Mar 24, 2017

IX. Louis Lambert

Nhân tiện, mới viết tiếp "Đọc Balzac ở Hà Nội", nhưng cũng viết tiếp luôn "Hiện tượng luận về mối quan hệ thầy trò", còn "Hai khía cạnh nữa của văn chương Nguyễn Tuân" thì sắp viết tiếp: mãi rồi cũng đã bắt đầu thấy có thể gượng dậy từ cú tai nạn kinh hoàng nơi quán cà phê Hà Nội.

Louis Lambert là một tác phẩm triết học của Balzac.

Séraphîta là tác phẩm mà Balzac đặt ở cuối cùng của phần các "étude triết học". Louis Lambert nằm ngay trước đó. Đây gần như là hai tác phẩm khép lại Vở kịch con người, trong hình dạng như ta biết hiện nay. Séraphîta được đặt tên theo nhân vật chính, Louis Lambert cũng không khác: đây là câu chuyện về Louis Lambert.

Hai tác phẩm này là "tiểu thuyết triết học", nhưng nói đúng hơn, chúng là "triết học thần bí". Nếu "thần bí" của La Recherche de l'Absolu (Đi tìm Tuyệt đối - đã có bản dịch tiếng Việt) thiên về "giả kim thuật", SépharîtaLouis Lambert lại không hề liên quan đến giả kim thuật. Ba "nhân vật triết học" nổi tiếng nhất của Balzac chính là Séraphîta, Louis Lambert và Balthazar Claës của La Recherche de l'Absolu.

Phần thần bí của Balzac luôn luôn có liên quan mật thiết đến lý thuyết của Swedenborg (nhà thơ William Blake thấy rằng mình sinh năm 1757, trùng với sự ra đời tác phẩm Thiên đường và Địa ngục của Swedenborg, là một dấu hiệu thần bí nhiều ý nghĩa). Swedenborg được nhắc đến ngay ở đầu Louis Lambert, còn ở Séraphîta, ta phải đợi khá lâu.

Ngoài rất nhiều ý nghĩa khác, Louis Lambert cần được nhìn nhận là một tác phẩm đặc biệt của Balzac ở phương diện tự sự học. Rất hiếm khi Balzac kể chuyện ở ngôi "tôi".

Những khi xuất hiện ngôi tự sự "tôi" ở Balzac, thường sẽ đi kèm với đó một số ý nghĩa: hiển nhiên, Mémoires de deux jeunes mariées (Hồi ký của hai cô gái mới lấy chồng), vì là tiểu thuyết bằng thư, chuyện các nhân vật xưng "tôi" là không khó hiểu (Balzac đặc biệt thích dùng các bức thư, như ta đã thấy, cho đến giờ; có khi, một bức thư được đưa vào trong một cuốn tiểu thuyết còn là cơ hội để Balzac tự tán dương: ta có một ví dụ không thể rõ hơn ở Nàng tình nhân hờ, khi bức thư Malaga gửi Thaddée Paz ở cuối truyện được Balzac (tự) đánh giá là kiệt tác của giới dandy Paris). Bông huệ trong thung từ đầu đến cuối xưng "tôi", bởi vì thực chất đó là một bức thư dài mà Félix de Vandenesse gửi cho Natalie de Manerville kể về mối tình hồi trẻ với Madame de Mortsauf; Natalie de Manerville là người tình của Félix de Vandenesse trong một thời gian, cho đến Une fille d'Ève (Một người con gái của Eva) ta còn thấy Félix đã lấy vợ còn gặp lại Natalie de Manerville (Vandenesse rất quan trọng đối với các tiểu thuyết thuộc Vở kịch con người: ở Bông huệ trong thung, người anh trai Charles của Félix đã xuất hiện, qua lời kể không mấy thiện cảm, nhưng Charles de Vandenesse cũng liên quan đến nhiều nhân vật nữ trọng yếu của Balzac).

Một "tôi" khác, theo tôi là độc đáo hơn nhiều, xuất hiện trong Le Cabinet des antiques (đã có bản dịch tiếng Việt, tên là Phòng cổ vật; đây là tác phẩm đi cặp đôi với La vieille fille, nghĩa là Gái già): Émile Blondet kể chuyện hồi nhỏ, câu chuyện rất đáng nhớ với miêu tả Armande d'Esgrignon đẹp như thiên thần trong mắt Blondet oắt con; Émile Blondet sẽ có vai trò lớn, nhà báo vô sỉ trong tiểu thuyết dài nhất của Vở kịch con người: Hết ảo tưởng.

Louis Lambert khá giống trường hợp của Le Cabinet des antiques: người bạn của Louis Lambert kể lại về cuộc đời Louis Lambert.

Balzac còn đẩy xa câu chuyện "tự sự xưng tôi" hơn nữa, và vẫn liên quan đến Louis Lambert: Un drame au bord de la mer (Một tấn kịch nơi bờ biển), cũng thuộc các "étude triết học", là bức thư mà Louis Lambert gửi cho "ông bác" cha xứ ở Mer mà ta đã gặp trong Louis Lambert. Khi ấy, Louis và Pauline ra bờ biển và sẽ bắt gặp ở đây một người sám hối tội lỗi cũ: Cambremer. Toàn bộ khung cảnh của Un drame au bord de la mer đã làm nền cho hai phần đầu của Béatrix; cả ở Béatrix, Cambremer cũng đã được nhắc đến thoáng qua. Tuy nhiên, Cambremer đáng nhớ nhất lại nằm trong À la recherche du temps perdu của Marcel Proust: trong thế giới của Proust, có đến hai phụ nữ mang họ Cambremer (bị người nhân viên khách sạn nhất định gọi sai là "Camembert" giống như pho mát), một già một trẻ, đều là nhân vật hết sức quan yếu của bộ tiểu thuyết proustien.



Louis Lambert


LỜI ĐỀ TẶNG

Et nunc et semper dilectae dicatum[1].


Louis Lambert sinh ra đời, năm 1797, tại Montoire, thành phố nhỏ ở Vandômois[2], nơi bố anh có một xưởng thuộc da với vị trí khá là mờ nhạt và định biến anh trở thành người kế nghiệp cho mình; nhưng các năng lực mà anh thể hiện từ rất sớm đối với việc học hành đã làm biến đổi quyết định của ông bố[3]. Vả lại ông thợ thuộc da và vợ yêu chiều Louis như người ta yêu chiều một đứa con trai duy nhất và không trái ý anh trong bất kỳ điều gì. Cựu Ước và Tân Ước rơi vào tay Louis ở tuổi lên năm[4]; và cuốn sách này, trong đó chứa đựng ngần ấy sách, đã quyết định số phận anh. Trí tưởng tượng trẻ thơ đã hiểu ngay được chiều sâu thần bí của Thánh Kinh, đã có thể theo kịp Thánh Tuệ trong cuộc bay bổng qua các thế giới, đã chăm chăm say đắm chỉ những nét rù quến tiểu thuyết vốn tràn đầy ở những bài thơ phương Đông ấy; hoặc giả, trong quãng ngây thơ đầu tiên, tâm hồn đó đã cảm thông với sự trác tuyệt tôn giáo mà những bàn tay thần linh đã vãi tràn trề trong cuốn sách? Đối với vài độc giả, câu chuyện của chúng tôi sẽ giải quyết các câu hỏi này. Một điều nảy sinh từ lần đầu tiên đọc Kinh Thánh ấy: Louis đi khắp Montoire để xin những cuốn sách mà cậu nhận được nhờ vào các các quyến rũ mà bí mật chỉ thuộc về lũ trẻ con, trước chúng chẳng một ai có thể cưỡng lại. Lao mình vào những nghiên cứu đó, với tiến trình không được ai hướng lối, cậu đến tuổi lên mười. Thời ấy, khó tìm người thay thế lắm; nhiều gia đình giàu đã nhắm trước nhằm tới thời điểm rút thăm khỏi bị thiếu[5]. Vì tài sản ít ỏi không cho phép các thợ thuộc da nghèo mua lấy một người cho con trai họ, họ tìm thấy ở vị thế tăng lữ phương cách duy nhất mà luật còn để lại cho họ hòng cứu nó khỏi quân dịch[6], và họ gửi cậu, năm 1807, đến nhà ông bác đằng mẹ, cha xứ Mer, một thành phố nhỏ khác bên bờ sông Loire, gần Blois. Quyết định này vừa thỏa mãn niềm đam mê của Louis đối với khoa học vừa thỏa mãn ham muốn của bố mẹ cậu chẳng hề muốn phải chứng kiến cậu trải qua những bấp bênh hãi hùng của chiến tranh; vả lại sở thích học tập cùng trí thông minh xuất hiện sớm sủa của cậu khiến có thể hy vọng cậu sẽ thực hiện được một vận hạn lớn tại Nhà Thờ. Sau khi ở nhà ông bác, một thầy tu Oratoire già nua học vấn khá cao[7], chừng ba năm, Louis rời khỏi đó vào đầu năm 1811 để vào học tại trường Vendôme, nơi cậu được đưa vào và trả học phí bằng tiền của bà de Staël[8].

Lambert được hưởng sự bảo trợ của người đàn bà nổi tiếng ấy nhờ sự tình cờ hoặc, hẳn thế, nhờ Thiên Hựu luôn luôn biết san bằng các con đường cho thiên tài bị bỏ mặc. Nhưng đối với chúng ta, những kẻ có ánh mắt dừng lại nơi bề mặt mọi sự của con người, những trắc trở ấy, mà biết bao ví dụ ta đã thấy trong cuộc đời các nhân vật vĩ đại, dường như chỉ là kết quả của một hiện tượng thuần vật lý[9]; và, đối với phần lớn nhà viết tiểu sử, khuôn mặt một con người có thiên tài nổi bật hẳn lên khỏi đám đông giống như một cái cây đẹp nhờ vẻ rạng rỡ của nó thu hút trên cánh đồng cặp mắt của nhà thực vật học[10]. So sánh này hẳn có thể áp dụng vào cuộc phiêu lưu của Louis Lambert, thông thường cậu về nhà bố mẹ trong những khoảng thời gian mà ông bác cho nghỉ ngơi; nhưng thay vì, theo thói quen của lũ học trò, thỏa thuê với những nỗi êm dịu của thứ farniente[11] tốt lành vốn hấp dẫn chúng ta ở mọi độ tuổi, ngay từ sáng cậu mang theo bánh mì và đống sách; rồi cậu vào tận sâu trong rừng đọc sách và suy tư nhằm tránh khỏi những cằn nhằn của bà mẹ, đối với bà cứ học miệt mài như vậy thì có vẻ nguy hiểm. Trực giác người mẹ mới đáng ngưỡng mộ làm sao! Ngay từ hồi đó, ở Louis đọc sách đã trở nên một dạng cơn đói mà chẳng gì có thể làm no, cậu ngốn ngấu những cuốn sách đủ mọi loại, và thun thút nghiền không phân biệt các tác phẩm tôn giáo, lịch sử, triết học và vật lý[12]. Anh từng nói với tôi đã cảm thấy những khoái cảm không thể tin nổi trong lúc đọc các từ điển, vì không có các sách khác, và tôi đã sẵn lòng tin lời anh. Có cậu học trò nào chưa từng nhiều lần tìm thấy khoái trá khi tìm nghĩa mà một danh từ lạ có thể có? Việc phân tích một từ, vẻ ngoài[13] của nó, lịch sử của nó đối với Lambert là cơ hội cho một mơ mộng dài. Nhưng đó không phải mơ mộng thuộc trực giác nhờ đó một đứa trẻ quen được với các hiện tượng cuộc đời, trở nên gan góc trước các tri giác tinh thần hoặc vật chất; thứ hiểu biết vô ý về sau sẽ sinh sôi thành tựu cả trong niệm năng[14] lẫn trong tính cách; không, Louis bao trùm các sự kiện, cậu giải thích chúng sau khi đã tìm kiếm ở chúng cả nguyên tắc lẫn mục đích với một sự sáng suốt dữ dội. Vậy nên, bởi một trong những trò chơi đáng sợ mà đôi khi Tự Nhiên rất thích, và nó cho thấy tính chất bất thường trong sự tồn tại của nó, ngay từ tuổi mười bốn cậu đã có thể dễ dàng tuôn ra những ý tưởng mà chiều sâu phải mãi về sau mới được hé lộ cho tôi.

“Thường thì, anh nói với tôi, khi kể về những sách đọc, tôi đã có những chuyến đi tuyệt diệu, bước lên một từ, dưới các vực sâu của quá khứ, như con côn trùng đậu lên một nhành cỏ trôi nổi vô phương hướng trên dòng sông. Xuất phát từ Hy Lạp, tôi tới Rome và băng ngang toàn bộ các thời hiện đại. Còn cuốn sách đẹp nào mà người ta không viết ra đây, khi kể cuộc đời và những cuộc phiêu lưu của một từ? hẳn nó đã nhận lấy nhiều ấn tượng phong phú từ các sự kiện mà nó từng phụng sự[15]; tùy theo các địa điểm, nó đã đánh thức những ý tưởng khác nhau; nhưng chẳng phải sẽ còn lớn lao hơn nữa nếu nhìn nhận dưới cùng một lúc ba khía cạnh, của tâm hồn, của cơ thể và của chuyển động, ư? Nhìn nó, trừu tượng hóa các chức năng của nó, cũng như các hiệu ứng và hành động của nó, chẳng phải là có đủ để rơi vào cả một đại dương suy tư đấy ư? Phần lớn các từ chẳng phải được tô điểm bằng cái ý tưởng mà chúng đại diện ở bên ngoài ư[16]?  Nhờ vị thần nào đây mà chúng được sinh ra[17]! Nếu cần một trí tuệ khổng lồ để tạo ra một từ, lời lẽ của con người thật ra bao nhiêu tuổi? Sự kết hợp để tạo các chữ, hình dạng của chúng, cấu hình mà chúng trao cho một từ, vẽ nên rất chính xác, tùy theo tính cách mỗi dân tộc, những sinh thể xa lạ mà kỷ niệm nằm bên trong chúng ta[18]. Ai người sẽ giải thích theo đường lối triết học cho chúng ta sự chuyển từ giác quan sang suy nghĩ, từ suy nghĩ sang lời, từ lời sang biểu đạt tượng hình của nó[19], từ các chữ tượng hình sang bảng chữ cái a bê xê, từ bảng chữ cái sang sự hùng biện trong viết, mà vẻ đẹp nằm trong một dãy hình ảnh được sắp xếp bởi các nhà tu từ học, và giống như là các chữ tượng hình của tư tưởng? Hội họa cổ xưa của các tư tưởng con người cấu hình bởi các hình dạng động vật chẳng phải đã không xác định những ký hiệu đầu tiên mà phương Đông sử dụng để viết ra các ngôn ngữ của mình? Rồi chẳng phải nó đã, theo truyền thống, để lại một số phế tích trong các thứ tiếng hiện đại của chúng ta, tất tật đều chia nhau những tàn dư của lời nguyên thủy của các quốc gia, lời uy nghi và trang trọng, mà vẻ uy nghi, mà vẻ trang trọng suy thoái dần cùng đà già đi của các xã hội; mà những vang âm lừng đến thế trong Kinh Thánh hebrew, vẫn còn đẹp đến vậy tại Hy Lạp, suy yếu qua các tiến bộ của những nền văn minh tiếp nối nhau của chúng ta? Phải chăng nhờ Tinh Thần xa xưa ấy mà chúng ta có những điều bí ẩn chôn vùi trong mọi lời nói con người[20]? Chẳng phải tồn tại trong cái từ ĐÚNG một dạng ngay thẳng huyền ảo đấy ư? Chẳng phải là có, trong âm thanh ngắn ngủi mà nó đòi hỏi, một hình ảnh mơ hồ về sự trần truồng thánh thiện, về sự giản dị của cái đúng trong mọi thứ đấy ư? Âm tiết này phả ra một cái gì đó thật mát lành. Tôi đã lấy làm ví dụ cách tạo hình của một ý tưởng trừu tượng, vì không muốn giải thích vấn đề bằng một từ biến nó trở nên quá dễ hiểu, giống như từ BAY[21], nơi mọi điều đều lên tiếng nói với ngũ quan. Chẳng phải lời nào cũng là như vậy ư? Tất cả mọi người đều được in dấu ấn một sức mạnh sống động mà họ lấy được từ tâm hồn, mà họ tái lập ở đó thông qua các bí ẩn của một hành động và của một phản ứng thần diệu giữa lời nói và suy nghĩ. Chẳng phải người ta sẽ nói tới một người tình hứng lấy trên cặp môi người tình nữ của anh ta cùng lượng tình yêu mà anh ta trao cho nàng đấy ư? Chỉ bởi vẻ bên ngoài của các từ, chúng đã làm sống động trở lại trong óc các tạo vật mà chúng khoác quần áo lên người cho. Giống với mọi sinh thể, chúng chỉ có độc một vị trí nơi các thuộc tính của chúng có thể hoạt tác và phát triển đầy đủ. Nhưng có lẽ chủ đề này chứa đựng nguyên cả một môn khoa học[22]!” Và anh nhún vai như muốn nói với tôi: “Chúng ta vừa quá to lớn vừa quá bé nhỏ!”[23]

Vả lại niềm đam mê của Louis đối với đọc sách đã được phục vụ một cách tuyệt hảo. Cha xứ Mer sở hữu chừng hai hay ba nghìn quyển sách. Kho báu này có nguồn gốc từ những cuộc cướp phá diễn ra trong cách mạng tại các tu viện và lâu đài lân cận. Với tư cách linh mục tuyên thệ[24] của ông, con người tốt lành đã có thể lựa chọn những sách hay nhất trong số các bộ sưu tập quý hồi đó được bán cân. Trong vòng ba năm Louis Lambert đã nuốt trọn tinh chất của những cuốn sách nào, trong tủ sách của ông bác, xứng đáng được đọc. Sự hấp thụ các tư tưởng nhờ đọc ở cậu đã trở thành một hiện tượng kỳ lạ; ánh mắt cậu trùm lên bảy hay tám dòng cùng một lúc, và tâm trí cậu nắm lấy nghĩa của chúng với một tốc lực tương tự tốc lực của ánh mắt; thậm chí thường chỉ một từ trong câu cũng đã đủ để cậu tóm lấy toàn bộ tinh túy của nó. Trí nhớ của cậu ở mức kinh dị[25]. Cậu nhớ rất chính xác cả các tư tưởng thu nhặt được khi đọc cũng như các tư tưởng mà suy nghĩ hay trò chuyện từng gợi ý cho cậu. Cậu còn sở hữu mọi loại trí nhớ: liên quan đến địa điểm, đến tên riêng, đến từ, đến vật và đến các hình tượng. Cậu không chỉ tùy ý nhớ lại các sự vật; mà cậu còn thấy lại chúng bên trong mình được định vị, soi sáng, tô màu giống như chúng đã vào thời điểm cậu trông thấy. Quyền năng này cũng xuất hiện trong các hành động khó nắm bắt nhất của niệm năng. Cậu nhớ, theo lời anh kể về sau, không chỉ lớp vỉa suy tư trong quyển sách nơi cậu bắt được chúng, mà cả trạng thái tâm hồn cậu vào những quãng thời gian đã rất xa. Thế là nhờ một ưu thế lớn lao, trí nhớ của cậu có thể vạch lại cho cậu các tiến bộ và toàn bộ cuộc đời tinh thần, kể từ ý nghĩ nắm bắt được xa xưa nhất cho tới khi bừng nở toàn bộ, kể từ ý nghĩ rối loạn nhất cho tới ý nghĩ sáng suốt nhất. Trí óc[26] cậu, còn rất trẻ đã quen với cơ chế khó nhọc của sự tập trung các lực con người, rút được từ nhà kho phong phú đó cả một đống hình ảnh đáng ngưỡng mộ của thực tại, của sự tươi mới, mà cậu dùng để tự nuôi dưỡng trong lúc diễn ra các chiêm ngưỡng trong suốt của cậu.

“Khi nào tôi muốn, anh nói với tôi bằng ngôn ngữ riêng của anh, mà các kho báu của kỷ niệm truyền thông một sự độc đáo thoáng qua, tôi phủ một lớp màn lên mắt tôi. Đột nhiên tôi quay trở ngược vào trong chính tôi, và tôi tìm thấy ở đó một căn phòng đen[27] nơi các bất trắc của tự nhiên cũng xuất hiện và tự tái tạo dưới một hình thức thuần khiết hơn so với hình thức chúng đã dùng trước đó để xuất hiện với các giác quan bên ngoài của tôi.”

Mười hai tuổi, trí tưởng tượng của cậu, được kích thích bởi cuộc rèn luyện không ngừng các năng lực, đã phát triển tới mức nó cho phép cậu có được các khái niệm chuẩn xác về mọi vật, cậu tri nhận được chỉ cần bằng việc đọc, rằng hình ảnh in vào tâm hồn cậu hẳn sẽ chẳng thể sống động hơn so với nếu cậu từng thực sự trông thấy chúng; hoặc giả cậu thực thi sự tương đồng[28], hoặc giả cậu được thiên phú một dạng con mắt thứ hai mà cậu dùng để bao quát lấy tự nhiên.

