến ngoài, anh có sung sướng không?

- Suỵt! d’Artagnan đáp, đang cảm động vì mầng vui; tôi hẵng còn chưa từ chỗ quan chưởng ngân khố về mà… nhỡ ra máng xối rơi trúng đầu tôi thì sao.






XXXIV

Rối ruột vì quá giàu


D’Artagnan không để mất thời gian, ngay khi thấy thuận tiện và thích hợp, ông đến viếng thăm quan chưởng ngân khố của Hoàng Thượng.

Vậy là ông được hưởng niềm sung sướng đổi một mẩu giấy, trên đó mang những dòng chữ xấu tệ, lấy một lượng ê-cưu khổng lồ mới được rập, rất gần đây, hình Hoàng Thượng Charles Đệ nhị Tối Anh minh.

D’Artagnan thông thường rất giỏi tự chủ; nhưng lần này, ông không sao tự ngăn mình tỏ lộ một nỗi mầng vui có lẽ chư quân sẽ hiểu nổi, nếu chư quân có lòng châm chước cho một con người kể từ khi sinh ra trên đời chưa từng bao giờ nhìn thấy ngần ấy đồng tiền và cột tiền đặt sát kề nhau trong một trật tự thực đúng là dễ chịu với mắt nhìn lắm.

Quan chưởng ngân khố cho hết những xâu tiền kia vào những cái túi, túi nào cũng niêm phong lại bằng một con dấu có in hình quốc huy Anh-cát-lị, vinh dự mà các quan trông kho chẳng hề ban phát cho tất cả mọi con người.

Rồi, thản nhiên và lịch thiệp vừa đủ mức cần phải có đối với một người vinh dự được nhận tình bạn của nhà vua, ông ta nói với d’Artagnan như sau:

- Thưa ông, mời ông mang tiền của ông đi.

- Tiền của ông! Cái từ này làm rung lên cả nghìn thớ dây với sợi d’Artagnan còn chưa bao giờ cảm thấy nơi trái tim ông.

Ông cho chất đống túi lên một cái xe nhỏ rồi quay về nhà, suy tưởng rất sâu sắc. Một người sở hữu ba trăm nghìn livre không thể còn có vầng trán nhẵn lì: cứ mỗi trăm nghìn lại một nếp nhăn, vậy cũng đâu có quá.

D’Artagnan tự nhốt kín mình lại trong phòng, chẳng hề dùng bữa tối, không mở cửa cho bất kỳ ai và, đèn đã châm, khẩu súng nạp đạn sẵn để trên bàn, ông ngồi canh cả đêm, mơ đến phương cách ngăn chặn những đồng ê-cưu đẹp kia, từ két sắt hoàng gia đã chuyển sang những cái két của ông, sẽ không chuyển từ những két của ông sang túi của một tên bất lương nào đó. Cách hay hơn cả mà con người Gátxcông tìm ra là tạm nhốt kho tàng của ông dưới những ổ khóa đủ chắc chắn sao cho chẳng cổ tay nào có thể bẻ gãy, đủ mức phức tạp để chẳng phải cái thìa khóa tầm thường nào cũng mở được ra.


D’Artagnan nhớ ra là người Anh vốn dĩ được coi là các bậc thầy về cơ học và về bộ môn công nghiệp cất giữ; ông quyết định ngay hôm sau đi tìm một người thợ cơ khí để mua lấy một cái két sắt.


-----------


* Tức là Peter Wentworth, một người Thanh giáo, rất nổi tiếng trong lịch sử nghị viện Anh-cát-lị.
** Balzac tiên sinh, bản thư xã đã in Miếng da lừa, không hề ngoa khi tiên sinh không ngừng nhấn mạnh vào tính chất thuần Phan lang sa vùng Tours của tiên sinh.
*** Tối cao danh dự.
**** Chư quân đã thấy, nếu là d’Artagnan thì Đuy-mạ tiên sinh sẽ đùa, tiếng La tanh thì bảo tiếng Anh, nhưng ở đây là A-tố nên không như vậy; ấy vì đặc điểm của d’Artagnan là dốt tiếng La tanh lắm.
***** Rõ là Đuy-Mạ tiên sinh nhất quyết lấy thi sĩ Virgile làm nguồn cảm hứng lớn cho cuốn truyện này đây.    




(còn nữa)



Alexandre Dumas: Tử tước de Bragelonne (3) (từ đầu chương X cho đến hết chương XXI)
Alexandre Dumas: Tử tước de Bragelonne (2) (từ đầu chương IV cho đến hết chương IX)
Alexandre Dumas: Tử tước de Bragelonne (1) (từ đầu cho đến hết chương III)

7 comments:

  1. tiếp tục (đã sang tới chương 29)

    ReplyDelete
  2. tiếp tục (đến chương 31)

    ReplyDelete
  3. chú còn định dịch tiếp không ạ, hay lại theo số phận bị bỏ dở của bao nhiêu là bản dịch phơi ơ tông khác ):

    ReplyDelete
  4. tiếp chứ, đang định luôn đây, nhưng sẽ vòng trở lại Mousquetaires tí đã

    à, để tôi nhớ xem: về cơ bản đã bao giờ có feuilleton nào bị bỏ dở đâu, thậm chí không có đến một, chỉ có lần rất đột xuất kiểu như đang dịch Paul Nizan thì tôi nhận ra cuốn tiểu thuyết Nizan mà tôi thực sự muốn dịch là quyển khác

    ReplyDelete
  5. Chú định nói Chó canh mà có chỉ trích triết gia nào đó? Cháu không biết gì Nizan đâu, đấy là lúc đọc nhớ thế.

    VVD

    ReplyDelete
  6. Aden Arabie: đó là quyển Nizan, có chó canh và triết gia, mặc dù quyển Nizan dành riêng cho chủ đề đó là "Les Chiens de garde", chính là "Chó canh"

    nhưng đang giữa chừng "Aden Arabie" thì nhận ra cuốn tiểu thuyết lớn của Nizan phải là "La Conspiration"

    đó là chuyện riêng về Paul Nizan

    ReplyDelete