Phạm Quỳnh chắc hẳn là một trong những người đầu tiên dịch thơ Baudelaire, nếu không muốn nói là người đầu tiên. Đó là tầm năm 1917, những số đầu của Nam Phong. Trong một bài viết về thơ Baudelaire, Phạm Quỳnh chọn dịch ba bài (dịch nghĩa). Cả ba bài đều rút từ tập Les Fleurs du mal, mà Phạm Quỳnh gọi là Ác hoa.
dưới đây trích từ Thượng Chi văn tập, tập 1, nxb Alexandre de Rhodes, Hà Nội, 1943
Showing posts with label nam-phong. Show all posts
Showing posts with label nam-phong. Show all posts
Feb 3, 2014
Aug 16, 2010
Kẹp ba huềnh tráng :)
Đã mang tiếng là dài (có chứng nhận oách :d) thì dài luôn một thể cho xong.
----------
Dịch thuật văn học trên Nam Phong, Tri Tân, Thanh Nghị
Nam Phong, Tri Tân và Thanh Nghị giữ địa vị quan trọng nổi trội trong báo chí Việt Nam trước 1945 ở khía cạnh trí thức. Ba tờ tạp chí này khác với hệ tạp chí tin tức thuần túy và cũng khác với các tạp chí văn chương thông thường; có thể nói rằng xét về mức độ “nghiêm túc” và đóng góp cho nền quốc học Việt Nam, Nam Phong, Tri Tân và Thanh Nghị là những cái tên nhất thiết phải nhắc tới ở giai đoạn định hình của lịch sử quốc ngữ, báo chí và khoa học này.
Bởi tính chất đa dạng, cả ba tờ tạp chí đã trải qua nhiều “đợt khai thác” quan trọng: Nam Phong được nhìn nhận dưới khía cạnh hợp tác với chính quyền thuộc địa, khía cạnh đóng góp cho một nền văn xuôi tuy còn mang nhiều tính chất biền ngẫu nhưng đã chứng tỏ một khả năng chưa từng có của tiếng Việt trong diễn đạt và chuyên chở văn chương, triết học, hoặc người ta có thể khai thác Nam Phong ở nhiều phương diện khác, chẳng hạn phương diện các bài viết du ký, phương diện thơ ca cổ điển Việt Nam ở giai đoạn mạt kỳ. Với cụm từ “en-tête” “L’Information française”, Nam Phong đã chịu nhiều búa rìu của dư luận sau này, nhất là từ phía các phát ngôn viên của chủ nghĩa quốc gia. (Tham khảo thêm về Nam Phong: Tìm hiểu tạp chí Nam Phong 1917-1934, luận án tiến sĩ của Phạm Thị Ngoạn, bản Pháp văn in trong Kỷ yếu đệ nhị và đệ tam cá nguyệt 1973 của Bulletin de la Société des Études Indochinoises, bản dịch tiếng Việt của Phạm Trọng Nhân do Ý Việt ấn hành, Paris, 1993).
----------
Dịch thuật văn học trên Nam Phong, Tri Tân, Thanh Nghị
Nam Phong, Tri Tân và Thanh Nghị giữ địa vị quan trọng nổi trội trong báo chí Việt Nam trước 1945 ở khía cạnh trí thức. Ba tờ tạp chí này khác với hệ tạp chí tin tức thuần túy và cũng khác với các tạp chí văn chương thông thường; có thể nói rằng xét về mức độ “nghiêm túc” và đóng góp cho nền quốc học Việt Nam, Nam Phong, Tri Tân và Thanh Nghị là những cái tên nhất thiết phải nhắc tới ở giai đoạn định hình của lịch sử quốc ngữ, báo chí và khoa học này.
Bởi tính chất đa dạng, cả ba tờ tạp chí đã trải qua nhiều “đợt khai thác” quan trọng: Nam Phong được nhìn nhận dưới khía cạnh hợp tác với chính quyền thuộc địa, khía cạnh đóng góp cho một nền văn xuôi tuy còn mang nhiều tính chất biền ngẫu nhưng đã chứng tỏ một khả năng chưa từng có của tiếng Việt trong diễn đạt và chuyên chở văn chương, triết học, hoặc người ta có thể khai thác Nam Phong ở nhiều phương diện khác, chẳng hạn phương diện các bài viết du ký, phương diện thơ ca cổ điển Việt Nam ở giai đoạn mạt kỳ. Với cụm từ “en-tête” “L’Information française”, Nam Phong đã chịu nhiều búa rìu của dư luận sau này, nhất là từ phía các phát ngôn viên của chủ nghĩa quốc gia. (Tham khảo thêm về Nam Phong: Tìm hiểu tạp chí Nam Phong 1917-1934, luận án tiến sĩ của Phạm Thị Ngoạn, bản Pháp văn in trong Kỷ yếu đệ nhị và đệ tam cá nguyệt 1973 của Bulletin de la Société des Études Indochinoises, bản dịch tiếng Việt của Phạm Trọng Nhân do Ý Việt ấn hành, Paris, 1993).