“Khi đọc câu chuyện về trận Austerlitz[29], một hôm anh kể với tôi, tôi đã trông thấy mọi biến cố của nó. Các phát đạn pháo, tiếng hét của những người lính vang lên bên tai tôi và làm lộn nhào ruột gan tôi; tôi ngửi thấy mùi thuốc súng, tôi nghe thấy tiếng lũ ngựa và giọng nói con người; tôi ngưỡng mộ bình nguyên nơi các quốc gia mang vũ khí lao bổ vào nhau, như thể tôi ở trên đỉnh Santon[30]. Tôi thấy cảnh tượng đó cũng đáng sợ như một trang của sách Khải Huyền.”[31]

Khi vận đến tất tật sức mạnh của mình như thế trong lúc đọc, theo cách nào đó cậu đánh mất ý thức về cuộc sống vật lý của mình, và chỉ còn tồn tại bằng trò chơi toàn năng của các cơ phận bên trong mà tầm vóc đã mở rộng vô hạn độ: cậu để lại, theo đúng lời của anh, không gian ở lại sau lưng. Nhưng tôi không muốn khởi cấp các pha trí tuệ của cuộc đời anh. Dẫu không hề muốn, tôi cũng vừa đã làm rối loạn trình tự trong đó tôi phải thuật lại câu chuyện về con người ấy, người chuyển dịch toàn bộ hành động vào trong suy nghĩ của mình, giống như những người khác đặt toàn bộ đời mình vào trong hành động.

Một thiên hướng mạnh mẽ lôi kéo anh đến với các tác phẩm thần bí. “Abyssus abyssum[32]”, anh bảo tôi. Tinh thần của chúng ta là một vực thẳm sung sướng khi được ở trong các vực thẳm. Trẻ con, người trưởng thành, người già, tất thảy chúng ta đều luôn luôn say sưa với các bí ẩn, dưới bất kỳ hình thức nào. Mối ưa thích này đối với anh là định mệnh, nếu tuy nhiên được phép đánh giá cuộc đời anh theo các quy luật thông thường, và hạ mục xuống hạnh phúc kẻ khác với tiêu chuẩn của chúng ta, hoặc theo các định kiến xã hội[33]. Sở thích hướng tới những gì thuộc về trời, một cụm từ khác mà anh hay sử dụng, mens divinior[34], có lẽ bắt nguồn từ ảnh hưởng lên tinh thần chúng ta bởi những cuốn sách đầu tiên anh đã đọc ở nhà ông bác. Thánh Thérèse[35] và Bà Guyon[36] đối với cậu là tiếp nối Kinh Thánh, mang lại cho cậu nền tảng cho trí tuệ người trưởng thành, và khiến cậu làm quen với những phản ứng mạnh mẽ của tâm hồn và sự phấn hứng vừa là phương tiện lại vừa là kết quả. Sự nghiên cứu này, sở thích này nâng cao trái tim cậu, thanh tẩy nó, biến nó trở nên cao quý, mang tới cho nó niềm say mê bản tính thần, và dạy cho nó những tinh tế gần như có tính nữ vốn dĩ thuộc về trực giác, nơi các nhân vật vĩ đại: có lẽ sự trác tuyệt của họ chỉ là nhu cầu được tận tâm, cái khiến cho phụ nữ trở nên nổi bật, nhưng là được chuyển di vào những điều lớn lao. Nhờ vào các ấn tượng đầu tiên này, Louis giữ cho mình thanh sạch ở trường[37]. Sự trinh trắng cao quý về giác quan ấy nhất thiết tạo ra kết quả là làm phong phú sức nóng của máu cậu và tăng tiến các năng lực[38] suy tư nơi cậu.

Bà nam tước de Staël, bị cấm chỉ lại gần Paris trong vòng bốn mươi dặm, đến sống nhiều tháng cuộc phát vãng của mình tại một khu đất gần Vendôme[39]. Một hôm, trong lúc đi dạo, bà bắt gặp ở rìa khu vườn đứa con của người thợ thuộc da gần như ăn mặc rách rưới, đang ngồi đọc sách say sưa. Quyển sách ấy là bản dịch tác phẩm Thiên Đường và Địa Ngục[40]. Thời ấy, gần như chỉ có các ông Saint-Martin[41], de Gence và vài nhà văn Pháp khác, nửa dòng máu Đức, tại đế chế Pháp, biết đến tên tuổi Swedenborg. Kinh ngạc, bà de Staël giật lấy quyển sách với sự hung tợn mà bà làm ra vẻ mình rất dồi dào trong các tra hỏi, ánh mắt và cử chỉ; rồi, liếc nhìn Lambert: “Cháu có hiểu không đấy? bà hỏi cậu. - Bà có cầu nguyện Chúa không? đứa bé hỏi. - Ờ… có. - Thế bà có hiểu ông ấy không?”

Bà nam tước câm lặng mất một lúc; rồi bà ngồi xuống cạnh Lambert và nói chuyện với cậu. Thật không may là trí nhớ của tôi, dẫu rất rộng rãi, còn xa mới có thể trung thành bằng trí nhớ của bạn tôi, thành thử tôi đã quên mất sạch cuộc trò chuyện ấy, ngoài mấy câu đầu tiên. Cuộc gặp này mang tính chất khiến bà de Staël bị chấn động mạnh; khi quay về lâu đài, bà ít nhắc đến nó, mặc cho nhu cầu kể lể vốn dĩ ở bà hay suy thoái thành sự lắm điều; nhưng bà tỏ vẻ hết sức bận tâm về chuyện này. Người duy nhất còn sống hẳn còn giữ kỷ niệm về cuộc phiêu lưu ấy, mà tôi cũng đã hỏi chuyện nhằm gom góp chút ít lời lẽ hồi đó bà de Staël từng để buột ra, khó nhọc lắm mới tìm lại được trong ký ức câu này của bà nam tước, về Lambert: Đó là một người thấu thị đích thực[42]. Trong mắt mọi người Louis chẳng hề chứng tỏ là đúng đắn những niềm hy vọng đẹp mà cậu đã truyền tới cho người phụ nữ bảo trợ của mình. Bởi thế sự ưa thích thoáng qua mà cậu là đối tượng được coi như là một trò đỏng đảnh phụ nữ, giống như một trò phóng túng đặc biệt ở các nghệ sĩ. Bà de Staël muốn giật Louis Lambert khỏi tay Hoàng Đế và Nhà Thờ để giao cậu về cho số phận cao quý, nó, bà nói, đang đợi cậu; bởi vì bà đã biến cậu trở thành một Moïse mới, được cứu khỏi mặt nước. Trước khi đi, bà giao cho một người bạn, ông de Corbigny, hồi ấy làm quận trưởng ở Blois[43], lo việc chừng nào đến thời điểm thích hợp thì đưa Moïse của bà vào học ở trường Vendôme; sau đó có khả năng bà đã quên bẵng cậu.

Nhập học quãng mười bốn tuổi, đầu năm 1811, Lambert sẽ rời khỏi đó vào cuối năm 1814, sau khi học xong triết học[44]. Tôi ngờ rằng, suốt quãng thời gian ấy, cậu chẳng hề nhận được một kỷ niệm nào từ người phụ nữ giúp đỡ cậu, trừ phi nên coi là một việc tốt cái việc trả tiền học trong vòng ba năm cho một đứa trẻ mà chẳng nghĩ gì đến tương lai của nó, sau khi đã lôi tuột nó đi khỏi một sự nghiệp nơi có lẽ nó đã tìm được hạnh phúc riêng. Hoàn cảnh của thời ấy cùng tính cách của Louis Lambert có thể giải tội lỗi cho bà de Staël cũng như sự vô lo nghĩ của bà, và sự hào phóng của bà. Người được chọn làm trung gian trong mối quan hệ giữa bà và đứa trẻ rời Blois vào thời điểm cậu ra trường. Các sự kiện chính trị lúc đó[45] biện minh không ít cho sự thờ ơ của nhân vật kia đối với người được bà nam tước bảo trợ. Tác giả của Corinne[46] không còn nghe nói đến Moïse bé nhỏ của bà nữa. Một trăm louis mà bà đưa cho ông de Corbigny, người, tôi nghĩ thế, cũng đã chết năm 1812, không phải một khoản tiền lớn đến mức có thể đánh thức các kỷ niệm của bà de Staël, người vốn có tâm hồn ngây ngất gặp được món ăn của nó, và người có các lợi ích bị đe dọa dữ dội trong các biến cố hồi những năm 1814 và 1815. Louis Lambert vào lúc đó vừa quá nghèo vừa quá kiêu hãnh nên đã không đi tìm người phụ nữ hảo tâm, bà đang đi du lịch châu Âu. Tuy nhiên cậu đã cuốc bộ từ Blois đến Paris với ý định gặp bà, và thật không may đến đúng cái ngày bà nam tước qua đời[47]. Hai bức thư mà Lambert viết không nhận được hồi đáp. Vậy nên đối với Louis kỷ niệm về các dự định tốt đẹp của bà de Staël chỉ nằm trong những ký ức non trẻ, cũng choáng váng giống như ký ức của tôi vì tính chất tuyệt diệu trong câu chuyện này. Phải từng ở trường của chúng tôi thì mới có thể hiểu cả hiệu ứng thường xuất hiện trong tâm trí chúng tôi khi có thông báo về một học sinh mới cũng như ấn tượng đặc biệt mà cuộc phiêu lưu của Lambert gây ra cho chúng tôi.

Ở đây, vài thông tin về các luật sơ khởi của Thiết Chế chúng tôi, xưa kia có tính chất nửa quân sự nửa tôn giáo[48], trở nên nhất thiết nhằm giải thích cuộc đời mới mà Lambert sẽ có ở đây. Trước cách mạng, Dòng Oratoire, đảm đương, cũng như Dòng Jésus[49], công việc dạy dỗ, nó được thừa hưởng từ một số gia đình, sở hữu nhiều cơ sở ở tỉnh, với các cơ sở nổi tiếng hơn cả là các trường Vendôme, Tournon, La Flèche, Pont-le-Voy, Sorèze và Juilly. Trường Vendôme, cũng như các trường khác, nuôi dạy, tôi nghĩ thế, một số lượng nhất định học viên sĩ quan để phụng sự trong quân đội sau này. Sự bãi bỏ Giáo Viên Đoàn, do Quốc Ước định ra, ảnh hưởng rất ít tới Thiết Chế Vendôme. Cơn khủng hoảng đầu tiên vừa trôi qua, trường đã chiếm lại các tòa nhà; vài thầy tu Oratoire tản mát ra các vùng lân cận quay trở về, và tái lập nó, tiếp tục thi hành quy chế cũ, các thói quen, tập tục và phong hóa, chúng khiến cho ngôi trường có một vẻ ngoài mà tôi không cách gì so sánh nổi nếu căn cứ vào các trường li xê tôi đã qua kể từ sau khi rời Vendôme.

Nằm ngay giữa thành phố, trên dòng sông Loir nhỏ bé tắm mát cho các tòa nhà[50], trường tạo thành một vòng rất kín trong đó là các cơ sở cần thiết cho một Thiết Chế thuộc dạng này: một nhà nguyện, một nhà hát, một khu bệnh xá, một lò bánh mì, khu vườn, các dòng nước. Ngôi trường này, cái nôi học tập nổi tiếng nhất trong số các tỉnh miền trung, được cung ứng bởi các tỉnh kia và bởi các thuộc địa của chúng ta[51]. Sự xa xôi không cho phép các ông bố bà mẹ thường đến thăm con họ. Vả lại nội quy không cho phép các kỳ nghỉ bên ngoài. Đã vào đây rồi, học sinh sẽ chỉ rời khỏi trường chừng nào học xong. Ngoài ngoại lệ những cuộc đi dạo được ra ngoài dưới sự dẫn dắt của các Cha, mọi thứ đều được tính toán để mang lại cho ngôi nhà này các lợi thế của kỷ luật nhà tu kín. Thời của tôi, Quản Thị[52] vẫn còn là một kỷ niệm sống động, và cái roi da cổ điển[53] vẫn có vinh dự đóng ở đó vai trò khủng khiếp của nó. Những sự trừng phạt xưa kia được Dòng Tên nghĩ ra, và mang một tính cách đáng sợ đối với tinh thần cũng như thể chất, vẫn giữ nguyên toàn vẹn như chương trình xưa cũ[54]. Viết thư cho bố mẹ là việc bị bắt buộc vào một số ngày, cũng như xưng tội. Thế nên cả các tội lỗi lẫn tình cảm của chúng tôi đều đặn bị chấn chỉnh. Mọi thứ mang dấu ấn bộ đồng phục nhà tu kín. Tôi còn nhớ, trong số các vết tích khác của Viện ngày xưa, cuộc kiểm tra mà chúng tôi phải trải qua mỗi Chủ nhật. Chúng tôi ăn mặc đẹp, xếp hàng như những người lính, đợi hai ông giám đốc, theo sau là các nhà cung ứng và các thầy, kiểm tra chúng tôi về ba phương diện, trang phục, vệ sinh và tinh thần.

Hai hay ba trăm học sinh mà trường chứa được chia thành, theo tập tục cũ, bốn hạng, gọi là Rất Nhỏ, , NhỡLớn. Hạng Rất Nhỏ chiếm các lớp được gọi là lớp tám và lớp bảy[55]; các lớp của hạng Bé là lớp sáu, lớp năm và lớp bốn; hạng Nhỡ: lớp ba và lớp hai; cuối cùng là hạng Lớn, lớp tu từ, lớp triết học, lớp toán đặc biệt, lớp vật lý và lớp hóa học. Mỗi phân khu có một nhà riêng, các lớp học và sân trong một khu đất chung lớn trên đó lớp có lối ra, nó dẫn tới nhà ăn. Nhà ăn này, xứng danh với một Dòng tu tôn giáo cổ xưa, chứa được tất cả học sinh. Trái ngược với nội quy của các trường kiểu khác, chúng tôi có thể nói chuyện trong lúc ăn, sự rộng lượng kiểu Oratoire cho phép chúng tôi đổi các món cho nhau tùy thuộc sở thích riêng. Việc trao đi đổi lại đồ ăn này luôn luôn là một trong những khoái thú lớn nhất trong cuộc đời nội trú chúng tôi. Nếu một học sinh Nhỡ, ngồi ở đầu bàn, thích đậu đỏ hơn món tráng miệng của mình, bởi vì chúng tôi có món tráng miệng, lời đề xuất sau đây sẽ được truyền đi từ cái miệng này sang cái miệng khác: Một tráng miệng để đổi đậu! cho tới khi nào một đứa tham ăn chấp nhận; khi ấy, cậu ta sẽ gửi đi phần đậu của mình, nó được chuyền tay cho tới chỗ người đưa yêu cầu, rồi phần tráng miệng đi theo cùng con đường ấy. Chưa từng bao giờ xảy ra nhầm lẫn. Nếu có nhiều yêu cầu giống nhau, mỗi yêu cầu sẽ được đánh số, và người ta nói: Đậu đầu tiên đổi lấy tráng miệng đầu tiên. Các bàn thì dài, sự trao đổi liên miên của chúng tôi khiến chúng lúc nào cũng nhộn nhịp; và chúng tôi nói, chúng tôi ăn, chúng tôi loay hoay với một sự sống động hiếm có. Vậy nên tiếng ồn ã của ba trăm thằng bé, những đi lại của các phục vụ chuyên thay đĩa, mang các món, đưa bánh mì, sự kiểm tra của các giám đốc, tất tật làm cho nhà ăn Vendôme trở nên một cảnh tượng độc nhất vô nhị trong kiểu của nó, và luôn luôn khiến các khách thăm phải kinh ngạc.

Nhằm làm cuộc sống của chúng tôi trở nên dễ chịu hơn, vốn dĩ nó thiếu vắng mọi truyền thông với bên ngoài và khô kiệt những ve vuốt của gia đình, các Cha còn cho phép chúng tôi được nuôi chim bồ câu và làm vườn. Hai hay ba trăm cái chuồng của chúng tôi, chừng một nghìn bồ câu đậu quanh bức tường bao của chúng tôi và khoảng ba mươi khu vườn tạo thành một quang cảnh còn kỳ khôi hơn so với quang cảnh các bữa ăn của chúng tôi. Nhưng hẳn sẽ là rất nhạt nhẽo nếu kể lể những điểm đặc biệt đã biến trường Vendôme trở thành một cơ sở ngoại hạng, và thật màu mỡ kỷ niệm đối với những ai từng có tuổi thơ trôi qua ở đó. Ai trong số chúng tôi còn chưa nhớ lại một cách khoái trá, mặc cho những nỗi chua chát của khoa học, những điều kỳ quái của cuộc sống nhốt kín ấy? Đó là những kẹo bánh mua lậu được khi ra ngoài đi dạo, sự cho phép chơi bài và dựng các vở kịch để diễn trong kỳ nghỉ, mót trộm hoa màu và những tự do nhất thiết đối với nỗi cô đơn của chúng tôi; rồi lại còn đội quân nhạc của chúng tôi nữa chứ, tàn tích cuối cùng còn lại từ các Sĩ Quan Học Việc; “viện hàn lâm” của chúng tôi, cha giáo đạo của chúng tôi, các Cha thầy giáo của chúng tôi; rốt cuộc, những trò chơi riêng bị cấm hoặc được cho phép: trò kỵ binh trên cà kheo, những đường trượt băng thật dài dựng lên vào mùa đông, những giày đế gỗ Gô-loa của chúng tôi, và nhất là việc mua bán được khởi phát từ cửa hiệu dựng bên trong khuôn viên trường chúng tôi. Cửa hiệu này nằm dưới sự quản lý của ông[56] Jacques, với ông thì lớn hay nhỏ chúng tôi cũng đều có thể hỏi, tùy thuộc vào bảng quảng cáo: hộp, cà kheo, dụng cụ, bồ câu ức xù lông[57], bồ câu chân có lông, sách lễ (mặt hàng hiếm), dao ca-níp, giấy, bút lông, bút chì, mực đủ màu, bóng, bi; tức là toàn bộ cái thế giới những phóng túng huyền ảo của tuổi nhỏ, và bao gồm tất tật mọi thứ, kể từ thứ nước xốt dùng cho những con bồ câu mà chúng tôi sẽ phải giết đi cho tới những chai lọ đựng gạo dành cho món xúp bữa trưa hôm sau. Ai trong số chúng tôi bất hạnh đến nỗi đã quên biến những trống ngực thình thịch khi trông thấy cửa hàng mở cửa định kỳ vào các giờ nghỉ ngày Chủ nhật kia, và là nơi chúng tôi lần lượt đến tiêu món tiền đã được cho; nhưng đó cũng là nơi sự ít ỏi của món trợ cấp mà bố mẹ chúng tôi dành cho các khoái lạc nhỏ bé buộc chúng tôi phải lựa chọn giữa tất tật những thứ đồ gây ra những quyến rũ mạnh mẽ tới vậy đối với tâm hồn chúng tôi? Người vợ trẻ, trong những ngày đầu tiên kỳ trăng mật, được chồng đưa cho mười hai lần trong năm một cái túi đựng tiền vàng, ngân quỹ xinh xẻo cho các đỏng đảnh của nàng, phải chăng chưa bao giờ nương tử ấy mơ cũng đến ngần ấy những món cần mua khác nhau, món nào cũng tốn mất toàn bộ số tiền, giống như chúng tôi từng nghiền ngẫm ngày hôm trước các Chủ nhật đầu tiên của tháng? Với sáu franc, chúng tôi được sở hữu, trong vòng một đêm, toàn bộ sự phổ quát mọi tài sản của cái cửa hiệu chẳng bao giờ chịu vơi đi ấy! và, trong lễ mixa, chúng tôi chẳng hát lấy một bài nào[58] không rối bời các suy tính bí mật của chúng tôi. Ai kẻ trong số chúng tôi có thể nhớ từng có vài xu để tiêu vào ngày Chủ nhật thứ hai? Rốt cuộc, ai đã không tuân theo từ trước các quy luật xã hội, vừa làm thế vừa xót thương, cứu giúp, khinh bỉ những Người Cùng Khổ mà sự hà tiện hoặc nỗi bất hạnh cha ông để mặc trong cảnh không tiền tiêu?

