Feb 9, 2017

Ferragus

Tôi lại ngồi đó, và tôi lại đọc Balzac cho đến hết buổi chiều.

La Comédie humaine trước hết là một vở kịch, thế cho nên nó gồm nhiều cảnh, hay xen (scène). Balzac chia bộ sách thành các "étude", các étude lại gồm các scène: ta có "Études de moeurs" (các Ê-tuýt phong hóa), nó gồm nhiều scène, trong đó có "Scènes de la vie parisienne" (các xen về cuộc sống Paris), mở đầu phần này là trilogy Histoire des Treize (Truyện Mười Ba Quái Kiệt), và Ferragus là tiểu thuyết mở đầu bộ ba này. Đến Ferragus, nghĩa là ta đi đến trung tâm của La Comédie humaine. Ferragus là một kiệt tác lớn lao, một trong những tác phẩm cần phải xếp hàng đầu của toàn bộ La Comédie humaine, Histoire des Treize lại cũng chính là nơi cho thấy rõ nhất tại sao lại có cái nhan đề chung La Comédie humaine: đó là vì nó lặp lại Dante, lặp lại La divine comédie của Dante. Đặc biệt đoạn mở đầu Ferragus là mê cung; trong "thế giới" (từ "thế giới" ở đây dĩ nhiên dễ gây nhầm lẫn) balzacien có đủ các yếu tố của "thế giới" Dante, trong đó nổi bật nhất 1) mê cung 2) các vòng tròn 3) các tầng.

Ferragus đăng nhiều kỳ trên Revue de Paris đầu năm 1833.

Nhân tiện: mới thêm một đoạn rất rất rất dài ở Mặt bên kia của lịch sử hiện thời.