Jul 28, 2010
(8) Bây giờ thì Nam Phong
Phong hóa đã nghe, giờ nhìn Nam phong một tí cho nó cân bằng lực lượng, nhỉ :d
Bài này đăng trên Nam phong số 119, Juillet 1927, tên bài ở ngay trang nhất phần Quốc ngữ là "Báo Nam Phong được mười tuổi", mấy chi tiết cũng hay về lịch sử báo chí Việt Nam giai đoạn ấy:
"Năm 1917 bên Âu-châu chiến-tranh đương dữ-dội; bên này thì chính-trị cẩn-nghiêm, dư-luận trong nước hình như vắng ngắt, trong Nam ngoài Bắc, thật là tịch-mịch không có tăm tiếng gì. Báo-quán thì ở Hà-nội ở Sài-gòn lơ-thơ có một vài tờ báo quốc-ngữ, còn báo bằng chữ tây của người mình, tuyệt-nhiên chưa có cái nào. Báo quốc-ngữ cũng là báo phổ-thông mà thôi, chửa có nghị-luận gì. Vả lại bàn đến chính-trị, nói về việc nước, bấy giờ coi như câu chuyện quái-gở, không ai dám công-nhiên đả-động. Còn văn quốc-ngữ thời hãy còn non-nớt, chưa ai nghĩ dùng để bàn-bạc những vấn-đề quan-trọng hay nghiên-cứu những nghĩa-lý cao-xa. Tiếng "quốc-văn" dùng để chỉ văn quốc-ngữ cũng mới thông-dụng tự năm 1917 trở đi. Đến cái "phong-trào quốc-văn", về sau này tràn khắp cả xã-hội, thì hồi ấy còn phẳng-lặng êm-đềm cả.
Giữa lúc ấy, báo Nam-Phong ra đời.
Bài này đăng trên Nam phong số 119, Juillet 1927, tên bài ở ngay trang nhất phần Quốc ngữ là "Báo Nam Phong được mười tuổi", mấy chi tiết cũng hay về lịch sử báo chí Việt Nam giai đoạn ấy:
"Năm 1917 bên Âu-châu chiến-tranh đương dữ-dội; bên này thì chính-trị cẩn-nghiêm, dư-luận trong nước hình như vắng ngắt, trong Nam ngoài Bắc, thật là tịch-mịch không có tăm tiếng gì. Báo-quán thì ở Hà-nội ở Sài-gòn lơ-thơ có một vài tờ báo quốc-ngữ, còn báo bằng chữ tây của người mình, tuyệt-nhiên chưa có cái nào. Báo quốc-ngữ cũng là báo phổ-thông mà thôi, chửa có nghị-luận gì. Vả lại bàn đến chính-trị, nói về việc nước, bấy giờ coi như câu chuyện quái-gở, không ai dám công-nhiên đả-động. Còn văn quốc-ngữ thời hãy còn non-nớt, chưa ai nghĩ dùng để bàn-bạc những vấn-đề quan-trọng hay nghiên-cứu những nghĩa-lý cao-xa. Tiếng "quốc-văn" dùng để chỉ văn quốc-ngữ cũng mới thông-dụng tự năm 1917 trở đi. Đến cái "phong-trào quốc-văn", về sau này tràn khắp cả xã-hội, thì hồi ấy còn phẳng-lặng êm-đềm cả.
Giữa lúc ấy, báo Nam-Phong ra đời.
Jun 9, 2010
Phạm Công Thiện phê Nguyễn Văn Trung
Nhân nói chuyện này xọ chuyện kia, đề cập Phạm Công Thiện ngày sanh của rắn, tôi muốn lôi trở lại một văn bản ngày nay gần như tuyệt mệnh giang hồ, đúng số phận như tập thơ của Phạm Công Thiện, Ngày sanh của rắn bản in đầu (in số lượng hạn chế bên Pháp) gần như chưa ai nhìn thấy bao giờ.
Văn bản này (đúng ra là một bài viết cỡ 30 trang) mang tên Phê bình luận án tiến sĩ triết học của Nguyễn Văn Trung, không rõ viết và phát hành lần đầu năm nào nhưng được một nhóm phật tử Huế tái bản thành cuốn sách nhỏ in mùa hè năm 1973, ở "Lý do" đặt đầu sách có viết là không liên lạc được với tác giả nên cứ in ra như vậy.
[xin trân trọng cảm ơn bạn... và bạn... vì đã....; tôi đang tập viết lời đề tặng để nhỡ ra sau này dùng đến :d mấy từ khó nhất thì đã nghĩ ra xong xuôi, còn mấy từ dễ để trống bao giờ thích điền gì thì điền]
Văn bản này (đúng ra là một bài viết cỡ 30 trang) mang tên Phê bình luận án tiến sĩ triết học của Nguyễn Văn Trung, không rõ viết và phát hành lần đầu năm nào nhưng được một nhóm phật tử Huế tái bản thành cuốn sách nhỏ in mùa hè năm 1973, ở "Lý do" đặt đầu sách có viết là không liên lạc được với tác giả nên cứ in ra như vậy.
[xin trân trọng cảm ơn bạn... và bạn... vì đã....; tôi đang tập viết lời đề tặng để nhỡ ra sau này dùng đến :d mấy từ khó nhất thì đã nghĩ ra xong xuôi, còn mấy từ dễ để trống bao giờ thích điền gì thì điền]
Mar 9, 2010
01. Họ gọi nhau là bạn
Mở thêm một mục mới, để cho thấy một cách cụ thể báo chí Việt Nam ngày nay đã phỉ nhổ như thế nào vào lịch sử báo chí từng có.
-------------------
Đó là một thời đã xa. Lúc đó, các tờ báo đầu tiên của lịch sử Việt Nam và lịch sử Quốc Ngữ khởi từ Gia Định báo cho tới Nam phong đã đi xong chặng đường với rất nhiều vẻ vang tri thức nhưng cũng không ít bê bối ở mối quan hệ khá nhập nhằng với người Pháp cai trị. Đầu những năm 1930, cả một trào lưu báo chí mới ra đời đầy sức sống và cũng đầy… cạnh tranh.
-------------------
Đó là một thời đã xa. Lúc đó, các tờ báo đầu tiên của lịch sử Việt Nam và lịch sử Quốc Ngữ khởi từ Gia Định báo cho tới Nam phong đã đi xong chặng đường với rất nhiều vẻ vang tri thức nhưng cũng không ít bê bối ở mối quan hệ khá nhập nhằng với người Pháp cai trị. Đầu những năm 1930, cả một trào lưu báo chí mới ra đời đầy sức sống và cũng đầy… cạnh tranh.
Nov 18, 2009
Xây dựng huyền thoại
Lịch sử là một câu chuyện giật gân.
Nếu không giật gân, một sự kiện nào đó thật khó lòng có vị trí trong câu chuyện (narrative) lịch sử. Một trong những bộ sử Hy Lạp còn được đọc và nghiên cứu nhiều hiện nay là Chiến tranh Péloponnèse của Thucydide, và rất nhiều bộ sử danh tiếng khác đều như thể khẳng định lịch sử được làm nên từ những thời khắc lớn, với rất nhiều máu và mưu mẹo, và cả tình sử thuyền quyên anh hùng. Để giữ được mức độ giật gân, rất nhiều khi có cảm tưởng như lịch sử buộc lòng phải tự làm cho mình trở nên giật gân. Đọc sách của trường phái Annales, như Georges Duby chẳng hạn, tức là trường phái đi ngược lại xu hướng chính nói trên của viết sử, quả thực là chán rất nhanh :) Lịch sử cũng tìm cách đáp ứng nhu cầu tâm lý của con người, chắc vậy.
Mà muốn giật gân hóa, ít phương pháp nào hiệu quả hơn là xây dựng huyền thoại. Dĩ nhiên huyền thoại (ở đây muốn nói là các câu chuyện có những mục đích rõ ràng về phương diện lịch sử) cũng có nhiều tác dụng phụ ngoài ý muốn, mang tính khách quan (side effect) như là khi Phan Huy Lê nói rõ về huyền thoại Lê Văn Tám thì người ta tức khắc sẽ đâm ra nghi ngờ những gì Viện Sử học Việt Nam nói về lịch sử, nhất là giai đoạn hiện đại.
Nếu không giật gân, một sự kiện nào đó thật khó lòng có vị trí trong câu chuyện (narrative) lịch sử. Một trong những bộ sử Hy Lạp còn được đọc và nghiên cứu nhiều hiện nay là Chiến tranh Péloponnèse của Thucydide, và rất nhiều bộ sử danh tiếng khác đều như thể khẳng định lịch sử được làm nên từ những thời khắc lớn, với rất nhiều máu và mưu mẹo, và cả tình sử thuyền quyên anh hùng. Để giữ được mức độ giật gân, rất nhiều khi có cảm tưởng như lịch sử buộc lòng phải tự làm cho mình trở nên giật gân. Đọc sách của trường phái Annales, như Georges Duby chẳng hạn, tức là trường phái đi ngược lại xu hướng chính nói trên của viết sử, quả thực là chán rất nhanh :) Lịch sử cũng tìm cách đáp ứng nhu cầu tâm lý của con người, chắc vậy.
Mà muốn giật gân hóa, ít phương pháp nào hiệu quả hơn là xây dựng huyền thoại. Dĩ nhiên huyền thoại (ở đây muốn nói là các câu chuyện có những mục đích rõ ràng về phương diện lịch sử) cũng có nhiều tác dụng phụ ngoài ý muốn, mang tính khách quan (side effect) như là khi Phan Huy Lê nói rõ về huyền thoại Lê Văn Tám thì người ta tức khắc sẽ đâm ra nghi ngờ những gì Viện Sử học Việt Nam nói về lịch sử, nhất là giai đoạn hiện đại.
Subscribe to:
Posts (Atom)