Mar 19, 2017

Nàng tình nhân hờ

Nhân tiện, mới thêm những đoạn dài, rất dài ở Viên bác sĩ nông thônNgười phụ nữ tuổi ba mươi, cũng như viết tiếp "Đọc Balzac ở Hà Nội".

Bảy cuốn tiểu thuyết kia, tất cả đều có nguy cơ còn lâu mới xong :p vì Balzac quả thật rất dài, rất rất dài (như người ta hay nói, cela risque d'être long). Cho nên đây sẽ là một quãng nghỉ ngắn: trọn vẹn một câu chuyện thuộc Vở kịch con người thì có thể như thế nào?

Balzac thì dài, điều đó đúng, nhưng khi Balzac ngắn (hay nói đúng hơn, không dài lắm) thì sao? Tôi ngờ rằng người ta luôn luôn mặc định Balzac là dài, rất dài, nên không mấy nhìn nhận rằng các truyện ngắn của Balzac không thua kém bất kỳ nhà văn chuyên viết truyện ngắn lớn nhất nào. Truyện ngắn, hoặc novella, như Nàng tình nhân hờ có thể coi là một "truyện ngắn dài", hoặc một "novella", theo những cách phân chia vô cùng dở hơi mà ta hay thấy.

Balzac ngắn không hề kém tham vọng so với Balzac dài. Rất có thể, khi nén lại, ta còn nhìn rõ hơn tinh chất Balzac; tuy nhiên, điều này không mâu thuẫn với chuyện Balzac dài dường như mới thực sự làm ta thấy "thỏa mãn": dường như mức độ rộng lớn của Balzac cần không gian, rất cần một không gian rộng lớn, hay nói đúng hơn, Balzac không có giới hạn, không bao giờ chịu biết đến các giới hạn. Ta từng nói đến Balzac con người của kiệt cùng, ta cũng nên nói đến Balzac con người không có giới hạn.

Và cả một Balzac sẵn sàng đặt câu hỏi tình yêu là gì? hay sự cao quý là gì? thậm chí câu hỏi còn khó hơn nhiều, tình yêu cao quý là gì? trong một câu chuyện không hẳn quá dài, như Nàng tình nhân hờ.

Nhưng, cũng chính những câu chuyện như thế này giúp ta hiểu thêm một điều nữa: phương diện Balzac đáng ghét. Balzac không bao giờ nổi tiếng bằng người đương thời với mình là Victor Hugo, có lẽ chính vì điểm này: văn chương Balzac đặc biệt đáng ghét.

Nó đáng ghét bởi vì, không chỉ nói đến tình yêu và sự cao quý, cũng như sự cao quý của tình yêu, nó dám không tách biệt những điều như vậy với bản chất con người, và cả sự hủi lậu của con người. Văn chương của Balzac rất đáng ghét, vì nó quá mức con người: nó thực sự là một "vở kịch về con người", nhưng không phải một vở kịch để ca ngợi con người. Thậm chí, nếu đọc Balzac, ta cảm thấy con người đâu có gì để ca ngợi.

Chắc hẳn vào thời của mình, Balzac rất đáng ghét. Chỉ riêng việc nói đến đám "nouveau riche" thời ấy như trong Nàng tình nhân hờ thôi cũng đã gây hận thù rất nhiều rồi. Hugo vào thẳng Panthéon, Balzac thì nằm nghĩa trang công cộng giống nhiều nhân vật của mình.

Nàng tình nhân hờ (La fausse maîtresse) là tác phẩm thứ 13 của Vở kịch con người. Nói thêm về độ dài: so với một số tác phẩm đã được dịch sang tiếng Việt, nó dài cỡ Vũ hội ở Sceaux hay Đại tá Chabert, dài hơn Sarrasine và cỡ hơn gấp đôi Pierre Grassou.



Nàng tình nhân hờ


Đề tặng cho nữ bá tước Clara Maffei


Tháng Chín năm 1835, một trong những nữ nhân thừa kế giàu nhất của faubourg Saint-Germain[1], cô du Rouvre, con gái duy nhất của hầu tước du Rouvre[2], lấy bá tước Adam Mitgislas Laginski[3], chàng thanh niên Ba Lan đang trong cảnh phát vãng. Xin được phép viết những cái tên dựa theo cách phát âm, để tránh cho độc giả phải gánh chịu dáng vẻ các công sự phụ âm nhờ đó ngôn ngữ Xlavơ bảo vệ cho đám nguyên âm của nó, hẳn với mục đích không đánh mất chúng, bởi vì số lượng của chúng quá nhỏ[4]. Hầu tước du Rouvre đã gần như phá tán xong xuôi một trong những sản nghiệp đẹp nhất của giới quý tộc, mà xưa kia ông có được là do mối hôn nhân với một cô nương de Ronquerolles. Vậy nên, về phía mẹ, Clémentine du Rouvre có ông cậu[5] là hầu tước de Ronquerolles, và bà dì là bà de Sérizy[6]. Về đằng nhà nội, nàng có một ông chú chính là nhân vật hiệp sĩ du Rouvre kỳ khôi, con thứ trong gia đình, không lấy vợ, trở nên giàu nhờ buôn bán đất đai nhà cửa. Hầu tước de Ronquerolles chịu nỗi bất hạnh mất hai đứa con vì cuộc xâm lăng của dịch tả. Con trai duy nhất của bà de Sérizy, quân nhân trẻ tuổi được kỳ vọng rất nhiều, bỏ mạng bên châu Phi ở vụ việc Macta[7]. Ngày nay, các gia đình cự phú bị kẹt giữa mối nguy gây lụn bại cho đám con cái nếu có quá nhiều, và mối nguy phải chấm dứt tồn tại nếu nhất quyết chỉ có một hoặc hai con, đó là một hậu quả đặc biệt của Bộ Luật Dân sự, mà Napoléon đã không lường được[8]. Vì một sự tình cờ, dẫu cho những phá tán hoang toàng của hầu tước du Rouvre để chu cấp cho Florine, một trong những nữ diễn viên quyến rũ nhất của Paris[9], Clémentine vẫn trở thành một nữ thừa kế. Hầu tước de Ronquerolles, một trong các nhà ngoại giao thiện xảo nhất của triều đại mới[10], em gái của ông, và hiệp sĩ du Rouvre thỏa thuận với nhau, nhằm cứu tài sản của họ khỏi móng vuốt của hầu tước, dành tiền đưa cho cô cháu gái, với nàng họ hứa mỗi người sẽ, vào ngày cưới của nàng, tặng cho nàng mười nghìn franc tiền lợi tức.

Tuyệt đối không cần phải nói rằng chàng trai Ba Lan, dẫu là người tị nạn, hoàn toàn không buộc chính phủ Pháp phải tiêu tốn đồng nào. Bá tước Adam thuộc về một trong những gia đình lâu đời và xuất chúng nhất của Ba Lan, thông gia với phần lớn các gia đình hoàng thân quốc thích của Đức, với nhà Sapiéha, nhà Radzivill, nhà Rzewuski, nhà Czartoriski, nhà Leczinski, nhà Iablonoski, nhà Lubermiski, tóm lại là với tất tật các Ki sarmate kỳ vĩ[11]. Nhưng hiểu biết trong lĩnh vực huy hiệu học[12] không phải là thứ làm cho nước Pháp nổi bật dưới triều Louis-Philippe, và tính chất quý tộc này không thể trở thành một sự tiến dẫn đối với giới tư sản khi ấy đang ngự trên ngai. Vả lại, khi, vào năm 1833, Adam xuất hiện trên đại lộ Italiens, rồi ở Frascati, Jockey-Club[13], chàng có lối sống của một thanh niên, đã đánh mất những niềm hy vọng chính trị, tìm lại các thói tật và tình yêu dành cho khoái lạc. Người ta nghĩ chàng là một sinh viên. Quốc tịch Ba Lan, xuất phát từ một phản ứng tệ hại của chính phủ, khi ấy có giá trị rơi tụt xuống thấp ngang với mức mà đám cộng hòa muốn đặt nó lên cao[14]. Cuộc tranh đấu lạ thường của Chuyển Động chống lại Kháng Cự[15], hai cái từ hẳn chỉ ba mươi năm nữa thôi sẽ là không thể giải thích nổi, biến những gì lẽ ra phải đáng kính đến thế trở nên một món đồ chơi: tên của một quốc gia thua trận được nước Pháp dành cho sự trú ngụ, được người ta tổ chức các bữa tiệc để chào mừng, được người ta quyên tiền để tổ chức ca hát và khiêu vũ; rốt cuộc là một quốc gia, trong cuộc chiến giữa châu Âu và nước Pháp, từng dâng tặng cho nó sáu nghìn đàn ông vào năm 1796, và những đàn ông mới đáng giá làm sao[16]! Đừng suy ra từ đó chuyện người ta muốn nói lên rằng hoàng đế Nicolas đã sai đối với Ba Lan hay đất nước Ba Lan đã sai đối với hoàng đế Nicolas[17]. Trước hết sẽ là thậm tệ ngốc nếu nhét các tranh luận chính trị vào một câu chuyện hoặc để giải trí hoặc nhằm tạo mối quan tâm. Rồi thì, nước Nga và nước Ba Lan đều có lý ngang nhau, một bên thì muốn sự thống nhất đế chế, bên kia lại muốn được tự do trở lại. Nhân tiện cũng nên nói qua rằng Ba Lan có thể chinh phục Nga bằng ảnh hưởng phong hóa của mình, thay vì đánh đấm bằng các đội quân, tức là bắt chước người Trung Hoa ấy, rốt cuộc bọn họ đã Trung Quốc hóa đám Tartare, rồi lại sẽ Trung Quốc hóa đám Anh, cần phải hy vọng điều đó[18]. Ba Lan hẳn sẽ Ba Lan hóa nước Nga. Poniatowski[19] từng thử làm chuyện đó tại cái vùng ít ôn hòa nhất của đế chế; nhưng nhà quyền quý ấy là một ông vua không được người ta hiểu, nhất là khi ông cũng không tự hiểu chính mình cho lắm[20]. Làm thế nào mà người ta có thể không căm ghét đám người nghèo gây ra nguồn cơn lời nói dối đáng ghê tởm trong buổi diễu hành tại đó toàn thể Paris đòi phải trợ giúp Ba Lan[21]? Người ta vờ vịt xem người Ba Lan là đồng minh của phe cộng hòa, mà chẳng buồn nghĩ rằng Ba Lan là một nền cộng hòa quý tộc. Ngay khi đó giới tư sản ném vô vàn sự ngạo mạn hủi lậu xuống con người Ba Lan mà người ta vừa phong thần mới chỉ vài hôm trước. Tin đồn về một vụ bạo loạn vẫn luôn luôn làm dân Paris trở nên quay quắt, từ Bắc xuống Nam, dưới mọi chế độ. Cần phải nhớ tới các tráo trở về ý kiến Paridiêng ấy thì mới có thể giải thích tại sao cái từ “Ba Lan” lại, vào năm 1835, trở thành một tính từ nực cười ở nơi cái dân tộc tin rằng mình trí tuệ nhất và lịch thiệp nhất trên đời, ở chính giữa ánh sáng, tại một thành phố giờ đây nắm cây quyền trượng nghệ thuật và văn chương. Hỡi ôi! nhưng mà có đến hai loại người Ba Lan tị nạn, người Ba Lan cộng hòa, con trai của Lelewel, và nhà quý tộc Ba Lan thuộc phe do hoàng thân Czartoriski cầm đầu[22]. Hai loại người Ba Lan này giống nước và lửa; nhưng tại sao lại trách cứ họ vì điều đó? Những phân chia giống vậy chẳng phải lúc nào cũng có thể bắt gặp ở những người tị nạn, dẫu họ có thuộc về quốc gia nào đi nữa, dẫu cho họ tới những vùng đất nào đi nữa, đấy ư? Người ta mang theo đất nước của mình cùng những niềm căm hận của nó. Ở Bruxelles, hai linh mục Pháp lưu vong bày tỏ một nỗi ghê sợ lẫn nhau sâu sắc, và khi người ta hỏi một người tại sao lại ra nông nỗi đó, ông ta đã trả lời, chỉ thẳng vào đồng đạo của cảnh khốn cùng: “Đây là một tên jăng-xê-nít.” Hẳn Dante sẵn lòng, trong cuộc lưu đày, dùng dao găm đâm chết một địch thủ của phe Trắng[23]. Tại đó có nguyên do cho những tấn công nhằm vào hoàng thân Adam Czartoriski đáng kính ngưỡng bởi đám cấp tiến người Pháp, cũng như nguyên do cho sự thiếu coi trọng đối với một bộ phận dân lưu vong Ba Lan bởi các César của cửa hiệu và Alexandre của thuế má. Tức là, năm 1834, Adam Mitgislas Laginski phải gánh chịu những lời đùa cợt Paridiêng. “Anh ta dễ mến, dẫu là người Ba Lan, Rastignac[24] nói về chàng. - Tất tật đám Ba Lan đó đều xưng xưng là đại lãnh chúa, Maxime de Trailles[25] nói, nhưng tay kia thì đang phải trả tiền nợ thua bạc; tôi bắt đầu tin rằng hắn từng có đất thật.” Dẫu không muốn xúc phạm những người bị phát vãng, ta được phép nêu nhận xét rằng sự nhẹ dạ, thói vô tư lự, tính chất thiếu ổn định của tính cách sarmate cho phép những nói xấu của dân Paridiêng, vả lại bọn họ hoàn toàn giống với người Ba Lan ở hoàn cảnh tương tự. Giới quý tộc Pháp, được hỗ trợ theo lối đáng ngưỡng mộ đến thế bởi giới quý tộc Ba Lan trong Cách Mạng, chắc chắn đã không đáp trả giống vậy vào kỳ lưu vong năm 1832. Chúng ta hãy có đủ lòng can đảm đáng buồn để nói điều đó, faubourg Saint-Germain ở phương diện này vẫn còn mắc nợ đất nước Ba Lan. Bá tước Adam giàu, hay chàng nghèo, đó có phải một kẻ ưa phiêu lưu? Vấn đề này cứ mù mờ suốt một thời gian dài. Các phòng khách của giới ngoại giao, trung thành với học vấn của chúng, bắt chước sự im lặng của hoàng đế Nicolas, người khi ấy coi mọi người Ba Lan lưu vong là đã chết. Tuileries và phần lớn những ai có vai vế lớn ở đó bày ra một bằng chứng khủng khiếp về phẩm tính chính trị được tô điểm bằng tước hiệu của thông thái này. Ở đó người ta vờ không nhận ra một ông hoàng Nga mà người ta từng cùng hút những điếu xì gà hồi lưu vong, bởi vì dường như ông hoàng ấy đang chịu cảnh thất sủng của hoàng đế Nicolas. Bị đặt vào giữa thói thận trọng của triều đình và thói thận trọng của giới ngoại giao, những người Ba Lan nổi bật sống trong nỗi cô đơn như Kinh Thánh của Super flimina Babylonis[26], hoặc ám quẻ vài phòng khách được coi là lãnh thổ trung lập[27] cho tất cả mọi chính kiến. Tại một thành phố của khoái lạc như Paris, nơi những trò giải trí tràn ngập ở mọi tầng, sự nông nổi Ba Lan tìm thấy gấp hai lần mức cần thiết các động lực để các chàng trai có một lối sống phá tán tàn sản. Rốt cuộc, ta hãy nói điều này, trước tiên Adam gây khó chịu vì dáng điệu và các cung cách của chàng. Có hai người Ba Lan cũng như có hai phụ nữ Anh. Khi một phụ nữ Anh không được đẹp cho lắm, cô ta sẽ xấu thậm tệ, và bá tước Adam thuộc vào hạng thứ hai[28]. Khuôn mặt nhỏ xíu của chàng, trông khá là nhọn, như thể đã bị ép kiệt trong một cái ê tô. Cái mũi ngắn của chàng, mái tóc vàng hoe, hàng ria và bộ râu hung lại càng khiến chàng mang dáng vẻ của một con dê hơn nữa do chỗ chàng thấp nhỏ, gầy, và cặp mắt màu vàng bẩn làm ta chú ý bởi ánh nhìn xiên xiên lừng danh đến vậy nhờ câu thơ của Virgile[29]. Làm thế nào, dẫu cho ngần ấy điểm bất lợi, chàng vẫn có được các cung cách và cả một sự phong nhã? Lời giải cho bài toán này nằm ở một dáng điệu dandy và ở học vấn có được từ mẹ chàng, một người nhà Radzivill[30]. Nếu lòng can đảm nơi chàng đạt tới mức cứng đầu cứng cổ, thì trí tuệ chàng lại chẳng hề vượt quá những câu nói đùa thông dụng và phù du của trò truyện kiểu Paridiêng; nhưng chàng không thường gặp trong số các thanh niên rất mốt một trai trẻ nào vượt trội được chàng. Những con người dòng dõi ngày nay bàn quá nhiều về ngựa nghẽo, thu nhập, thuế má, lũ dân biểu, thành thử lối trò chuyện kiểu Pháp vẫn dừng ở mức nó từng. Trí tuệ muốn được giải trí và muốn có một số chênh lệch về vị thế. Có lẽ người ta nói chuyện hay hơn ở Petersburg hoặc Viên, so với ở Paris. Những người ngang hàng không còn cần đến mưu sâu, lúc đó họ nói với nhau một cách ngu ngốc hoàn toàn, về mọi thứ gì đúng như chúng là. Thế nên những kẻ thích nhạo báng ở Paris khó khăn lắm mới tìm lại được một lãnh chúa lớn nơi một dạng sinh viên nhẹ dạ, người, trong nói năng, thoải mái chuyển từ chủ đề này sang chủ đề khác, chạy theo các vui thú với còn nhiều gầm rú hơn bởi vì vừa thoát thân được khỏi những hiểm nguy lớn, và vì, rời khỏi đất nước nơi gia đình mình nổi tiếng, chàng nghĩ mình được tự do sống một cuộc đời lục bục mà chẳng mắc nguy cơ bị coi thường. Một ngày đẹp trời, năm 1834, Adam mua, trên phố La Pépinière[31], một dinh thự. Sáu tháng sau vụ mua bán này, dáng vẻ của nó đã ngang hàng với những nhà giàu nhất của Paris. Vào thời điểm Laginski khởi sự được thực sự coi là nghiêm túc, chàng nhìn thấy Clémentin ở Italiens[32] và đem lòng yêu nàng. Một năm sau, đám cưới được tổ chức. Phòng khách của bà d’Espard[33] bật tín hiệu là cần phải ca ngợi. Các bà mẹ gia đình biết được quá muộn rằng, ngay từ năm chín trăm, nhà Laginski đã thuộc vào các gia đình xuất chúng của miền Bắc. Bởi một nét thận trọng rất không Ba Lan, mẹ của chàng bá tước trẻ tuổi đã, vào thời điểm cuộc nổi dậy, cho cầm cố tài sản của bà lấy một khoản rất lớn cung cấp bởi hai nhà Do Thái và đầu tư vào các món Pháp. Bá tước Adam Laginski sở hữu tám mươi nghìn franc tiền lợi tức. Người ta chẳng thấy kinh ngạc nữa trước sự thiếu thận trọng mà, theo nhiều phòng khách, bà de Sérizy, nhà ngoại giao de Ronquerolles già nua và hiệp sĩ du Rouvre nhường bước trước niềm đam mê điên rồ của cô cháu gái họ. Người ta, cũng như mọi khi, đi từ thái cực này sang thái cực khác. Trong mùa đông năm 1836 bá tước Adam là mốt, và Clémentine Laginska trở thành một trong các nữ hoàng của Paris. Bà de Laginska ngày nay thuộc vào cái nhóm quyến rũ các phụ nữ trẻ nơi lấp lánh các bà de l’Estorade, de Portenduère, Marie de Vandenesse, du Guénic và de Maufrigneuse[34], những bông hoa của Paris hiện tại, họ sống cách một khoảng rất xa đám mới nổi, đám tư sản và đám thực thi món chính trị mới.

Màn mào đầu vừa xong là cần thiết để xác định cái tầng cầu trong đó đã diễn ra một trong những hành động trác tuyệt ấy, ít hiếm có hơn so với mức lũ rình mò bêu xấu thời nay vẫn nghĩ, chúng cũng, giống các viên ngọc trai đẹp, là sản phẩm của một nỗi đau hoặc một khổ nhục, và nó, giống ngọc, được che giấu bên dưới mấy cái vỏ thô ráp, lại còn chui tọt xuống tận đáy vực thẳm kia, của biển kia, của sóng động không ngừng khuấy đảo kia, tên là thế giới, thế kỷ, Paris, London hay Petersburg, muốn thế nào cũng được!

Nếu có bao giờ sự thật này, rằng kiến trúc là diễn đạt của phong hóa, được chứng minh, thì chẳng phải đó là kể từ cuộc nổi dậy năm 1830, dưới sự trị vì của nhà d’Orléans, ư? Tất cả các sản nghiệp thu nhỏ lại ở Pháp, các dinh thự huy hoàng của cha ông chúng ta không ngừng bị phá đi và thay thế bởi những thể loại pha-lăng-xte nơi nguyên lão nước Pháp tháng Bảy sống trên tầng tư phía trên một tay lang băm giàu sụ. Các phong cách được sử dụng hỗn loạn. Vì không còn triều đình nữa, cũng chẳng giới quý tộc để định giọng, người ta chẳng thấy có một sự đồng nhất nào trong các sản phẩm nghệ thuật. Về phần mình, chưa từng bao giờ kiến trúc lại khám phá được nhiều phương tiện kinh tế hơn để giả dạng cái đúng, cái vững, và dụng đến nhiều nguồn lực hơn, nhiều thiên tài hơn trong các cách bố trí[35]. Hãy đưa cho một nghệ sĩ rìa khu vườn của một dinh thự cũ đã bị phá, anh ta sẽ xây cho ta ở đó một Louvre nhỏ thừa mứa các trang trí; anh ta tìm thấy ở đó một cái sân, các tàu ngựa, và nếu ta khăng khăng muốn, một khu vườn; bên trong, anh ta dồn tụ đến ngần ấy các phòng nhỏ và lối thông, anh ta biết cách đánh lừa con mắt nhìn giỏi vô cùng, tới mức người ta cứ tưởng sống ở đó thì sướng lắm; rốt cuộc, anh ta chất đống ngần ấy chỗ ở, thành thử một gia đình công tước tha hồ thao diễn trong lò bánh mì cũ của một ông quan tòa[36]. Dinh thự của nữ bá tước Laginska, trên phố La Pépinière, là một trong những tạo tác hiện đại ấy, và nằm giữa sân và vườn[37]. Bên phải, trong sân, là khu nhà phụ, đáp lại chúng phía bên trái là các nhà để xe và chuồng ngựa. Lô của người gác cổng mọc lên giữa hai cửa có vòm quyến rũ. Vẻ hào nhoáng cao độ của ngôi nhà này nằm ở một nhà kính quyến rũ đặt liền kề một phòng boudoir[38] ở tầng trệt, nơi có những căn phòng tiếp khách đáng ngưỡng mộ. Một nhà bác ái bị đuổi khỏi nước Anh đã xây dựng thứ đồ trang sức về mặt kiến trúc này, dựng nhà kính, vẽ vườn, đánh véc ni các cánh cửa, xây khu nhà phụ bằng gạch, khiến các cửa sổ có màu xanh, và hiện thực hóa một trong những giấc mơ tương tự, theo đúng y như tỉ lệ, giấc mơ của George IV ở Brighton. Người công nhân dồi dào, chăm chỉ, chóng vánh của Paris đã đẽo cho ông ta những cửa và cửa sổ. Người ta đã bắt chước cho ông ta các trần nhà thời trung cổ hoặc trần các cung điện Venise, và bọc đá hoa cương thành từng tấm bên ngoài. Elschoët và Klagmann[39] xử lý phần trên các cửa và lò sưởi. Schinner[40] đã vẽ các trần theo đường lối của bậc thầy. Những báu vật của cầu thang, trắng như cánh tay một phụ nữ, thách thức các báu vật của dinh thự Rothschild. Do bởi các biến loạn, giá cho sự điên rồ này không lên đến hơn một triệu một trăm nghìn franc. Đối với một người Anh như vậy khác nào cho không. Toàn bộ sự xa xỉ này, được gọi là sự xa xỉ của ông hoàng bởi những người không còn biết như thế nào là một ông hoàng đích thực nữa, nằm ở khu vườn cũ của dinh thự của một nhà cung ứng[41], một trong các Crésus[42] của cuộc cách mạng, chết ở Bruxelles trong cảnh phá sản sau một biến động lớn của Chứng Khoán. Ông người Anh thì chết ở Paris vì Paris, bởi đối với nhiều người Paris là một chứng bệnh; đôi khi còn là nhiều căn bệnh. Bà góa của ông, một người theo phái Giám Lý, bày tỏ nỗi ghê tởm sâu sắc nhất đối với ngôi nhà bé nhỏ của nhà phú gia địch quốc này. Nhà bác ái kia là một lái buôn nha phiến[43]. Bà góa đoan chính ra lệnh bán ngôi nhà bê bối ấy vào thời điểm các biến loạn đặt hòa bình bằng mọi giá thành vấn đề. Bá tước Adam tận dụng cơ hội này, rồi sẽ biết bằng cách nào, bởi như thế thì quá hợp với các thói quen lãnh chúa lớn của chàng.