Bất kỳ ai muốn hình dung nỗi cô lẻ của ngôi trường lớn với các tòa nhà giống như tu viện này, nằm giữa một thành phố nhỏ, cùng bốn khu khuôn viên trong đó chúng tôi được phân chia vào tùy theo cấp bậc, hẳn sẽ có một ý tưởng về mối quan tâm mà chúng tôi phải cảm thấy khi một học sinh mới được đưa tới, đó thực sự là một hành khách bước lên một con tàu. Chưa từng bao giờ một nữ công tước trẻ tuổi được giới thiệu tại triều đình lại bị phê phán một cách ranh ma như người mới lên thuyền bởi tất thảy học sinh thuộc Phân Khu của cậu ta. Thông thường, trong giờ nghỉ buổi tối, trước khi cầu nguyện, đám nịnh bợ vốn quen trò chuyện với một trong hai Cha phụ trách trông coi chúng tôi trong tuần, lần lượt thay nhau, khi ấy đang làm việc, là những kẻ đầu tiên nghe thấy những lời chân thật này: “Ngày mai các cậu sẽ có một Học Sinh Mới!” Đột nhiên một tiếng hét cất lên: “Một Học Sinh Mới! một Học Sinh Mới!” vang lên ầm ầm trong các lớp. Tất cả chúng tôi chạy ào đến vây lấy Cha Quản Lý, ông bị tra hỏi quyết liệt. “Cậu ta từ đâu đến? Tên cậu ta là gì? Cậu ta sẽ vào lớp nào?” vân vân và vân vân.

Cú xuất hiện của Louis Lambert là văn bản một câu chuyện xứng với Nghìn lẻ một Đêm. Khi ấy tôi đang học lớp bốn[59], hạng Bé. Quản Lý của chúng tôi là hai người mà theo truyền thống chúng tôi gọi là các Cha, cho dù họ là người thế tục[60]. Vào thời của tôi, tại Vendôme chỉ còn ba thầy tu Oratoire đích thực mà cách gọi này là đúng; năm 1814, họ rời trường, nó đã dần dà được thế tục hóa, để tới trú ẩn gần các ban thờ thuộc vài khu mục sư nông thôn, noi theo gương cha xứ của Mer. Cha Haugoult[61], Quản Lý của tuần, khá là tốt tính, nhưng không sở hữu những hiểu biết đáng kể, ở ông thiếu vắng sự tinh tế cần thiết đến vậy nhằm có thể nhìn cho rõ tính cách khác nhau của lũ trẻ con và định ra đối với chúng những sự trừng phạt căn cứ vào sức lực từng đứa. Thế nên cha Haugoult bắt đầu, hết sức vui thích, kể các sự kiện đặc biệt, chúng sẽ, ngày hôm sau, giúp chúng tôi có được một Học Sinh Mới ngoạn mục nhất. Ngay tắp lự mọi trò chơi bị ngưng lại. Tất tật lũ Bé lẳng lặng đến nghe kể cuộc phiêu lưu của cái cậu Louis Lambert kia, được tìm thấy, như một tảng thiên thạch, nhờ bà de Staël, nơi góc một khu rừng. Ông Haugoult phải giải thích cho chúng tôi về bà de Staël: trong buổi tối hôm ấy, tôi tưởng tượng bà cao mười bộ[62]; kể từ đó tôi đã xem bức tranh Corinne[63], trong đó Gérard[64] đã vẽ bà cao lớn đến thế và đẹp đến thế[65]; hỡi ôi! người phụ nữ lý tưởng mà trí tưởng tượng của tôi mơ thấy vượt đi xa đến mức bà de Staël thực đã thường trực mất đi trong tâm trí tôi, kể cả sau khi tôi đã đọc cuốn sách hết sức đực tính tên là Về nước Đức[66]. Nhưng lúc đó Lambert là một kỳ quan hoàn toàn khác: sau khi đã kiểm tra cậu, ông Mareschal, giám đốc phụ trách học tập[67], đã do dự, cha Haugoult kể, trong việc xếp cậu vào hạng Lớn. Việc Louis kém môn tiếng Latin đã khiến cậu phải xuống lớp bốn, nhưng chắc hẳn mỗi năm cậu sẽ nhảy một lớp[68]; chắc cậu sẽ được đặc cách vào “viện hàn lâm”[69]. Proh Pudor[70]! chúng tôi sẽ có vinh dự sở hữu giữa đám Bé một bộ trang phục điểm trang dải ruy băng đỏ mà các thành viên hàn lâm viện của Vendôme thường mang. Họ được trao cho những đặc quyền chói lọi; họ thường ăn tối cùng bàn với Giám Đốc, và mỗi năm có hai buổi giảng về văn chương mà chúng tôi tới nghe tác phẩm của họ. Một thành viên hàn lâm viện là một người lớn thu nhỏ. Nếu mỗi học sinh Vendôme muốn thật thành thực, cậu ta sẽ thú nhận rằng, về sau, một thành viên hàn lâm viện đích thực của Viện Hàn lâm Pháp đối với cậu ta ít đáng kinh ngạc hơn so với đứa bé khổng lồ được tô điểm bằng cái chữ thập và dải ruy băng đỏ đầy thanh thế, những dấu chỉ của hàn lâm viện chúng tôi[71]. Thật khó để được trở thành thành viên của tổ chức vinh quang này trước khi vào lớp hai, bởi các thành viên hàn lâm viện thứ Năm nào cũng, trong những kỳ nghỉ, phải giảng bài trước công chúng, và đọc cho chúng tôi các câu chuyện bằng văn vần hoặc văn xuôi, những bức thư, các khảo luận, bi kịch, hài kịch; những sáng tác này bị cấm đối với trí tuệ các lớp bậc thấp hơn. Tôi đã nhớ rất lâu một câu chuyện, tên là Con lừa màu lục, nó, tôi nghĩ vậy, là tác phẩm nổi bật hơn cả của cái hàn lâm viện không ai biết tới đó. Một học sinh lớp bốn có thể là thành viên hàn lâm viện! Sẽ là thuộc vào trong số chúng tôi đứa trẻ mười bốn tuổi ấy, đã là nhà thơ, được bà de Staël yêu quý, một thiên tài tương lai, cha Haugoult bảo chúng tôi; một phù thủy, một đứa có khả năng dịch ngược hoặc dịch xuôi trong lúc chúng tôi đang điểm danh trên lớp, và học thuộc lòng các bài học mà chỉ cần đọc qua đúng một lần. Louis Lambert làm rối tung tất tật suy nghĩ của chúng tôi. Rồi nỗi hiếu kỳ của cha Haugoult, sự sốt ruột mà ông thể hiện trong việc được gặp Học Sinh Mới, càng thiêu đốt mạnh hơn trí tưởng tượng của chúng tôi vốn dĩ đã ngùn ngụt cháy. “Nếu có chim bồ câu, thì cậu ấy cũng sẽ chưa có chuồng. Không còn chỗ nữa. Kệ thôi! một thằng trong số chúng tôi nói, từ lâu nay nó đã là một nhà làm nông lớn. - Cậu ấy sẽ ngồi cạnh ai nhỉ? một thằng khác hỏi. - Ồ! sao mà tớ muốn trở thành faisant của cậu ấy[72] quá! một thằng quá hứng khởi nói. Trong ngôn ngữ đặc vị trường của chúng tôi, cái từ faisant này(vả lại, nó có nghĩa là bạn keo sơn) là một lối biệt ngữ rất khó dịch. Nó diễn tả một sự chia sẻ đầy tính chất huynh đệ những gì tốt đẹp và những gì xấu xa của cuộc đời trẻ con chúng tôi, một sự cận kề các lợi ích rất màu mỡ cho các vụ nghỉ chơi và dàn hòa, một hiệp ước đồng minh cả về phương diện tấn công lẫn phòng thủ. Một điều thật lạ! chưa từng bao giờ, vào thời của tôi, tôi bắt gặp các anh em trở thành faisant của nhau. Nếu con người chỉ sống bằng các tình cảm, có lẽ anh ta sẽ nghĩ mình làm nghèo nàn cho sự tồn tại riêng khi lẫn lộn một tình trìu mến tìm được với một tình trìu mến tự nhiên.

Ấn tượng mà những lời của cha Haugoult gây lên tôi trong buổi tối hôm ấy thuộc vào các ấn tượng mạnh nhất của tuổi thơ tôi, mà tôi chỉ có thể so sánh với ấn tượng khi đọc Robinson Crusoe. Thậm chí về sau chính nhờ kỷ niệm về những cảm giác phi thường đó mà tôi có được một nhận xét có lẽ là mới mẻ về các hiệu ứng khác nhau mà các từ tạo ra trong mỗi niệm năng riêng biệt. Lời chẳng có gì là tuyệt đối: chúng ta tác động lên từ nhiều hơn so với nó tác động lên chúng ta; sức mạnh của nó tùy thuộc vào những hình ảnh mà chúng ta thu nhặt được rồi nhóm vào đó; nhưng nghiên cứu về hiện tượng này đòi hỏi những phát triển rộng lớn, không hợp ở đây. Không sao ngủ nổi, tôi đã có một cuộc tranh luận dài với cậu hàng xóm trong phòng ngủ chung về con người ngoạn mục chỉ ngày hôm sau sẽ thuộc vào số chúng tôi. Cậu bạn hàng xóm này, trước kia là sĩ quan, giờ là nhà văn đậm màu sắc triết học sâu sắc, Barchou de Penhoën[73], đã không phủ nhận cả tiền định của mình cũng như sự ngẫu nhiên từng tập hợp vào cùng một lớp, trên cùng một băng ghế và dưới cùng một mái nhà, hai học sinh duy nhất của Vendôme mà Vendôme vẫn còn nghe nhắc đến ngày nay; bởi vì, vào thời điểm cuốn sách này được xuất bản, Dufaure[74], bạn đồng môn của chúng tôi, vẫn còn chưa bước chân vào cuộc sống công cộng của nghị viện. Dịch giả mới đây của Fichte, người diễn giải và bạn của Ballanche[75], ngày ấy đã bận tâm, cũng như bản thân tôi, đến các vấn đề siêu hình học; cậu hay tán nhảm với tôi về Chúa, về chúng tôi và về tự nhiên. Lúc đó cậu có các thiên hướng hoài nghi chủ nghĩa[76]. Chăm chăm lo lắng cho vị thế riêng của mình, cậu chối bỏ các năng lực của Lambert; trong khi đó, do mới đọc Những đứa trẻ lừng danh[77], tôi tới tấp đưa ra các bằng chứng liên quan đến thằng bé Montcalm[78], Pic de la Mirandole, Pascal, tức là tất tật những bộ óc bừng nở rất sớm; các hiện tượng bất thường nổi tiếng trong lịch sử trí tuệ con người, và những người đi trước Lambert. Hồi ấy bản thân tôi cũng rất say mê đọc sách. Nhờ ham muốn ở bố tôi muốn thấy tôi vào được Trường Bách Khoa, ông trả tiền thuê người dạy riêng cho tôi về toán học. Thầy phụ đạo của tôi, đồng thời là quản thủ thư viện trường, để mặc cho tôi lấy mà chẳng mấy khi xem là những quyển nào từ thư viện, chốn yên tĩnh, tại đó ông dạy học cho tôi vào các giờ nghỉ. Tôi nghĩ hoặc ông ít khéo léo hoặc quá bận tâm về một công việc trầm trọng nào đó, bởi vì ông rất sẵn lòng cho phép tôi đọc trong thời gian các giờ phụ đạo, và lo làm việc gì đó tôi cũng chẳng biết. Thế nên, chiểu theo một quy ước bất thành văn giữa hai chúng tôi, tôi không phàn nàn chút nào về chuyện chẳng học được gì, còn ông nhắm mắt làm ngơ cho tôi mượn sách. Bị lôi kéo bởi niềm đam mê không hợp thời điểm ấy, tôi lơ là học tập để viết những bài thơ chắc hẳn không tạo nhiều hy vọng, nếu căn cứ vào câu thơ dài quá mức sau đây, đã trở nên lừng danh đối với đám bạn của tôi, mở đầu cho một bản hùng ca về người Inca:


Ôi Inca! ôi ông vua kém may và bất hạnh!

Tôi gánh biệt hiệu Thi Sĩ để nhạo báng các thử nghiệm của tôi; nhưng những lời trêu chọc không sửa chữa được tôi. Tôi vẫn cứ gieo vần gieo vẹo, mặc cho lời khuyên nhủ đầy thông thái của ông Mareschal, giám đốc của chúng tôi, ông cố công cứu chữa tôi khỏi một thói tật rất không may lại bắt rễ thâm sâu[79], bằng cách kể cho tôi một câu chuyện ngụ ngôn về những bất hạnh của một con chim sẻ bị rơi khỏi tổ vì cứ muốn bay trước khi đủ lông đủ cánh[80]. Tôi tiếp tục đọc sách, tôi trở thành đứa học trò ít quậy phá nhất, lười nhất, trầm ngâm nhất của Phân Khu bọn Bé, và bởi vậy hay bị phạt nhất[81]. Đoạn ngoại đề nhiều tính cách tự thuật trên đây hẳn sẽ khiến hiểu được bản chất các suy tư chất chứa trong tôi khi Lambert xuất hiện. Khi ấy tôi mười hai tuổi[82]. Thoạt tiên tôi cảm thấy chút thông giao mơ hồ với một đứa trẻ có vài điểm giống tôi về tính khí. Vậy nên tôi sẽ gặp được một người đồng đạo trong mơ mộng và suy tưởng. Hẵng còn chưa biết vinh quang nghĩa là gì, tôi đã thấy là vinh quang khi được trở thành bạn học của một đứa bé mà sự bất tử đã được bà de Staël tiên báo. Tôi thấy Louis Lambert như thể là một người khổng lồ.

Rốt cuộc cái ngày hôm sau được trông đợi dữ dội cũng đến. Ngay trước giờ ăn trưa, chúng tôi nghe thấy ngoài sân im ắng tiếng bước chân của ông Mareschal đi cùng Học Sinh Mới. Mọi khuôn mặt liền ngoảnh về phía cửa lớp. Cha Haugoult, cũng chia sẻ những tra tấn của lòng hiếu kỳ giống chúng tôi, không bắt chúng tôi phải nghe tiếng còi mà ông hay dùng để thiết lập trật tự nếu chúng tôi nói chuyện riêng, bắt chúng tôi học tiếp. Khi ấy chúng tôi trông thấy cậu Học Sinh Mới lừng danh kia, được ông Mareschal dắt tay. Ông Quản Lý bước xuống từ cái ghế đang ngồi, và ông Giám Đốc trang trọng nói với ông, theo đúng cấp bậc: “Thưa ông, tôi dẫn tới đây ông Louis Lambert, ông sẽ cho cậu ấy vào Lớp Bốn, ngày mai cậu ấy sẽ đến lớp.” Rồi, sau khi hạ giọng trò chuyện với ông Quản Lý, ông nói to: “Cậu sẽ ngồi ở đâu đây?” Hẳn sẽ là bất công nếu đổi chỗ một ai đó trong số chúng tôi vì cậu Học Sinh Mới; và vì chỉ còn một bàn còn chỗ trống, Louis Lambert bước tới ngồi cạnh tôi, vốn dĩ là người nhập học mới nhất. Mặc cho vẫn còn chưa hết giờ học, tất cả chúng tôi đứng dậy đổ đến xem Lambert. Ông Mareschal nghe thấy những lời trao đổi của chúng tôi, nhìn thấy chúng tôi làm loạn, thế là ông nói với chúng tôi, bằng sự tốt lành khiến chúng tôi thấy ông đặc biệt thân thiết: “Ít nhất, cũng hãy ngoan chứ, đừng làm phiền các lớp khác.”

Những lời này khiến chúng tôi được nghỉ trước giờ ăn trưa một lát, và tất cả chúng tôi tới vây quanh Lambert trong lúc ông Mareschal đi tới đi lui ngoài sân cùng cha Haugoult. Chúng tôi có khoảng tám mươi thằng quỷ, dạn dĩ như lũ chim săn mồi. Dẫu cho tất cả đều đã kinh qua thời khắc mới nhập học tàn nhẫn, chúng tôi không bao giờ chịu tha cho một Học Sinh Mới những tràng cười giễu cợt, những màn tra vấn, các trò láo xược không ngớt vào dịp tương tự, trước nỗi ngượng ngập to lớn của cậu học trò mới, đang bị kiểm tra về phong hóa, sức mạnh và tính cách bằng lối ấy. Lambert, hoặc bình tĩnh hoặc ù lì ra, không trả lời câu hỏi nào của chúng tôi. Một thằng trong số chúng tôi bèn nói hẳn cậu vừa từ trường của Pythagore sang. Một tràng cười rộ lên. Học Sinh Mới bị đặt biệt hiệu Pythagore[83] trong suốt phần đời của cậu tại trường. Tuy nhiên ánh mắt sắc lẹm của Lambert, vẻ ngạo nghễ hiện rõ trên mặt cậu trước những trò trẻ con của chúng tôi, không mấy ăn nhập với bản tính tinh thần của cậu, dáng điệu thoải mái khi ngồi đó, sức mạnh vẻ ngoài hòa hợp với tuổi của cậu, đã định ra một dạng tôn trọng nhất định cho các phần tử tồi tệ nhất trong số chúng tôi. Về phần mình, tôi ngồi cạnh cậu, chăm chăm im lặng dò xét cậu.

Louis là một thằng bé gầy ngẳng, cao bốn bộ rưỡi[84]; khuôn mặt rám nắng, bàn tay sạm lại dường như cho thấy một sức lực cơ bắp mà tuy nhiên cậu không hề có vào lúc bình thường. Vậy nên, hai tháng sau khi cậu nhập học, khi mà thời gian ở đây đã làm mất đi ở cậu sắc màu gần như thực vật, chúng tôi thấy cậu trở nên nhợt nhạt và trắng như một phụ nữ. Đầu cậu to khủng khiếp. Mái tóc của cậu, màu đen rất đẹp và xoăn lại thành từng đám, mang tới một nét duyên dáng khó miêu tả cho vầng trán, mà các kích thước có một cái gì đó dị thường, ngay cả đối với chúng tôi, vốn dĩ chẳng hề quan tâm, như người ta có thể nghĩ, đến các chẩn đoán của khoa tướng sọ, môn khoa học lúc đó đang ở kỳ phôi thai[85]. Vẻ đẹp vầng trán nhiều tính cách tiên tri của cậu chủ yếu bắt nguồn từ nét vạch thuần túy đến cực điểm của hai vòm cong dưới đó cặp mắt đen của cậu sáng lấp lánh, như thể chúng được tạc thẳng trong chất alêbat, với các đường, bởi một lực hút khá hiếm thấy, song song một cách hoàn hảo và hội tụ ở điểm khởi sinh của cái mũi. Nhưng thật khó nhìn mặt cậu, vả lại nó hết sức thiếu đều đặn, khi nhìn vào mắt cậu, mà ánh nhìn sở hữu một mức độ đa dạng tuyệt diệu của biểu đạt và như thể đi kèm một tâm hồn[86]. Khi sáng và xuyên suốt đáng kinh ngạc, lúc lại có một vẻ êm dịu thánh thần, ánh mắt này trở nên mờ, có thể nói rằng không màu vô sắc, vào những thời điểm cậu nhập thân vào các suy tưởng. Lúc ấy con mắt cậu giống với một tấm kính từ đó ánh mặt trời đột nhiên thối lui sau khi đã rọi sáng cho nó. Sức mạnh của cậu nằm trong cả cơ phận lẫn trong ánh mắt từ đó: cùng tính chất cơ động, cùng những sự bất thường. Giọng nói của cậu dịu dàng như giọng một phụ nữ đang buột miệng một lời thú nhận; rồi nó, đôi khi thật nặng nề, lủng củng, lệch lạc, nếu được phép dùng những từ này nhằm miêu tả các hiệu ứng mới mẻ. Về phần sức mạnh của cậu, thông thường cậu không có khả năng chịu đựng sự mệt mỏi của bất kỳ trò chơi nào, và như thể yếu xìu, gần như phế tật. Nhưng, trong những ngày đầu tiên sau khi mới đến, một trong lũ bặm trợn[87] đã lên giọng chế nhạo sự tinh tế bệnh hoạn ấy, nó khiến cậu không theo được các trò luyện tập nhiều bạo lực đang là mốt ở trường, Lambert bèn tức khí dùng hai tay nắm chặt lấy một đầu một cái bàn của chúng tôichứa mười hai puy-pít lớn xếp thành hai hàng, dốc về hai phía, cậu dựa vào ghế của ông Quản Lý; rồi cậu chống hai chân vào thanh gỗ ngang phía dưới của cái bàn, và nói: “Mười người các cậu hợp sức thử nhúc nhích nó xem!” Tôi có mặt ở đó, tôi có thể chứng nhận cho sự biểu dương sức mạnh kỳ khôi ấy, không thể nào giật cái bàn khỏi cậu được. Lambert sở hữu thiên bẩm triệu tập, ở một số thời khắc, những quyền năng ngoạn mục và tập hợp sức lực vào một điểm cho trước rồi phóng chúng ra[88]. Nhưng lũ trẻ con đã quen, cũng giống người lớn, đánh giá mọi thứ theo các ấn tượng đầu tiên, chỉ nghiên cứu Louis trong vòng những ngày đầu tiên sau khi cậu nhập học; khi ấy cậu phủ nhận hoàn toàn các dự đoán của bà de Staël, chẳng hề tạo ra bất kỳ điều lớn lao nào mà chúng tôi trông chờ ở cậu.