Ferragus

Tặng Hector Berlioz


Ở Paris có những phố bất lương cùng mức độ với một con người có thể mắc tội lỗi nhơ nhớp; rồi lại có những phố cao quý, rồi những phố chỉ giản dị là trung hậu, rồi những phố rất trẻ với hạnh kiểm còn chưa kịp được dư luận đánh giá; những phố sát nhân, những phố còn già hơn các bà quyền quý có thể già, những phố cần coi trọng, những phố lúc nào cũng sạch, những phố lúc nào cũng bẩn, những phố công nhân, cần lao, thương lái. Xét cho cùng, các phố của Paris mang phẩm chất con người, và thông qua tổng thể đặc điểm riêng chúng in lên chúng ta một số tư tưởng mà chúng ta không thể cưỡng lại. Có những phố giao du bất hảo nơi ta hẳn sẽ chẳng muốn ở, lại có những phố nơi ta sẵn lòng tổ chức lưu trú. Vài phố, chẳng hạn như phố Montmartre, có một khuôn mặt thật đẹp và kết thúc giống như đuôi cá. Phố Hòa Bình[1] là một phố rộng, một phố lớn; nhưng nó không đánh thức ý nghĩ cao quý tuyệt diệu nào, loại ý nghĩ vụt đến với một tâm hồn dễ nhận dấu ấn mới ở giữa phố Hoàng Gia[2], và chắc chắn là nó thiếu vẻ oai vệ ngự trị trên quảng trường Vendôme. Nếu dạo các phố trên đảo Saint-Louis[3], hãy chỉ hỏi nguyên do nỗi buồn chộn rộn bỗng chốc ụp lên ta ở nỗi cô đơn, ở không khí sầu thảm của các ngôi nhà và dinh thự lớn hoang vắng. Cái hòn đảo này, hài cốt của các quan thu thuế nông sản[4], giống như là Venise của Paris. Quảng trường Chứng Khoán[5] thì rộn lời thóc mách, hoạt bát, điếm; nó chỉ đẹp nhờ ánh trăng, vào lúc hai giờ sáng: ban ngày, đó là một sự thu nhỏ Paris; trong đêm, nó giống một cơn mơ mòng của Hy Lạp. Phố Traversière-Saint-Honoré chẳng phải một phố nhớp nhúa ư? Ở đó có những nhà nhỏ bệ rạc chỉ hai cửa sổ, ở đó, từ tầng này qua tầng kia, trú ngụ những xấu xa, những tội ác, và sự khốn cùng. Những phố hẹp hếch mặt về phía Bắc, nơi mặt trời chỉ viếng thăm dăm ba lần mỗi năm, là những phố sát nhân, giết người mà không bị trừng phạt; Công Lý ngày nay chẳng buồn thò mũi vào đó; nhưng xưa kia hẳn Nghị Viện có lẽ đã triệu thống lĩnh cảnh sát tới để xạc cho một trận vì các nguyên do trên, và ít nhất thì hẳn cũng đã ban hành một nghị định chống lại con phố, như xưa kia nó từng ban để trừng phạt các bộ tóc giả ở giáo khu Beauvais[6]. Tuy nhiên ông Benoiston de Châteauneuf[7] đã chứng minh rằng tỉ lệ tử của các phố này cao gấp đôi các phố khác. Để tóm tắt các ý tưởng trên đây bằng một ví dụ, chẳng phải phố Fromenteau[8] vừa giết chóc vừa có một lối sống tồi tệ đấy ư? Những quan sát này, không thể hiểu nổi ở bên ngoài Paris, hẳn sẽ được nắm bắt bởi những con người thiên về nghiên cứu và suy nghĩ, thơ ca và khoái lạc biết cách thu gặt, trong lúc đi vẩn vơ tại Paris, cái đống khoái thú bay lơ lửng, vào mọi giờ, giữa các bức tường của nó; bởi những con người thấy rằng Paris là con quái vật kỳ tuyệt nhất: kìa, người phụ nữ đẹp; xa hơn, già nua và nghèo khổ; nơi đây: mới toanh như tiền mà một triều đại mới phát hành; ở góc này, thanh lịch như một đàn bà đúng mốt. Mà lại là con quái vật hoàn chỉnh! Các tầng áp mái của nó, giống như cái đầu chất chứa hiểu biết và thiên tài; các tầng hai của nó, những cái bụng sung sướng; các cửa hiệu của nó, những bàn chân đích thực; từ đó xuất phát mọi con người hoạt bát, mọi con người bận bịu. Này! con quái vật có một cuộc sống lúc nào cũng hoạt náo như thế nào? Tiếng loạt xoạt cuối cùng của những chiếc xe đi vũ hội cuối cùng vừa ngừng ở giữa trung tâm là các cánh tay của nó rộn lên với các Rào Chắn, và nó chậm rãi lắc mình. Tất tật mọi cánh cửa ngáp dài, xoay trên bản lề của chúng, giống những cái càng một con tôm hùm lớn, được vận hành theo lối vô hình bởi ba mươi nghìn đàn ông hoặc phụ nữ, trong đó mỗi người sống bên trong sáu bộ vuông, nơi ấy có một cái bếp, một căn phòng, một cái giường, bọn trẻ con, một khu vườn, nhìn thì không rõ, nhưng phải nhìn mọi thứ. Âm thầm, các khớp nối nhúc nhích, chuyển động truyền đi, phố cất lời. Buổi trưa, mọi thứ sống động, các ống khói tỏa khói, con quái vật đang ăn; rồi nó gầm lên, rồi cả nghìn cái chân quờ quào. Cảnh tượng thật đẹp! Nhưng, ôi Paris! ai còn chưa ngưỡng mộ những phong cảnh u tối của mi, những vũng ánh sáng của mi, những ngõ cụt sâu và im của mi; ai chưa từng nghe thấy những thì thầm của mi, từ nửa đêm đến hai giờ sáng, kẻ ấy còn chưa biết một chút gì về thứ thơ ca đích thực của mi, cũng như những tương phản kỳ khôi và rộng lớn của mi. Có một nhúm nhỏ các tay a ma tơ, những người không bao giờ bước đi một cách đần độn, họ nhấm nháp Paris của họ, họ nắm rõ tổng thể đặc điểm của nó đến nỗi nhìn thấy ở đó một mụn cóc, một mụn đầu đinh, một đốm tàn nhang. Đối với những kẻ khác, Paris luôn luôn là kỳ quan gớm ghiếc ấy, sự kết hợp đáng kinh ngạc của các chuyển động, máy móc và suy nghĩ, thành phố của trăm nghìn tiểu thuyết, cái đầu của thế giới. Nhưng, đối với những người đã nhắc, Paris buồn hoặc vui, xấu hoặc đẹp, sống động hoặc chết ngắc; đối với họ, Paris là một sinh thể; mỗi con người, mỗi mẩu nhà là một mô tế bào của nàng kỹ nữ kỳ vĩ này, mà họ biết rành rẽ khuôn mặt, trái tim và các tập quán phi phàm. Thế nên những người ấy, họ là các tình nhân của Paris: họ nghếch mũi lên ở một góc phố này, vì chắc sẽ tìm thấy ở đó một cái đồng hồ; họ nói với một người bạn rơi vào tình trạng rỗng hộp đựng thuốc lá: Đi vào ngõ kia kìa, trong đó có một cửa hàng bán thuốc lá, bên tay trái, gần một hiệu bánh có ông chủ lấy được vợ đẹp. Đi trong Paris, đối với các nhà thơ này, là một món xa xỉ tốn kém. Làm cách nào để không tiêu tốn vài phút trước các tấn kịch, thảm họa, mặt người, những tình cờ diễm tuyệt ào đến với ta ở chính giữa bà hoàng của các thành phố có tính thích loay hoay này, trang phục là những tấm áp phích và thế nhưng không có lấy một góc nào sạch, vì nương tử ấy khoái chí biết bao với những trò xấu xa của đất nước Pháp! Ai còn chưa từng thấy xảy ra với mình chuyện buổi sáng rời khỏi nhà để tới mấy khu xa của Paris, đến giờ ăn tối vẫn chưa thể ra khỏi khu trung tâm? Những người ấy hẳn sẽ thứ lỗi cho phần mở đầu rất ma cà bông này, tuy nhiên, nó sẽ được chốt lại bởi một nhận xét cực kỳ hữu ích và mới mẻ, nếu như mà một nhận xét còn có thể mới mẻ tại Paris nơi chẳng có gì là mới, kể cả bức tượng mới hôm qua vừa được dựng, trên đó một thằng nhóc đã ghi tên nó lên. Vậy nhé, có những phố, hoặc những đoạn cuối phố, có một số ngôi nhà, không được phần lớn những người thuộc giới tai to mặt lớn biết đến, một phụ nữ thuộc giới ấy không thể lai vãng tới đó mà không khiến người ta nghĩ về mình những điều gây tổn thương nhẫn tâm nhất. Nếu người phụ nữ ấy giàu, nếu nàng có một chiếc xe, nếu nàng đi bộ hoặc cải trang, trong một số cuộc diễu hành của phong cảnh Paris, nàng sẽ tàn phá ở đó danh tiếng phụ nữ đoan chính của mình. Nhưng nếu, vì tình cờ, nàng lại còn đến đó vào chín giờ tối, các giả thuyết mà một người quan sát có thể tự cho phép mình sẽ trở nên đáng hãi hùng bởi những hệ quả của chúng. Rốt cuộc, nếu người phụ nữ ấy trẻ và xinh đẹp, nếu nàng bước vào một ngôi nhà nào đó thuộc một trong các phố ấy; nếu ngôi nhà có một lối đi dài và tối, ẩm ướt và hôi thối; nếu ở cuối lối đi chập chờn ánh sáng nhạt của một ngọn đèn, và bên dưới làn ánh sáng ấy hiện ra khuôn mặt gớm tởm của một mụ già với những ngón tay trơ xương; trên thực tế, ta hãy nói điều này, vì lợi ích của những phụ nữ trẻ và xinh đẹp, người phụ nữ ấy đã tiêu đời. Nàng rơi vào vòng cương tỏa của người đàn ông đầu tiên có quen biết gặp đúng nàng tại các đầm lầy Paris đó. Nhưng ở Paris có một phố này, nơi cuộc gặp ấy có thể trở nên tấn kịch khủng khiếp hãi hùng hơn cả, một tấn kịch đầy máu và tình yêu, một tấn kịch của trường phái hiện đại. Thật không may, niềm tin này, chất kịch nghệ này sẽ, cũng giống kịch hiện đại, chỉ được rất ít người hiểu; và thật thương xót biết bao khi kể một câu chuyện cho một công chúng không nhận thức được toàn bộ phẩm chất nơi này. Nhưng ai kẻ có thể hợm hĩnh là sẽ có lúc nào mình được hiểu? Tất tật chúng ta chết mà không được biết đến. Đó là lời của những người phụ nữ và đó cũng là lời của các tác giả.

Tám giờ rưỡi tối, trên phố Pagevin[9], vào cái thời phố Pagevin chẳng có lấy bức tường nào không nhắc lại một lời nhơ bẩn, và về hướng phố Soly, phố hẹp nhất, heo hút nhất trong tổng số phố Paris, đấy là đã tính cả góc nhộn nhịp nhất của phố vắng nhất; đầu tháng Hai, tính từ cuộc phiêu lưu ấy đến nay đã mười ba năm[10], một chàng thanh niên, do một trong những sự tình cờ không xảy đến hai lần trong cuộc đời, đi bộ, rẽ ở góc phố Pagevin để bước vào phố Vieux-Augustins[11], bên tay phải, chính cái nơi có phố Soly. Ở đó, thanh niên kia, vốn dĩ sống tại phố Bourbon[12], trong lòng hết sức vô tư lự, nhìn thấy nơi cô gái đang đi cách anh chỉ vài bước chân có vài điểm mơ hồ giống với người phụ nữ xinh đẹp nhất Paris, một con người thánh thiện và diễm lệ mà anh bí mật đem lòng yêu đắm đuối, và là yêu mà không hy vọng: nàng đã có chồng. Trong thoáng chốc tim anh giật nảy lên, một cơn nóng khủng khiếp trào ra từ cơ hoành và truyền đi trong tất cả các mạch máu, anh lạnh sống lưng, và cảm thấy trong đầu một đợt run rẩy thoáng qua[13]. Anh đang yêu, anh còn trẻ, anh lại biết rõ Paris; và sự sáng suốt nơi anh không cho phép anh không biết tới mọi thứ gì là nhơ nhớp tiềm tàng đối với một phụ nữ thanh nhã, giàu có, trẻ và đẹp, khi đi ở đây, với bước chân gấp gáp lẩn lút theo đường lối tội phạm. Nàng, ở nơi ô uế này, vào cái giờ này! Tình yêu mà chàng trai dành cho người phụ nữ ấy có thể coi là rất nhiều tính chất tiểu thuyết, và lại càng như vậy hơn nữa vì anh là sĩ quan thuộc Vệ binh hoàng gia[14]. Nếu anh ở bên bộ binh, thì chuyện còn có thể khả dĩ; nhưng vốn dĩ là sĩ quan kỵ binh cao cấp, anh thuộc về cái phần quân đội Pháp muốn là thần tốc nhất trong các cuộc chinh phục của nó, nuôi lòng tự mãn với các tập quán yêu đương cũng như trang phục của nó. Tuy nhiên niềm đam mê của viên sĩ quan này là thực, và đối với nhiều trái tim trẻ tuổi nó có vẻ rất lớn. Anh yêu người phụ nữ ấy bởi vì nàng đức hạnh, anh yêu sự đức hạnh nơi nàng, sự yêu kiều thánh thiện, sự thuần khiết đường bệ, giống như các kho báu quý giá nhất của niềm đam mê không được biết đến ở anh. Người phụ nữ ấy thực sự xứng để tạo cảm hứng cho một tình yêu kiểu Platonic mà ta bắt gặp giống như bắt gặp những bông hoa giữa các phế tích đẫm máu trong lịch sử Trung cổ; xứng đáng trở thành, một cách bí mật, nguyên tắc cho mọi hành động của một trang nam nhi; tình yêu cũng cao, cũng trong giống bầu trời khi nó xanh; tình yêu không hy vọng và ta gắn bó thật chặt, bởi vì nó chẳng bao giờ lừa dối; tình yêu hoang toàng những ngất ngây cháy bỏng, nhất là vào một độ tuổi khi trái tim thì ngùn ngụt, trí tưởng tượng thì khuấy đảo, và cũng là lúc cặp mắt một người đàn ông nhìn mọi thứ thật rõ. Ta bắt gặp tại Paris những hiệu ứng màn đêm rất đặc biệt, kỳ lạ, khó mà hình dung nổi. Chỉ những ai thích quan sát chúng mới biết những lúc ấy người phụ nữ trở nên kỳ ảo trong ánh hoàng hôn đến như thế nào. Khi tạo vật mà ta đi theo, vì tình cờ hoặc do cố ý, hiện ra thật thanh mảnh; lúc thì đôi tất, nếu thật trắng, khiến ta mơ tưởng cặp chân thon và nhã nhặn; rồi eo lưng, tuy được phủ một tấm khăn lớn, một cái áo lông, cho thấy tươi trẻ và ngồn ngộn trong bóng tối; rốt cuộc những luồng sáng dật dờ của một cửa hiệu hay một ngọn đèn đường khiến cô gái không quen biết như mang một vẻ huy hoàng thoáng qua, gần như lúc nào cũng lừa mị, nó đánh thức, nó châm ngòi cho trí tưởng tượng và đẩy cô gái đi quá địa hạt của cái đúng. Khi đó các giác quan nhộn nhạo lên, mọi thứ được tô màu và mọi thứ trở nên hoạt bát; người phụ nữ bỗng có một dáng vẻ hoàn toàn mới; cơ thể nàng đẹp hẳn lên; đôi lúc đó không còn là một phụ nữ nữa, đó là một con quỷ, một ánh ma trơi lôi kéo ta bằng một lực từ tính mãnh liệt tới một ngôi nhà tươm tất nơi cô gái tư sản tội nghiệp, vì sợ bước chân đầy đe dọa của ta hay đôi bốt gây nhiều ồn ã của ta, sập cánh cửa dưới mái vòm lại trước mũi ta mà chẳng buồn nhìn ta. Ánh sáng chập chờn hắt ra từ ô kính một hiệu giày đột nhiên rọi bừng lên, chính xác ở đoạn hõm lưng, vòng eo của người phụ nữ đang đi trước mặt chàng trai. A! chắc chắn rồi, chỉ nàng mới có dáng thắt lưng ong như thế kia! Chỉ nàng mới nắm được bí mật về cái dáng đi thánh thiện kia, hết sức trong trắng, nó càng làm nổi bật thêm vẻ đẹp những hình những khối thu hút nhất. Kia chính là cái khăn buổi sáng của nàng, kia cũng chính là chiếc mũ nhung buổi sáng. Trên đôi tất lụa màu ghi của nàng, không một đốm ố, trên giày nàng không có lấy một vệt bùn. Cái khăn quấn chặt thân người trên, mơ hồ vẽ nên những công tua tuyệt đẹp, và chàng thanh niên từng nhìn thấy hai bờ vai trắng muốt ở vũ hội; anh biết mọi thứ châu ngọc kiều lệ mà chiếc khăn kia đang phủ lên. Dựa vào cách thức một phụ nữ Paris uốn lượn trong tấm khăn, dựa vào cách thức nàng nhấc chân ở trên phố, một đàn ông trí tuệ đoán biết được bí mật trong chuyến đi bí hiểm của nàng. Có một cái gì đó không rõ thật run rẩy, thật nhẹ trong con người và trong dáng đi: dường như người phụ nữ bớt cân nặng, nàng đi, nàng đi, hoặc nói đúng hơn nàng lướt đi như một vì sao, và bay, được cuốn theo bởi một ý nghĩ mà các nếp li và cách xộc xệch của váy nàng tiết lộ. Chàng thanh niên vội rảo bước chân, vượt lên trước, ngoái đầu lại để nhìn nàng… Hụt! nàng đã biến đi mất vào một cái ngõ với cánh cửa song thưa và gắn phong linh sập lại và kêu tinh tang. Chàng trai trở bước, và nhìn thấy người phụ nữ kia ở tận sâu cái ngõ, đã đón nhận xong lời chào khúm núm của một mụ gác cổng già, đang đi lên một cầu thang xoắn vặn với các bậc đầu tiên được chiếu sáng rất mạnh; và madame vội vã, gấp gáp lao lên, đúng như một phụ nữ đang sốt ruột sẽ lao lên.

“Sốt ruột vì cái gì nhỉ?” chàng thanh niên tự hỏi, anh lùi lại, dán chặt lưng vào bức tường phía bên kia đường. Và con người bất hạnh ấy nhìn tất cả các tầng của ngôi nhà với sự chú tâm của một viên cảnh sát đang lùng tìm tên tội phạm của hắn.

Đó là một ngôi nhà giống cả nghìn ngôi nhà tại Paris, nhà nhơ nhớp, hạ tiện, hẹp, tông màu vàng khè, bốn tầng gác và ba cửa sổ. Cửa hiệu và tầng hầm thuộc về người thợ giày. Các chớp cửa sổ tầng hai đóng kín. Madame đi đâu? Chàng thanh niên nghĩ mình nghe thấy tiếng chuông cửa rung trên căn hộ tầng ba. Quả thật, có ánh đèn rung rinh trong một gian buồng hai cửa sổ được chiếu sáng rõ, và đột nhiên rọi sáng cửa sổ thứ ba với bóng tối thông báo phòng đầu tiên, hẳn là phòng khách hoặc phòng ăn của căn hộ. Ngay lập tức bóng dáng một cái mũ phụ nữ mơ hồ hiện ra, cửa đóng lại, căn buồng đầu tiên lại tối om, rồi hai cửa sổ cuối cùng quay trở lại với sắc đỏ của chúng. Vào lúc đó, chàng thanh niên nghe thấy: Cẩn thận, và bị giáng một cú đau điếng vào vai.

“Ông không chịu để ý gì hết thế hả”, một giọng nói lộ cộ vang lên. Đó là giọng của một công nhân vác trên vai một tấm ván dài. Và người công nhân đi qua. Người công nhân ấy đúng là người Thiên Khải, nói với chàng trai tò mò kia: “Anh bạn xía vào chuyện gì thế? Làm việc của anh bạn và để mặc cho dân Paris làm gì thì làm đi.”

Chàng thanh niên khoanh hai tay lại; rồi, không còn bị ai nhìn thấy nữa, anh để mặc cho những giọt nước mắt điên giận chảy dài trên má mà chẳng buồn chùi. Rốt cuộc, cứ nhìn mãi những cái bóng diễn kịch trên hai cửa sổ sáng đèn kia, anh cảm thấy đau khổ, anh nhìn lơ vơ về phần phía trên của phố Vieux-Augustins, và thấy một cỗ xe ngựa đỗ dọc một bức tường, tại một nơi không có cửa nhà cũng chẳng ánh đèn cửa hiệu.

Có phải nàng không? hay chẳng phải nàng? Cuộc sống hay cái chết đối với một người tình nhân. Và tình nhân ấy đợi. Anh ở đó trong vòng một thế kỷ tương đương hai mươi phút. Sau đó, người phụ nữ đi xuống, và khi ấy anh nhận ra người mà anh yêu trong bí mật. Tuy nhiên anh muốn được nghi ngờ tiếp. Người phụ nữ xa lạ đi về phía cỗ xe và bước lên.


“Ngôi nhà vẫn sẽ luôn luôn ở đây, lúc nào mình cũng sẽ có thể lục soát nó”, chàng trai trẻ tự nhủ, anh chạy đuổi theo chiếc xe với mục đích làm tan biến những mối nghi cuối cùng, và anh sẽ sớm chẳng còn chúng nữa.

Xe dừng trên phố Richelieu, trước một cửa hàng hoa, gần phố Ménars[15]. Quý bà bước xuống, đi vào hiệu, gửi tiền ra cho xà ích, và đi ra sau khi đã chọn lông hạc. Lông hạc cho mái tóc đen của nàng! Vốn là người tóc nâu, nàng đặt thử mấy sợi lông chim lên đầu để xem hiệu ứng mà chúng tạo ra[16]. Viên sĩ quan tưởng chừng mình nghe thấy cuộc trò chuyện của người phụ nữ ấy với các nhân viên cửa hàng.

“Thưa bà, chẳng gì có thể hợp với những người tóc nâu hơn được nữa đâu, những người tóc nâu có cái gì đó quá mức sắc nét trong các công tua, và lông hạc khiến cho phục sức của họ có một sự mơ hồ mà họ thiếu. Nữ công tước de Langeais[17] nói cái đó khiến một phụ nữ có một cái gì đó huyền ảo, nhiều tính chất Ossian[18] và rất đúng như phải thế[19].

- Được. Gửi gấp chúng tới cho tôi nhé.”

Rồi quý bà ấy vội vã rẽ về phía phố Ménars, và về nhà. Khi cửa dinh thự nơi nàng sống đã đóng lại, chàng tình nhân trẻ, đánh mất hết mọi hy vọng và, nỗi bất hạnh còn nhân đôi thêm, cả những tin tưởng quý giá nhất, bước đi trong Paris như một người say, và sớm thấy đang ở nhà mình mà chẳng biết đã làm thế nào về được tới đây. Anh ngồi phịch xuống một cái phô tơi, ở yên đó, hai chân gác lên thanh chắn lò, vục mặt vào hai bàn tay, hong khô đôi bốt ướt, thậm chí là đốt cháy chúng. Đó là một khoảnh khắc kinh hoàng, một trong những khoảnh khắc khi, trong đời người, tính cách biến đổi, và cũng là khi cách hành xử của con người tốt đẹp nhất tùy thuộc vào may mắn hoặc đen đủi của hành động đầu tiên anh ta làm. Thiên Hựu hay Định Mệnh, hãy chọn đi.

Chàng thanh niên này thuộc về một gia đình con nhà, tuy nhiên dòng dõi quý tộc chưa xa xưa cho lắm; nhưng ngày nay có quá ít gia đình cổ xưa, thành thử mọi thanh niên đều là cổ xưa khỏi phải bàn cãi. Tổ tiên của anh đã mua một chức vụ cố vấn ở Nghị viện Paris, nơi cụ trở thành chủ tịch. Các con trai của cụ, mỗi người được hưởng một gia tài lớn, khởi sự công việc phục vụ và, thông qua hôn nhân, vươn tới được triều đình. Cuộc cách mạng đã quét bay gia đình này; nhưng trong số họ có một bà quyền quý già[20] rất bướng bỉnh nhất định không chịu đi lưu vong[21]; bà, bị tống vào tù, bị đe dọa sẽ phải lĩnh án tử hình và được cứu sống nhờ các sự kiện ngày 9 thermidor[22], thu lại được tài sản của mìnhKhi tình hình êm, bà gọi về, quãng năm 1804, người cháu Auguste de Maulincourt, hậu duệ duy nhất của nhà Charbonnon de Maulincourt, được bà quyền quý già tốt bụng nuôi dạy với một sự tận tâm nhân ba, của bà mẹ, của người phụ nữ quý tộc và của bà quyền quý bướng bỉnh. Rồi, tới kỳ Trung Hưng[23], chàng thanh niên, lúc ấy mười tám tuổi, vào Nhà Đỏ[24], theo các hoàng thân đến Gand[25], được phong sĩ quan thuộc đội Cận vệ, rời khỏi đó để phục vụ trong quân đội thường trực, được gọi trở lại vào Vệ binh hoàng gia, tại đó anh, ở tuổi hăm ba, trở thành thiếu tá thuộc một trung đoàn kỵ binh, vị trí tuyệt hảo, và có được là nhờ người bà, mặc cho tuổi tác, bà vẫn rất rành thế giới của mình. Tiểu sử kép trên đây là tóm tắt cho lịch sử chung và riêng, không tính các dị bản, của mọi gia đình từng lưu vong, có những món nợ cũng như tài sản, có các bà quyền quý già cũng như tài xoay xở.

-----------

[1] Rue de la Paix.
[2] Rue Royale.
[3] Đảo thứ hai, và nằm sát đảo thứ nhất, Cité, ở khu vực giữa sông Seine, đoạn trung tâm thành phố Paris.
[4] Chức quan đặc thù của Pháp giai đoạn trước Cách mạng 1789 (fermier général). Đây là nhân vật quý tộc đại diện cho nhà vua thu thuế nông sản. Các ông quan này, ở một số thời kỳ, đặc biệt giàu.
[5] Chứng Khoán của Paris: công trình này được xây dựng xong vào năm 1826, tức là không lâu trước khi Balzac viết cuốn tiểu thuyết Ferragus.
[6] Vụ việc xảy ra vào năm 1685: một thầy tu làm lễ mixa mà lại đội tóc giả.
[7] Một chuyên gia thống kê, sinh năm 1776 mất năm 1856 (nghĩa là chết sau Balzac).
[8] Giờ đây không còn. Phố này nối từ ke Louvre đến quảng trường Palais-Royal.
[9] Giờ đây không còn: sau nhiều thay đổi, phố Pagevin cũng như phố Soly (một phố ngắn, hẹp, gần và chạy song song với phố Pagevin) đã biến mất. Khu vực này ngày nay là khoảng giao nhau của quận 1 và quận 2 Paris. 
[10] Câu chuyện diễn ra vào khoảng năm 1819-1820.
[11] Nay là phố Hérold, nối dài bởi phố Argout.
[12] Nay là phố Lille (thuộc quận 7, bên Tả Ngạn sông Seine). Cái tên “phố Bourbon” tồn tại cho tới năm 1792, và tồn tại từ 1815 đến 1830, nghĩa là kể từ thời điểm Trung Hưng, dưới triều trị vì của Louis XVIII và Charles X.
[13] La Comédie humaine không chỉ xây dựng cả một hệ thống đồ sộ về xã hội (về sau, chỉ một mình À la recherche du temps perdu có thể so sánh được về tầm vóc), cuộc sống của tầng lớp lao khổ cũng như giới quý tộc (nhiều trang miêu tả “faubourg Saint-Germain” của Balzac hoàn toàn có thể đặt thẳng vào bộ sách của Proust, thậm chí còn không cần đổi tên các nhân vật), mọi chi tiết về tỉnh lẻ, nông thôn, chính trị, nhà binh, Paris, mà nó còn vẽ những bức tranh chi tiết đến kiệt cùng về nhiều điều, chẳng hạn như nghệ thuật, triết học, nghề luật, hôn nhân, phụ nữ, và đặc biệt quan trọng trong tư duy của Balzac là y học (ở nhiều điểm, Émile Zola sẽ lặp lại điều này); giải thích hệ thống y học mà Balzac dựng ra là quá phức tạp, độc giả sốt ruột có thể tìm đọc các tác phẩm thuộc La Comédie humaine có xuất hiện nhân vật bác sĩ Horace Bianchon, hoặc về thầy của Bianchon, Desplein (nhất là La Messe de l’athée - Lễ mixa của người vô thần), hoặc những đoạn hết sức kỹ càng về “phương pháp Mesmer” trong Ursule Mirouët; trong phần thứ hai của Mặt bên kia của lịch sử hiện thời cũng xuất hiện một nhân vật bác sĩ rất bí hiểm, Halpersohn, và tất nhiên, ở riêng lĩnh vực này, không thể bỏ qua kiệt tác Le Médecin de campagne, tức Viên bác sĩ nông thôn.
[14] Garde royale.
[15] Các chuyên gia Balzac cho rằng đây là cửa hàng hoa Nattier, nằm ở số 76 phố Richelieu, là nơi cung cấp hoa cho nữ công tước de Berry và công tước d’Orléans.
[16] Rốt cuộc, nàng có mái tóc đen hay mái tóc nâu? Dường như Balzac muốn miêu tả một phụ nữ tóc nâu cắm lông chim màu đen lên đầu để mái tóc biến thành màu đen.
[17] Truyện Mười Ba Quái KiệtFerragus là phần mở đầu, còn gồm hai phần tiếp theo, La Duchesse de Langeais (Nữ công tước de Langeais) và La Fille aux yeux d’or (Cô gái mắt vàng). Câu chuyện về nữ công tước de Langeais là một câu chuyện hết sức nổi tiếng, một trong những tác phẩm của La Comédie humaine đi sâu nhất vào cuộc sống, tức là “phong hóa”, của “faubourg Saint-Germain”, tức là giới quý tộc: trong đó có rất nhiều đoạn có thể coi là sát kề với À la recherche du temps perdu. Nữ công tước de Langeais cũng thuộc vào số các nhân vật nữ đáng nhớ nhất mà Balzac từng tạo ra (có hàng chục nhân vật như vậy trong La Comédie humaine). Ở đây, ta cũng thấy Balzac để các nhân vật của mình dịch chuyển qua nhiều tác phẩm khác nhau, nữ công tước de Langeais là nhân vật chính của Nữ công tước de Langeais đã xuất hiện thoáng qua trong Ferragus; ngược lại, Auguste de Maulincourt cũng sẽ trở thành một nhân vật phụ trong Nữ công tước de Langeais.
[18] Ossian xuất hiện trong các tác phẩm sử thi của nhà thơ người Scotland James Macpherson vào cuối thế kỷ 18: Macpherson nói mình sưu tầm được thơ ca của một nhà thơ lang thang tên là Ossian sống vào thế kỷ thứ 3; Ossian hay Macpherson là một trong các tác giả ưa thích của Balzac, đọc La Comédie humaine, ta có thể nhận ra Balzac thích đọc các tác giả nào: trên đây, đoạn nhắc đến thời Trung cổ và những bông hoa giữa đống phế tích, ta có thể dễ dàng nhận ra sự ám chỉ tới những câu chuyện tình thời Trung cổ, Pétrarque và Laure, Dante và Beatrice, cũng như Abélard và Héloïse (câu chuyện thứ ba này xuất hiện ngay, cũng theo đường lối của ám chỉ, ở đoạn đầu Mặt bên kia của lịch sử hiện thời).
[19] Balzac có cả một lý thuyết rất chi tiết về việc một phụ nữ “đúng như phải thế” (comme il faut), nhất là phụ nữ ở Paris, nghĩa là như thế nào (cf. chủ yếu Autre étude de femme, tức Thêm một ê-tuýt về phụ nữ).
[20] Các bà quyền quý già (douairière) là kiểu nhân vật xuất hiện rất nhiều trong La Comédie humaine: ta bắt gặp họ gần như trong mọi tác phẩm của Balzac; đặc biệt bà de Maulincourt ở đây rất quan trọng và có vai trò ở nhiều cuốn sách khác. Cũng như đối với hầu khắp mọi lĩnh vực, Balzac xây dựng cả một lý thuyết chi tiết liên quan đến các bà quyền quý này, cf. Le Lys dans la vallée, tức Bông huệ trong thung, bức thư gửi cho Félix de Vandenesse của bà de Mortsauf, nhũ danh Henriette de Lenoncourt.
[21] Ta bắt đầu bước vào những câu chuyện liên quan mật thiết đến một giai đoạn biến động lớn của lịch sử nước Pháp: Lưu Vong (Émigration) xảy đến với giới quý tộc Pháp, và không chỉ giới quý tộc, vì trong số những người bỏ chạy còn có nhiều nhà tư sản giàu có; ngay sau cuộc phá ngục Bastille, các nhà quý tộc đã bắt đầu rời nước Pháp - từ 1789 đến khoảng chục năm sau, 1800 (quãng thời gian của cuộc Lưu Vong), hàng chục nghìn, thậm chí hàng trăm nghìn, người đã chấp nhận lưu vong. Một trong những người đầu tiên bỏ trốn là bá tước d’Artois, sau này trở thành Charles X, trị vì cho tới cuộc Cách mạng tháng Bảy (1830), có gia đình Polignac đi theo (ta biết chính sự nước Pháp dưới mấy năm trị vì của Charles X in dấu ấn rất sâu đậm của các nhân vật nhà Polignac); bá tước de Provence (Louis XVIII tương lai) bỏ trốn khỏi Paris muộn hơn nhiều, cùng thời điểm với Louis XVI, nhưng đi đường khác và thoát thân trong khi Louis XVI và Marie-Antoinette bị bắt rồi lên đoạn đầu đài (Louis XVI, Louis XVIII, Charles X là ba anh em; Louis XVII là tước hiệu cho con trai của Louis XVI, chết trong tù khi còn bé, thực tế chưa trị vì một ngày nào). Lưu Vong là đề tài trở đi trở lại trong La Comédie humaine, đặc biệt quan trọng trong Une ténébreuse affaire tức Một vụ việc ám muội.
[22] Ta biết rằng thời kỳ Cách mạng 1789, lịch nước Pháp được quy định lại, ví dụ ta có tác phẩm xuất chúng Ngày 18 tháng Sương mù của Karl Marx (liên quan đến các sự biến ngày 18 brumaire). Ngày 9 thermidor (tức là 27 tháng Bảy) là sự kiện xảy đến năm 1794, liên quan tới Robespierre.
[23] Trung Hưng (Restauration) là tên gọi của một giai đoạn lịch sử: đó là tên chung cho hai lần Trung Hưng, I và II, trong đó kỳ thứ nhất bắt đầu từ thời điểm Napoléon thoái vị (6/4/1814) cho tới tháng Ba 1815, thời điểm Napoléon quay lại nắm quyền; kỳ thứ hai bắt đầu từ khi Đệ nhất Đế chế sụp đổ (tháng Bảy 1815) cho tới cuộc cách mạng năm 1830 tức là khởi đầu của giai đoạn Quân chủ tháng Bảy (dưới quyền trị vì của Louis-Philippe Đệ nhất, người nhà d’Orléans, tức là nhánh thứ của họ Bourbon). Như vậy, kỳ Trung Hưng I và kỳ Trung Hưng II cách nhau một đoạn cầm quyền ngắn ngủi của Napoléon, hay được gọi là Cent-Jours (Bách Nhật).
[24] Maison-Rouge: tên chỉ một đội cảnh binh và lính khinh kỵ phụng sự hoàng gia, có đồng phục màu đỏ. Ta nhớ rằng Alexandre Dumas viết một cuốn tiểu thuyết mang tên Le Chevalier de Maison-Rouge (Hiệp sĩ Nhà Đỏ).
[25] Trong kỳ trở lại ngắn ngủi của Napoléon (Bách Nhật), triều đình của Louis XVIII bỏ chạy sang Gand (thuộc Bỉ).   



(còn nữa)



Balzac: Mặt bên kia của lịch sử hiện thời

17 comments:

  1. đúng là "thứ thơ ca đích thực của mi". viết thế này bằng sống mấy cuộc đời một lúc. Paris "đực tính" thế nhỉ?

    ReplyDelete
  2. nói đúng hơn, nó rất đực đối với các phụ nữ và nó rất đàn bà đối với tập đoàn đàn ông, nó cũng có thể gay hay lesbian, sado hoặc macho tuỳ nhu cầu, thậm chí nó giống trẻ con đối với đám pedophile, nói tóm lại nó bắt người ta rơi vào quan hệ erotic, bất kể ai, kể cả lũ tủ lạnh :p

    ReplyDelete
  3. tôi thấy phải chi anh còn xuất hiện báo chí thì đem lại kiến thức cho biết bao nhiêu bạn trẻ, tiếc quá

    ReplyDelete
    Replies
    1. Báo chí thì liên quan gì kiến thức!

      Delete
    2. nó chả lan truyền tiếng nói tốt hơn blog này sao?

      Delete
    3. loa phường là nhất :D

      Delete
  4. vả lại, tôi thấy, về cơ bản, kiến thức chẳng bao giờ có ý nghĩa gì cả, và bạn trẻ có đọc báo, nhất là báo Tuổi trẻ, thì theo tôi cũng chẳng làm gì được nữa đâu hehe

    ReplyDelete
  5. à, để tránh mọi hiểu nhầm có thể có: việc tôi không viết bài đăng báo nữa hoàn toàn là lựa chọn của tôi, trong năm 2016 vì nể nang tôi vẫn có cho đăng vài thứ khi có tờ báo chủ động liên lạc, điều đó khiến về sau tôi thấy hối hận khủng khiếp

    ReplyDelete
  6. kể cả trước đây, về cơ bản khi muốn ngừng viết cho tờ báo nào, đều là tôi chủ động, mục "Con sâu" trên Thể thao & Văn hoá, tôi ngừng ngay sau khi chính tờ báo này đăng bài sai lệch về tôi trong khi tôi đang giữ mục cho họ (nhà báo Bùi Dũng viết theo com măng của Phạm Thị Thu Thuỷ tức Thuỷ Phạm), mục trên "Thể thao & Văn hoá Đàn ông" tôi chủ động thôi sau khi tròn 5 năm

    chỉ có một trường hợp khác, nếu tôi nhớ không nhầm: tờ CF, 5 số đầu tôi cộng tác, có những số tôi còn tổ chức gần như toàn bộ nội dung, sau đó bỗng nhiên không thấy gì nữa, tôi cứ nghĩ nó ngừng không ra nữa, sau lại thấy hoá ra vẫn ra, lúc í tôi mới biết họ đã thay cộng tác viên mà không nói với tôi một câu

    lúc cần mời thì lăn ra như bi mời, lúc sau thì lẳng lặng như chả có gì xảy ra: đó chính là đặc điểm của báo chí VN, ở tờ CF cụ thể là hai nhân vật này: Phạm Thị Điệp Giang và Nguyễn Danh Quý

    ReplyDelete
    Replies
    1. tôi không ngờ báo chí giờ làm ăn như thế, có đầu mà không đuôi, thôi tôi đã hiểu

      Delete
  7. Chữ latin khả năng giữ nguyên bản là cao hơn chữ Hán, máy chủ đặt ở Bắc âu thì vấn đề nguyên tác không đáng lo bất chấp vỉa hè Hà Nội thì lắm văn nhân triết gia nghệ sĩ các thứ

    Anh chỉ lo chúng nó quẫn lên

    ReplyDelete
    Replies
    1. Mặc cảm hải đăng bền bỉ, hì

      Delete
  8. Đó là lí do cho những lần từ chối in? Giờ mới hiểu, tưởng có hiềm khich gì.

    ReplyDelete
  9. Bắc Âu hả? sắp đến Bắc Âu rồi đây, thông qua con đường Balzac hehe

    ReplyDelete
  10. mặc cảm hải đăng, nhưng như thế thì chưa đủ: mặc cảm hải đăng luôn luôn gặp sự đối nghịch là mặc cảm trốn núp, mặc cảm của lẩn lút hehe

    à mà mình cầm chắc các bạn chẳng biết "mặc cảm" nghĩa là gì đâu, mặc dù lải nhải suốt ngày, đây này: mặc cảm là thứ nằm bên trong ý thức, va đập và gây thương tật cho ý thức từ bên trong, đã rõ chưa? (không có cái gì là "phức cảm" hết)

    ReplyDelete
    Replies
    1. Sách đã dẫn hehe

      Delete
  11. tuyệt vờiii

    ReplyDelete