Đằng sau ngôi nhà, xây bằng đá vằn vện giống quả dưa melon, trải rộng lớp nhung mượt màu lục của một bãi cỏ Anh, phủ bóng ở phía cuối bởi một đám cây ngoại nhập, từ đó mọc lên một cái đình Trung Quốc[44] với những chuông câm và trứng tô vàng bất động. Nhà kính cùng những vẻ kỳ dị của nó che đi bức tường bao phía Nam. Bức tường khác đối diện nhà kính được che phủ bởi những thứ cây leo, xén tỉa thành vòm cao với sự trợ sức của các cây cột sơn màu lục và tập hợp lại nhờ các thanh gỗ đặt ngang. Đồng cỏ này, cái thế giới của hoa này, những lối đi rải cát này, khu rừng giả hiệu này, các hàng giậu phía trên cao này được phát triển trong phạm vi chừng một nghìn mét vuông, ngày nay trị giá bốn trăm nghìn franc, trị giá của một khu rừng thật. Ở giữa sự im lìm có được ngay trong Paris ấy, chim chóc hót: có những chim hét, những họa mi, những sẻ ức đỏ, những sẻ bạc má, và nhiều sẻ thường. Nhà kính là một chậu hoa rộng mênh mông nơi không khí thấm đẫm các hương vị, nơi người ta đi dạo vào mùa đông như thể mùa hè vẫn đang bùng cháy mọi thứ lửa của nó. Các phương cách người ta sử dụng để tạo một bầu không khí theo ý muốn, Torride[45], nước Trung Quốc hoặc nước Ý, được khéo éo ẩn đi trước các ánh mắt. Những đường ống tuýp trong đó nước nóng chảy, hơi, một chất tạo nhiệt nào đó, được bao phủ bởi đất và hiện ra trước cái nhìn giống như các tràng hoa sống động. Phòng boudoir rất rộng. Trên một khu đất hẹp như vậy, phép mầu của bà tiên Paris này, mang tên Kiến Trúc, nằm ở chỗ biến mọi thứ trở nên to lớn. Phòng boudoir của nàng bá tước trẻ tuổi là sự điệu đà của người nghệ sĩ, được bá tước Adam giao dinh thự cho trang trí lại. Ở đó không thể nào có lấy một lỗi: có quá nhiều thứ đồ lặt vặt xinh xẻo[46]. Tình yêu hẳn chẳng biết hạ xuống nơi đâu giữa những bàn khâu vá được chạm khắc bên Trung Quốc, nơi con mắt trông thấy hàng nghìn khuôn mặt kỳ khôi lúc nhúc trong chất ngà đã phải dùng đến hai gia đình người Trung Quốc để sản xuất; những cái cốc ngọc topa chân đế khắc chìm; các bức tranh khảm xui khiến người ta ăn cắp; những bức họa Hà Lan được Schinner vẽ lại; các thiên thần được tạo ra giống như tạo ra bởi tay Steinbock[47], người chẳng phải lúc nào cũng tự làm những thiên thần của mình; những tượng nhỏ được tạc bởi các thiên tài bị đám chủ nợ của họ theo sát đít (lời giải thích đích thực cho các huyền thoại Ả rập)[48]; các phác thảo trác tuyệt từ những nghệ sĩ đầu tiên của chúng ta; những gờ tường nổi bọc gỗ và với các pa nô xen kẽ với các phóng túng của đồ lụa Ấn Độ; những cánh cửa mở ra là như tuôn xuống những làn sóng vàng từ bên dưới một thanh xà gỗ sồi màu đen trên đó khắc cả một cuộc săn; các thứ đồ gỗ xứng với bà de Pompadour; một tấm thảm Ba Tư, vân vân. Rốt cuộc, nét duyên dáng cuối cùng, những báu vật đó, được rọi sáng bởi một làn ánh sáng lờ mờ lọt vào qua hai lần ri đô đăng ten, trông lại càng quyến rũ hơn nữa. Trên một cái bàn, giữa đống đồ cổ, một roi ngựa mà tay nắm được đẽo bởi cô de Fauveau[49], nói rằng nữ bá tước ưa cưỡi ngựa. Đó là một phòng boudoir vào năm 1837, một giá bày hàng hóa khiến con mắt nhìn được giải trí, cứ như thể nỗi buồn chán đe dọa cái xã hội nhiều tính chất khuấy động nhất và bị khuấy động[50] nhiều nhất trên đời ấy. Tại sao lại chẳng có gì thân mật, chẳng gì đưa ta đến mơ mộng, đến với bình lặng? Tại sao? chẳng ai chắc chắn được vào ngày mai, và ai ai cũng tận hưởng cuộc sống như thể mình là một kẻ ăn hoa lợi hoang toàng.

Một sáng nọ, Clémentine vẻ như đang suy nghĩ, nằm trễ nải trên một trong những trường kỷ[51] tuyệt diệu kia, từ đó người ta chẳng thể nào ngồi dậy, vì người thợ làm thảm sáng tạo ra chúng biết cách túm chặt lấy những nét tròn đầy của sự lười biếng và những thỏa thuê của far niente[52]. Các cửa của nhà kính để mở cho lọt vào những mùi cây cối và hương của nhiệt đới. Cô gái trẻ nhìn Adam hút trước mặt mình một tẩu thuốc phương Đông tỏa mùi thơm lừng, cách thức hút duy nhất mà nàng cho phép trong chỗ này. Các cánh cửa nhỏ, buộc túm lại bởi mấy dải vải thanh nhã, mở ra cho ánh mắt hai phòng khách tuyệt đẹp, một màu trắng và vàng, so được với phòng khách của dinh thự Forbin-Janson, một theo phong cách Phục hưng. Phòng ăn, và tại Paris chỉ có độc một đối thủ duy nhất là phòng ăn của nam tước de Nucingen[53], nằm ở cuối một hành lang nhỏ trần ốp và trang trí theo phong cách trung cổ. Hành lang có ở phía trước nó, về hướng sân, một phòng sảnh lớn từ đó người ta trông thấy được qua các cửa gắn gương những báu vật của cầu thang.

Bá tước và nữ bá tước vừa ăn trưa, bầu trời dâng tặng một làn thiên thanh không gợn chút mây, tháng Tư sắp hết. Cặp vợ chồng đã có hai năm hạnh phúc, và Clémentine mới chỉ, từ hai ngày nay, khám phá trong nhà mình một điều gì đó giống như một bí mật, một điều bí ẩn. Người Ba Lan, ta hãy nói thêm điều này vì vinh quang của họ, thông thường yếu mềm trước phụ nữ; anh ta tràn ngập tình dịu dàng đối với nàng, đến nỗi anh ta trở nên thấp kém ở bên Ba Lan; và dẫu cho phụ nữ Ba Lan là các phụ nữ đáng ngưỡng mộ, thì người đàn ông Ba Lan còn nhanh chóng bị mất phương hướng hơn nữa trước một phụ nữ Paridiêng. Vậy nên bá tước Adam, bị dồn hỏi, đã không có được mưu mẹo trong trắng là bán bí mật cho vợ. Với một phụ nữ, luôn luôn phải làm ra vẻ ta đang có một bí mật; cô ấy sẽ biết ơn ta vì thế, giống như một tên láu dành lòng kính trọng của hắn cho con người chính trực mà hắn đã không thể chơi xấu. Trung hậu nhiều hơn là giỏi nói năng, bá tước đã chỉ đơn giản là làm ra vẻ chỉ trả lời sau khi rít xong cái tẩu đầy tombaki[54] của chàng.

“Khi ta đi xa, nàng cất tiếng, cứ hễ gặp khó khăn gì là anh đáp lại em bằng câu: “Paz sẽ lo liệu!”, anh chỉ viết thư cho mỗi Paz! Về tới đây, mọi người nói với em: “đại úy” Em muốn đi ra ngoài?… đại úy! Nếu phải thanh toán một hóa đơn, đại úy! Con ngựa của em dữ tính quá, người ta lại nói điều đó với đại úy Paz. Rốt cuộc, ở đây, đối với em giống như trò domino: có cây Pazpartout[55]. Em chỉ nghe nhắc đến Paz, thế nhưng em không thể gặp Paz. Paz là ai thế? Mang Paz của chúng ta đến cho em đi chứ.

- Tức là mọi chuyện không ổn à? bá tước hỏi, nhấc miệng khỏi bocchettino[56] của cái tẩu.

- Mọi chuyện quá ổn là đằng khác, đến nỗi với hai trăm nghìn franc lợi tức ta sẽ khánh kiệt nếu tiếp tục sống với một trăm mười nghìn franc”, nàng đáp. Nàng kéo dây chuông gọi được trang trí hình thêu phong phú, cả một kỳ quan. Một người hầu phòng ăn vận giống nhân viên thừa hành của một bộ trưởng mau chóng xuất hiện. “Nói với ngài đại úy Paz là tôi muốn nói chuyện với ngài ấy.

- Nếu em nghĩ bằng cách này có thể biết được điều gì đó!… bá tước Adam vừa mỉm cười vừa nói.

Sẽ là không vô ích nếu kể rằng Adam và Clémentine, lấy nhau hồi tháng Chạp năm 1835, đã đi, sau khi qua mùa đông ở Paris, sang Ý, sang Thụy Sĩ và Đức trong năm 1836. Trở về vào tháng Mười một, nữ bá tước lần đầu tiên mở cửa tiếp khách vào mùa đông, nó vừa kết thúc, và khi ấy nàng nhận ra sự tồn tại gần như câm lặng, bị xòa mờ, nhưng đầy tính chất cứu rỗi của một người quản gia mà con người dường như vô hình, chàng đại úy Paz (Paç) đó, mà cái tên được đọc giống như khi viết.

“Ông đại úy Paz xin bà bá tước thứ lỗi, ông ấy đang ở chỗ tàu ngựa, mặc thứ đồ không cho phép ông ấy đến ngay; nhưng ngay khi thay quần áo xong, bá tước Paz sẽ tới trình diện, người hầu phòng tâu.

- Anh ta đang làm gì thế?

- Ông ấy chỉ dẫn phải chải lông con ngựa của bà lớn như thế nào, sao cho Constantin không làm gì lung tung”, người hầu phòng đáp.

Nữ bá tước nhìn người hầu: anh ta nghiêm túc, và không hề bình luận câu nói của mình bằng nụ cười mà những kẻ dưới hay tự cho phép khi nhắc tới một thượng cấp như thể đã hạ mình xuống tới chỗ họ.

“A! anh ta đang chải lông cho Cora.

- Bà bá tước không cưỡi ngựa sáng nay à?” người hầu phòng hỏi, đi khỏi mà không nhận được câu trả lời.

“Đó có phải là một người Ba Lan không?” Clémentine hỏi chồng, anh nghiêng đầu tỏ vẻ đúng thế.

Clémentine Laginska chẳng nói chẳng rằng săm soi Adam. Hai bàn chân gần như đặt hẳn lên gối dựa, cái đầu ở vào tư thế giống đầu một con chim đang lắng nghe ở rìa cái tổ của nó những tiếng ồn ào cánh rừng, hẳn ngay đối với một người đàn ông hờ hững nàng cũng thật rực rỡ. Vốn dĩ tóc vàng[57] và thân hình thanh mảnh, mái tóc để kiểu Anh, nàng thật giống những hình ảnh gần như huyền hoặc trong các keepsake[58], nhất là lúc mặc một cái pe nhoa lụa lối Ba Tư, mà vô số nếp gấp không đến nỗi giấu biệt các kho báu cơ thể nàng cũng như dáng người kiều mị ở mức người ta không thể ngưỡng mộ chúng xuyên qua các toan dày của hình hoa và các chi tiết thêu kia. Hai vạt áo giao nhau trên ngực nàng, thứ vải với những màu rực rỡ để cho thấy đoạn dưới cái cổ, với các tông trắng tương phản với các tông màu của một tấm mạng đăng ten phủ lên hai vai. Cặp mắt, viền hàng lông mi đen, nhấn mạnh thêm nét biểu cảm của nỗi hiếu kỳ khiến cái miệng nhăn cả lại. Trên vầng trán có khuôn rất đẹp của nàng, người ta nhận thấy những đường tròn điển hình của phụ nữ Paris đầy ý chí, tươi cười, có học thức, nhưng là bất khả xâm nhập đối với các quyến rũ tầm thường. Đôi bàn tay nàng thả xuống ở đầu mỗi bên tay nắm cái phô tơi, gần như là trong suốt. Các ngón tay thon và hếch lên ở đầu trưng bày những móng, chẳng khác nào hạnh nhân màu hồng, nơi đó ánh sáng dừng lại. Adam mỉm cười trước sự sốt ruột của vợ, và chàng nhìn nàng bằng ánh mắt mà nỗi thỏa thuê cuộc sống vợ chồng còn chưa làm cho nhạt nhẽo đi. Cái nàng bá tước nhỏ bé thon thả này đã biết cách chứng tỏ mình là chủ nhà, bởi vì nàng gần như chẳng hề đáp lại trước những ngưỡng mộ của Adam. Trong những ánh mắt nàng lén liếc về phía chàng, có lẽ đã có sẵn ý thức về sự vượt trội của một phụ nữ Paris trước chàng trai Ba Lan màu mè, gầy guộc và mặt đỏ này.

“Paz đấy”, bá tước nói khi nghe thấy tiếng bước chân vang lên ngoài hành lang.

Nữ bá tước thấy bước vào một người đàn ông đẹp đẽ cao lớn, thân hình cân đối, mang trên mặt các dấu vết của sự dịu dàng ấy, sản phẩm của sức mạnh và bất hạnh. Paz đã vội vã khoác lên người một cái áo rơ đanh gốt chật, loại áo có nhiều dải vải brandebourg cố định bằng các khuy hình ô van, xưa kia mang tên polonaise. Mớ tóc rậm rì màu đen chải không kỹ bao quanh khuôn mặt chữ điền của anh, và Clémentine có thể thấy, lấp lánh như một khối đá hoa cương, một vầng trán rộng, bởi vì Paz cầm trên tay một cái mũ lưỡi trai. Bàn tay ấy trông giống bàn tay của Hercule bế trẻ con[59]. Sức khỏe cường tráng nhất nở bừng trên khuôn mặt được phân chia thật đều bởi một cái mũi La Mã lớn khiến Clémentine nhớ đến các chàng Trasteverin đẹp trai[60]. Một chiếc cà vạt bằng sa màu đen hoàn chỉnh việc mang lại một dáng dấp binh nghiệp cho sự bí ẩn cao năm bộ bảy tấc này, với cặp mắt đen huyền và với vẻ rạng rỡ người Ý. Độ rộng một cái quần nhiều li chỉ để lộ mũi đôi bốt hé lộ sự thành kính mà Paz dành cho các thứ mốt Ba Lan. Thực sự, đối với một phụ nữ nhiều tính chất tiểu thuyết, hẳn là có vẻ khôi hài trong sự tương phản rất đậm thấy thật rõ giữa viên đại úy và bá tước, giữa con người Ba Lan nhỏ bé có khuôn mặt hẹp kia và quân nhân đẹp đẽ ấy, giữa hiệp sĩ kia và hãm sĩ này[61].

“Xin chào, Adam”, anh nói với bá tước, vẻ rất thân mật.

Rồi anh duyên dáng cúi người, hỏi Clémentine anh có thể phục vụ gì cho nàng.

“Vậy ra anh là bạn của Laginski? người phụ nữ trẻ hỏi.

- Bạn cho cuộc sống, cho cái chết[62], Paz đáp, và chàng bá tước trẻ tuổi dành cho anh nụ cười trìu mến nhất, phì ra hơi khói thơm cuối cùng.

- Vậy thì! tại sao anh không ăn cùng chúng tôi? tại sao anh không đi cùng chúng tôi sang Ý và Thụy Sĩ? tại sao anh lại trốn tránh ở đây trước những lời cảm ơn mà tôi phải nói với anh về những công việc thường xuyên mà anh làm cho chúng tôi?” nữ bá tước trẻ tuổi hỏi, hơi có chút vồn vã, nhưng không kèm chút xúc cảm nào.

Quả thật, nàng thoáng thấy ở Paz một dạng phụng sự tự nguyện. Ý nghĩ này chẳng thể không đi kèm với một chút coi thường đối với một sinh vật lưỡng cư của xã hội, một người vừa làm thư ký vừa quản lý tài sản, vừa không hoàn toàn là quản lý vừa chẳng hoàn toàn thư ký, một họ hàng nghèo nào đó, một người bạn gây phiền phức.

“Đấy là, thưa bà bá tước, anh đáp, cách nói năng khá phóng túng, do không cần phải nói cảm ơn tôi: tôi là bạn của Adam, và niềm vui thú của tôi là chăm lo cho các lợi ích của cậu ấy.

- Anh cứ đứng mãi vì niềm vui thú của anh nữa”, bá tước Adam nói.

Paz bèn ngồi xuống một cái phô tơi gần cửa.

“Tôi nhớ đã nhìn thấy anh trong đám cưới, và đôi khi ở ngoài sân, người phụ nữ trẻ nói. Nhưng tại sao anh lại tự đặt mình vào một vị thế kém hơn, anh, bạn của Adam?

- Ý kiến của người Paris hoàn toàn không khiến tôi quan tâm, anh đáp. Tôi sống vì tôi, hoặc, nếu bà muốn, vì hai người các vị.

- Nhưng ý kiến của xã hội về người bạn của chồng tôi không thể nào khiến tôi không quan tâm được.

- Ồ! thưa bà, xã hội thỏa mãn với mấy lời này: đó là một kẻ lập dị! bà cứ nói như vậy.

- Bà có định đi đâu không, anh hỏi, sau một quãng im lặng.

- Anh có muốn vào Rừng không? nữ bá tước đáp.

- Sẵn lòng.”

Đoạn, Paz chào và đi ra.

“Một người tốt lắm đấy! Anh ấy giản dị như một đứa trẻ vậy, Adam nói.

- Giờ thì hãy kể cho em nghe về mối quan hệ của anh với anh ta đi, Clémentine hỏi.

- Paz, em yêu quý vô vàn, Laginski nói, xuất thân từ một gia đình quý tộc cũng lâu đời và xuất chúng giống như gia đình anh. Khi xảy ra các thảm họa của họ, một người nhà Pazzi trốn từ Florence sang Ba Lan, ở đó ông lập nghiệp với một chút tài sản, và tạo ra gia đình Paz, được phong tước bá. Gia đình ấy, nổi bật vào những ngày tươi đẹp của nền cộng hòa hoàng gia[63] đất nước anh, trở nên giàu có. Cành giâm của cái cây bị đốn hạ bên Ý đã mọc lên mãnh liệt đến mức có nhiều nhánh thuộc gia đình bá tước Paz. Như vậy không phải là để nói cho em một điều gì lạ thường, mà chỉ để nói rằng có những người mang họ Paz giàu và những người mang họ Paz nghèo. Vốn là con mồ côi, chẳng có tài sản nào khác ngoài thanh kiếm, anh ấy đã phục vụ tại trung đoàn của đại công tước[64] Constantin vào thời điểm nổ ra cuộc cách mạng bên nước anh. Bị lôi kéo vào phe Ba Lan, anh ấy đã chiến đấu như một người Ba Lan, như một người ái quốc, như một người không có gì: ba lý do để chiến đấu thật hăng say. Ở trận chiến rau rốt, nghĩ là mình bị bọn lính đuổi theo, anh ấy chạy bổ vào một ụ pháo Nga, và bị bắt. Anh đang ở đó. Biểu hiện can đảm ấy làm anh hứng khởi: “Ta đi tìm anh ta thôi!” anh nói với các kỵ sĩ của anh. Bọn anh tập kích xông vào ụ pháo, và anh giải thoát được cho Paz, anh đi ở vị trí thứ bảy. Bọn anh xuất phát với hai mươi người, khi trở về chỉ còn tám, tính cả Paz. Vác-sa-va đã bị bán đứng, phải nghĩ đến việc thoát khỏi tay lũ Nga[65]. Do một sự tình cờ đặc sắc, Paz và anh ở cùng nhau, cùng giờ, cùng chỗ, bên kia sông Vistule. Anh nhìn thấy viên đại úy khốn khổ bị quân Phổ bắt, khi đó bọn chúng đã trở thành chó săn cho lũ Nga. Đã vớt được một người từ dưới sông Styx lên thì phải lo cho người ấy[66]. Mối nguy hiểm mới này của Paz khiến anh thấy rất đau lòng, anh bèn để cho anh bị bắt cùng anh ấy với chủ đích giúp anh ấy. Hai người có thể thoát thân ở nơi một người phải gặp họa. Nhờ tên tuổi của anh và vài mối liên hệ họ hàng với những kẻ mà số phận bọn anh tùy thuộc, bởi vì lúc đó bọn anh đang nằm trong tay lính Phổ, người ta nhắm mắt lờ vụ bỏ trốn của anh. Anh biến viên đại úy của anh trở thành một người lính trơn, thành một người thuộc nhà anh, và bọn anh đã có thể đến được Dantzig. Tại đó bọn anh lên một con tàu Hà Lan nhổ neo đi sang London, và hai tháng sau thì cập bến. Mẹ anh đã đổ bệnh ở Anh, và đang đợi anh tại đó; Paz và anh, bọn anh đã chữa trị cho bà ấy, tới khi bà ấy qua đời, bà chóng chết vì buồn bã trước các thảm họa. Bọn anh rời London, và anh đưa Paz sang Pháp. Kinh qua những sóng gió như vậy rồi, hai người đàn ông sẽ trở nên huynh đệ. Khi anh đã ở Paris, hăm hai tuổi, tài sản hơn sáu mươi nghìn franc lợi tức, chưa tính những gì còn lại từ một khoản gồm đống kim cương và tranh của gia đình do mẹ anh bán đi, anh muốn đảm bảo số phận cho Paz trước khi lao vào những trò phá tán tiền của ở Paris. Anh đã bắt chợt một chút buồn bã trong mắt đại úy, thỉnh thoảng trong đó lại có nước mắt lưng tròng cố nén. Anh đã có dịp đánh giá tâm hồn của anh ấy, về nền tảng nó cao quý, lớn lao, độ lượng. Có lẽ anh ấy tiếc vì phải gắn bó bởi các ân oán với một tay thanh niên kém anh ấy sáu tuổi, mà không trang trải hết nợ nần được. Vô tư lự và nhẹ nhõm như một chàng trai, lẽ ra anh đã khánh kiệt vì bài bạc, bị một cô nàng Paris nào đó quần cho tơi tả, rồi một ngày Paz và anh, bọn anh có thể rời xa nhau. Tự hứa trong lòng là sẽ chu cấp cho mọi nhu cầu của anh ấy, anh nhận ra rất nhiều cơ hội lãng quên hoặc không đủ sức trả tiền sinh sống cho Paz. Rốt cuộc, thiên thần của anh ạ, anh đã muốn tránh cho anh ấy nỗi khổ, sự thẹn thùng, nỗi ngượng ngùng vì phải xin tiền anh hoặc vô vọng tìm kiếm người bạn đồng hành vào một ngày tăm tối. Dunquè[67], một buổi sáng sau khi ăn xong, chân gác trên thanh chắn lò[68], mỗi người ngậm một cái tẩu, sau khi đã đỏ mặt rất dữ, cẩn trọng hết sức, thấy anh ấy nhìn anh vẻ như lo lắng, anh chìa cho anh ấy một giấy chứng nhận lợi tức trị giá hai nghìn bốn trăm franc…”

Clémentine rời khỏi chỗ, tới ngồi lên đầu gối Adam, quàng tay ôm lấy cổ anh, hôn lên trán anh và nói:

“Báu vật của em, sao mà em thấy anh đẹp thế! Và Paz đã làm gì?

- Thaddée[69], bá tước nói, tái nhợt mặt đi, không nói gì…

- A! anh ta tên là Thaddée?

- Đúng, Thaddée gấp tờ giấy lại, trả cho anh và nói: “Tôi đã tưởng, Adam, rằng giữa chúng ta là chuyện cuộc sống, chuyện cái chết, và chúng ta sẽ không bao giờ rời xa nhau, như vậy là cậu không muốn có tôi? - A! anh đáp, anh hiểu ra thành như vậy, Thaddée, vậy thì, ta không nhắc tới chuyện này nữa. Nếu tôi có khánh kiệt, anh cũng sẽ khánh kiệt. - Chẳng phải là cậu, anh ấy nói, có đủ tài sản để sống như một người nhà Laginski, thế thì cậu không cần có một người bạn chăm lo công việc cho cậu, một người cha, một người anh, một người tâm phúc có thể tin tưởng à?” Em yêu của anh, trong lúc nói những lời đó với anh, Paz có ánh mắt và giọng nói chứa đựng một sự bình thản phủ lên một xúc cảm người mẹ, nhưng lại hiển lộ một sự biết ơn của người Ả rập, lòng tận tụy của con chó, tình bạn của người mọi rợ, không chút hào nhoáng và lúc nào cũng sẵn sàng. Chúa ơi, anh đã ôm lấy anh ấy theo cách thức của người Ba Lan bọn anh, tay đặt lên vai, và hôn lên môi anh ấy. “Thế thì, cho cuộc sống và cho cái chết! Tất cả những gì tôi có đều thuộc về anh, anh cứ làm mọi thứ gì mà anh muốn.” Chính anh ấy đã tìm cho anh dinh thự này, gần như chẳng tốn kém mấy. Anh ấy đã bán các món lợi tức của anh khi được giá, mua lại khi giá hạ, và bọn anh đã chi trả ngôi nhà xập xệ này bằng tiền lãi. Rất sành sỏi về ngựa, anh ấy buôn bán giỏi đến nỗi tàu ngựa của anh chẳng hề tốn mấy tiền, nhưng anh lại có những con ngựa đẹp nhất, những cỗ xe hấp dẫn nhất Paris. Người của bọn anh, những người lính Ba Lan trung hậu do anh ấy lựa chọn, sẵn lòng nhảy vào lửa vì bọn anh. Anh từng suýt khánh kiệt, và Paz đã trông coi nhà cửa với một sự ngăn nắp và tiết kiệm hoàn hảo, nhờ đó mà cứu lại được một số mất mát không nhỏ vì cờ bạc, những trò xuẩn ngốc của một thanh niên trẻ. Thaddée của anh mưu mẹo như hai người Genoa[70], hăng say kiếm lời như một người Do Thái Ba Lan, nhìn xa trông rộng như một bà nội tướng cừ khôi. Chưa từng bao giờ anh có thể khiến anh ấy sống giống anh khi anh còn trẻ. Đôi khi, đã phải cần tới những bạo lực hiền hòa của tình bạn thì mới có thể lôi được anh ấy đi xem hát những lúc anh chỉ có một mình đến đó, hoặc tới các bữa tối mà anh tổ chức ngoài quán rượu để mời các cô gái vui tươi. Anh ấy không thích cuộc sống của các phòng khách.

- Vậy anh ta thích gì? Clémentine hỏi.

- Anh ấy yêu đất nước Ba Lan, anh ấy khóc thương nó. Những tiêu tốn tiền bạc hiếm hoi của anh ấy là những món trợ cấp gửi đi dưới tên anh nhiều hơn là dưới tên anh ấy, cho vài người sống lưu đày nghèo khổ.

- Này, nhưng em sẽ yêu quý anh ta, anh chàng thật tốt ấy, nữ bá tước nói, em thấy anh ta giản dị đúng như người nào thực sự lớn lao.

- Mọi thứ gì đẹp đẽ mà em thấy ở đây, Adam nói tiếp, chàng đang phản bội sự an toàn cao quý nhất bằng cách tán tụng bạn, đều là do Paz tìm ra, anh ấy kiếm được chúng ở các cuộc bán đấu giá hoặc đồ cũ. Ồ! anh ấy còn giỏi mặc cả hơn cả các thương gia. Khi nào thấy anh ấy xoa tay khoái chí ngoài sân, thì em hãy nghĩ là anh ấy vừa đổi được một con ngựa tốt lấy một con ngựa còn tốt hơn. Anh ấy sống thông qua anh, hạnh phúc của anh ấy là được chứng kiến anh thanh lịch, trên một cỗ xe huy hoàng. Các bổn phận mà anh ấy tự giao cho bản thân, anh ấy đều hoàn thành không chút ồn ào, chẳng hề đề cao. Một tối nọ, anh mất hai mươi nghìn franc vì chơi whist[71]. Paz sẽ nói gì đây! anh kêu lên trong lòng như vậy trên đường về. Paz đã đưa lại món tiền cho anh, chẳng phải là không để buột một tiếng thở dài, nhưng anh ấy đã không trách cứ anh dẫu chỉ bằng một ánh mắt. Tiếng thở dài đó đã kìm giữ anh còn nhiều hơn những lời quát mắng của các ông chú, bà vợ hoặc người mẹ ở hoàn cảnh tương tự. “Anh tiếc à? anh hỏi anh ấy. - Ồ! không tiếc cho cậu cũng chẳng tiếc cho tôi; không, tôi chỉ nghĩ hai mươi Paz khốn khó hẳn có thể sống được cả năm trời nhờ số tiền này.” Em hiểu rằng người nhà Pazzi cũng ngang hàng với người nhà Laginski. Thế nên anh chưa bao giờ muốn nhìn thấy một kẻ dưới hiện thân trong Paz yêu quý của anh. Anh đã cố sức trở nên lớn lao trong kiểu của anh giống như anh ấy lớn lao trong kiểu của anh ấy. Anh chưa bao giờ ra khỏi nhà, cũng như quay về, mà không ghé chỗ Paz giống như qua chào bố anh. Tài sản của anh cũng là của anh ấy. Rốt cuộc Thaddée chắc chắn rằng hiện tại anh cũng sẽ lao mình vào một mối nguy để kéo anh ấy ra, như anh từng làm hai lần rồi.

- Như vậy là rất nhiều đấy, bạn ơi, nữ bá tước nói. Lòng tận tụy là một tia chớp. Người ta tận tụy trong chiến tranh và người ta hết tận tụy khi ở Paris.

- Ừ thì! Adam nói tiếp, đối với Paz, anh vẫn ở trong chiến tranh. Tính cách bọn anh đã lưu giữ các gồ ghề và khiếm khuyết của chúng, nhưng sự thấu hiểu lẫn nhau giữa tâm hồn bọn anh đã thắt chặt những mối liên hệ vốn dĩ đã rất khăng khít của tình bạn. Người ta có thể cứu sống một người rồi sau đó giết người đó, nếu thấy ở anh ta một người đồng hành tồi tệ; nhưng điều khiến cho các tình bạn trở nên không thể tan vỡ, bọn anh đã kinh qua rồi: ở bọn anh, có cái sự trao đổi qua lại thường hằng của những ấn tượng sung sướng từ người này qua người kia, có lẽ nó làm cho, ở khía cạnh này, tình bạn còn phong phú hơn tình yêu.”

Một bàn tay xinh xắn bịt lấy miệng chàng bá tước, mau chóng đến mức cử chỉ ấy giống như một cái tát.

“Nhưng đúng mà, chàng nói. Tình bạn, thiên thần của anh ạ, không biết tới những phá sản của tình cảm và tụt dốc của khoái lạc. Sau khi đã trao đi nhiều hơn những gì nó có, cuối cùng tình yêu sẽ cho đi ít hơn những gì nó nhận về.

- Từ phía này, cũng như từ phía kia, Clémentine mỉm cười.

- Phải, Adam đáp; trong khi đó tình bạn chỉ có thể gia tăng. Em không phải bĩu môi đâu: bọn anh, thiên thần của anh ạ, vừa là bạn bè vừa là tình nhân; chúng ta đã, ít nhất anh cũng hy vọng thế, quy tập hai tình cảm vào trong cuộc hôn nhân hạnh phúc của chúng ta.

- Em sẽ giải thích cho anh biết điều gì đã làm cho các anh trở nên bạn thân như thế, Clémentine nói. Sự khác biệt giữa cuộc sống của hai người xuất phát từ gu của các anh chứ không phải từ một lựa chọn bắt buộc, từ sự phóng túng của các anh chứ không phải từ vị thế của các anh. Ở mức độ người ta có thể đánh giá một người sau khi mới nhìn thoáng qua, và căn cứ vào những gì anh kể với em, ở đây người dưới có thể trở thành kẻ trên trong một số khoảnh khắc.

- Ồ! Paz thực sự vượt trội hơn anh ấy chứ, Adam ngây thơ đáp lời. Anh chẳng có gì hơn anh ấy ngoại trừ sự ngẫu nhiên đâu.”

Vợ anh hôn anh để thưởng cho sự cao quý của lời thú nhận đó.

“Sự khéo léo quá mức mà anh ấy dùng để che giấu sự lớn lao các tình cảm của anh ấy là một sự vượt trội khổng lồ, bá tước lại nói. Anh từng bảo với anh ấy: “Anh chỉ là một kẻ xảo quyệt, trong trái tim anh có những khoảng rộng lớn để anh có thể rút lui về”. Anh ấy có quyền nhận tước hiệu bá tước Paz, nhưng tại Paris anh ấy chỉ để người khác gọi mình là đại úy.

- Rốt cuộc, người Florence thời Trung cổ đã tái xuất hiện sau ba trăm năm, nữ bá tước nói. Có Dante và có Michel-Ange ở anh ta.

- Kìa, em nói đúng, anh ấy là nhà thơ bởi tâm hồn, Adam đáp.

- Vậy là em đã cưới tận hai người Ba Lan, nữ bá tước trẻ tuổi nói, với một cử chỉ sánh ngang với các cử chỉ mà Thiên Tài tìm ra được trên sàn diễn.

- Em yêu quý! Adam nói, ôm siết lấy Clémentine, em sẽ làm anh buồn lắm nếu không thích bạn của anh: bọn anh đều sợ điều đó, dẫu rằng anh ấy rất sung sướng với cuộc hôn nhân của anh. Em sẽ làm anh ấy rất vui nếu nói rằng em yêu quý anh ấy… a! như một người bạn lâu năm.

- Thôi để em đi mặc quần áo, trời đẹp, cả ba chúng ta sẽ đi chơi”, Clémentine nói và kéo chuông gọi cô hầu phòng.

Paz có một lối sống lu mờ đến nỗi toàn bộ Paris thanh lịch tự hỏi ai đi cùng Clémentine Laginska khi người ta trông thấy nàng trên đường tới rừng Boulogne rồi từ đó quay về, ngồi giữa Thaddée và chồng. Clémentine đã đòi, trong cuộc dạo chơi, Thaddée phải ăn tối với nàng. Sự đỏng đảnh này của bà chúa chuyên chế buộc đại úy phải cuống cuồng ăn vận cho tươm tất. Sau khi từ rừng trở về, Clémentine phục trang có chút điệu đà, theo lối tạo ra ấn tượng lên cả Adam, lúc nàng bước vào phòng khách nơi hai người bạn đang đợi sẵn.

“Bá tước Paz, nàng cất lời, chúng ta sẽ cùng nhau đến Opera.”

Điều này được nói bằng cái giọng, ở các phụ nữ, có nghĩa: Nếu anh từ chối tôi, chúng ta sẽ đoạn tuyệt với nhau.

“Xin sẵn lòng, thưa bà, viên đại úy đáp. Nhưng vì tôi không có tài sản của một bá tước, hãy gọi tôi là đại úy thôi.

- Được rồi, thưa đại úy, đưa tay đây cho tôi vịn”, nàng nói, nắm lấy cánh tay anh và dẫn anh vào phòng ăn bằng một cử động ngập tràn cái vẻ thân thiết uốn lượn khiến những người yêu nhau phấn khởi ấy.

Nữ bá tước xếp chỗ cho viên đại úy ngồi cạnh nàng, phong thái của anh là phong thái của một chàng thiếu úy nghèo đang ăn tối tại nhà một vị tướng giàu. Paz để cho Clémentine nói, lắng nghe nàng, biểu hiện với nàng sự sùng kính mà người ta hay có đối với một thượng cấp, không nói trái với nàng trong bất kỳ điều gì và đợi một câu hỏi nghiêm chỉnh thì mới trả lời. Rốt cuộc anh tỏ ra gần như ngây độn trước nữ bá tước, mà những trò điệu đà xuội lơ trước con người nghiêm trang băng giá kia, trước vẻ kính ngưỡng nhiều tính chất ngoại giao kia. Adam có nói cũng vô ích: “Vui lên đi chứ, Thaddée! Nếu không người ta sẽ nghĩ anh đang không ở nhà của anh! Chắc hẳn anh đã rắp tâm làm Clémentine phải rối trí?” Thaddée vẫn tiếp tục ị ra và như ngủ gật. Khi chỉ còn lại các chủ nhà sau món tráng miệng, viên đại úy kể mình đã sắp xếp cuộc sống riêng như thế nào, đi ngược hẳn lại với những con người thuộc tầng lớp thượng lưu: anh đi ngủ lúc tám giờ và dậy khi sáng sớm; vậy nên anh viện cớ mình buồn ngủ để giải thích cho lối cư xử.

“Chủ ý của tôi, khi đưa anh tới Opera, thưa đại úy, là nhằm giải khuây cho anh: nhưng cứ làm như anh muốn, Clémentine nói, thấy hơi dỗi.

- Tôi sẽ đi, Paz đáp.

- Duprez sẽ hát Guillaume Tell[72], Adam tiếp lời, nhưng có lẽ anh thích tới bên nhà hát Variétés hơn?”

Đại úy mỉm cười và bấm chuông; người hầu phòng đến: “Constantin, anh nói, sẽ thắng ngựa vào xe lớn thay vì thắng vào chiếc coupé[73]. Nếu không chúng ta sẽ phải ngồi chật đấy, anh nói thêm, nhìn sang bá tước.

- Một người Pháp hẳn sẽ quên mất điều đó, Clémentine mỉm cười nói.

- A! nhưng chúng tôi là những người Florence được bứng lên miền Bắc mà”, Thaddée đáp, với âm sắc giọng nói rất xảo và với một ánh mắt cho thấy rằng cách hành xử của anh tại bàn ăn chỉ là do anh muốn tỏ ra như vậy mà thôi.

Do một sự thiếu thận trọng dễ hình dung, có quá nhiều tương phản giữa sự dàn dựng vô chủ ý của câu nói này và thái độ của Paz trong bữa tối. Clémentine săm soi viên đại úy bằng những cú liếc mắt ranh mãnh thông báo cả nỗi kinh ngạc lẫn sự quan sát ở các phụ nữ. Vậy nên, trong quãng thời gian ba người uống cà phê tại phòng khách, ngự trị một sự im lặng khá nặng nề đối với Adam, không tài nào đoán được nguyên cớ. Clémentine không tấn công Thaddée nữa. Về phần mình, đại úy quay trở về dáng vẻ cứng nhắc nhà binh và không rời khỏi nó nữa, cả trên đường đi lẫn tại lô nhà hát, nơi anh giả vờ ngủ.

“Bà cũng thấy rồi đấy, thưa bà, rằng tôi là một nhân vật chán ngắt, anh nói vào màn cuối của Guillaume Tell, trong đoạn vũ khúc. Chẳng phải sẽ là đúng đắn hơn nếu tôi ở lại, như người ta vẫn hay nói, trong chuyên môn của tôi?

- Chúa ơi, đại úy thân mến, anh không lang băm cũng chẳng lắm lời, anh có quá ít tính chất Ba Lan đấy.

- Vậy hãy để tôi, anh nói tiếp, chăm lo cho những vui thú của hai người, tài sản của hai người và nhà của hai người, tôi chỉ thạo mỗi việc đó mà thôi.

- Tartuffe[74], nào! bá tước Adam mỉm cười nói. Em yêu, anh ấy có tấm lòng cao cả, anh ấy học vấn cao; anh ấy có thể, nếu muốn, nổi trội trong một phòng khách. Clémentine, đừng tin vào sự khiêm nhường của anh ấy.

- Tạm biệt, thưa bà bá tước, tôi đã chứng tỏ là có biết mua vui, tôi lấy xe của hai người để về đi ngủ, và sẽ sai quay lại đón sau.”

Clémentine khẽ cúi đầu và để anh đi mà không nói một lời.

“Gấu ục ịch! nàng nói với bá tước. Anh quá dễ mến đấy!”

Adam siết chặt tay vợ mà không ai nhìn thấy.

“Thaddée yêu quý tội nghiệp, anh ấy đã cố chơi trò chìm nghỉm đúng ở cái nơi rất nhiều đàn ông hẳn sẽ cố chứng tỏ mình thân ái hơn anh.

- Ồ! nàng đáp, em không biết có phải chẳng hề có chút tính toán nào trong cách hành xử của anh ta hay không: hẳn anh ta có thể qua mắt được một phụ nữ bình thường.”

Nửa tiếng sau, trong lúc gia nhân chạy việc Boleslas kêu lên: “Mở cửa!”, và người xà ích, rẽ ngoặt cỗ xe để đi vào, đợi hai cánh mở ra, Clémentine hỏi bá tước: “Thế đại úy ngụ ở nơi nào?”

- Kia kìa, Adam đáp, chỉ vào một tầng gác nhỏ áp mái được dựng lên đầy thanh lịch từ hai bên cổng vòm và có một cửa sổ nhìn xuống phố. Căn hộ của anh ấy nằm phía trên khu để xe.

- Thế còn bên kia thì ai ở?

- Chưa có ai, Adam đáp. Căn hộ nhỏ còn lại nằm bên trên các tàu ngựa sẽ là của các con chúng ta và gia sư của chúng.

- Anh ta còn chưa ngủ”, nữ bá tước nói khi nhìn thấy ánh đèn ở chỗ Thaddée, vào lúc cỗ xe đang ở dưới cánh cổng có hàng cột sao chép hàng cột của cung điện Tuileries và thế chỗ mái che bằng kẽm thô kệch sơn màu xưa kia.

Viên đại úy trong áo choàng ở nhà, cầm trên tay chiếc tẩu, nhìn Clémentine bước vào sảnh. Ngày vừa qua thật khắc nghiệt đối với anh. Sau đây là lý do. Trái tim Thaddée từng nảy bật lên dữ dội vào cái ngày, được Adam dẫn tới Italiens để đánh giá, anh đã nhìn thấy cô du Rouvre; rồi, khi gặp lại nàng tại tòa thị chính và Saint-Thomas-d’Aquin[75], anh nhận ra ở nàng cái người phụ nữ mà mọi đàn ông đều phải yêu vô đối, bởi đến cả don Juan cũng thích nhất một trong số mille e tre[76]! Thế nên Paz hết sức khuyên tiến hành chuyến đi cổ điển sau đám cưới. Gần như được yên tĩnh trong suốt quãng thời gian Clémentine đi vắng, những nỗi đau đớn của anh tái khởi kể từ khi cặp vợ chồng xinh đẹp kia trở về. Thế nhưng, đây là điều anh nghĩ trong lúc hút lataki[77] trong cái tẩu gỗ anh đào dài sáu bộ, một món quà của Adam: “Chỉ mình mình và Chúa, người sẽ tưởng thưởng cho mình vì đã chịu đau đớn trong im lặng, mới được biết mình yêu nàng đến mức nào! Nhưng làm sao đây để không phải nhận từ nàng cả tình yêu lẫn lòng hận thù?” Và anh suy nghĩ rất lung về định lý này của chiến lược yêu đương. Không được nghĩ rằng Thaddée sống không khoái lạc giữa nỗi đau riêng. Những trò lừa trác tuyệt của ngày hôm ấy bắt nguồn cho niềm vui nội tâm. Kể từ khi Clémentine và Adam về đây, ngày lại ngày anh cảm thấy những niềm thỏa mãn không thể nói nên lời khi thấy mình cần thiết cho cặp vợ chồng ấy, nếu không có sự tận tụy của anh, chắc chắn họ đã đi thẳng đến chỗ lụn bại. Tài sản nào mà cưỡng lại nổi những chi tiêu như phá của cuộc sống Paris? Được nuôi dạy bởi một ông bố phá tán tài sản, Clémentine chẳng biết gì trong việc cai quản một ngôi nhà, mà ngày nay những phụ nữ giàu nhất, cao quý nhất cũng buộc lòng phải tự coi sóc. Giờ, ai mà có nổi một người chuyên quản lý tài sản đây? Adam, về phần mình, vốn dĩ là con trai một trong những lãnh chúa Ba Lan lớn đã bị đám Do Thái nhai nghiến, không có khả năng trông coi những tàn tích của một trong những sản nghiệp lớn nhất của Ba Lan, nơi có nhiều sản nghiệp khổng lồ, chẳng hề có tính cách đủ để cầm cương cả các phóng túng của mình lẫn các phóng túng của vợ. Nếu chỉ có một mình, hẳn chàng đã khánh kiệt trước khi kịp lấy vợ. Paz đã ngăn chàng chơi chứng khoán, như vậy chưa phải là nói đủ hết rồi sao? Vậy là, mặc dù cảm thấy mình yêu Clémentine tuy chẳng muốn thế, Paz không đủ sức rời khỏi ngôi nhà lên đường chu du nhằm lãng quên niềm đam mê. Lòng biết ơn, cái từ huyền bí mà cuộc đời anh bày ra ấy, đóng đinh anh tại cái dinh thự này[78], nơi chỉ mình anh có thể trở thành người lo toan của cái gia đình vô lo nghĩ này. Chuyến đi của Adam và Clémentine giúp anh hy vọng sự bình yên; nhưng nữ bá tước, còn đẹp hơn vào lúc trở về, sở hữu sự tự do tinh thần ấy, mà hôn nhân trao tặng cho các phụ nữ Paris, trưng bày toàn bộ vẻ duyên dáng của một phụ nữ trẻ, và thứ chẳng rõ là gì hết sức thu hút phát xuất từ hạnh phúc hoặc sự độc lập trao cho nàng từ tay một chàng thanh niên giàu tin tưởng, thực sự nhiều tính chất hiệp sĩ, yêu nhiều đến như Adam. Vốn dĩ chắc chắn mình là khớp nối phục vụ cho sự huy hoàng nơi ngôi nhà này, trông thấy Clémentine từ trên xe bước xuống khi trở về sau một bữa tiệc hoặc sáng ra khởi hành đi vào rừng, gặp nàng trên các đại lộ trên cỗ xe đẹp của nàng, giống một bông hoa bên trong lớp lá của nó, gây cho Thaddée khốn khổ những ham muốn náo nhiệt bí ẩn và đầy tràn, chúng bừng nở tận đáy trái tim anh, mà chẳng bao giờ một dấu vết dẫu nhỏ tới đâu xuất hiện trên khuôn mặt. Làm sao mà, từ năm tháng nay, nữ bá tước lại có thể nhìn thấy đại úy? anh tránh nàng bằng cách giấu đi nỗ lực dùng để tránh nàng. Chẳng có gì giống tình yêu thần linh hơn so với tình không hy vọng. Chẳng phải một người đàn ông phải sở hữu một chiều sâu nhất định trong trái tim mới có thể tận tâm trong im lặng và trong bóng tối đấy ư? Chiều sâu này, nơi ẩn nấp một sự cao ngạo của người cha và của Chúa, chứa đựng sự thờ phụng tình yêu vì tình yêu, giống như quyền lực vì quyền lực chính là khẩu quyết cuộc sống của đám thầy tu dòng Tên, sự hà tiện trác tuyệt trong chừng mực nó thường trực hào phóng và rốt cuộc được khuôn dạng dựa theo sự tồn tại bí hiểm các bí ẩn của thế giới. Quả, đó chẳng phải là Tự Nhiên ư? và Tự Nhiên thì huyền hoặc, nó thuộc về con người, về nhà thơ, về họa sĩ, về người tình nhân; nhưng còn Nhân lại chẳng phải, trong mắt một số tâm hồn nhiều ưu thế và đối với vài nhà tư tưởng kỳ vĩ, còn cao hơn Tự Nhiên ư? Nhân, đó là Chúa[79]. Trong cái tầng cầu của các nhân ấy sống các Newton, các Laplace, các Kepler, các Descartes, các Malebranche, các Spinoza, các Buffon, những nhà thơ đích thực và những con người cô độc thuộc thời đại Ki-tô thứ hai, các nữ thánh Thérèse Tây Ban Nha và những người nhập thần trác tuyệt. Mỗi tình cảm con người lại bao gồm những tương đồng với tình thế ấy, nơi tinh thần rời bỏ Quả để lên với Nhân, và Thaddée đã đạt tới cái độ cao nơi mọi thứ thay hình đổi dạng. Được hưởng các niềm vui không thể miêu tả của đấng sáng tạo, Thaddée trong tình yêu cũng giống hệt những gì chúng ta biết lớn lao nhất trong những huy hoàng của thiên tài. “Không, nàng không hoàn toàn bị lừa, anh tự nhủ, dõi theo làn khói thuốc tẩu. Hẳn nàng có thể gây bất hòa giữa mình và Adam nếu túm chặt được mình; thế nếu như nàng phỉnh phờ nhằm làm mình phải khuấy động, thì mình sẽ ra sao đây?” Tính chất tự phụ của giả định vừa xong trái ngược lại tính cách khiêm nhường và kiểu rụt rè Germain của viên đại úy đến mức anh tự thấy bực vì đã nghĩ đến nó và đi nằm, quyết tâm đợi xem các sự kiện trước khi định làm gì. Hôm sau, Clémentine ăn trưa rất ngon miệng mà không cần đến Thaddée, và không hề để ý đến sự thiếu tuân lời của anh. Ngày hôm sau ấy là ngày tiếp khách của nàng, nó, ở nhà nàng, chứa đựng một sự rực rỡ vương giả. Nàng không để tâm đến sự vắng mặt của viên đại úy, chính là người chịu trách nhiệm cho các chi tiết của những ngày sang trọng ấy. “Tốt! Paz tự nhủ khi nghe thấy tiếng các cỗ xe ra về lối hai giờ sáng, nữ bá tước đã chỉ có một cơn phóng túng hoặc một sự hiếu kỳ của phụ nữ Paris mà thôi.” Đại úy bèn tiếp tục trở lại với các thoái quen thông thường trong thoáng chốc vừa bị gây rối loạn bởi sự cố kia. Bị lãng trí bởi các mối bận tâm liên quan tới cuộc sống Paris, Clémentine tỏ ra đã quên biến mất Paz. Quả thật, có phải người ta nghĩ chẳng là gì nhiều nhặn khi ngự trị tại cái Paris thiếu thuần thành này? Có phải vì ngẫu nhiên mà người ta tưởng ở cái trò chơi tối hậu này người ta chỉ có nguy cơ mất gia tài? Đối với phụ nữ đúng mốt các mùa đông là cái xưa kia chiến dịch từng là đối với đám quân nhân của đế chế. Là một tác phẩm nghệ thuật và thiên tài tới mức nào đây, một lối phục trang hoặc một kiểu tóc dành để gây chấn động! Một phụ nữ thanh mảnh và tinh tế mang trên người bộ yên cương của hoa và kim cương nặng trịch và sáng ngời của mình, lụa và thép, từ chín giờ tối đến hai và thường là ba giờ sáng. Nàng ăn ít để thu hút ánh mắt lên một thân hình thon; để chống cự cơn đói ào tới trong buổi tối, nàng nhấp những tách trà gây mất sức[80], những cái bánh ngọt, những kem gây nóng người hoặc các lát bánh nặng nề. Dạ dày phải quỳ gối trước các mệnh lệnh của sự điệu đàng. Sự thức dậy diễn ra rất muộn. Khi đó mọi thứ đều trái nghịch với các quy luật của tự nhiên, và tự nhiên thì hà khắc. Vừa dậy xong, một phụ nữ đúng mốt tái khởi ăn vận cho buổi sáng, nghĩ tới phục trang buổi chiều. Chẳng phải là nàng sẽ phải tiếp khách, đến nhà người khác, vào rừng trên lưng ngựa hoặc đi xe đấy ư? Chẳng phải luôn luôn phải tập luyện điều khiển các nụ cười, căng trí não ra để chế tạo những lời khuyên không có vẻ gì là tầm thường nhưng cũng không được kỳ khu? và chẳng phải phụ nữ nào cũng làm được như thế. Có nên ngạc nhiên không, khi nhìn thấy một phụ nữ trẻ tuổi được xã hội tiếp nhận tươi tắn thế, ba năm sau gặp lại nàng héo rũ và đã hết thời. Chỉ sáu tháng sống ở nông thôn mà có thể chữa lành các vết thương do mùa đông gây ra ư?[81] Ngày nay người ta chỉ còn nghe nói đến các cơn viêm dạ dày[82], những căn bệnh lạ thường, vả lại chẳng hề được biết tới ở các phụ nữ chăm lo cho nhà mình. Xưa kia phụ nữ thảng hoặc mới xuất hiện; giờ đây, lúc nào họ cũng trên sàn diễn. Clémentine phải tranh đấu: người ta bắt đầu hay nhắc đến nàng, và trong các công việc đòi hỏi bởi cuộc chiến đó giữa nàng và các nữ địch thủ, gần như chẳng hề có chỗ cho tình yêu của chồng nàng. Thaddée rất có thể đã bị quên. Tuy nhiên một tháng sau, vào tháng Năm, vài hôm trước khi lên đường đến vùng đất của nhà Ronquerolles, ở Bourgogne, từ rừng trở về, nàng nhìn thấy, trên đường phụ của Champs-Élysées, Thaddée ăn vận chỉn chu, ngây ngất khi nhìn nữ bá tước thật đẹp trên cỗ xe của nàng, hai con ngựa hùng dũng, những bộ đồng phục lấp lánh, và cuối cùng là cặp vợ chồng yêu quý được ngưỡng mộ của anh.

“Đại úy kìa, nàng nói với chồng.

- Sao mà anh ấy sung sướng thế! Adam đáp. Đây chính là các bữa tiệc của anh ấy: không cỗ xe nào được chăm sóc tỉ mỉ như xe của chúng ta, và anh ấy vui thú chứng kiến tất cả mọi người ghen tị với hạnh phúc của chúng ta. A! em mới nhìn thấy anh ấy lần đầu tiên, nhưng gần như hôm nào anh ấy cũng ở đó mà.

- Anh ta có thể nghĩ gì? Clémentine hỏi.

- Lúc này anh ấy đang nghĩ rằng mùa đông đã quá tốn kém và chúng ta sẽ phải tiết kiệm ở nhà ông cậu Ronquerolles của em”, Adam đáp.

Nữ bá tước ra lệnh dừng xe trước Paz và bảo anh lên ngồi cạnh nàng. Mặt Thaddée đỏ lựng lên như một quả sơ ri.

“Tôi sẽ vấy mùi hôi sang cho bà, anh nói, tôi vừa hút xì gà.

- Adam không làm tôi bị hôi chắc? nàng mau mắn đáp.

- Đúng, nhưng đó là Adam, viên đại úy nói.

- Thế tại sao Thaddée lại không thể được hưởng cùng các đặc quyền đó?” nữ bá nước mỉm cười.

Nụ cười thần thánh này mang một sức mạnh chiến thắng các quyết tâm anh hùng của Paz; anh nhìn Clémentine với toàn bộ lửa của tâm hồn trong mắt anh, nhưng được giảm bớt cường độ bởi biểu hiện đầy tính chất thiên thần của lòng biết ơn nơi anh, của anh, người chỉ sống bằng thứ tình cảm này. Nữ bá tước khoanh hai tay lại bên trong tấm khăn san, tư lự dựa lưng vào mấy cái gối, làm sột soạt những sợi lông chim cắm trên cái mũ đẹp của nàng, và nhìn vơ vẩn người bộ hành bên ngoài. Tia chớp này của một tâm hồn lớn lao và cho tới khi ấy rất nhẫn nhịn tấn công vào sự nhạy cảm của nàng. Xét cho cùng trong mắt nàng vinh dự của Adam là gì? Chẳng phải là tự nhiên khi có lòng can đảm và sự hào phóng ư? Nhưng còn viên đại úy!… Thaddée sở hữu nhiều hơn Adam hoặc có vẻ sở hữu cả một sự vượt trội to lớn. Những ý nghĩ kinh khiếp nào xâm chiếm nữ bá tước khi quan sát một lần nữa mối tương phản giữa cái bản tính hoàn toàn đến thế, khiến Thaddée trở nên nổi bật, và cái bản tính ốm o kia, ở Adam, chi thấy sự suy thoái bắt buộc của các gia đình quý tộc dở người đến nỗi cứ liên miên lấy lẫn nhau? Những ý nghĩ đó, chỉ độc quỷ có biết mà thôi; bởi vì người phụ nữ trẻ tiếp tục giữ cặp mắt tư lự nhưng mơ hồ, không nói gì cho tới dinh thự.

“Anh ăn tối với chúng tôi nhé, bằng không tôi sẽ giận vì anh đã không làm theo lời tôi đấy, nàng nói khi xe đi vào nhà. Anh là Thaddée đối với tôi cũng như đối với Adam. Tôi biết những món nợ tình cảm của anh với anh ấy, nhưng tôi cũng biết tất tật các món nợ của chúng tôi đối với anh. Đối với hai chuyển động của sự hào phóng hết sức tự nhiên ấy, anh thật hào phóng vào mọi lúc, mọi ngày. Bố tôi sẽ đến ăn tối với chúng tôi, cũng như ông cậu Ronquerolles của tôi và dì de Sérizy nữa, anh đi thay quần áo đi”, nàng nói, cầm lấy bàn tay anh chìa ra để giúp nàng xuống xe.

Thaddée về chỗ của mình để mặc quần áo, trái tim vừa sung sướng vừa nghẹt lại bởi một đợt run rẩy khủng khiếp. Anh xuống vào thời điểm cuối cùng và trong suốt bữa tối đóng lại cái vai quân nhân của mình, chỉ vừa đủ mức để hoàn thành các chức năng của một người quản lý tài sản. Nhưng lần này Clémentine không bị Paz lừa, ánh mắt anh đã soi sáng cho nàng. Ronquerolles, đại sứ khéo léo nhất kể từ sau hoàng thân de Talleyrand[83] và đã phụng sự rất tốt de Marsay[84] trong kỳ bộ trưởng ngắn ngủi của ông, được cô cháu gái kể cho giá trị cao vời của bá tước Paz, người tỏ ra khiêm nhường đến vậy với tư cách người quản lý tài sản cho anh bạn Mitgislas của mình.

“Thế tại sao đây mới là lần đầu tiên cậu được gặp bá tước Paz? hầu tước de Ronquerolles hỏi.

- Ây! anh ta xảo quyệt và giấu giếm khéo lắm đấy”, Clémentine đáp, ném một ánh mắt về phía Paz nhằm bảo anh thay đổi cách hành xử đi.

Than ôi! phải thú nhận điều này, với nguy cơ biến viên đại úy trở nên kém thú vị đi. Paz, mặc dù vượt trội hơn anh bạn Adam của mình, không phải là một con người mạnh mẽ. Sự vượt trội bề ngoài nơi anh, anh có được nhờ bất hạnh. Trong những ngày khốn khó và cô độc, tại Vác-sa-va, anh đọc sách, anh học tập, anh so sánh và suy tưởng; nhưng tài năng sáng tạo khiến nảy sinh con người vĩ đại, thì anh chẳng hề có, và có bao giờ anh có được không? Paz, chỉ lớn lao nhờ trái tim, đi lên được mức trác tuyệt; nhưng tại tầng cầu các tình cảm, vốn dĩ là con người hành động nhiều hơn là con người suy nghĩ, anh giữ riêng suy nghĩ cho mình. Khi ấy suy nghĩ của anh chỉ được mỗi một tích sự là gặm nhấm trái tim anh. Vả lại một suy nghĩ không được trình bày ra thì còn là cái gì nữa đây? Nghe câu nói của Clémentine, hầu tước de Ronquerolles và em gái ông trao nhau một ánh mắt kỳ khôi, cùng liếc về phía cô cháu gái, bá tước Adam và Paz. Đó là một trong những cảnh mau chóng chỉ diễn ra ở Ý và Paris. Tại hai chốn này trên thế giới, ngoại trừ mọi triều đình, các cặp mắt biết nói ngần ấy chuyện. Để truyền cho con mắt toàn bộ sức mạnh của tâm hồn, trao cho nó giá trị một lời nói, chỉ một cú liếc là đặt vào đó một bài thơ hay một tấn kịch, cần tới hoặc sự khúm núm quá đà hoặc tự do vô hạn độ[85]. Adam, hầu tước du Rouvre và nữ bá tước không hề nhận thấy sự quan sát sáng rực này của một phụ nữ điệu đà về già và một nhà ngoại giao về già; nhưng Paz, con chó trung thành ấy, hiểu được những lời tiên tri của nó. Đó là, hãy nhận thấy điều này, chuyện của hai giây đồng hồ. Muốn vẽ trận giông tố đang tàn phá tâm hồn viên đại úy, hẳn sẽ là quá mức dài dòng nếu so với khoảng thời gian xảy ra. “Gì cơ! bà dì và ông cậu đã nghĩ là mình có thể được yêu[86], anh nhủ thầm. Giờ đây hạnh phúc của mình chẳng còn tùy thuộc vào sự táo bạo của mình nữa ư? Còn Adam!…” Tình Yêu lý tưởng và Ham Muốn, cả hai đều mãnh liệt ngang với Lòng Biết Ơn và Tình Bạn, đâm sầm vào nhau, và Tình Yêu chiến thắng trong phút chốc. Người tình nhân đáng ngưỡng mộ tội nghiệp kia muốn được vụt sáng! Paz trở nên con người trí tuệ, anh muốn làm vui lòng, và kể chuyện cuộc nổi dậy ở Ba Lan một cách tóm lược khi nhà ngoại giao tỏ ý mong được nghe. Lúc đó Paz thấy, ở món tráng miệng, Clémentine đeo cứng lấy miệng anh, coi anh là một người anh hùng, quên mất rằng Adam, sau khi hy sinh một phần ba gia sản lớn lao của mình, đã thử đến các cơ may của lưu đày. Chín giờ, cà phê xong xuôi, bà de Sérizy hôn cô cháu gái lên trán, siết chặt lấy tay nàng, rồi dùng uy quyền đưa bá tước Adam đi, để lại hai hầu tước, du Rouvre và de Ronquerolles, mười phút sau đó họ cũng đi nốt. Chỉ còn lại Paz và Clémentine.

“Tôi sẽ để bà lại, thưa bà, Thaddée nói, vì bà sẽ đến chỗ mấy người kia ở Opera.

- Không, nàng đáp, tôi không thích xem múa; và tối nay người ta diễn một vở ba lê đáng ghét, Cuộc nổi loạn ở hậu cung[87].

Một thoáng im lặng.

“Cách đây hai năm, Adam hẳn sẽ không tới đó nếu không có tôi, nàng nói tiếp, không nhìn sang Paz.

- Cậu ấy yêu bà đến phát điên…, Thaddée đáp.

- Kìa! chính bởi vì anh ấy yêu tôi đến phát điên nên rất có thể chỉ ngày mai thôi anh ấy sẽ chẳng còn yêu tôi nữa, nữ bá tước kêu lên.

- Phụ nữ Paris thật khó giải thích, Thaddée nói. Khi họ được yêu đến phát điên, thì họ muốn được yêu có chừng mực; và khi người ta yêu họ có chừng mực, họ lại trách ta là không biết cách yêu.

- Và lúc nào họ cũng đúng, Thaddée ạ, nàng mỉm cười. Tôi biết rõ Adam, tôi không trách anh ấy chút nào đâu: anh ấy nhẹ dạ và nhất là rất lãnh chúa lớn, anh ấy sẽ luôn luôn sung sướng có tôi làm vợ và sẽ chẳng bao giờ làm trái ý tôi trong bất kỳ sở thích nào của tôi; nhưng…

- Có cuộc hôn nhân nào mà không có các nhưng đâu?” Thaddée nói, rất dịu dàng, với ý định chuyển hướng các suy nghĩ của nữ bá tước.

Người đàn ông được hưởng ít lợi thế nhất có lẽ hẳn sẽ nảy ra cái suy nghĩ thiếu điều thì biến người tình si phát điên, và nó đây: “Nếu mình không nói là mình yêu nàng, thì mình là một thằng ngu!” viên đại úy tự nhủ. Ở giữa hai con người ấy đang lơ lửng một đợt im lặng khủng khiếp chất chứa bao suy nghĩ. Nữ bá tước lén săm soi, cũng như Paz ngắm nàng trong gương[88]. Ngồi lún sâu vào cái ghế trường kỷ[89] giống một người no nê đang tiêu hóa đồ ăn trọng bụng, một cử chỉ đích thực của người chồng hoặc của ông già thờ ơ, Paz chắp hai tay lại trước bụng, máy móc thoăn thoắt đặt hai ngón tay cái lên nhau, và ngây độn nhìn xuống chúng.

“Nhưng nói cho tôi nghe những điều tốt đẹp về Adam đi chứ! Clémentine kêu lên. Hãy nói cho tôi rằng đó không phải một con người nhẹ dạ, anh biết rõ anh ấy cơ mà!”

Tiếng kêu ấy thật trác tuyệt.

“Đã đến lúc hất bỏ đi những thanh barie không thể vượt qua giữa hai ta rồi đây”, Paz tội nghiệp nghĩ, hình dung ra một lời nói dối anh hùng. “Tốt đẹp?… anh cất tiếng, tôi yêu quý cậu ấy quá mức, hẳn bà sẽ chẳng chịu tin lời tôi đâu. Tôi không có khả năng nói với bà những điều tệ hại về cậu ấy. Cho nên… vai trò của tôi, thưa bà, thật khó khăn giữa hai người.”

Clémentine cúi đầu xuống, nhìn hai mũi giày bóng loáng của Paz.

“Các anh là người miền Bắc, các anh chỉ có lòng can đảm bề ngoài mà thôi, các anh thiếu bình ổn trong các quyết định, nàng thì thầm.

- Thế bà sẽ làm gì một mình, thưa bà? Paz hỏi, tự tạo một dáng vẻ ngây thơ hoàn hảo.

- Tức là anh không định ở lại với tôi?

- Xin thứ lỗi cho tôi đi…

- Gì cơ! anh đi đâu?

- Tôi sẽ đến Rạp Xiếc[90], tối nay nó bắt đầu mở cửa ở Champs-Élysées, và tôi không thể bỏ qua…

- Tại sao thế? Clémentine hỏi, dùng một ánh mắt gần như tức giận tra vấn anh.

- Tôi có phải phanh mở trái tim tôi trước bà không, anh đáp, mặt đỏ lựng, tâm sự với bà điều mà tôi giấu cả Adam yêu quý của tôi, cậu ấy cứ nghĩ tôi chỉ yêu mỗi Ba Lan.

- A! một bí mật nơi đại úy cao quý của chúng tôi?

- Một điều nhơ nhớp mà bà sẽ hiểu và hẳn là sẽ an ủi được cho tôi.

- Anh, nhơ nhớp?…

- Đúng, tôi, bá tước Paz, tôi yêu đến điên rồ một cô gái rong ruổi khắp nước Pháp cùng gia đình Bouthor, những người sở hữu một gánh xiếc giống như của Franconi[91], nhưng chỉ biểu diễn tại các hội chợ! Tôi đã làm cho cô ấy được giám đốc Rạp Xiếc Olympique thuê vào làm.

- Cô ta có đẹp không? nữ bá tước hỏi.

- Đối với tôi thì có, anh đáp, vẻ sầu muộn. Malaga, đó là biệt danh của cô ấy, rất mạnh mẽ, khéo léo và uyển chuyển. Tại sao tôi lại thích cô ấy hơn mọi phụ nữ trên đời?… thực sự! tôi không nói được. Khi tôi nhìn thấy cô ấy, mái tóc đen buộc một dải băng đô xa tanh xanh lơ phấp phới trên hai bờ vai nâu nhạt và để trần của cô ấy, vận một cái áo dài trắng viền vàng và một cái may-ô dệt kim lụa biến cô ấy trở thành một pho tượng Hy Lạp sống động, hai chân xỏ trong đôi giày xa tanh sợi thưa, lướt qua, tay cầm những lá cờ, theo tiếng nhạc hành quân, một cái vòng thật lớn làm rách toang tờ giấy dán ở đó trong không trung, khi con ngựa phi nước đại chạy một mình, rồi cô ấy duyên dáng rơi trở lại lên lưng nó, được vỗ tay hoan hô, không chút xu nịnh, bởi cả một đám đông… vậy là, tôi thấy rộn cả lên.

- Còn hơn cả một phụ nữ đẹp ở vũ hội?… Clémentine hỏi, với một vẻ kinh ngạc đầy khiêu khích.

- Vâng, Paz đáp, giọng nghẹn lại. Cái sự khéo léo đáng ngưỡng mộ đó, sự duyên dáng thường hằng trong một mối nguy thường hằng đó đối với tôi là chiến thắng đẹp nhất của một phụ nữ… Vâng, thưa bà, La Cinti và La Malibran, La Grisi và La Taglioni, La Pasta và L’Elssler[92], tất cả những gì đang ngự trị hoặc từng ngự trị trên sàn diễn đối với tôi đều không xứng được cởi dây giày cho Malaga, cô ấy biết xuống và lên lại lưng một con ngựa đang phi nước đại mau nhất, luồn xuống ở bên trái rồi lên lại ở bên phải, bay lên như một ánh ma trơi màu trắng quanh con thú bất kham nhất, có thể vững vàng chỉ trên một đầu mũi chân và rơi xuống, ngồi trong tư thế hai chân giơ cao trên lưng con ngựa vẫn tiếp tục phi nước đại đó, và cô ấy, đứng trên ngựa mà không cần cầm dây cương, đan bít tất, đập trứng hoặc tráng trứng trước sự ngưỡng mộ sâu sắc của dân chúng, dân chúng đích thực, những nông dân và những người lính! Khi biểu diễn, xưa kia, Colombine tuyệt diệu từng giữ cả chồng ghế trên đỉnh mũi, cái mũi Hy Lạp đẹp nhất mà tôi từng nhìn thấy. Malaga, thưa bà, chính là hiện thân của sự khéo léo. Với một sức mạnh của Hercule, cô ấy chỉ cần đến nắm tay xinh xẻo hoặc bàn chân nhỏ bé là đã có thể thoát khỏi ba hay bốn người đàn ông. Rốt cuộc, đó là nữ thần của bộ môn thể dục.

- Chắc cô ta phải ngu lắm…

- Ồ! Paz đáp, gây nhiều vui thú giống như nhân vật nữ chính của Péveril du Pic[93] ấy chứ! Vô tư lự như một người Bohème, cô ấy nói tất tật những gì nảy ra trong óc, cô ấy lo lắng cho tương lai giống như bà có thể lo lắng về những đồng xu mà bà tung cho một người nghèo, và từ cô ấy tỏa ra những điều trác tuyệt. Sẽ chẳng bao giờ người ta có thể chứng minh với cô ấy là một nhà ngoại giao già nua từng là một trang thanh niên đẹp mã, có đưa một triệu cô ấy cũng chẳng đổi ý đâu. Tình yêu của cô ấy đối với một người đàn ông là một sự mơn trớn liên tục. Sức khỏe thực sự ở mức độ hỗn xược, hàm răng là ba mươi hai viên ngọc trai tuyệt diệu được kết lại tại một rặng san hô. Cái mõm của cô ấy, cô ấy gọi phần dưới khuôn mặt của cô ấy như thế, có, theo một câu của Shakespeare, sự cường tráng, hương vị mõm của một con bò cái tơ. Và cô ấy tạo ra những nỗi sầu tàn tệ! Cô ấy coi trọng những người đẹp trai, những người mạnh mẽ, các Adolphe, các Auguste, các Alexandre, những người làm ảo thuật và các diễn viên hề. Thầy hướng dẫn của cô ấy, một Cassandre[94] đáng kinh hãi, dùng roi đánh cô ấy, và đã phải đánh hàng nghìn phát thì mới mang đến được cho cô ấy sự mềm dẻo, sự duyên dáng, sự gan dạ.

- Anh phát say vì Malaga rồi! nữ bá tước nói.

- Cô ấy chỉ tên à Malaga trên áp phích thôi, Paz nói, vẻ hơi cay cú. Cô ấy sống ở phố Saint-Lazare, tại một căn hộ nhỏ trên tầng bốn, trong nhung lụa, và sống ở đó như một nàng công chúa. Cô ấy có hai cuộc đời, cuộc đời diễn trò và cuộc đời người đàn bà đẹp.

- Thế cô ta có yêu anh không?

- Cô ấy yêu tôi… bà sẽ cười… chỉ vì tôi là người Ba Lan! Cô ấy vẫn luôn luôn nhìn những người Ba Lan theo bức tranh khắc Poniatowski nhảy xuống sông Elster, bởi vì đối với toàn bộ nước Pháp, Elster, nơi không thể nào chết đuối cho nổi, là một dòng sông sóng lừng đã nhận chìm Poniatowski[95]… Ở giữa tất tật những thứ ấy, tôi hết sức bất hạnh, thưa bà…”

Một giọt nước mắt điên giận chảy ra từ đôi mắt Thaddée khiến Clémentine thấy cảm động.

“Các anh yêu sự lạ thường, đàn ông các anh ấy!

- Thế còn bà? Thaddée hỏi.

- Tôi biết Adam rõ đến mức tôi chắc chắn anh ấy sẽ quên tôi vì một con bé đánh trống thổi kèn giống như Malaga của anh. Nhưng anh đã gặp cô ta ở đâu?

- Ở Saint-Cloud, hồi tháng Chín năm ngoái, vào ngày lễ. Cô ấy ở trong góc giàn giáo phủ bạt nơi các trình diễn được thực hiện. Các bạn của cô ấy, tất cả đều vận trang phục Ba Lan, gây náo loạn khủng khiếp. Tôi đã thấy cô ấy câm nín, im lặng, và tôi nghĩ mình đoán ra những suy nghĩ sầu muộn nơi cô ấy. Cũng là đáng nói đối với một cô gái hai mươi tuổi đấy chứ? Đó chính là điều đã khiến tôi cảm động.

Nữ bá tước lấy một tư thế tuyệt diệu, vẻ tư lự, gần như buồn.

“Thaddée khốn khổ, khốn khổ!” nàng kêu lên. Và với vẻ tốt lành của bà lớn đích thực, nàng nói thêm, chẳng phải không kèm theo một nụ cười ranh mãnh: “Thôi, tới Rạp Xiếc đi!”

Thaddée cầm lấy tay nàng, hôn lên đó, để rơi xuống một giọt nước mắt nóng hổi, và đi ra. Sau khi đã bịa ra niềm đam mê của mình dành cho một nữ kỵ sĩ, anh phải cung cấp cho nó một chút thực tế. Trong câu chuyện của anh, chỉ có độc chi tiết đúng là thời khắc Malaga xuất chúng, nữ kỵ sĩ của gia đình Bouthor, gây được chú ý tại Saint-Cloud, cái tên đã đập vào mắt anh hồi sáng trên áp phích của Rạp Xiếc. Tay diễn viên hề, được thu phục chỉ với một đồng trăm xu, đã cho Paz hay rằng nữ kỵ sĩ là một đứa bé bị bỏ rơi, có lẽ bị đánh cắp. Thaddée bèn tới Rạp Xiếc và nhìn thấy lại nàng kỵ sĩ xinh đẹp. Nhận mười franc, một người coi ngựa, kẻ ở đó thế chỗ các nhân viên trợ giúp trang phục của nhà hát, cho anh biết rằng Malaga tên là Marguerite Turquet và sống ở phố Fossés-du-Temple, trên tầng sáu.

Hôm sau, trong lòng mọc nghĩa địa, Paz đến khu faubourg Temple hỏi cô Turquet, mùa hè làm người diễn thế cho nữ kỵ sĩ xuất chúng nhất của Rạp Xiếc, và diễn các vai phụ tại nhà hát đại lộ trong mùa đông.

“Malaga! mụ gác cổng hét, lao vào căn phòng áp mái, có một ông rất đẹp cho cô đây! ông ấy hỏi thông tin chỗ Chapuzot, ông ấy đang chùng chình để tôi có thời gian lên báo trước cho cô.

- Cám ơn, bà Chapuzot; nhưng ông ấy sẽ nghĩ gì khi thấy tôi phải là váy?

- À thì! khi người ta yêu, người ta yêu luôn tất tật mọi thứ trên đối tượng của họ.

- Một ông người Anh à? họ thích ngựa lắm.

- Không, tôi có cảm tưởng ông ta là người Tây Ban Nha.

- Kệ thôi! người ta bảo dân Tây Ban Nha rách lắm… Bà ở lại với tôi nhé, bà Chapuzot, tôi sẽ không có vẻ là bị bỏ rơi…

- Ông muốn hỏi gì, thưa ông? mụ gác cổng hỏi Thaddée vào lúc ra mở cửa.

- Cô Turquet.

- Con gái ơi, bà gác cổng đáp, khoác áo vào, có người hỏi con này.”

Một sợi dây phơi đồ lót mắc vào mũ viên đại úy.

“Ông muốn gì, thưa ông? Malaga hỏi, cúi xuống nhặt cái mũ của Paz.

- Tôi đã thấy cô ở Rạp Xiếc, cô khiến tôi nhớ đến một đứa con gái mà tôi đã mất, thưa cô; và vì lòng thương xót Héloïse của tôi, mà cô rất giống, tôi muốn làm điều tốt cho cô, dĩ nhiên nếu như cô cho phép.

- Thế nào cơ! nhưng xin mời ngồi, thưa tướng quân, bà Chapuzot nói. Người ta không thể trung thực hơn… hoặc ga lăng hơn.

- Tôi không phải một người ga lăng, thưa bà thân mến, Paz nói, tôi là một người cha tuyệt vọng muốn tự lừa dối bằng một sự giống nhau.

- Tức là tôi sẽ trở thành con gái ông? Malaga hỏi, rất láu, và chẳng hề ngờ đến sự chuẩn xác sâu thẳm trong câu nói đó.

- Đúng, Paz đáp, tôi sẽ thỉnh thoảng đến thăm cô, và để ảo tưởng được hoàn toàn, tôi sẽ thuê cho cô một căn hộ đẹp, nhiều đồ đạc…

- Tôi sẽ có đồ đạc? Magala hỏi, nhìn sang Chapuzot.

- Và cả người hầu nữa, Paz nói thêm, mọi thứ gì mà cô ưa thích.”

Malaga lén nhìn trộm người lạ mặt.

“Ông đây là người nước nào?

- Tôi là người Ba Lan.

- Vậy thì tôi chấp nhận”, cô nói.

Paz đi ra, hứa là sẽ quay trở lại.

“Sao mà bà khó tính thế! Marguerite vừa nói vừa nhìn mụ Chapuzot. Nhưng tôi sợ cái ông này chỉ muốn dụ khị tôi sau đó làm một trò phăng te zi nào đó. Mà thôi! tôi mạo hiểm vậy.”

Một tháng sau cuộc gặp kