Showing posts with label pham-cong-thien. Show all posts
Showing posts with label pham-cong-thien. Show all posts

Mar 7, 2016

Phạm Công Thiện và Rilke

Trông tôi thế này thôi (;p) nhưng có nhiều thủ bút, chữ ký Phạm Công Thiện phết đấy:

May 27, 2013

Trẻ con thì là trẻ con thôi

(mồng một tháng Sáu, post lại bài mồng một tháng Sáu viết cách đây 5 năm)



+ Èn fái nồn ly :) những ngày thứ Sáu cùng bạn Nhị Linh hehe (đây là "lời mào đầu" hồi ấy, và hồi ứng của bạn Khuê việt đẹp trai như sau: "Btw, “Èn fái nồn ly” không hiểu nghĩa là rì but it kills me" hehe)


Mồng một tháng Sáu, ngày của các cháu, mà lại viết về cuốn truyện Bắt trẻ đồng xanh (Nhã Nam và NXB Văn học, 2008, Phùng Khánh dịch), hẳn nhiều người nghĩ tôi là người phản giáo dục.

Thì đã hẳn Holden Caulfield thuộc hàng top các nhân vật của lịch sử văn học về tần suất chửi rủa. Nó chửi trong khi trò chuyện với bạn, và nhất là nó chửi trong những suy nghĩ riêng của mình. Và cũng không sai chuyện ở bên Mỹ cuốn sách hết được đưa vào rồi lại bị đưa ra khỏi chương trình học nhà trường sau những tranh cãi nảy lửa. Ông tác giả Salinger còn làm khó hơn cho việc bình thường hóa sự chấp nhận cuốn tiểu thuyết vì cứ nhất định trốn biệt tăm khỏi giới truyền thông. Quả thật ông khác tuyệt đại đa số các đồng nghiệp, họ không bỏ qua cơ hội nào để nâng cấp cho tác phẩm nhiều khi xoàng xĩnh của mình bằng cách chất đống vào vô số ý nghĩa chân thiện mỹ đầy vẻ bong bóng xà phòng, hoặc ít ra thì cũng là một thái độ bí hiểm đánh đố (hay được mỹ từ hóa thành “có sức khơi gợi”) nào đó.

Oct 15, 2012

Phạm Công Thiện về Hàn Mạc Tử



Năm kỷ niệm Hàn Mạc Tử này, cuối cùng tập Gái quê 1936 đã được phục hồi ở trạng thái tương đối gần ban đầu nhất.

Trước đây, tạp chí Văn dành cả số 179 để tưởng niệm Hàn Mạc Tử (trước đó, số 73-74 cũng đã mang tên Tưởng niệm Hàn-Mặc Tử), lấy tên chung là Viết về Hàn-Mặc Tử, với bài đầu tiên là “Đức tin trong hồn thơ Hàn-Mặc Tử” của Đặng Tiến. Dưới đây là bài viết ngắn của Phạm Công Thiện trên số báo ấy, không phải bài nổi tiếng gọi Hàn Mạc Tử là “phượng hoàng vỗ cánh” như nhiều người đã biết:


Một định mệnh tàn khốc theo riết bên mình: Hàn-Mặc Tử

Trong tất cả những thi hào văn sĩ lừng danh của toàn thể văn chương Việt Nam từ mấy ngàn năm nay, tôi không tìm được một người nào đã tác động một mảy may nào đến tâm hồn tôi cả - trừ ra Hàn-Mặc Tử. Nguyễn Du là một thi hào vĩ đại, tôi đã đọc đi đọc lại Nguyễn Du và nhìn nhận Nguyễn Du là vĩ đại, nhưng tôi không cần thứ vĩ đại ấy. Cái thứ vĩ đại ấy chẳng tác động gì đến đời sống u mê của tôi cả. Quách Tấn cũng vĩ đại, tôi kính trọng sự vĩ đại ấy, nhưng sự vĩ đại ấy làm lịch sử, vì đi ngược lại lịch sử, đạp trên đầu lịch sử hiện đại. Tôi chẳng bận tâm đến lịch sử. Thỉnh thoảng cũng bận tâm để chợt nhớ rằng mình là người Việt Nam. Vì tin chắc rằng người Việt Nam sẽ thắng, sẽ tiêu diệt tất cả những gì không phải là Việt Nam, người Việt Nam sẽ thắng, cho nên tôi không cần bận tâm đến vận mệnh của Việt Nam. Tôi có vận mệnh của riêng tôi. Người nào muốn lo đến vận mệnh của Việt Nam, thì cứ lo đến vận mệnh của Việt Nam. Tôi không hề biết ái quốc là cái gì. Tôi chỉ biết đến tôi và chỉ có tôi mới hiểu thế nào là con đường của Việt Nam. Trong tôi ngưng tụ lại tất cả tàn khốc của Việt Nam, tất cả mâu thuẫn, ích kỷ, tàn phá, kiêu hãnh, ngang tàng, kiêu ngạo, từ tốn, khoan dung, khôn ngoan, yếu đuối và cô độc. Dù trận chiến tranh ở Việt Nam có chấm dứt đi nữa thì trận chiến tranh trong tôi vẫn tiếp tục. Giống như nó vẫn tiếp tục trong tâm hồn của những thanh niên Việt Nam ra đời lúc chiến tranh Việt Nam vừa khởi phát và được ba mươi tuổi lúc chiến tranh bùng phát dữ dội lan rộng từ Việt Nam đến Hạ Lào. Chỉ có thanh niên Việt Nam nào từ ba mươi tuổi trở xuống mới hiểu nổi thơ của Hàn-Mặc Tử. Trận chiến tranh Việt Nam hiện nay chính là sự phóng đại của cơn bịnh hủi của Hàn-Mặc Tử. Chỉ có thi sĩ mới sống trước, sống tận bản thân tất cả những khả tính sắp hiện của vận mệnh dân tộc mình. Vận mệnh của Hàn-Mặc Tử đã báo trước vận mệnh của Việt Nam. Thơ của Hàn-Mặc Tử đã báo động cái gì rạn vỡ trong không khí quê hương. Không phải chỉ làm thơ với những danh từ và động từ chính trị mới nói được con đường đi của dân tộc. Nhiều khi nói ngược lại hay nói những cái gì khác, như dùng những tiếng kỳ cục như thượng thanh khí, vỡ lở, trăng, châu lệ, đê mê, hoa bắp lay, cứng tợ si, chưa bưa, dại khờ, gánh máu đi trong tuyết, bời bời ruột gan, ớn lạnh, vân vân. Nhiều khi ăn nói thê thảm điên dại như Hàn-Mặc Tử mà lại trỏ ngón tay vào đúng tim đen của vận mệnh Việt Nam và mở ra một người đi khác cho “sử linh tư tưởng” (chữ của Hàn-Mặc Tử). Người hiểu được thì hiểu ngay lập tức, không hiểu được thì vẫn không hiểu được. Định mệnh tàn khốc, nhưng không có thực, giống như cơn bệnh hủi chỉ là cơn bệnh tưởng tượng của mặt trời, do mặt trăng lường gạt.

Phạm Công Thiện
(ngoại ô Paris, mùa đông năm 1971)

(tạp chí Văn số 179, 1/6/1971, tr. 52-54)

-----------

Trong những gì người ta dùng để vinh danh Mạc Ngôn, tôi đặc biệt quan tâm đến cái so sánh Mạc Ngôn với Rabelais. Đây là một cliché biểu lộ dân phương Tây nắm bắt tinh thần của Mạc Ngôn hời hợt như thế nào. So sánh này đã tồn tại từ rất lâu, tôi nhớ cách đây cỡ phải gần chục năm rồi đã đọc một bài báo mang tên “Mo Yan: leur Rabelais” (Mạc Ngôn: Rabelais của họ) trên một tờ tạp chí văn học nào đó của Pháp; ngay lúc đó tôi đã thấy sự so sánh này thật là gượng gạo, bấp bênh, quàng xiên, vớ vội lấy một sự dễ dãi để diễn dịch một cái gì khác lạ. Chỉ có điều sự dễ dãi ấy hình như đã trở thành một trong những chỗ dựa quan trọng để người ta trao giải Nobel cho Mạc Ngôn.

Tôi không quan tâm xem Mạc Ngôn được Nobel Văn chương thì có xứng đáng hay không. Có thể Mạc Ngôn còn xứng đáng hơn thế nữa, trong kiểu riêng của mình. Nhưng đừng thuyết phục tôi Mạc Ngôn có thể so sánh với Rabelais. Hoặc giả Rabelais qua chuyển dịch thời gian đã trở nên vô cùng kệch cỡm. Câu bình luận của Ngải Vị Vị rất đúng: xứng đáng thì xứng đáng, nhưng bad taste. Điều này cũng cho thấy dân chống đối generous hơn rất nhiều so với những người như Mạc Ngôn.

Sep 11, 2012

Sách (LVI) sách nhỏ

sách nhỏ là sách khổ nhỏ, có báo khổ nhỏ thì cũng có sách khổ nhỏ

Hà Nội những năm 50 của thế kỷ trước:



sau quyển sách này, Văn Tâm (ông con rể của Cao Xuân Huy) dính trường văn trận bút suốt vài chục năm, có lẽ nhờ thế mà trở thành một nhà sưu tầm sách và đồ cổ rất oách; Nguyễn Xuân Huy vẫn xuất hiện đây đó trong "cao trào hồi ký" hiện nay, quyển sách đã in lần đầu vào năm 1944

vẫn Hà Nội, nhà xuất bản Cây Thông:


sang đến Sài Gòn:






(đây là Du Tử Lê văn xuôi chứ không phải Du Tử Lê thơ)

Phan Lạc Tuyên (và Lê Tuyên): nhân vật đã bị quên lãng rất nhiều:


bộ sau đây thì khổ to (cảm ơn TS VVN)



thêm :pp

thêm nữa :)))


Vòng tay học trò ;)



Jun 10, 2012

Phạm Công Thiện vs Nguyên Sa


Phạm Công Thiện trả lời loạt bài của ông Lê Hải Vân về Trường hợp Phạm Công Thiện đăng liên tục vô tận trong nhật báo Độc Lập từ hạ tuần tháng 5 năm 1970.

(Xin lỗi độc giả Tư Tưởng về bức thư nầy và xin hãy xem bức thư này như là một việc đáng lẽ không nên làm ở đây.)

P.C.T

Kính gởi thi sĩ Nguyên Sa Trần Bích Lan (tức Lê Hải Vân).

Phải chăng thi nhân không còn nói với nhau bằng tiếng nói của thi sĩ trong cơn lửa dậy? Tiếng chim đã bị những khẩu hiệu bóp nghẹn rồi sao và chỉ còn lại một thứ ngôn ngữ tối đen đọa đày trong sự rạn vỡ càng lúc càng rạn vỡ ở đất nước này? Tôi mong Ông có can đảm nhận thật tên của mình và nếu bút hiệu Lê hải Vân bị Ông chối bỏ thì tôi xin chịu lỗi và coi bức thư này gửi riêng cho Lê hải Vân để cho hình ảnh thi sĩ Nguyên Sa hãy còn là thi sĩ.

Bài Ông xuất phát từ sự xếp đặt lâu dài mang đầy “ẩn ý chính trị pha màu mật vụ” quá sôi nổi và cần phải được nghe lại cho đúng tiết nhịp của thời gian vượt ra ngoài mọi tư thế chính trị, bè nhóm, tập đoàn mà tôi thừa hiểu. Ông chỉ là kẻ thi hành hãnh tiến:

Nov 16, 2011

gửi thư

Tác phẩm mới nhất của Linda Lê là một bức thư. Một bức thư dài, tuy cũng không phải là thật dài với những người thích viết thư :p

Bức thư dài ấy tên là À l'enfant que je n'aurai pas. Đọc một lèo hết rồi mới tò mò tìm xem, hóa ra cuốn sách đã nhận giải thưởng Renaudot poche (giải Renaudot cho sách bỏ túi) đợt vừa xong. Mấy năm nay chán các giải thưởng bên Pháp, vì năm nào tôi cũng đoán đúng cuốn tiểu thuyết được Goncourt từ trước, năm nay đoán đúng Alexis Jenni từ khi mới có danh sách tranh giải đầu tiên. Một quả đoán đúng rồi thành dự án đã kết thúc là Où on va, papa của Jean-Louis Fournier (nhà Stock), đã thành Ba ơi, mình đi đâu mà tôi đoán một số bác đã đọc :p Cuốn ấy xong xuôi vụ bản quyền từ mấy hôm trước khi công bố giải Femina, cách đây chừng vài năm hehe.

Cả cuốn sách dày có 65 trang, thuộc một tủ sách mới mở năm 2010 tên là "Les Affranchis" (nhà Nil) dưới sự chủ trì của Claire Lebru. Người mở màn cho tủ sách là Annie Ernaux. Các cuốn khác trong bộ này thì ở đây. Dân Pháp rất chịu khó mở tủ sách đủ các kiểu, có những tủ rất chi kỳ cục, ví dụ như tủ sách cuốn nào cũng bắt đầu bằng "Dictionnaire amoureux de...", một tác giả nào đó viết cả một từ điển về một cái gì đó mà tác giả đó thích, nếu tôi nhớ không nhầm thì Philippe Sollers cũng tham gia, viết về Venise. Cứ thử tưởng tượng ở Việt Nam xuất hiện những cuốn như "Từ điển tình yêu về con chó xù", "Từ điển tình yêu về khăn tắm màu xanh", "Từ điển tình yêu về yêu đương trong thang máy"... ối giới ơi thế thì Cục bối rối lắm, ông Nguyễn Kiểm bối rối lắm, nhỉ :p

Linda Lê trong bức thư dài này ngoài những điều thường thấy trong các tác phẩm khác: chết chóc, cự tuyệt, tuyệt đối, nặng nề, còn chĩa mũi dùi vào cái ẩn dụ gắn việc tác phẩm văn chương ra đời với thai nghén. Đọc Linda Lê lần này bỗng nhận ra một điều: Linda Lê viết văn mà không có cái nhu cầu mà tôi thấy rất rất nhiều nhà văn nữ (nhất là Việt Nam) cảm thấy mãnh liệt: dù cho có là như thế nào thì hình ảnh của họ trong tác phẩm của họ cứ luôn luôn nhan sắc mặn mà, nếu không thì hấp dẫn kinh người. Sao lại thế nhỉ :d

Vừa tìm ra một vài manh mối và triển vọng để tiếp tục công trình Linda Lê tại Việt Nam nên kính cáo các bác để các bác đề phòng à quên chia vui thôi hihi.

Mới đọc được câu này của thi sĩ Phạm Công Thiện, chẳng hiểu sao cứ bám vào đầu, mặc dù chẳng có gì đặc biệt cả: "Giang đầu của sự sáng tạo, đó là chờ và nhớ".

Bonus ảnh chụp hai tác phẩm lớn của Ma Jian (Mã Kiến):

Aug 4, 2010

Từ đâu đến?

Vừa mới có một bạn đề nghị tặng tôi Tự do đầu tiên và tự do cuối cùng làm tôi nhớ đến Phạm Công Thiện, nhớ lắm í :)

Không nhớ những hố thẳm và tư tưởng, bùng vỡ và rắn, mà nhớ Mặt trời không bao giờ có thực, tập thơ-văn xuôi do An Tiêm xuất bản vào năm 1967.

Tập thơ được chia thành nhiều đoạn, đoạn 1 bắt đầu như sau:

"Gần năm tháng nay, hắn đã sống hững hờ như một thây ma; mỗi ngày bắt đầu lại một mặt trời cũ, dâng lên trên những mái nhà một xác thối của mặt trời, ánh sáng của đèn cầy còn dễ thở hơn ánh sáng của mỗi ngày dư máu".

Không lâu sau sẽ có một câu giống như tuyên ngôn: "Viết cho mệt nhoài thân thể, rã rời trí óc, tê chết ngòi bút, lạnh buốt hơi thở."

Ai đọc cả tập Mặt trời không bao giờ có thực này hẳn đều thấy: Phạm Công Thiện có một văn chương bạo lực, mơ mộng trong cơn bạo lực và bạo lực mà vẫn mơ mộng.

Từ đâu mà có cái đó, cái writing đó? Tôi nghĩ câu trả lời có thể là: từ tập thơ (cũng thơ-văn xuôi) Les Chants de Maldoror của Lautréamont. Đến Lautréamont thì tính chất "insolence" (láo xược) là nét chính yếu của Rimbaud đã dần phai nhạt, thơ ca dường như bước vào một giai đoạn khác, đại diện bằng bạo lực.

Đang vội chưa nói tiếp được hehe, vội lắm í :) Chỉ thêm một cái là hai tác phẩm thơ quan trọng nhất của thời kỳ đầu hiện đại của Pháp đều dính dáng tới mal/evil/ác: Les Fleurs du mal của Baudelaire và trong cái tên Maldoror của Lautréamont cũng có từ này.

Cái ác làm nên thơ hiện đại, chăng? :d

-----------------

Vừa nghe tin nhân sự ban chấp hành Hội Nhà văn: mort de rire :ddd

Thôi bây giờ quay lại với Lautréamont: bác nào có ham muốn đọc thì ở đây có đủ cả 6 "chant".

Mấy câu mở đầu:

Plût au ciel que le lecteur, enhardi et devenu momentanément féroce comme ce qu'il lit, trouve, sans se désorienter, son chemin abrupt et sauvage, à travers les marécages désolés de ces pages sombres et pleines de poison; car, à moins qu'il n'apporte dans sa lecture une logique rigoureuse et une tension d'esprit égale au moins à sa défiance, les émanations mortelles de ce livre imbiberont son âme comme l'eau le sucre.

Ngại dịch quá, nhưng các bác có thể hiểu đây là đoạn mào đầu của Lautréamont, cảnh báo cho độc giả về khả năng sẽ trở nên "féroce" khi đọc các "chant" (bài ca) cũng "féroce" này, rồi thì đường đi sẽ chông gai, khúc khuỷu, không những thế còn đầy đầm lầy.

"ces pages sombres et pleines de poison": ngữ đoạn này quan trọng hơn cả, nó nói đến sự u tối, và nhất là "thuốc độc": bài thơ là thuốc độc, Achtung! :d

Đoạn mào đầu này có làm các bác nhớ đến ai khác ngoài Phạm Công Thiện không? Tôi thì nghĩ ngay đến đoạn cảnh báo của Thanh Tâm Tuyền đặt ở đầu tập Tôi không còn cô độc, bác nào đọc thuộc lòng được không ạ? Lê Huy Oanh sau này trên tờ Văn số đặc biệt về Thanh Tâm Tuyền đã tán rất lâu về cái mào đầu này.

-------------------

Đoạn Thanh Tâm Tuyền như sau:

"Ở đây tôi là vị hoàng đế đầy đủ quyền uy. Bởi vì người vào trong đất đai của tôi.
người hoàn toàn tự do.
để cai trị tôi có những luật lệ tinh thần mà người phải thần phục nếu người muốn nhập lãnh thổ.
người hoàn toàn tự do.
và có thể ném cuốn sách ra cửa sổ"

Còn Lê Huy Oanh, trên Văn số Giai phẩm "số đặc biệt về nhà thơ Thanh Tâm Tuyền" (11/1973), viết như sau:

"Thanh Tâm Tuyền đã tuyên bố như vậy [tức đoạn tôi vừa chép lại ở trên] ở đầu tập Tôi không còn cô độc. Trong cơn giận dữ rất chân thật, tôi đã mạt sát đả kích anh ta thậm tệ để rồi chỉ ít ngày sau tôi dần dần thấy tất cả sự nông nổi bất công của những lời mạt sát đó, những cử chỉ đả kích đó. Tôi đã không ngần ngại "ném cuốn sách ra cửa sổ" để rồi tôi lại len lén bước ra nhặt nó lên, ấp nó vào ngực, mang nó vào nhà. Vậy thì, vậy thì tôi chỉ còn có cách phải chịu thần phục những luật lệ tinh thần của "vị hoàng đế" ấy bởi tôi rất muốn tiếp tục chuyến đi vào lãnh thổ của ông ta" (bài "Ký sự về một chuyến đi kỳ thú vào vùng rung cảm", tr. 11).

Bài của Lê Huy Oanh nồng nhiệt và chân thực, nhưng chẳng nói được gì nhiều về thơ Thanh Tâm Tuyền. Các bạn có nghĩ giống tôi hong? :d

Jul 16, 2010

Mông, à, mông



Mông là bộ phận cao quý trên con người ta. Vội quá không gọi điện được cho bác Nguyễn Việt Hà xin cái định nghĩa về mông trong từ điển tiếng Việt và 103 câu trích dẫn có liên quan đến mông, phí quá :d

Jun 11, 2010

(04). Tiếng Việt 1933

[câu này là của Amos Oz, nhà văn Israel nổi tiếng nhất (đại ý): "vấn đề lớn nhất của văn chương Israel là phải dùng ngôn ngữ của các nhà tiên tri để tả nhân vật đi đổ rác"; vấn đề của Phạm Công Thiện thì ngược lại: phải viết sấm ngôn bằng ngôn ngữ con trâu tát nước gầu sòng mái gianh sơn cước khói lam chiều; đây là lời kết cho chủ đề Phạm Công Thiện, mặc dù đang hết sức ăn khách hic]

Mới gần đây tôi được tặng một số Văn học tạp chí, tờ báo của hai nhân vật Dương Bá Trạc (chủ bút) và Dương Tụ Quán (chủ nhiệm); đây là hai anh em ruột, xen vào giữa họ còn có Dương Quảng Hàm. Trước đó Dương Bá Trạc cùng Nguyễn Bá Trác đã là tả phù hữu bật cho Phạm Quỳnh làm Nam Phong. Nam Phong cũng có cả sự góp sức của bố Nguyễn Bá Trác là Nguyễn Bá Học. Ngoài họ Dương này còn có một họ Dương khác có nhiều công đối với báo chí Quốc Ngữ thời kỳ đầu, là Đông Lĩnh Dương Phượng Dực, học trò cưng của ông bác nhà Nguyễn Công Hoan; Dương Phượng Dực sẽ sinh ra một nhân vật sau này cũng nhiều kỳ tích, là Dương Kinh Quốc. Nghe nói khi Dương Kinh Quốc mất đi, gia đình bán tủ sách, thị trường sách cũ đã được một phen náo loạn.

Jun 10, 2010

Phạm Công Thiện không phê Nietzsche



Cám ơn bác Phạm Công Ác cho cái đường link trong đó GS Nguyễn Văn Trung "trả lời" về Phạm Công Thiện, đồng thời nhắc tới nhiều nhân vật của thời đó, nhất là các nhân vật trí thức Công giáo như Cao Văn Luận (Bên giòng lịch sử), Nguyễn Văn Lập (Viện trưởng Đại học Đà Lạt), Lê Văn Lý (một trong những đối tượng công kích trong suốt nhiều năm của Cao Xuân Hạo sau này).

Đọc vào Nguyễn Văn Trung thì ta sẽ có cảm giác mối hiềm khích của thời đó sâu xa và thường trực giữa Phật giáo và Công giáo.

Jun 9, 2010

Phạm Công Thiện phê Nguyễn Văn Trung

Nhân nói chuyện này xọ chuyện kia, đề cập Phạm Công Thiện ngày sanh của rắn, tôi muốn lôi trở lại một văn bản ngày nay gần như tuyệt mệnh giang hồ, đúng số phận như tập thơ của Phạm Công Thiện, Ngày sanh của rắn bản in đầu (in số lượng hạn chế bên Pháp) gần như chưa ai nhìn thấy bao giờ.

Văn bản này (đúng ra là một bài viết cỡ 30 trang) mang tên Phê bình luận án tiến sĩ triết học của Nguyễn Văn Trung, không rõ viết và phát hành lần đầu năm nào nhưng được một nhóm phật tử Huế tái bản thành cuốn sách nhỏ in mùa hè năm 1973, ở "Lý do" đặt đầu sách có viết là không liên lạc được với tác giả nên cứ in ra như vậy.

[xin trân trọng cảm ơn bạn... và bạn... vì đã....; tôi đang tập viết lời đề tặng để nhỡ ra sau này dùng đến :d mấy từ khó nhất thì đã nghĩ ra xong xuôi, còn mấy từ dễ để trống bao giờ thích điền gì thì điền]