Sau một kỳ thử thách, Louis hóa ra là một học trò rất bình thường. Cho nên tôi là người duy nhất được chấp nhận xâm nhập tâm hồn trác tuyệt đó, và tại sao tôi lại không nói nó là thần thánh? còn có gì gần với Chúa hơn là thiên tài trong trái tim một đứa trẻ đây? Sự đồng dạng giữa các sở thích và suy nghĩ của chúng tôi khiến chúng tôi trở thành bạn và faisant[89] của nhau. Tình huynh đệ của chúng tôi trở nên lớn tới mức lũ bạn gắn tên chúng tôi vào với nhau; người này không lên tiếng nếu không có người kia; và, để gọi một trong hai chúng tôi, chúng hét: Thi Sĩ-và-Pythagore! Những cái tên khác cung cấp ví dụ cho một sự kết hợp tương tự. Vậy là trong vòng hai năm tôi trở thành bạn cùng trường của Louis Lambert khốn khổ; và cuộc đời tôi, vào giai đoạn đó, đủ mức gắn kết sâu xa với cuộc đời cậu, thành thử ngày hôm nay tôi có thể viết lại câu chuyện thuộc phần trí tuệ của cậu.

Suốt một thời gian dài tôi không hay biết đến thơ ca và những giàu có che giấu bên trong trái tim và dưới vầng trán bạn tôi. Mãi khi đã ba mươi tuổi, các quan sát của tôi mới chín muồi và được cô đặc, sự phóng chiếu một luồng ánh sáng mạnh mẽ thậm chí lại rọi lên chúng một lần nữa, thì tôi mới hiểu được tầm vóc các hiện tượng mà hồi ấy tôi là chứng nhân rất kém thông tuệ; tôi đã tận hưởng chúng mà chẳng hề tìm cách giải thích cả độ lớn lẫn cơ chế hoạt động, thậm chí tôi còn quên mất một ít và chỉ còn nhớ được những gì nổi bật hơn cả; nhưng ngày hôm nay trí nhớ của tôi đã điều phối chúng, và tôi được khai trí để đi vào các bí mật của bộ óc phong nhiêu kia, trở ngược về những ngày tuyệt diệu trong tình bạn non trẻ của chúng tôi. Thế tức là duy chỉ thời gian mới làm cho tôi xâm nhập được ý nghĩa các sự kiện và chi tiết vốn đầy rẫy trong cái cuộc đời không ai biết tới kia, cũng giống như cuộc đời ngần ấy con người khác đã biến đi để phụng sự cho khoa học của chúng ta. Vậy nên câu chuyện này, trong biểu đạt và đánh giá mọi sự, chứa đầy những lệch thời thuần túy mang tính cách tinh thần có lẽ chẳng hề làm hại chút nào tới dạng lợi ích của nó.

Trong những tháng đầu tiên ở Vendôme, Louis mắc một chứng bệnh[90] mà các triệu chứng không hề được các giám thị nhìn thấy, và nó nhất thiết gây phiền cho sự hoạt động các năng lực cao vời của cậu. Vốn đã quen với không khí rộng mở, sự độc lập của một giáo dục tha hồ tùy ý, được nâng niu bởi những chăm lo dịu dàng của một ông già yêu quý cậu hết mực, vốn dĩ quen thuộc với chuyện suy nghĩ dưới mặt trời, đối với cậu thật khó nhọc khi phải tuân thủ nội quy trường, đi trong hàng ngũ, sống giữa bốn bức tường một căn phòng nơi tám mươi thằng nhóc im ắng, ngồi trên một cái ghế băng bằng gỗ, mỗi đứa trước puy-pít riêng của nó. Ngũ quan của cậu sở hữu một sự thuần thành khiến chúng trở nên tinh tế vô cùng, và mọi thứ ở cậu chịu đau đớn vì cái cuộc sống chung đụng này. Những thở ra hít vào khiến không khí nhiễm bẩn, trộn lẫn với mùi của một lớp học lúc nào cũng bẩn và vương vãi vụn đồ ăn thừa từ bữa trưa hoặc các bữa đệm, gây tác hại tới khứu giác của cậu; giác quan này, so với các giác quan khác có liên hệ trực tiếp hơn với hệ thống não bộ, hẳn do các thoái hóa mà tạo ra những chấn động vô hình tới các cơ phận phục vụ suy nghĩ. Ngoài các nguyên nhân thuộc về sự băng hoại của bầu không khí, trong các phòng học nhóm[91] của chúng tôi có những tủ nhỏ nơi chúng tôi để các món chiến lợi phẩm, lũ bồ câu bị giết cho các ngày lễ, hoặc các món ăn thuổng được từ nhà ăn. Cuối cùng, các phòng của chúng tôi lại còn chứa một hòn đá rất lớn trên đó lúc nào cũng để hai xô đựng đầy nước, dạng như nơi rửa ráy, sáng nào chúng tôi cũng tới đó để vã nước lên mặt và rửa tay, lần lượt nối đuôi nhau, dưới sự kiểm soát của ông thầy. Từ đó, chúng tôi đi sang một cái bàn nơi các phụ nữ chải đầu và rắc bột lên tóc chúng tôi. Được dọn dẹp độc một lần mỗi ngày, trước khi chúng tôi ngủ dậy, chỗ ở của chúng tôi luôn luôn bẩn thỉu. Rồi, mặc cho số lượng cửa sổ và độ cao cửa ra vào, không khí ở đó liên tục bị nhiễm độc bởi những gì bốc lên từ chỗ rửa ráy, chải đầu, tủ nhỏ, rồi thì cả nghìn trò lặt vặt của mỗi đứa học trò, ấy là còn chưa kể đến tám mươi cơ thể chúng tôi tụ tập lại. Cái dạng đất mùn trường học này, không ngừng trộn lẫn với bùn mà chúng tôi tha vào từ ngoài sân, tạo thành một khu ủ phân thối hoăng không sao mà chịu nổi. Mất đi không khí trong lành và thơm ngát của các vùng nông thôn nơi cậu sống cho tới khi ấy, sự thay đổi các thói quen, kỷ luật, mọi thứ khiến Lambert buồn thỉu. Đầu lúc nào cũng tựa lên bàn tay trái và khuỷu tay chống lên puy-pít của mình, trong giờ học cậu nhìn suốt ra ngoài sân các tán cây hoặc những đám mây trên trời; cậu làm ra vẻ học bài; nhưng nhìn thấy cây bút đứng im hoặc trang giấy mãi trắng, ông Quản Lý hét lên với cậu: “Cậu chẳng làm gì hết cả, Lambert!” Cái câu: Cậu chẳng làm gì hết cả, là một cú chọc kim gây thương tích cho trái tim Louis. Rồi cậu không được biết đến sự giải khuây của các giờ ra chơi, cậu phải chép phạt[92]. Chép phạt, hình thức trừng phạt với thể loại thay đổi tùy thuộc tập quán mỗi trường, tại Vendôme là một số lượng nhất định các dòng phải chép trong giờ ra chơi. Chúng tôi, Lambert và tôi, phải chép phạt nhiều đến nỗi không có đến sáu ngày tự do trong suốt hai năm tình bạn của chúng tôi. Nếu không có những quyển sách mà chúng tôi lấy từ thư viện, chúng hoạt tác cuộc sống trong óc chúng tôi, thì chẳng hẳn cái hệ thống tồn tại ấy đã dẫn chúng tôi đến một sự ù lì hoàn toàn. Thiếu tập luyện gây tác hại kinh khủng lên trẻ con. Thói quen cái gì cũng có người khác làm cho, nhiễm lấy từ tấm bé, làm thoái hóa, người ta bảo thế, rất nhiều cấu tạo những người thuộc hoàng gia nếu họ không sửa chữa các thói tật của đời mình bằng phong hóa của chiến trận hoặc việc săn bắn. Nếu các luật tục quý tộc và triều đình ảnh hưởng mạnh đến tủy xương tới mức đàn bà hóa vùng xương chậu của các ông vua, gây suy yếu các thớ sợi trong não và bằng cách ấy khiến dòng giống suy vi, những thương tổn sâu xa nào, hoặc cho thể chất, hoặc đối với tinh thần, mà một sự thiếu thốn không khí, hoạt động, sự vui tươi liên tục, chẳng tạo ra ở các học sinh? Vậy nên chế độ giống nhà tù tại các trường đòi hỏi cần được cơ quan phụ trách giáo dục quan tâm khi ở đó xuất hiện các nhà tư tưởng không chỉ chăm chăm nghĩ đến chúng.

Chúng tôi phải nhận về sự chép phạt theo cả nghìn cách thức. Trí nhớ của chúng tôi tốt đến mức chẳng bao giờ chúng tôi thèm học bài. Chỉ cần nghe các bạn đọc to các đoạn văn tiếng Pháp, tiếng Latin hoặc ngữ pháp là chúng tôi có thể lặp lại chúng; nhưng nếu vì bất hạnh mà ông thầy lại nảy ra ý định làm xáo trộn thứ tự mà hỏi chúng tôi đầu tiên, thường chúng tôi không biết bài học nói về cái gì: sự chép phạt liền bay đến mặc cho những lời thanh minh khéo léo nhất của chúng tôi. Rốt cuộc, chúng tôi lúc nào cũng đợi đến thời điểm cuối cùng mới chịu làm bài tập. Nếu chúng tôi có một cuốn sách cần đọc cho hết, nếu chúng tôi đang chìm đắm vào một mộng tưởng, bài tập sẽ bị lãng quên: thêm một nguồn cơn mới của sự chép phạt! Đã bao nhiêu lần các bài dịch xuôi của chúng tôi được viết trong khoảng thời gian người phụ trách, chịu trách nhiệm vào lớp để thu chúng, bắt đầu gọi nộp bài! Ngoài những khó khăn về tinh thần mà Lambert phải gánh chịu nhằm hòa nhập được với trường, còn có thêm một sự học tập nữa không kém phần khắc nghiệt mà tất cả chúng tôi đều đã phải trải qua, đó là những đau đớn thể xác đối với chúng tôi đa dạng đến bất tận. Ở trẻ con, sự mỏng manh của làn da đòi hỏi những chăm sóc tỉ mỉ, nhất là vào mùa đông, khi, thường trực bị lôi cuốn bởi cả nghìn lý do, chúng rời bầu không khí giá lạnh của một cái sân lấm bùn để bước vào nhiệt độ nóng ngốt các lớp học. Vậy nên, vì thiếu những quan tâm người mẹ ở lũ Bé và lũ Rất Nhỏ, chúng bị lên cước và bị nẻ hết sức đau đớn, và những chỗ đau như thế vào giờ ăn trưa cần được băng bó đặc biệt, nhưng lại rất kém hoàn hảo do có quá nhiều bàn tay, bàn chân, gót chân đau. Vả lại nhiều đứa trẻ đành phải chọn đau đớn thay vì chữa trị: chẳng phải chúng thường phải lựa chọn giữa những bài tập phải hoàn thành, các khoái lạc của sân trượt băng, và việc tháo gỡ băng gạc được buộc một cách cẩu thả, rồi lại được giữ còn cẩu thả hơn, đấy ư? Và rồi phong hóa của trường đã dẫn tới cái mốt chế nhạo bọn yếu ớt tội nghiệp đi băng bó, mà chúng cũng sẽ giật hết những bông băng mà y tá buộc vào tay cho. Thế là, vào mùa đông, nhiều đứa trong số chúng tôi, các ngón tay và bàn chân cứng đờ, đau đớn kinh khủng, chẳng có mấy khả năng học hành, vì bị đau, và bị trừng phạt bởi không chịu học. Quá thường bị lừa bởi các chứng bệnh giả vờ của chúng tôi, ông Cha chẳng hề chịu để ý đến những nỗi đau thật. Vì đã trả tiền nội trú, các học sinh được trường nuôi. Ban quản trị có tập quán tổ chức một thị trường cho giày và áo quần; từ đó mà có sự kiểm tra hằng tuần mà tôi đã nhắc. Tuyệt hảo đối với người cai trị, cái hình thức này luôn luôn tạo ra những kết quá đáng buồn với kẻ bị trị. Bất hạnh cho đứa Bé bị nhiễm thói quen xấu là làm sờn, làm rách giày, hoặc giả làm mòn đế giày quá nhanh, bởi một tật khi bước đi hay xé nham nhở chúng ra trong các giờ học nhằm tuân theo nhu cầu táy máy hoạt động mà trẻ con hay cảm thấy. Trong mùa đông, thằng bé ấy không thể đi dạo mà không chịu những đau đớn gớm ghê: trước hết nỗi đau của chỗ lên cước trỗi dậy mãnh liệt như bị bệnh gút; rồi các khóa móc và dây của cái giày rụng ra, hoặc giả mấy cái gót nhão khiến cái giày đáng nguyền rủa không còn ôm lấy bàn chân thằng bé nữa; khi ấy nó buộc phải nặng nề lết đi trên những con đường băng giá nơi đôi khi nó còn phải chống trả trước thứ đất sét của Vendômois; rốt cuộc nước, tuyết rất hay chui vào đó qua một kẽ hở không nhìn thấy, qua một miếng vá không chuẩn, và thế là bàn chân sưng lên. Trên sáu mươi đứa bé, không có đến mười thằng bước đi mà không phải chịu một sự hành hạ đặc biệt nào; tuy nhiên tất tật đều đi theo đa số của đám, bị kéo theo bởi đà bước, giống như những con người bị đẩy đi trong cuộc đời bởi cuộc đời. Bao nhiêu lần một đứa trẻ hào phóng đã không phát khóc vì điên giận, cố dồn lấy chút nghị lực còn sót lại để tiến về phía trước hoặc để quay về dẫu cho những nỗi đau đớn; ở cái tuổi ấy tâm hồn hãi sợ làm sao sự cười cợt và lòng thông cảm, hai dạng chế nhạo. Ở trường, cũng như ngoài xã hội, kẻ mạnh đã khinh bỉ kẻ yếu, mà không biết sức mạnh đích thức thì nghĩa là gì. Vậy thôi còn chưa là gì. Không hề có găng tay. Nếu vì ngẫu nhiên mà bố mẹ, y tá hay giám đốc đưa găng cho những đứa yếu nhất trong số chúng tôi, thì bọn hay đầu trò hoặc bọn lớn trong lớp sẽ đặt chúng lên bếp lò, thích thú hong khô chúng, làm chúng cứng đơ ra; rồi, nếu những cái găng thoát được khỏi tay đám thích lục lọi, thì chúng cũng mềm oặt đi, bị vứt lăn lóc vào một xó vì không được quan tâm. Không thể nào có găng tay cho được. Găng tay bị xem là một thứ ưu tiên, nhưng bọn trẻ con muốn được xem nhau là bình đằng[93].

Các dạng khác nhau của nỗi đau này vây phủ lấy Louis Lambert. Giống những con người ưa suy tưởng, những ai, trong sự yên bình các mơ mộng của mình, bị nhiễm thói quen đối với một cử động máy móc nào đó, cậu có tật nghịch đôi giày và tàn phá chúng trong một khoảng thời gian ngắn. Nước da phụ nữ của cậu, da của cặp tai, đôi môi tím thâm lại mỗi khi gặp chút lạnh. Đôi bàn tay mềm oặt của cậu, quá trắng, đỏ ửng và cương lên. Cậu thường xuyên mắc cảm. Do vậy Louis bị vây bủa bởi những nỗi đau cho tới lúc cậu khiến được cuộc đời mình quen với phong hóa Vendôme. Được dạy dỗ trong dài hạn bởi kinh nghiệm tàn nhẫn về những đau đớn, buộc lòng cậu phải nghĩ đến các áp phe của mình, tôi đang dùng một lối nói thông dụng ở trường. Cậu phải chăm lo cho cái tủ nhỏ, puy-pít riêng, quần áo, giày; không để cho bị ăn cắp mực, sách vở, hay bút; cuối cùng, nghĩ đến cả nghìn chi tiết thuộc vào sự tồn tại trẻ con của chúng tôi, được đảm nhiệm gọn ghẽ đến vậy bởi những tinh thần ích kỷ và tầm thường kia, cái bọn, không trệch đi đâu được, nhận về các giải thưởng hoặc chứng nhận hạnh kiểm tốt; nhưng lại bị lơ là bởi một đứa bé đầy tương lai, nó, dưới ách áp bức của một trí tưởng tượng[94] gần như là thần thánh, buông mình[95] bằng cả tình yêu vào dòng thác các suy nghĩ riêng. Vậy chưa phải đã hết. Có một cuộc tranh đấu liên tục giữa các ông thầy và đám học trò, cuộc tranh đấu không ngưng nghỉ, mà ngoài xã hội chẳng gì có thể lấy mà so sánh được, nếu không phải là trận chiến của phe Đối Lập chống lại Bộ trong một chính quyền đại diện[96]. Nhưng các nhà báo và nhà hùng biện của Đối Lập có lẽ kém mau chóng hơn trong việc tận dụng một lợi thế, ít cứng rắn hơn trong việc trách móc một sai lầm, không hắc ám bằng trong các chế nhạo của bọn họ, so với lũ trẻ con đối với những người chịu trách nhiệm trông coi chúng. Ở cái nghề này, đến cả sự kiên trì của các thiên thần cũng chẳng thể là đủ. Do đó không nên trách móc quá nhiều một giám thị khốn khổ, lương thấp, chẳng mấy thông tuệ, đôi khi trở nên bất công hoặc nổi xung[97]. Không ngừng bị rình mò bởi một tập hợp đông đảo những ánh mắt nhạo báng, vây quanh là muôn vàn cạm bẫy, thỉnh thoảng ông ta trút sự trả thù những sai lầm của tự ông ta, lên những đứa trẻ quá mau mắn nhận ra chúng.

Ngoại trừ những trò ma mãnh lớn được dành sẵn các đòn trừng phạt khác, tại Vendôme cái roi da là ultima ratio Patrum[98]. Đối với các bài tập quên làm, các bài học không được thuộc, những lời nói bậy bạ, chép phạt là đủ; nhưng lòng tự ái bị nhờn mặt cất tiếng nói ở ông thầy giáo thông qua cái roi da. Trong số những đau đớn thể chất mà chúng tôi phải gánh chịu, hãi hùng nhất chắc hẳn là cái thứ gây ra bởi dải dây bằng da kia, dày cỡ hai ngón tay, dùng hết sức lực quật xuống bàn tay chúng tôi, với toàn bộ cơn giận dữ của ông Quản Lý. Để nhận sự trừng phạt cổ điển này, tên tội phạm phải quỳ gối ở giữa phòng. Nó phải đứng dậy khỏi ghế của mình, đi tới quỳ xuống gần cái ghế lớn, và chịu những ánh mắt kỳ quặc, thường là nhạo báng, từ đám bạn. Đối với các tâm hồn mềm dịu, những chuẩn bị ấy trở nên một nhục hình nhân đôi, giống với chặng đường từ Tòa Án ra Grève mà xưa kia một người bị tội phải đi về phía đoạn đầu đài[99]. Tùy thuộc các tính cách, có những đứa gào thét và khóc nức nở, trước hoặc sau khi nhận roi vụt; lại có những đứa chấp nhận đau đớn bằng một vẻ khắc kỷ; nhưng, trong lúc chờ đợi, bọn mạnh mẽ nhất cũng gần như không thể tự kiểm soát những nhăn nhó trên mặt. Louis Lambert phải gánh chịu vô số lần bị vụt roi, và có như vậy là bởi sự thực thi một năng lực thuộc bản tính của cậu, mà sự tồn tại đối với bản thân cậu không hề được biết đến trong suốt một quãng thời gian dài. Khi cậu bị giật khỏi một suy tưởng một cách phũ phàng bởi cái câu Cậu chẳng làm gì hết cả! của ông Quản Lý, thường thì cậu, thoạt tiên không tự biết, ném về phía ông ta một ánh mắt đậm một sự khinh miệt man rợ rất khó tả, chất chứa suy nghĩ giống như một cái chai Leyde chứa đầy điện. Cú liếc mắt này hẳn gây nên một cơn chấn động ở ông thầy, ông, bị tổn thương bởi lời ngạo nghễ[100] câm lặng này, những muốn đứa học trò phải thôi có cái ánh mắt sáng quắc kia. Lần đầu tiên ông Cha phải nhận lấy tia sáng cao ngạo vụt vào ông như một tia chớp đó, ông nói câu sau đây, mà tôi vẫn còn nhớ: “Nếu cậu mà còn nhìn tôi như thế một lần nữa, Lambert, cậu sẽ ăn roi đấy!” Nghe thấy những từ ấy, tất tật những cái mũi đều nghếch lên, mọi cặp mắt lần lượt rình rập ông thầy và Louis. Câu nói ngu xuẩn đến mức thằng bé chĩa tiếp vào ông Cha thêm một cú nhìn tương đương tia chớp nữa. Kể từ đó giữa ông Quản Lý và Lambert nảy sinh một cuộc cãi cọ dẫn tới không ít lần trừng phạt bằng roi da. Bằng cách ấy sức mạnh áp chế của ánh mắt cậu đã hiển lộ.

Nhà thơ khốn khổ có cấu tạo quá mức bồn chồn, thường mong manh như một phụ nữ ấy, bị chế ngự bởi một chứng sầu muộn mãn tính, ốm nặng vì thiên tài của mình cũng giống một thiếu nữ ốm nặng vì cái tình yêu ấy, mà nàng gọi tới nhưng lại chẳng hề hay biết; cái đứa bé vừa thật mạnh vừa rất yếu đó, bị Corinne[101] bứng đi khỏi các vùng nông thôn tươi đẹp của cậu để bước vào cái khuôn của một ngôi trường mà mỗi trí tuệ, mỗi cơ thể buộc phải, mặc cho tầm vóc của mình, tính khí riêng của mình, thích ứng với nội quy và bộ đồng phục giống như vàng phải tự khoanh tròn thành từng đồng trong máy đúc tiền[102]; vậy nên Louis Lambert chịu đựng ở mọi điểm nơi nỗi đau tràn vào tâm hồn và da thịt. Bị cột chặt trên cái ghế nơi lãnh địa puy-pít riêng của cậu, bị roi da vụt, bị bệnh tật hành hạ, bị viêm nhiễm trong mọi giác quan, bị siết lại bởi một sợi dây đai những đau đớn, mọi thứ dồn ép cậu phải rời bỏ vỏ bọc của mình cho cả nghìn hình thức bạo chúa của trường. Giống những người tử đạo mỉm cười giữa các khổ hình, cậu ẩn trốn vào các tầng trời mà suy nghĩ hé mở cho cậu. Có lẽ cái cuộc sống hoàn toàn nội tâm ấy đã giúp để cậu thoáng nhìn thấy những bí ẩn mà cậu đặt vào nhiều lòng tin đến vậy!

Sự độc lập của chúng tôi, những mối bận tâm không được phép của chúng tôi, tính lười biếng bên ngoài của chúng tôi, sự ù lì mà chúng tôi phải ở trong, những màn trừng phạt liên tiếp đổ lên chúng tôi, đã khiến chúng tôi mang tai tiếng không thể chối cãi là mấy thằng hèn nhát và không thể dạy dỗ. Các ông thầy khinh bỉ chúng tôi, và chúng tôi cũng rơi ở mức tương đương vào mối coi thường kinh hồn từ phía đám bạn học, chúng tôi giấu chúng các nghiên cứu lén lút, vì sợ bị chúng chế nhạo. Sự khinh thường kép này, bất công ở phía các Cha, là một tình cảm tự nhiên ở lũ bạn đồng học với chúng tôi. Chúng tôi không biết chơi bóng, không biết chạy, cũng chẳng biết đi cà kheo. Những ngày được ân xá, hoặc giả vì ngẫu nhiên mà chúng tôi có được một thời khắc tự do, thì chúng tôi cũng không hề chia sẻ khoái lạc nào đang là mốt trong trường. Vốn dĩ xa lạ với các thú vui của các bạn, chúng tôi chỉ thui thủi với nhau, ngồi sầu muộn dưới một gốc cây trong sân. Thế nên Thi Sĩ-và-Pythagore là một ngoại lệ, một cuộc sống ở bên ngoài cuộc sống chung. Trực giác có sức xuyên thấu đến thế, lòng tự ái tinh tế đến thế của đám học sinh khiến chúng cảm thấy nơi chúng tôi những tinh thần được đặt cao hơn hoặc thấp hơn tinh thần của chúng. Từ đó mà, ở một số đứa, lòng căm ghét tính chất quý tộc câm lặng của chúng tôi; ở những đứa khác, là nỗi khinh miệt trước sự vô dụng của chúng tôi. Những tình cảm ấy nảy sinh giữa chúng tôi mà tôi chẳng hề hay biết, có lẽ mãi đến ngày hôm nay tôi mới đoán ra. Vậy nên một cách chính xác chúng tôi đã sống giống như hai con chuột núp vào góc phòng nơi có puy-pít của chúng tôi, lẩn sâu vào đó cả trong giờ học lẫn giờ ra chơi. Hoàn cảnh lập dị này hẳn phải đặt chúng tôi và đã đặt chúng tôi vào tình trạng chiến tranh với đám trẻ con thuộc Phân Khu của chúng tôi. Gần như luôn luôn bị lãng quên, chúng tôi yên tĩnh ở đó, sung sướng một nửa, giống hai thứ thực vật, hai món đồ trang trí hẳn làm rối loạn sự hài hòa của căn phòng. Nhưng đôi khi những thằng quái quỷ nhất trong số đám bạn học sỉ nhục chúng tôi nhằm biểu dương sức mạnh của chúng một cách mù quáng, và chúng tôi đáp lại bằng một sự khinh miệt thường xuyên khiến Thi Sĩ-và-Pythagore bị nện cho nên thân.

Nỗi hoài nhớ của Lambert kéo dài suốt nhiều tháng. Tôi chẳng biết điều gì có thể họa lại nỗi sầu mà cậu phải chịu đựng. Louis bảo tôi đọc nhiều kiệt tác. Trước hết từng lần lượt đóng vai của Người hủi của thung lũng Aoste[103], chúng tôi đã kinh qua các tình cảm được biểu đạt trong cuốn sách của ông de Maistre trước khi đọc chúng được dịch lại dưới ngòi bút đầy sức hùng biện ấy. Thế nhưng, một cuốn sách có thể vạch lại các kỷ niệm tuổi thơ[104], dẫu vậy nó sẽ chẳng bao giờ đấu tranh thắng lợi trước chúng. Những tiếng thở dài của Lambert đã dạy cho tôi các khúc tráng ca nỗi buồn còn sâu sắc hơn nhiều so với những trang đẹp nhất của Werther[105]. Nhưng nữa, có lẽ không thể nào so sánh giữa những đau đớn gây ra bởi một dục vọng bị chà đạp, hoặc đúng hoặc sai, dưới chân các luật của chúng ta, và những nỗi đau của một đứa trẻ khốn khổ khát khao vươn về huy hoàng của mặt trời, giọt sương các thung lũng và tự do. Werther là nô lệ của một ham muốn, còn Louis Lambert là cả một tâm hồn trong cảnh nô lệ[106]. Khi có tài năng tương đương, tình cảm gây xúc cảm lớn hơn hoặc được hình thành trên cơ sở các ham muốn thật hơn, bởi vì chúng thuần khiết hơn, hẳn vượt xa các than van của thiên tài. Sau một quãng dài chiêm ngắm tán lá một cây đoạn trong sân, Louis chỉ nói với tôi một lời, nhưng lời này thông báo một mơ mộng mênh mông.

“Thật may cho tôi, có hôm cậu kêu lên, còn có những thời điểm tốt đẹp tôi thấy như thể các bức tường lớp học sụp đổ, và tôi được ở nơi khác[107], ngoài cánh đồng! Sung sướng làm sao được thả mình vô tận vào dòng suy nghĩ, giống như con chim buông thân vào cuộc bay!” “Tại sao màu lục lại phổ biến như thế trong tự nhiên? cậu hỏi tôi. Tại sao lại có ít đường thẳng đến vậy[108]? Tại sao con người trong những gì họ làm ra lại hiếm khi dùng các đường cong thế nhỉ? Tại sao chỉ con người mới có cảm giác về đường thẳng[109]?”

Những câu nói đó tiết lộ một hành trình dài băng ngang các không gian. Chắc chắn, cậu đã nhìn lại những phong cảnh hoàn toàn, hoặc hít lấy mùi thơm các khu rừng. Cậu, khúc bi ca sống động và trác tuyệt, luôn luôn im lặng, nhẫn nhục[110]; luôn luôn đau đớn mà không thể nói: tôi đau đớn! Con đại bàng ấy, muốn cả thế giới làm miếng ăn, phải ở giữa bốn bức tường hẹp và bẩn; vậy nên, cuộc đời cậu trở nên, trong nghĩa rộng nhất của từ này, một cuộc đời lý tưởng. Đầy khinh bỉ[111] đối với việc học gần như vô tích sự mà chúng tôi bị đày vào, Louis bước đi trên con đường không trung, hoàn toàn tách biệt khỏi mọi sự vây quanh chúng tôi. Tuân theo nhu cầu bắt chước vốn chế ngự lũ trẻ con, tôi tìm cách đồng dạng hóa sự tồn tại của tôi với sự tồn tại của cậu. Louis lại càng truyền cho tôi nhiều niềm đam mê không gian của ngủ[112] trong đó các chiêm ngưỡng sâu thẳm nhấn cơ thể chìm vào, bởi vì tôi ít tuổi hơn và rất dễ chịu ấn tượng[113]. Chúng tôi có thói quen, giống như cặp tình nhân, suy nghĩ cùng nhau, truyền đạt cho nhau những mơ mộng riêng. Các cảm xúc thuộc trực giác[114] đã sở hữu sự tinh nhạy ấy, hẳn nó thuộc về các tri giác của trí năng[115] ở các nhà thơ lớn, và rất thường khiến họ ở cận kề chứng điên[116].

“Cậu có cảm thấy, giống như tôi, một hôm nọ cậu hỏi tôi, thành tựu ở bên trong cậu, mà cậu không can dự chút nào, những nỗi đau đớn huyền ảo không? Nếu, chẳng hạn, tôi nghĩ thật mạnh mẽ tới hiệu ứng sẽ gây ra bởi lưỡi con dao ca níp của tôi khi nó cứa vào thịt, thì đột nhiên tôi cảm thấy một cơn đau khủng khiếp như thể tôi đã thực sự bị cắt: chỉ thiếu mỗi máu thôi. Nhưng cảm giác này vụt đến và bắt chợt tôi như một tiếng ồn đột nhiên làm khuấy động một sự im lặng sâu thẳm. Một suy nghĩ có thể gây ra những đau đớn thể chất?… Này! cậu nghĩ sao?”

Những khi cậu nói ra những suy tư tinh tuyền như vậy, cả hai chúng tôi sẽ liền rơi vào một mộng tưởng ngây thơ. Chúng tôi bắt tay vào tìm kiếm ở bên trong chính chúng tôi các hiện tượng không cách gì miêu tả tương quan với khởi sinh của suy nghĩ, mà Lambert hy vọng nắm bắt được trong mọi phát triển dẫu nhỏ nhất, nhằm có thể, một ngày nào đó, miêu tả bộ máy không được biết đến. Và rồi, sau các tranh luận, thường trộn lẫn với những lời ngớ ngẩn trẻ con, một ánh mắt vọt ra từ đôi mắt bừng lửa của Lambert, cậu siết chặt lấy bàn tay tôi, và từ tâm hồn cậu buột ra một lời, nhờ đó cậu tìm cách tự tóm tắt bản thân.

“Nghĩ, đó là nhìn[117]! một hôm cậu nói với tôi, đang trong cơn phấn hứng bởi những phản đối của chúng tôi trước nguyên lý tạo thành của chúng tôi. Toàn bộ khoa học con người dựa trên suy luận, đó là một cách nhìn chậm rãi nhờ đó người ta đi từ nhân xuống quả[118], nhờ đó người ta trở ngược từ quả lên nhân; hoặc giả, trong một biểu đạt rộng hơn, mọi thơ ca cũng như mọi tác phẩm nghệ thuật đi theo một cách nhìn mau chóng mọi thứ.”

Cậu là người tâm linh[119]; nhưng tôi dám phản đối cậu, vận tới các quan sát của chính cậu để coi trí tuệ như là một sản phẩm thuần túy thể chất[120]. Cả hai chúng tôi đều đúng. Có lẽ từ vật chất chủ nghĩa và tâm linh chủ nghĩa diễn đạt hai phần của cùng một thứ duy nhất[121]. Các nghiên cứu của cậu về chất của suy nghĩ đã khiến cậu chấp nhận với một dạng cao ngạo cuộc sống đầy rẫy thiếu thốn mà chúng tôi buộc phải chịu cũng như sự lười biếng và lòng khinh bỉ của chúng tôi đối với các bài tập phải làm. Cậu có một ý thức nhất định về giá trị của mình, nó chống đỡ cho cậu trong các công việc thuộc tinh thần. Êm dịu xiết bao khi tôi cảm thấy tâm hồn cậu tác động lên tâm hồn tôi! Biết bao nhiêu lần chúng tôi đã không ngồi trên ghế băng, cắm cúi đọc chung một quyển sách, quên biến mất nhau nhưng chẳng hề rời khỏi nhau; nhưng cả hai chúng tôi đều biết mình đang ở đó, chìm sâu trong một đại dương tư tưởng giống như hai con cá bơi trong cùng một làn nước[122]! Vậy nên đời chúng tôi ở vẻ bên ngoài thì hoàn toàn giống thực vật, nhưng chúng tôi tồn tại thông qua trái tim và thông qua bộ óc. Các tình cảm, các ý nghĩ, chỉ chúng mới trở thành những sự kiện trong cuộc sống ở trường của chúng tôi.

Lambert gây một ảnh hưởng lên trí tưởng tượng của tôi, đến giờ tôi vẫn còn cảm thấy điều đó. Tôi thun thút lắng nghe từ cậu những câu chuyện thấm đẫm sự huyền diệu ấy, cái thứ làm cho, với biết bao khoái thú, cả trẻ con cũng như người lớn, nghiến ngấu các câu chuyện nơi cái đúng mang các hình thức không thể phi lý hơn. Niềm đam mê của cậu đối với các bí ẩn và nỗi nghi hoặc rất tự nhiên ở tuổi nhỏ thường lôi kéo chúng tôi nói đến Thiên Đường và Địa Ngục. Khi ấy Louis cố gắng, bằng cách giải thích cho tôi về Swedenborg[123], khiến tôi chia sẻ những niềm tin liên quan đến các thiên thần của cậu. Trong các lập luận sai lầm nhất của cậu vẫn có thể bắt gặp những nhận xét đáng kinh ngạc về sức mạnh của con người, và chúng in lên lời lẽ của cậu dấu ấn những sắc thái của sự thật mà nếu không có sẽ chẳng gì là có thể trong mọi môn nghệ thuật. Kết cục đầy tính chất tiểu thuyết mà cậu khoác lên cho số phận con người có bản tính nhằm mơn trớn cái chiều hướng cổ động các trí tưởng tượng trinh nguyên buông mình vào những lòng tin. Chẳng phải là chính vào thời tuổi trẻ của mình các dân tộc đã phôi thai những giáo lý, những thần tượng của chúng đấy ư? Và các tạo vật siêu nhiên trước đó họ run rẩy chẳng phải là sự nhân cách hóa những tình cảm của họ, những nhu cầu của họ được phóng to lên ư[124]? Những gì còn lại trong ký ức tôi ngày hôm nay về những cuộc trò chuyện tràn ngập thơ ca mà chúng tôi, Lambert và tôi, từng có, về Nhà Tiên Tri Thụy Điển[125], kể từ đó vì hiếu kỳ tôi đã đọc các tác phẩm của ông, có thể được tóm tắt như dưới đây.

Bên trong chúng ta hẳn phải có hai sinh thể riêng biệt. Theo Swedenborg, thiên thần là cái cá nhân tại đó tạo vật bên trong chiến thắng được tạo vật bên ngoài[126]. Nếu một con người muốn tuân theo khuynh hướng thiên thần của mình, ngay khi nào suy nghĩ chỉ cho anh ta thấy sự tồn tại kép của mình, thì anh ta phải hướng đến việc nuôi dưỡng bản tính siêu đẳng của thiên thần nằm bên trong anh ta. Nếu, vì không có được một cái nhìn thật thấu suốt vào số phận của mình, anh ta để cho hoạt động cơ thể chế ngự thay vì minh xác cuộc sống trí tuệ, tất tật sức mạnh của anh ta liền được chuyển sang cho sự hoạt tác của các giác quan bên ngoài, và thiên thần chầm chậm chết đi bởi quá trình vật chất hóa này của hai bản tính. Trong trường hợp đối nghịch, nếu anh ta cung cấp cho bên trong của mình các dưỡng chất thích hợp, tâm hồn sẽ vượt lên trên vật chất và tìm cách thoát khỏi đó. Khi sự phân tách giữa chúng xảy tới dưới hình thức mà chúng ta hay gọi là Cái Chết, thiên thần, đã đủ mạnh để bứt ra khỏi vỏ bọc của nó, vẫn còn và khởi sự cuộc sống đích thực. Các cá nhân tính bất tận khiến những con người trở nên khác biệt chỉ có thể được giải thích bằng sự tồn tại tại kép trên đây; chúng khiến người ta hiểu được nó và cho thấy nó. Quả thật, khoảng cách nằm giữa một người có trí tuệ thấp kém buộc anh ta phải sở hữu một sự ngu xuẩn vẻ ngoài, và người được sự luyện tập cái nhìn bên trong giúp có được một sức mạnh nào đó, buộc chúng ta phải đặt giả định là có tồn tại giữa các thiên tài và những dạng người khác cùng khoảng cách phân chia Người Mù với Người Sáng Mắt. Tư tưởng này, nó mở rộng đến vô tận sự sáng tạo, theo cách nào đó cung cấp chìa khóa các tầng trời. Vẻ ngoài thì lẫn lộn với hạ thế, nơi ấy các sinh thể, tùy theo sự hoàn hảo tạo vật bên trong của mình, được phân bổ vào các tầng cầu tách biệt mà phong hóa và ngôn ngữ xa lạ với nhau. Trong thế giới vô hình cũng như trong thế giới thực tại, nếu cư dân nào đó của các vùng thấp, mà không xứng đáng, lên được một vòng cao hơn, thì không chỉ anh ta chẳng hiểu nổi các thói quen cũng như lời lẽ nơi đó, mà sự hiện diện của anh ta tại đó còn làm tê liệt các giọng nói và các trái tim[127]. Trong Kịch Thần, có lẽ Dante đã có một trực giác thoáng qua nào đó về các tầng cầu khởi sinh từ thế giới các khổ đau để rồi vươn lên cao theo một chuyển động vòng tròn[128] cho tới trời[129]. Do đó học thuyết của Swedenborg hẳn là tác phẩm của một tinh thần sáng suốt[130] đã ghi lại vô số hiện tượng nhờ đó các thiên thần xuất lộ giữa con người.

Học thuyết này, mà ngày hôm nay tôi cố gắng tóm tắt đồng thời cấp cho nó một nghĩa logic, đã được trình bày cho tôi bởi Lambert với tất tật những quyến rũ của bí ẩn, bao bọc trong những lần vải lót của lối nói năng đặc vị của các nhà thần bí học[131]: diễn đạt tối tăm, đầy những trừu tượng hóa, và hoạt tác mạnh vào bộ óc đến mức có một số sách của Jacob Boehm[132], Swedenborg hay bà Guyon mà sự đọc sâu làm hiện ra những phăng te zi cũng đa hình thức tương đương với các giấc mơ do nha phiến tạo nên. Lambert kể cho tôi những điều huyền bí lạ đến nỗi, cậu khiến trí tưởng tượng của tôi bị choáng váng đến nỗi tôi thấy chóng mặt[133]. Tuy nhiên tôi rất thích chìm mình vào cái thế giới bí nhiệm kia, vô hình đối với các giác quan, nơi ai cũng sung sướng được sống, hoặc anh ta hình dung ra nó dưới hình thức bất định của Tương Lai, hoặc anh ta mặc lên cho nó các hình thức hùng mạnh của Dụ Ngôn. Các phản ứng mãnh liệt của tâm hồn lên chính nó ấy dạy cho tôi, mà tôi chẳng hề hay biết, sức mạnh của nó, và làm tôi quen được với các công việc của suy nghĩ.

Về phần Lambert, cậu giải thích mọi điều bằng hệ thống các thiên thần của cậu. Đối với cậu, tình yêu tinh tuyền, tình yêu giống như người ta mơ đến ở tuổi nhỏ, là sự va đập của hai bản tính thiên thần. Vậy nên không gì sánh được với mức độ dữ dội trong ham muốn của cậu gặp được một thiên thần-phụ nữ. Này! còn gì hơn tạo vật đó trong việc truyền cảm hứng, trong việc cảm nhận tình yêu đây? Nếu một cái gì đó có thể cung cấp ý tưởng về một sự nhạy cảm cao vời, thì chẳng phải đó chính là bản tính tự nhiên đáng yêu và tốt lành thấm đẫm trong các tình cảm của nó, trong các lời lẽ của nó, trong các hành động của nó và trong từng động tác cử chỉ nhỏ nhất của nó, rốt cuộc là trong sự hòa hợp thân thiết gắn liền chúng ta người này với người kia, mà chúng tôi diễn đạt bằng cách gọi nhau là faisant, đấy ư[134]? Chẳng hề có chút phân biệt nào giữa những gì xuất phát từ cậu và những gì xuất phát từ tôi. Chúng tôi giả chữ viết của nhau, nhằm mục đích người này, tự một mình, có thể làm các bài tập cho cả hai. Khi một trong hai chúng tôi phải đọc cho xong một quyển sách mà chúng tôi buộc lòng phải trả cho ông thầy dạy toán, thì người ấy có thể đọc nó không ngưng nghỉ, vì người còn lại đã lo phần bài tập và chép phạt hộ. Chúng tôi thanh toán các bài tập giống như một món tiền thuế đánh xuống sự yên tĩnh của chúng tôi. Nếu trí nhớ tôi không phản phúc, thường chúng vượt trội hơn nhiều nếu là Lambert làm. Nhưng, vốn dĩ cả hai đều bị coi là đần độn, ông thầy giáo luôn luôn xem bài của chúng tôi dưới tác động của một định kiến nặng nề, và thậm chí còn đem chúng ra mua vui cho đám bạn chúng tôi. Tôi còn nhớ một chiều nọ, vừa xong lớp kéo dài từ hai đến bốn giờ, ông thầy cầm một bài dịch xuôi của Lambert lên. Bài ấy bắt đầu bằng Caïus Gracchus, vir nobilis. Louis đã dịch thành: Caïus Gracchus là một tấm lòng cao quý.

“Cậu lấy đâu ra tấm lòng trong nobilis thế hả?” đột nhiên ông thầy hỏi.

Và tất cả cười ầm lên, trong lúc Lambert nhìn ông thầy, vẻ ngây độn.

“Bà nam tước de Staël sẽ nói sao đây khi biết cậu dịch sai nghĩa cái từ muốn nói dòng giống cao quý, gốc tích quý tộc?

- Bà ấy sẽ nói thầy là một con vật! tôi thấp giọng kêu lên.

- Thưa ông thi sĩ, cậu sẽ ngồi tù tám ngày”, ông thầy đáp lại, thật không may là ông đã nghe thấy lời tôi.

Lambert dịu dàng nhắc lại, hướng vào tôi một ánh mắt êm ả không thể diễn tả nổi: Vir nobilis! Bà de Staël, một phần, là nguồn cơn cho bất hạnh của Lambert. Cứ hơi chút các ông thầy và đám học sinh lại ném cái tên này lên đầu cậu, hoặc giống như một sự châm biếm, hoặc giống như một lời trách móc. Louis sớm sủa làm cho mình cũng phải ngồi tù để vào với tôi. Ở đó, được tự do hơn bất kỳ nơi nào khác, chúng tôi có thể nói chuyện suốt nhiều ngày dài, trong sự im lặng của các phòng ngủ chung nơi mỗi đứa học trò sở hữu một góc rộng sáu bộ vuông, với các vách ngăn gắn chấn song phía trên cao, với cánh cửa song thưa tối nào cũng đóng lại, và mở ra dưới ánh mắt của ông Cha phụ trách quản lý việc dậy và đi ngủ của chúng tôi. Tiếng cọt kẹt của những cánh cửa ấy, được vận hành với một sự mau chóng đặc biệt của đám trẻ trong phòng, là thêm một trong những nét dị biệt nữa của ngôi trường. Những cái hốc ấy được dùng làm nhà tù nhốt chúng tôi, và đôi khi chúng tôi phải ở trong đó hàng tháng trời. Đám học trò bị nhốt kín chịu sự kiểm soát nghiêm khắc của giám học, một dạng giám thị tới đây, vào giờ cố định hoặc một cách bất ngờ, bước đi thật nhẹ, nhằm biết xem chúng tôi có nói chuyện với nhau thay vì chép phạt hay không. Nhưng những vỏ hạt óc chó rải sẵn ở các cầu thang cũng như thính giác tinh nhạy cho phép chúng tôi gần như luôn luôn biết trước là ông ta đang đến, và chúng tôi có thể không chút bấn loạn lao mình vào việc học thân yêu. Tuy nhiên, vì bị cấm đọc sách, những giờ ngồi tù thường được dành cho các tranh luận siêu hình học hoặc cho việc kể lại một số sự biến kỳ khôi liên quan đến những hiện tượng của suy nghĩ.

Một trong các điều lạ thường nhất chắc chắn là điều mà tôi sắp kể, không chỉ bởi vì nó có liên hệ tới Lambert, mà còn vì có lẽ nó đã quyết định số phận khoa học của cậu. Theo luật các trường, Chủ nhật và thứ Năm là những ngày chúng tôi được nghỉ; nhưng các buổi lễ, mà chúng tôi dự một cách nghiêm ngặt, dùng hết cả ngày Chủ nhật, thành thử chúng tôi coi thứ Năm là ngày lễ duy nhất. Sau khi nghe lễ mixa, chúng tôi cảm thấy đủ khoan khoái để dạo chơi thật lâu trong vùng nông thôn lân cận Vendôme. Trang viên Rochambeau là đích đến nổi tiếng nhất cho các cuộc đi dạo của chúng tôi, có lẽ vì nó ở xa. Hiếm khi nào bọn bé thực hiện chuyến đi gây nhiều mệt mỏi như vậy; tuy nhiên, một hoặc hai lần mỗi năm, các Quản Lý đề xuất với chúng địa điểm Rochambeau như một phần thưởng. Năm 1812, vào quãng cuối mùa xuân, hẳn chúng tôi đã lần đầu tiên đến đó. Ham muốn được nhìn lâu đài Rochambeau lừng danh, mà người chủ thỉnh thoảng tặng đồ chế biến từ sữa cho đám học sinh, khiến tất cả chúng tôi trở nên ngoan ngoãn. Vậy nên chẳng gì ngăn cản chuyến đi. Cả tôi lẫn Lambert, chúng tôi đều không biết thung lũng xinh đẹp của sông Loir nơi tòa nhà ấy được xây. Thế nên trí tưởng tượng của cậu và của tôi vào ngày hôm trước hết sức bận bịu về cuộc dạo chơi đó, nó tạo ra trong trường một niềm vui truyền thống. Chúng tôi nói đến nó trong suốt buổi tối, hứa với nhau là sẽ dùng tiền mà chúng tôi có trái với các luật lệ Vendôme để mua hoa quả và đồ sữa. Hôm sau, sau bữa ăn, chúng tôi khởi hành vào lúc mười hai giờ rưỡi trưa, tất cả đều được phát cho một miếng bánh mì để ăn bữa lót. Rồi, hoạt bát như bầy chim én, chúng tôi đi thành đoàn về phía tòa lâu đài nổi tiếng, với một niềm phấn hứng thoạt tiên không cho phép chúng tôi cảm thấy mệt. Khi chúng tôi lên đến đỉnh ngọn đồi từ đó có thể ngắm nhìn lâu đài mọc ở lưng chừng, cũng như thung lũng chạy ngoằn ngoèo nơi óng ánh dòng sông uốn lượn giữa một đồng cỏ hình dạng duyên dáng, phong cảnh đáng ngưỡng mộ, thuộc vào các phong cảnh mà những cảm xúc sống động của tuổi nhỏ, hoặc giả các cảm xúc của tình yêu, đã in vào biết bao quyến mị, đến nỗi về sau không bao giờ được đến đó lại nữa, Louis Lambert nói với tôi: “Nhưng tôi đã nhìn thấy cảnh này đêm qua, trong giấc mơ![135]” Cậu nhận ra cả lùm cây mà chúng tôi đang ở dưới, lẫn sự bố trí của các tán lá, màu dòng nước, các tháp nhỏ của lâu đài, những khúc khuỷu, những xa xăm, tóm lại là tất tật những chi tiết của địa điểm mà cậu trông thấy lần đầu tiên. Cả hai chúng tôi đều còn là trẻ con; ít nhất là tôi, còn chưa đầy mười ba tuổi; bởi vì, ở tuổi mười lăm, Louis có thể đã sở hữu chiều sâu của một con người thiên tài; nhưng hồi ấy cả hai chúng tôi đều không có khả năng nói dối trong mọi hành động dẫu nhỏ nhất của cuộc đời tình bạn chúng tôi. Vả lại tuy Lambert cảm nhận được thông qua sức mạnh toàn năng suy nghĩ của mình tầm quan trọng của mọi sự, nhưng còn xa cậu mới đoán định được toàn bộ tầm vóc của chúng; vậy nên thoạt tiên cậu thấy rất kinh ngạc trước điều này. Tôi bèn hỏi hay cậu từng tới Rochambeau từ khi còn nhỏ rồi, câu hỏi của tôi khiến cậu ngơ ngẩn; nhưng, sau khi kiểm tra các kỷ niệm, cậu đáp là chưa bao giờ. Sự kiện này, mà sự tương đồng có thể tìm thấy trong các sự kiện của trạng thái ngủ nơi nhiều người, sẽ khiến hiểu được các tài năng đầu tiên của Lambert; quả thật, từ đó cậu có thể suy luận cả một hệ thống, và chiếm lĩnh, giống như Cuvier trong một trật tự vật khác, từ một mảnh của suy nghĩ mà tái xây dựng cả một sáng tạo[136].

Vào lúc đó chúng tôi đang ngồi dưới một gốc sồi thấp; rồi, sau một hồi suy nghĩ, Louis bảo tôi: “Nếu phong cảnh đã không đi tới với tôi[137], điều đó hẳn là quá mức phi lý, thì tức là tôi đã tới đây. Nếu tôi từng ở đây trong lúc vẫn đang ngủ trong góc của tôi, thì chẳng phải là đã có một sự phân tách hoàn toàn giữa cơ thể tôi và con người bên trong của tôi à? Chẳng phải điều đó chứng nhận cho một năng lực cơ động khó mà biết cho rõ của tinh thần hoặc giả các hiệu ứng tương đương với các hiệu ứng của sự cơ động cơ thể? Thế nhưng, nếu tinh thần của tôi và cơ thể của tôi đã có thể rời khỏi nhau trong giấc ngủ, tại sao tôi lại chẳng làm được cho chúng tách nhau ra giống thế trong trạng thái thức? Tôi không thấy các phương cách trung gian giữa hai mệnh đề này. Nhưng ta đi xa hơn nhé, bước hẳn vào các chi tiết? Hoặc những điều này đã được thực hiện nhờ sức mạnh của một năng lực, nó làm vận hành một con người thứ hai mà cơ thể tôi được dùng làm vỏ bọc, bởi vì tôi đã ở trong góc của tôi và nhìn thấy phong cảnh, và điều này lật đổ nhiều hệ thống; hoặc những điều này đã diễn ra, trong một trung khu thần kinh nào đó còn cần biết tên và là nơi các tình cảm hoạt tác, hay tại một trung khu não bộ nơi các tư tưởng hoạt tác. Giả thuyết sau khơi dậy những câu hỏi kỳ lạ. Tôi đã bước đi, tôi đã nhìn thấy, tôi đã nghe thấy. Chuyển động là không thể hình dung nếu không có không gian[138], âm thanh chỉ hoạt động tại các góc hoặc trên các bề mặt, và quá trình màu sắc hóa chỉ diễn ra nhờ ánh sáng. Nếu, trong đêm, hai mắt đang nhắm, tôi nhìn thấy ở trong chính tôi các vật nhiều màu, nếu tôi nghe thấy những tiếng động trong sự im lặng tuyệt đối nhất, và không có các điều kiện cần thiết để âm thanh hình thành được, nếu trong sự bất động hoàn hảo nhất tôi đã vượt qua các không gian, thì hẳn chúng ta phải có các năng lực bên trong, độc lập với các quy luật vật lý bên ngoài. Nghĩa là tự nhiên vật chất là có thể xâm nhập đối với tinh thần. Tại làm sao con người cho đến lúc này lại ít suy nghĩ về các biến cố của giấc ngủ như vậy, thế mà chúng lại cho thấy ở trong con người một cuộc sống kép[139]? Chẳng phải hẳn sẽ có một môn khoa học mới trong hiện tượng này ư? cậu nói thêm, vỗ mạnh tay lên trán; nếu nó không phải nguyên lý của một khoa học, thì chắc chắn nó để lộ bên trong con người những quyền năng khổng lồ; ít nhất thì nó thông báo sự tách biệt thường hằng giữa hai bản tính của chúng ta, cái điều tôi đã loay hoay suy nghĩ từ rất lâu nay. Thế là rốt cuộc tôi cũng đã tìm được một lời chứng cho sự vượt trội, nó phân biệt các giác quan ngầm ẩn của chúng ta khỏi các giác quan bên ngoài! homo duplex[140]! - Nhưng, cậu nói tiếp sau một quãng ngừng, bất giác có một cử chỉ tỏ vẻ nghi ngờ, có lẽ bên trong chúng ta không có hai bản tính? Có lẽ chỉ đơn giản là chúng ta được phú cho những phẩm chất thân thuộc và có thể trở nên hoàn hảo mà sự thực thi, mà các phát triển tạo ra trong chúng ta các hiện tượng thuộc hoạt động, xuyên qua, thấu thị vẫn còn chưa được quan sát thấy. Trong tình yêu của chúng ta dành cho cái huyền diệu, dục vọng sinh ra từ lòng kiêu ngạo của chúng ta, chúng ta sẽ chuyển hóa các hiệu ứng này thành những sáng tạo thơ ca, bởi vì chúng ta không hiểu được chúng. Thật tiện khi thần thánh hóa cái không thể hiểu! A! tôi thú nhận rằng tôi sẽ khóc tiếc thương sự mất đi các ảo tưởng của tôi. Tôi từng thấy cần tin tưởng vào một bản tính kép và các thiên thần của Swedenborg! Vậy là môn khoa học mới này sẽ có thể giết chúng đi? Đúng, việc xem xét các thuộc tính còn chưa biết của chúng ta hàm ngụ một môn khoa học vật chất chủ nghĩa ở vẻ bề ngoài, bởi vì Tinh Thần sử dụng, phân chia, làm sống động chất; nhưng lại không phá hủy nó đi.”

Cậu tư lự một hồi lâu, hồ như buồn rầu. Có lẽ cậu đang nhìn thấy những giấc mơ hồi trẻ của mình giống như các lần vải lót rồi đây cậu sẽ sớm phải rời bỏ.

“Thị giác và thính giác, cậu nói, cười phá lên vì cách diễn đạt của mình, hẳn là những bao ngoài của một công cụ tuyệt diệu[141]!”

Trong tất tật các thời khắc nói với tôi về Thiên Đường và Địa Ngục, cậu hay có thói quen coi tự nhiên là chúa tể; nhưng, phát ra những lời vừa xong, chất chứa khoa học, cậu bay, táo bạo hơn bao giờ hết, phía trên phong cảnh, và tôi thấy như thể vầng trán cậu sắp vỡ tan ra vì nỗ lực của thiên tài: những sức lực của cậu, mà nhất định phải gọi là có tính chất đạo đức cho đến khi nào tìm được từ chuẩn hơn, dường như trào ra qua các cơ phận vốn dĩ được dành để phóng chúng ra; mắt cậu bắn ra suy nghĩ; bàn tay cậu giơ lên cao, cặp môi câm lặng và run rẩy của cậu phát ra lời; ánh mắt rực cháy của cậu tỏa sáng; cuối cùng đầu của cậu, như thể quá nặng hoặc mệt mỏi vì một đà quá mãnh liệt, gục xuống trước ngực[142]. Đứa trẻ này, người khổng lồ này khòng lưng xuống, cầm lấy tay tôi, siết lại trong bàn tay ẩm ướt của mình, vì cậu đang bừng bừng sốt trong cuộc tìm kiếm sự thật; rồi sau một quãng ngừng cậu nói với tôi: “Tôi sẽ nổi tiếng! - Nhưng cả cậu cũng sẽ như vậy, cậu mau mắn nói thêm. Cả hai ta đều là các nhà hóa học của ý chí[143].”

Trái tim mới cao cả làm sao! Tôi nhận ra sự vượt trội của cậu, nhưng cậu thì rất lưu ý để không bao giờ khiến tôi cảm thấy điều đó. Cậu chia sẻ với tôi các kho báu trong suy nghĩ của cậu, cho rằng tôi đóng một vai trò nhất định trong các phát hiện của cậu, và để lại cho riêng tôi những suy tư dị dạng của tôi. Lúc nào cũng êm dịu như một phụ nữ đang yêu, cậu sở hữu mọi sự thẹn thùng của tình cảm, mọi tinh tế của tâm hồn, chúng khiến cho cuộc đời trở nên thật đẹp và êm ả để chịu đựng.

Ngay hôm sau cậu bắt tay vào viết một tác phẩm mà cậu đặt tên là Khảo luận về ý chí[144]; các suy tư của cậu rất thường khiến bố cục và phương pháp của nó bị biến đổi; nhưng sự kiện của cái ngày trọng đại ấy chắc chắn là mầm mống cho nó, giống như cái cảm giác điện mà Mesmer[145] luôn luôn thấy khi một người hầu lại gần chính là nguồn gốc cho những khám phá của ông về thôi miên, môn khoa học xưa kia từng bị che giấu dưới đáy sâu các bí ẩn của Isis, của Delphes, trong cái bình của Trophonius, và được tìm lại bởi con người kỳ diệu ở gần sát Lavater[146], tiền thân của Gall. Được soi sáng bởi luồng ánh sáng đột nhiên này, các tư tưởng của Lambert có được các kích thước rộng hơn hẳn; cậu tách từ những gì thâu nhận được những sự thật tản mát, và nhóm chúng lại với nhau; rồi, giống một thợ đúc, cậu đổ khuôn tất cả. Sau sáu tháng miệt mài, công việc của Lambert kích thích sự hiếu kỳ nơi đám bạn chúng tôi và trở nên đối tượng cho một số lời đùa tàn nhẫn sẽ dẫn tới một kết cục khủng khiếp. Một hôm, một trong số bọn hành hạ chúng tôi, nhất quyết muốn xem bản thảo của chúng tôi, khuấy động vài thằng đại bàng, và đến cướp lấy, một cách hung dữ, một cái hộp nơi cất cái báu vật mà Lambert và tôi bảo vệ với một sự can đảm gớm ghê. Cái hộp bị khóa, lũ tấn công chúng tôi không mở được; nhưng chúng tìm cách đập vỡ nó trong lúc đánh nhau, sự độc ác đen tối khiến chúng tôi phải hét toáng lên. Vài người bạn, do ảnh hưởng của một tinh thần công lý hoặc bị ấn tượng mạnh trước sự kháng cự anh hùng của chúng tôi, khuyên nhủ là nên để cho chúng tôi yên, nhưng cùng lúc ném lên chúng tôi một sự thương hại láo xược. Đột nhiên, bị thu hút bởi tiếng ồn ã của trận chiến, cha Haugoult bất ngờ can thiệp, và tra hỏi nguyên nhân vụ tranh giành. Đám đối thủ của chúng tôi đã đến quấy rối chúng tôi trong lúc chúng tôi đang chép phạt, thế nên ông Quản Lý tới để bảo vệ các nô lệ của ông. Để thoát trách nhiệm, bọn tấn công nhắc đến các bản thảo. Ông Haugoult khủng khiếp ra lệnh cho chúng tôi nộp cái hộp: nếu chúng tôi kháng cự, có thể ông sẽ cho người đập nó ra; Lambert đưa chìa khóa cho ông; ông Quản Lý lấy đống giấy ra, giở xem; rồi ông tịch thu chúng, bảo chúng tôi: “Ra đây chính là những trò xuẩn ngốc khiến các cậu lơ là bài tập!” Những giọt nước mắt thật lớn chảy ra từ cặp mắt của Lambert, vừa bởi ý thức về sự vượt trội về mặt đạo đức của cậu vừa bị giày xéo vừa vì sự sỉ nhục trời ơi đất hỡi và sự phản bội vây bủa chúng tôi. Chúng tôi ném về phía lũ buộc tội chúng tôi một ánh mắt trách cứ: chẳng phải chúng vừa bán chúng tôi cho kẻ thù chung đấy ư? nếu chúng có thể, chiểu theo Luật Học Sinh, đánh chúng tôi, thì chẳng phải chúng phải giữ im lặng về các lầm lỗi của chúng tôi ư? Vậy nên trong một lúc chúng thấy ngượng vì sự hèn nhát của mình. Ông cha Haugoult có khả năng đã bán cho một chủ hiệu thực phẩm ở Vendôme Khảo luận về ý chí, mà chẳng hề hay biết tầm quan trọng những báu vật khoa học mà các mầm mống bị thui chột tản mát đi vào tay các bàn tay vô tri.

Sáu tháng sau, tôi rời khỏi trường. Do đó tôi không biết Lambert, mà sự chia tay giữa chúng tôi nhấn chìm vào một cơn sầu muộn đen tối, có bắt tay viết lại tác phẩm của cậu hay không. Chính là để tưởng nhớ thảm họa từng xảy đến với cuốn sách của Louis mà, trong tác phẩm dùng để mở đầu các Ê-tuýt này, tôi đã dùng cho một tác phẩm tưởng tượng cái nhan đề thực sự đã được Lambert nghĩ ra, và tôi đã lấy tên một phụ nữ thân thiết với anh để đặt cho một thiếu nữ đầy lòng tận tâm[147]; nhưng đó không phải sự vay mượn duy nhất từ anh: tính cách của anh, những mối bận tâm của anh đã hết sức hữu ích cho tôi trong quá trình viết cuốn sách ấy, mà chủ đề có được là nhờ một kỷ niệm về những suy tưởng non trẻ của chúng tôi. Giờ đây Câu Chuyện này được dành để dựng một tấm bia mộ khiêm nhường nơi chứng nhận cuộc đời của người đã để lại cho tôi toàn bộ tài sản, suy nghĩ của anh. Trong cuốn sách thời trẻ dại đó, Lambert đặt vào các suy nghĩ của người đàn ông. Mười năm về sau, khi gặp vài nhà bác học chăm chú một cách nghiêm túc tới các hiện tượng từng gây tác động mạnh lên chúng tôi, mà Lambert đã phân tích theo một đường lối mầu nhiệm, tôi mới hiểu ra tầm quan trọng các công trình của anh, đã bị lãng quên như một trò nghịch ngợm trẻ con. Thế nên tôi đã bỏ nhiều tháng trời cố nhớ lại những phát hiện chính yếu của người bạn khốn khổ của tôi. Sau khi tập hợp các kỷ niệm, tôi có thể khẳng định rằng, ngay từ năm 1812, anh đã thiết lập, đoán định, bàn tới trong Khảo Luận của mình nhiều điều quan trọng mà, anh nói với tôi, các bằng chứng sớm muộn sẽ xuất hiện. Những suy tư triết học của anh chắc chắn sẽ khiến anh được chấp nhận vào số các nhà tư tưởng vĩ đại xuất hiện theo những quãng cách khác nhau giữa con người nhằm hé lộ cho họ các nguyên lý hoàn toàn trần trụi của một môn khoa học nào đó rồi sẽ đến, mà cội rễ chậm chạp mọc ra và một ngày sẽ đơm hoa kết trái thơm lành tại các lãnh địa của trí tuệ. Chẳng hạn, một thợ thủ công nghèo, Bernard, chăm lo đào đất để tìm bí mật của các loại men, vào thế kỷ mười sáu khẳng định, với uy lực không thể sai lầm của thiên tài, những đặc điểm địa chất học mà ngày nay sự chứng minh đã làm nên vinh quang cho Buffon và Cuvier. Tôi nghĩ là mình có thể cung cấp một ý tưởng về Khảo Luận của Lambert thông qua các mệnh đề then chốt tạo nên nền tảng cho nó; nhưng tôi sẽ tước đi khỏi chúng, dẫu chẳng hề muốn, những suy nghĩ anh đã dùng để bọc lấy chúng, và tạo nên đoàn tùy tùng không thể thiếu cho chúng. Bước đi trên một con đường khác với con đường của anh, tôi nhặt lấy, từ các nghiên cứu của anh, những gì phục vụ tốt nhất cho hệ thống của tôi. Vậy nên tôi không biết, tôi, vốn dĩ là môn đệ của anh, có thể diễn dịch một cách trung thành các suy nghĩ của anh hay không, sau khi đã hấp thụ chúng vào trong tôi theo cách thức khiến chúng mang màu sắc các suy nghĩ của chính tôi.

Cho các tư tưởng mới, là những từ mới hoặc các nghĩa từ cũ đã được mở rộng, trải rộng, được định nghĩa chuẩn xác hơn; vậy nên Lambert đã chọn, nhằm diễn đạt nền móng hệ thống của anh, vài từ thông dụng đáp ứng được một cách mơ hồ cho suy nghĩ của anh. Từ Ý Chí dùng để[148]

-----------

[1] Toàn bộ lời đề tặng cần phải hiểu là “Dédié à la femme chérie maintenant et toujours” (Đề tặng cho người phụ nữ yêu quý lúc này và mãi mãi) (câu gốc tiếng Latin): Balzac đề tặng Louis Lambert cho bà de Berny (1777-1836), người tình thời trẻ.
[2] Cái tên “Vandômois” ngày nay ít còn được biết đến; Montoire ở quãng thời gian này vừa được nền hành chính mới đặt vào tỉnh (département) Loir-et-Cher, mà thủ phủ là Blois.
[3] Hiện tượng “thần đồng” rất có thể bị coi là “rối loạn đầu óc” từ khi còn rất nhỏ; ngoài nhiều ý nghĩa khác, Louis Lambert có thể được coi là cách mà Balzac sử dụng để tranh luận về vấn đề này, rất được đương thời quan tâm.
[4] Chi tiết nhỏ này không hẳn không có liên quan đến cuộc đời thực của Balzac: Balzac bắt đầu được bố mẹ cho đi học khi chưa tròn năm tuổi, ở thành phố Tours quê hương.
[5] Thời ấy, để tránh nghĩa vụ quân sự theo luật, người ta hay “mua” người khác thế chỗ; rõ ràng cách thức này không hề là sáng tạo của thời nay.
[6] Napoléon cho phép điều này (không ban hành thành luật) từ năm 1807: từ 1807 đến 1810 số lượng chủng sinh tăng gấp đôi.
[7] Các ông thầy tu thuộc “Oratoire” xuất hiện không ít trong Vở kịch con người; sẽ được nói kỹ hơn ở các đoạn sau.
[8] Madame de Staël là một trong những nhân vật trọng yếu nhất của sơ kỳ chủ nghĩa lãng mạn: nếu chưa đọc De la littérature của Staël thì coi như còn chưa nắm được căn bản của chủ nghĩa lãng mạn (thêm Benjamin Constant, một người rất gần gũi với bà de Staël nữa); Balzac vài lần đưa bà de Staël vào tác phẩm của mình, chẳng hạn ở đoạn đầu Mémoires de deux jeunes mariées (Hồi ký của hai cô gái mới lấy chồng), khi Louise de Chaulieu mới từ tu viện trở về nhà, trong câu chuyện với bố mẹ đã nhắc ngay đến bà de Staël.
[9] Louis Lambert thường được coi là một tác phẩm thần bí, có lẽ là “thần bí” nhất trong số mọi tiểu thuyết của Balzac, cùng Séraphîta; tuy nhiên, bên cạnh việc hiểu rằng không khí thần bí là cần thiết cho cuốn tiểu thuyết, cũng nên nghĩ rằng những gì thể hiện ở đây không hẳn quá xa với suy nghĩ của bản thân Balzac.
[10] Balzac rất chính xác: thiên tài chẳng khác gì, ở vẻ bề ngoài, bất kỳ ai khác. Có lẽ Balzac cũng tương đối cay cú, vì bản thân mình là thiên tài nhưng lại béo ục ịch và nói thẳng ra là rất xấu, chẳng hề có một chút quyến rũ nào.
[11] Cf. chú thích số 52 của Nàng tình nhân hờ.
[12] Chi tiết này cũng gợi nhớ Balzac hồi nhỏ, và chắc hẳn cũng không chỉ một mình Balzac.
[13] “Vẻ bên ngoài” (physionomie) liên tục xuất hiện ở khắp nơi trong Vở kịch con người, và không chỉ đối với con người.
[14] Ta hãy nhớ rằng “entendement” suốt một thời gian dài, từ trước Balzac và cả trong thời của Balzac, là một trong những vấn đề trung tâm của triết học; ta có Hume hay Locke, nhưng nhất là cf. Leibniz.
[15] Có lẽ ngoài (rất) nhiều phương diện khác, cũng phải kể đến phương diện Balzac nhà ngôn ngữ học, nhà từ nguyên học.
[16] Tức là rất ngược lại với Ferdinand de Saussure; có lẽ hoàn toàn có thể nói Balzac nghiêng về phía Platon nhiều hơn.
[17] Dường như theo Balzac, ngôn ngữ được “tạo ra” chứ không phải “được tìm ra”.
[18] Vai trò của hồi tưởng; Balzac gần với nguyên lý triết học Hy Lạp?
[19] Chữ tượng hình Ai Cập: hình vẽ con chim chính là từ con chim.
[20] Các suy nghĩ trên đây “của Louis Lambert” không xa lạ với thuyết thần bí thoát thai từ Swedenborg; cf. Séraphîta.
[21] VOL.
[22] Từ “ngôn ngữ học” (linguistique) xuất hiện chính vào khoảng thời gian Balzac viết Louis Lambert.
[23] Những suy tư trên đây của Balzac về ngôn ngữ vô cùng nổi tiếng.
[24] Một trong những kết quả lớn nhất của Cách mạng Pháp 1789 liên quan đến tôn giáo, nhất là các đặc quyền của giới tăng lữ; Cách mạng xóa bỏ ưu thế của các ông cha, và quy định những ai muốn tồn tại thì phải tuyên thệ trung thành với cách mạng: ông cha xứ họ hàng của Louis Lambert chính là một người như vậy.
[25] Balzac từng viết (ở chỗ khác): “trí nhớ là điều kiện đầu tiên của thiên tài”, vì nó không chỉ là “năng lực lưu giữ” mà còn khởi xuất sự đánh giá.
[26] Còn đây là “bộ óc”.
[27] Phòng đen, “hộp đen”?
[28] “Sự tương đồng” (analogie): không thể không nhớ ngay tới khái niệm “le démon de l’analogie” của Stéphane Mallarmé.
[29] Trận đánh nổi tiếng mang lại thắng lợi rực rỡ cho Napoléon; trận Austerlitz diễn ra vào ngày 2 tháng Chạp năm 1805; Chiến tranh và hòa bình của Tolstoy đã làm trận đánh này trở nên bất tử, nhưng trận Austerlitz còn thu hút nhiều nhà văn nữa, gần đây chẳng hạn Sebald.
[30] Tên ngọn đồi gần Austerlitz.
[31] Dường như nếu không có các năng lực mà Balzac vừa miêu tả (rất có thể là tự miêu tả chính bản thân mình), thì có lẽ tốt nhất là không bao giờ nên trở thành tiểu thuyết gia; rất mất thời gian và gây sốt ruột.
[32] Tiếng Latin, nghĩa là “Các vực thẳm thì thu hút” (trích Thánh Vịnh).
[33] Phải nói là một câu cực kỳ tối nghĩa.
[34] Tiếng Latin, dùng để chỉ thiên tài thơ ca, nghĩa đen là “hơi thở của bản tính đặc biệt thần thánh”, rút từ Satires của nhà thơ La Mã Horace.
[35] Nhân vật rất hay xuất hiện trong Vở kịch con người, những khi nào động đến “thần bí”, tuy nhiên thường được Balzac gắn liền với “Bà Guyon”.
[36] Nhân vật được Balzac coi là rất quan trọng để nối Jacob Boehme với Swedenborg; cũng có lúc Balzac đi sâu hẳn vào nghiên cứu thần bí học, thể hiện rõ nhất trong tác phẩm kỳ lạ Lời tựa cho “Cuốn sách thần bí”, cũng thuộc các “étude philosophique”.
[37] Dường như Balzac cho rằng đối với các cậu bé học nội trú thời ấy (từ kinh nghiệm cá nhân?), trường “collège” có phong hóa hết sức suy đồi; điều này được ám chỉ vô số lần trong các tác phẩm thuộc Vở kịch con người.
[38] Thời này, các “faculté” (năng lực) là mốt rất lớn; ta biết nguồn gốc cho điều đó là triết học của Kant.
[39] Bị coi là một nhân vật có tư tưởng nguy hiểm, bà de Staël phải chịu hình phạt trên (dưới thời Napoléon, từ năm 1803); quả thật, quãng năm 1810, bà từng có lúc ở Fossé, trên con đường từ Blois đến Vendôme, làm khách của bá tước de Salaberry (mà một trong các con trai là bạn học của Balzac tại collège Vendôme); đây là giai đoạn bà de Staël viết cuốn sách khác sau De la littérature: De l’Allemagne (Về nước Đức).
[40] Của Swedenborg.
[41] Biệt danh “Le Philosophe Inconnu” (Triết gia xa lạ), một nhà thần bí lớn, kẻ thù không đội trời chung của phái bách khoa thư.
[42] Trong cuốn sách về nước Đức, bà de Staël nhắc ngay đến Swedenborg và sự thấu thị.
[43] Nhân vật có thật.
[44] “Triết học” ở đây là một “lớp”; giai đoạn của câu chuyện, hệ thống giáo dục của Pháp không dễ hiểu: Cách mạng 1789 chủ trương thiên về các trường “lycée” (Balzac đặc biệt hay mỉa mai trường “lycée”) nhưng trường “collège” vẫn tồn tại (trường mà Louis Lambert học ở đây là “collège”: tuy nhiên ta cần hiểu về cơ bản nó tương đương với “trường trung học” ngày nay); các lớp hồi ấy tại bậc học này gồm chủ yếu (từ thấp lên cao), “classe d’humanité” (sau các “classe de grammaire”), “classe de rhétorique” và sau đó là “classe de philosophie” (thường hai năm); từ năm 1730 thêm địa dư và vật lý; về cơ bản, ở “collège” học sinh học tiếng Pháp, Latin và Hy Lạp, và không được học các tác giả Pháp; có thể coi Louis Lambert học xong lớp “philosophie” tức là đã xong trung học.
[45] 1814 là thời điểm Napoléon sụp đổ và Trung Hưng lần thứ nhất bắt đầu.
[46] Một tác phẩm khác của bà de Staël, in năm 1807.
[47] Bà de Staël mất ngày 14 tháng Bảy năm 1817.
[48] Từ năm 1623, collège Vendôme được giao cho các thầy tu dòng Oratoire (gọi là các “Oratorien”) quản lý; một dạo dụ năm 1776 cũng quy định trường, với tư cách “École royale militaire” (trường quân sự hoàng gia), chuẩn bị một số học sinh trở thành “học sinh của nhà vua” tại École militaire (Trường quân sự) Paris.
[49] Tức là Dòng Tên.
[50] Cho đến ngày nay các tòa nhà ấy vẫn còn; có một thời nó từng thuộc lycée Ronsard ở Vendôme.
[51] Đây là các lãnh thổ “hải ngoại” của Pháp: nhiều học sinh là con em các gia đình sống ở các đảo thuộc Pháp.
[52] Correcteur.
[53] Ở đây là “férule”, thanh gỗ hoặc một đoạn da dùng để vụt vào tay học sinh phạm lỗi.
[54] Tuy nhiên, một số lời chứng còn lại cho thấy thời này tại collège Vendôme kỷ luật không đến nỗi nghiệt ngã; rất có thể Balzac ghét phải đi học ở đó.
[55] Ở đây sẽ không quy đổi: hệ thống lớp học này tính ngược, từ lớn đến nhỏ.
[56] Maître.
[57] Được gọi tên một cách thông tục là “pigeon cravaté”, nghĩa đen là “bồ câu đeo cà vạt”.
[58] Đây là các khúc hát có tên gọi cụ thể “répons”.
[59] Lúc đầu, trong bản thảo, Balzac viết “lớp năm”, đúng là lớp mà Balzac học vào năm 1811; sau đó đã sửa lại thành “lớp bốn”.
[60] Đây là một thực tế lịch sử của collège Vendôme.
[61] Thời Balzac học ở collège Vendôme, ở đây có cha François Haugou; trong bản thảo, Balzac viết những miêu tả vô cùng dữ dội về sự ngu xuẩn của ông cha này, sau đã được xóa đi (nhưng người ta còn giữ được).
[62] Đại khái có thể nghĩ là cao gấp đôi người bình thường.
[63] Cf. chú thích số 46.
[64] Cf. chú thích số 82 của Ferragus; rõ ràng Balzac đặc biệt thích nhắc đến các bức tranh của họa sĩ Gérard.
[65] Một cách cụ thế, bức tranh mà Balzac đang ám chỉ là “Corinne ở mũi Mysène”, được Gérard vẽ năm 1807; ngoài đời thực, Balzac bắt đầu hay lui tới “salon” của Gérard từ năm 1829.
[66] Cf. chú thích số 39; tác phẩm này mãi đến năm 1813 mới được xuất bản; Balzac nhiều lần bình luận về bà de Staël, không hẳn là với nhiều hảo ý.
[67] Lazare-François Mareschal ba mươi bảy tuổi vào năm 1807, khi Balzac nhập học ở collège Vendôme; đây là một cựu thầy tu Oratoire, lấy vợ, và cùng người anh rể Dessaignes điều hành trường.
[68] Chuyện nhảy lớp đối với học sinh ở Pháp là hết sức bình thường; ngay cả hiện nay, có rất nhiều học sinh xuất sắc lấy bằng tú tài khi mới mười bốn, mười lăm tuổi.
[69] Đây (académie) là tổ chức dành cho các học sinh giỏi của collège Vendôme; rất đáng buồn là Balzac chưa bao giờ trở thành được thành viên của nó; trong đời, Balzac cũng không vào được bất cứ viện hàn lâm nào, mấy lần ứng cử nhưng đều trượt Viện Hàn lâm Pháp.
[70] Hô ngữ tiếng Latin, nghĩa là “ôi ngượng quá”.
[71] Balzac trả thù Viện Hàn lâm Pháp bằng câu này?
[72] “Faisant” là một từ lóng, thuộc vào biệt ngữ của học sinh collège Vendôme (các trường ở Pháp thường xuyên có biệt ngữ riêng, mà chỉ người trong trường hiểu với nhau); có thể hiểu nghĩa giống như “đôi bạn cùng tiến”.
[73] Đây là một nhân vật có thật: Barchou de Penhoën (1799-1855), bằng tuổi Balzac và quả thật cũng là bạn học của Balzac tại trường Vendôme; de Penhoën có tiểu sử giống như Balzac vừa miêu tả, là môn đệ của Pierre-Simon Ballanche, triết gia rất nổi tiếng thời ấy; Balzac đề tặng tác phẩm Gobseck (chưa có bản dịch tiếng Việt) thuộc Vở kịch con người cho de Penhoën; de Penhoën từng viết khảo luận về triết gia người Đức Fichte.
[74] Armand-Jules Dufaure hơn Balzac một tuổi, học Vendôme, về sau sẽ làm tới chức bộ trưởng và cuối thời Quân chủ tháng Bảy trở thành Phó Chủ tịch Viện Dân biểu; nếu thực sự muốn biết rõ về Dufaure: cf. Souvenirs của Alexis de Tocqueville.
[75] Tiếp tục nói đến Barchou de Penhoën, tất nhiên.
[76] Thêm một lần nữa, Balzac dùng từ “pyrrhonisme”, giống như… (ở đâu quên mất rồi).
[77] Les Enfants célèbres, tác phẩm của J.-P.-B Nougaret, xuất bản năm 1810, kể chuyện các thần đồng như Pascal hay Pic de La Mirandole.
[78] Chuyện kể rằng thằng bé Montcalm de Candilac mới bốn tuổi đã học rành rẽ tiếng Hy Lạp và Latin, tất tật trong vòng mười tám tháng, và chỉ vài năm đã có kiến thức khoa học vượt các ông thầy, nhưng chết ngay năm mới bảy tuổi.
[79] Đối với bản thân Balzac, thử nghiệm văn chương đầu tiên chính là một vở kịch thơ (thể loại bi kịch): Cromwell, 1819.
[80] Khá là giống lũ gà nhặt thóc trong sân bẩn thỉu mà lại cứ ngỡ mình là phượng hoàng đại bàng chim ưng, đám này đông vô số kể.
[81] Các nhân chứng kể lại chuyện đúng như vậy: Balzac gây thất vọng rất lớn ở trường Vendôme; Louis Lambert cần được nhìn nhận là một “trò chơi xưng tôi” phức tạp, “tôi” ở đây vừa là một “tôi” bên ngoài nhìn “Louis Lambert” vừa là một “tôi” bên trong, đồng thời là “Louis Lambert” và bản thân Balzac.
[82] Một cách chính xác, Balzac ở collège Vendôme từ năm tám tuổi (1807), cho tới 1813.
[83] Ở một số chỗ trong Vở kịch con người, Balzac miêu tả nhân vật của mình có một “sự im lặng Pythagore”; ở đây Balzac sử dụng miêu tả Pythagore khi dạy học yêu cầu im lặng và bí mật, hay thấy ở các nhà bách khoa thư.
[84] Tức là khoảng 1m45.
[85] Phrénologie: xuất hiện rất nhiều trong Vở kịch con người; Balzac hay nhắc đến Gall (1758-1828), người chủ xúy cho rằng cái đầu của con người nói lên rất nhiều điều; dường như bộ môn này không hẳn là không có nhiều liên quan tới “khoa học” dưới thời Hitler.
[86] Có không ít bằng chứng cho thấy rằng ở đây Balzac đang tự miêu tả chính mình.
[87] Balzac dùng từ “matador”.
[88] Những gì Balzac nói ở đây minh họa rất sát các lý thuyết đương thời.
[89] Cf. chú thích số 72.
[90] Balzac gọi là “căn bệnh” chứng “nostalgie”, hoài nhớ; hoàn toàn có thể coi đây là một dạng bạc nhược tinh thần.
[91] Ở đây chúng ta lại có thêm một “étude” nữa trong vô số “étude” (với rất nhiều nghĩa khác nhau) mà Vở kịch con người sử dụng không ngừng: tại trường học Pháp, có các “étude” là phòng học nhóm, ngoài phòng học chung.
[92] “Pensum”, hình phạt phổ biến với học sinh thời ấy; tuy nhiên, theo các chứng nhân, tại collège Vendôme chẳng mấy khi học sinh phải chép phạt.
[93] Những miêu tả chi tiết trên đây rất tương hợp với những gì người ta còn biết được về cuộc sống tại collège Vendôme của chính Balzac.
[94] Chúng ta đã đi đến với “trí tưởng tượng”, một điểm hết sức quan yếu của Louis Lambert.
[95] Đây, “s’abandonner”, mà từ điển Trương Vĩnh Ký giảng là “nản chí”: không bao giờ “s’abandonner” có thể là “nản chí” hết.
[96] Một vấn đề rất thú vị: Balzac nghĩ gì về khái niệm “chính thể đại diện”? dường như là hết sức khinh bỉ; một sự khinh bỉ hết sức đúng đắn.
[97] Các vấn đề vĩnh cửu của giáo dục, chẳng bao giờ có thể thay đổi.
[98] Tiếng Latin, nghĩa là “lý luận sau chót của các Cha” (ám chỉ câu khẩu hiệu mà Louis XIV cho khắc lên các khẩu đại bác của mình, “Ultima ratio regum”: “Lập luận sau chót của các ông vua”).
[99] Tại Paris, các tội phạm bị chặt đầu tại quảng trường Grève (năm 1802 đổi tên thành quảng trường Tòa Đô chính), họ bị dẫn từ tòa án (Palais de Justice) nằm trên đảo Cité (gần đó) sang; thật ra, khi Balzac viết những dòng này, cái lệ ấy vẫn chưa bị bỏ.
[100] “Épigramme”; đây là một trong những từ có tần suất xuất hiện thuộc loại cao nhất trong tự vị riêng của Balzac, mang nhiều nghĩa khác nhau.
[101] Ám chỉ bà de Staël, tất nhiên; cf. chú thích số 46, 63 và 65.
[102] Một so sánh rất lạ; Balzac rất hay có những so sánh rất lạ; các ẩn dụ của Balzac cũng luôn luôn kỳ cục; để tôi nhớ xem Proust đã bao giờ phân tích các ẩn dụ của Balzac chưa: nhất thời tôi mới chỉ nhớ ra các phân tích “proustien” về ẩn dụ của Flaubert.
[103] Le Lépreux de la vallée d’Aoste, tác phẩm của Xavier de Maistre; Xavier de Maistre còn có một tác phẩm nữa vô cùng nổi tiếng, Voyage autour de ma chambre (Du lịch quanh phòng ngủ); gia đình de Maistre gánh chịu rất nhiều từ Cách mạng 1789, người anh trai của Xavier de Maistre là Joseph de Maistre vĩ đại, lý thuyết gia của phản cách mạng; đi lưu vong rất sớm, Xavier de Maistre sẽ trở thành sĩ quan trong quân đội Nga; Joseph de Maistre cũng từng sang Nga, gặp Xavier de Maistre ở đây, đó cũng là bối cảnh cho tác phẩm lớn của Joseph de Maistre, Les Soirées de Saint-Pétersbourg (Những buổi tối Saint-Petersburg).
[104] Con người không thể tự định vị mình, nhất là định vị trong kỷ niệm, nếu không đọc; người ta hay nghĩ những cuốn sách đọc hồi nhỏ là các kỷ niệm vui tươi thoáng qua, nhiều mơ mộng và gây hoài nhớ ở mức độ vừa phải, nhưng như vậy là nhầm: đó chính là các in dấu vào cái trong bản thể đích thực nhất.
[105] Goethe Goethe; điều này chỉ là thoáng qua, nhưng Balzac nói lên một điều rất đúng: về cơ bản, Những nỗi đau của chàng Werther là cuốn sách thảm hại, nếu chỉ đọc mỗi nó thì cần phải thấy Goethe đúng là một thằng rồ; rất may là không phải vậy, vì Goethe rộng hơn nhiều, trong đó vĩ đại nhất có lẽ chính là những gì nói về các màu.
[106] Không nhiều khi Balzac “phê bình văn học” một cách hiển ngôn như thế này trong các tác phẩm thuộc Vở kịch con người; thông thường, Balzac chỉ nhắc đến các nhà văn mà mình ngưỡng mộ.
[107] “Nơi khác”: một trong cách chủ đề lớn nhất của văn chương cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, Michaux nói đến một “ailleurs”, Saint-John Perse: “exil”, bởi vì “cuộc sống không ở đây” (Cendrars); nhưng Céline thì: chẳng có “nơi khác” nào hết, đừng mơ.
[108] “Đường thẳng” là một khái niệm ám ảnh Balzac lâu dài.
[109] Vấn đề “đường cong” và “đường thẳng” sẽ còn được bàn đến sâu hơn ngay trong Louis Lambert, nhưng cũng cả trong Séraphîta.
[110] “Thần bí” nghĩa là gì? ở một phương diện không nhỏ, đối với Balzac, chính là sự nhẫn nhục; điều này khiến Balzac rất gần bà de Staël, và điều đó cũng giải thích sự xuất hiện của de Staël trong Louis Lambert.
[111] Ở đây, cũng như đoạn trước: chủ đề “sự khinh bỉ”; dường như Balzac nhìn thấy rất chính xác đây là một trong những thuộc tính lớn của thiên tài.
[112] Tầm quan trọng của trạng thái ngủ trong tương quan với trạng thái thức; mở rộng hơn: ý nghĩa của ánh sáng và bóng tối; ở đây là Balzac tiền triệu của Sigmund Freud và tất nhiên, Gaston Bachelard, một độc giả lớn của Balzac.
[113] Balzac hay dùng cái từ tương đối hiếm gặp này, “impressible”.
[114] Tất yếu phải đi đến “vấn đề trực giác”.
[115] Liền một lúc hai chủ đề quan yếu: tri giác (perception) và phạm trù “trí năng” (intellectuel); ta có “cảm năng”, “niệm năng”, “trí năng”, nhưng có “tri năng” không? dường như là không, hoặc giả “tri năng” ở một bậc thấp hơn hẳn, không cùng “tầng”, mà các tri giác giống như những “công cụ” thuộc các “phân khu” khác nhau của “năng lực”; cùng lúc, tuy nhìn ra các “phạm trù”, nhưng cũng phải hiểu những phạm trù ấy không tách biệt; nhìn nhận như vậy, rất có khả năng đỡ bị “bộ não” đánh lừa.
[116] Một tất yếu còn lớn hơn: điên; phân tích sự điên ở các tác phẩm của Balzac là một việc không hề đơn giản, nhưng chắc chắn vô cùng cần thiết.
[117] Ô, tình cờ nhỉ.
[118] Đoạn này rất quan trọng, có thể coi là giải thích rất nhiều cho trung tâm tư duy của Balzac, quan hệ nhân-quả (cấu trúc của Vở kịch con người được xây dựng trên mối quan hệ này).
[119] “Spiritualiste”; phải cố gắng đừng nhập từ này với “tâm linh” hay thấy hiện nay.
[120] Một điểm rất then chốt.
[121] Đây là một biểu hiện lớn của “tính chất Một”, mà ta có thể coi là phần nổi bật nhất những gì Balzac thừa hưởng từ Saint-Hilaire (Swedenborg và Saint-Hilaire tạo nên cấu trúc cơ bản ở tầng sâu nhất của Vở kịch con người).
[122] Điều này có gợi cho những người am hiểu điện ảnh điều gì không? theo tôi nó nói chính xác những gì bộ phim Solaris của Tarkovsky đã thể hiện (bộ phim chuyển thể từ tác phẩm cùng tên của nhà văn Lem).
[123] Chúng ta nhớ là hình ảnh thằng bé Louis Lambert rách rưới ngồi ở rìa khu rừng đọc Thiên Đường và Địa Ngục của Swedenborg đã gây choáng váng cho bà de Staël đến mức nào, ở đầu câu chuyện.
[124] Các chuyên gia về Balzac cho rằng ý kiến về nguồn gốc tôn giáo này, Balzac lấy từ Jacob Heinrich Meister (1744-1826).
[125] Tức là Swedenborg.
[126] Bên trong và bên ngoài, tinh thần (tâm linh) và tự nhiên.
[127] Một chìa khóa để giải thích Lâu đài của Kafka? K. đã đến được một nơi mà anh ta không xứng đáng được có mặt? (cf. bản dịch tiếng Việt của Trương Đăng Dung).
[128] Ở đây Balzac dùng một từ rất hiểm: “armillaire”.
[129] Ta thấy tương đối rõ: Balzac vừa “theo” vừa “cưỡng lại” thế giới của Dante.
[130] Từ “sáng suốt” ở đây đặc biệt quan trọng; “điên” thật ra rất có thể là trạng thái tối cao dẫn đến sáng suốt đích thực (và cũng liên quan rất nhiều đến “trạng thái siêu vượt”; và “siêu vượt” là gì? trước hết là thoát khỏi “thời gian”).
[131] Thêm một lần nữa, Balzac dùng một từ rất hiểm: “mystographe”, đấy là đã sửa lại, chứ trong bản thảo là một từ còn hiểm hơn: “mystagogue”.
[132] Đã chú thích chưa nhỉ? đây là một nhân vật thần bí lớn khác.
[133] “Sự chóng mặt”: một đặc điểm lớn của câu chuyện “thần bí”; ở thời hiện đại, nên đọc tác giả nào nếu muốn hiểu kỹ về “vertigo”? ơ, chính là Milan Kundera đấy, L’insoutenable légèreté de l’être chính là cuốn tiểu thuyết về sự chóng mặt, ngoài đó ra là “sự lặp lại” (trong truyền thống của Kierkegaard mà Gilles Deleuze tiếp nối), cũng như “hạnh phúc”.
[134] Có cảm giác ở đây ta đang gần vô hạn với triết học của Emmanuel Levinas, nhất là khái niệm “entre nous”.
[135] Giấc mơ (liên quan đến trạng thái ngủ như đã nói ở trên) và các “vision” là trung tâm của học thuyết Swedenborg.
[136] Tuy dường như Balzac đặt Saint-Hilaire cao hơn Cuvier, nhưng Cuvier cũng là một nhân vật có dấu ấn sâu đậm lên Balzac: trong Miếng da lừa, Balzac từng viết Cuvier là “nhà thơ lớn nhất của thế kỷ chúng ta”; Georges Cuvier (1769-1832) là cha đẻ của giải phẫu học đối chiếu.
[137] Hơi giống mối quan hệ giữa Mohamet và núi.
[138] Về riêng vấn đề này, có lẽ người từng đi sâu nhất là Maurice Merleau-Ponty (cf. La Phénoménologie de la perception - Hiện tượng luận tri giác).
[139] Giống hệt như Balzac đang gọi: Freud ơi, đâu mất rồi?
[140] Đây thì lại là ám chỉ Buffon.
[141] Cùng ý này đã xuất hiện trong Ursule Mirouët, nhưng ở đó chủ yếu Balzac nói về khoa học của Mesmer.
[142] Tư thế này của Louis Lambert rất quan trọng; ta sẽ thấy thêm ở đoạn sau.
[143] Một phạm trù mới: “ý chí”; tuy nhiên, gọi là “ý lực” thì tốt hơn; “ý lực” cũng chính là từ có thể dùng để chỉ vế thứ hai, sau “biểu hiện” trong triết học của Schopenhauer (nhan đề cuốn sách của Schopenhauer, do đó, sẽ là Thế giới với tư cách biểu hiện và với tư cách ý lực).
[144] Nhân vật Raphaël của Miếng da lừa cũng viết một Khảo luận về ý chí; Laure Balzac, người em gái thân thiết của Balzac, cũng khẳng định khi còn học ở collège Vendôme, quả thật Balzac đã viết một tác phẩm như vậy; thêm một lý do rất quan trọng nữa để tin rằng Louis Lambert chính là nơi Balzac kể chuyện chính mình.
[145] Ursule Mirouët mới là tác phẩm quan trọng của Balzac về Mesmer và “thôi miên”.
[146] Lavater (1741-1801) là nhân vật quan trọng của nhân diện học; Balzac thường xuyên nhắc đến Lavater, chủ yếu nhắc cùng Gall (về Gall, cf. chú thích số 85).
[147] Balzac đang nhắc tới Miếng da lừa: quả thật, Miếng da lừa là cuốn tiểu thuyết đặt ở đầu các “ê-tuýt triết học”; về Khảo luận về ý chí: cf. chú thích số 144; trong Miếng da lừa, nhân vật nữ tên là Pauline (de Witschnau), Pauline thân thiết với Louis Lambert thì ta sẽ gặp ở đoạn sau.
[148] Từ đây là bắt đầu một đoạn dài liên quan đến nhiều từ trong tiếng Pháp, một khảo luận nhỏ về từ ngữ, ngữ nghĩa etc.; dịch thế quái nào bây giờ?




(còn nữa)



VIII. Nàng tình nhân hờ (đầy đủ)
[tiện bút] Đọc Balzac ở Hà Nội
VII. Người phụ nữ tuổi ba mươi
VI. Viên bác sĩ nông thôn
Trở về cổ điển: Balzac - Vở kịch con người
V. Một vụ việc ám muội
IV. Albert Savarus (phần 1)
(phần 2)
III. Séraphîta
II. Ferragus (phần 1)
(phần 2)
I. Mặt bên kia của lịch sử hiện thời
Vinh quang và một cốc nước cho Honoré de Balzac

20 comments:

  1. mấy cái chuyện ngắn ngắn giống liêu trai chí dị nhỉ

    ReplyDelete
  2. liêu trai thì rất có thể, nhưng "Louis Lambert" không hề ngắn đâu

    mới thêm tiếp rồi đấy, cả phần "intro"

    ReplyDelete
  3. cái này nhiều màu sắc "phương đông" nhỉ? nhưng một thằng bé 5 tuổi đọc Cựu ước và ngẫm nghĩ về ngôn ngữ phổ quát thì đúng là một cú mở màn trừu tượng. hơi lăn tăn "Thánh Tuệ" liệu có phù hợp trong truyền thống của Trưởng Nữ giáo hội ko? vì nghe nói Chúa v Thiên thần ko "nghĩ" mà cứ thế "soi sáng" thôi?

    ReplyDelete
  4. Cựu Ước 5 tuổi thôi, pha ngôn ngữ kia là về sau kể lại, pha màu ngôn ngữ đã lớn rồi, nhưng đọc Cựu Ước sớm là bình thường chứ, tuyền truyện hấp dẫn hehe, có quyển gì bỗng nhiên quên mất rồi, của Borges hay ai đó tương tự cũng kể đọc Cựu Ước từ rất bé và cứ tự hỏi chúa có đi ị không hehe

    đúng, quả Thánh Tuệ không ổn, Saint-Esprit nên dịch là gì nhỉ?

    ReplyDelete
    Replies
    1. Saint-Esprit trong đạo Công giáo được dịch thành Chúa Thánh Thần, hoặc Thần khí - không biết có thể dùng trong TH này không ạ? Em thấy thông thường thì người có đạo nghe những cụm từ này sẽ hiểu được ý nghĩa (theo ý "soi sáng" bên trên).

      Delete
    2. Bên Công Giáo họ dịch là Thần Khí, Tin Lành thì dich là Thánh Linh.

      Delete
    3. để "Thánh linh" là ổn. đấy là cả một phạm trù bên Thần học nên "ôm" được hết.

      Delete
  5. rất cám ơn, tôi đã biết nên sửa là gì rồi :p

    ReplyDelete
  6. "niệm năng" là một ca gay cấn nữa, mãi rất gần đây tôi mới túm được từ này, mà tôi nghĩ là có thể dùng để dịch tương đối sát "entendement"; ở đây có ai là độc giả của Leibniz không nhỉ?

    mở rộng chút: "esthétique" không thể coi đương nhiên là "mỹ học" được, mà trước hết nó là "cảm năng": "esthétique" như chúng ta hiểu hiện nay bắt nguồn từ Baumgarten (Schelling cũng là sau Baumgarten)

    một vấn đề rất liên quan đến "Louis Lambert" nữa là "trí tưởng tượng"; điều này có thể tìm thấy trong lý thuyết của Hume, nhưng có lẽ để thực sự hiểu Balzac thì phải dựa vào Malebranche

    riêng Swedenborg thì chắc chắn tôi sẽ viết riêng; nếu không nắm được Swedenborg, ta không cách gì hiểu được mấy nhân vật sau (ngoài Balzac, tất nhiên): William Blake, Borges, Czeslaw Milosz; nói một cách tổng quát nhất, Balzac là một phép cộng Swedenborg+Geoffroy Saint-Hilaire

    ReplyDelete
  7. ";tuy nhiên tất tật đều đi theo đa số của đám, bị kéo theo bởi đà bước, giống như những con người bị đẩy đi trong cuộc đời bởi cuộc đời." một câu như này làm cho bao nhiêu cuốn sách thấy ngượng. hehe, ko phải, thấy tự hào và "vinh quang" giống như "tôi" cảm thấy khi trở thành "feasant" của Louis Lambert. Những câu như này khiến mình nghĩ Shakespeare là thật chứ ko phải như hearsays nào đấy bảo là 1 tay thi sĩ nửa mùa nhận vơ tác phẩm của 1 Sir nào đấy.

    ReplyDelete
  8. "niệm năng" là 1 ca ổn hoàn toàn dù ko tính đến truyền thống phTây đi nữa. trong các tôn giáo lớn, dù Budhism ko hoàn toàn, ko có chuyện "suy nghĩ" vì "nghĩ" là 1 mô tả cho 1 số nhiều "niệm" do bởi "niệm" là cái mà bản thân ko "nắm bắt" đc chỉ "cảm" thấy đc thôi. hehe là nhân có ông Louis Lambert mà tán theo vậy.

    ReplyDelete
  9. "niệm" thì sẽ hướng chủ yếu vào duy nhất một điều: nhịp

    đang xem lại cả Spinoza, có lẽ "niệm năng" là tương đối ổn thật

    ReplyDelete
  10. về cái "tính chất Một" có vẻ Balzac thực sự có trải nghiệm, mới mô tả sống động thế. những trầm tư về "đường thẳng, đường cong" hay "cái nhìn" v.v. này đọc rất sướng. hẳn chúng vẫn inspired thời nay nhỉ? nhớ đến ông Em Karamazov nhưng cảm thấy ở đó ít "soi sáng" và bay bổng.

    ReplyDelete
  11. có lẽ điều hay nhất, tinh tế nhất mà khi đọc những pha như thế này của Balzac có thể thấy được là câu hỏi: làm thế nào có thể "thần bi" mà không rơi vào "hư vô chủ nghĩa"? rất đáng sợ là rất có thể đó chính là điều duy nhất cần đặt ra (Cioran khi viết về Saint-John Perse: phải thực sự mạnh thì mới thoát được cynicism)

    ReplyDelete
  12. "Nhưng, cậu nói tiếp sau một quãng ngừng, bất giác có một cử chỉ tỏ vẻ nghi ngờ, có lẽ bên trong chúng ta không có hai bản tính? Có lẽ chỉ đơn giản là chúng ta được phú cho những phẩm chất thân thuộc và có thể trở nên hoàn hảo mà sự thực thi, mà các phát triển tạo ra trong chúng ta các hiện tượng thuộc hoạt động, xuyên qua, thấu thị vẫn còn chưa được quan sát thấy." - những lời này hàm ngụ sự phủ nhận khái niệm "bản tính" theo kiểu tiên nghiệm mà đến bây giwof vẫn rất đông chấp nhận; mà nêu giả thiết "bản tính" là cái "chưa được quan sát thấy." đoạn phân tích tri giác bên trong-bên ngoài ở trước câu trích này thật kinh ngạc. vậy "trí tưởng tượng" có lẽ cần phải hiểu như ông ấy nói: là cái "ý nghĩ" mà gây được tác động vật chất, có phỏng?

    ReplyDelete
  13. đoạn tiếp theo sẽ nói thẳng đến vật chất đấy

    mấy trang này đặc biệt cô đặc, và dự báo rất nhiều các triết gia "hiện đại", một số sâu sắc nhất

    ReplyDelete
  14. hey, nếu là một khảo về từ ngữ thì còn gì bằng! cứ dịch chứ còn người đọc có "thấy" lại là chuyện khác. để xem còn so với đoạn về các ngôn ngữ vùng Kavkaz ở Những Kẻ Thiện Tâm.

    ReplyDelete
  15. Đoạn chú thích số 119 cháu nghĩ có thể dịch là "người duy tâm" hay "người duy linh"

    ReplyDelete
  16. tôi chủ ý tránh "duy tâm" đấy, "duy linh" thì không hẳn

    ReplyDelete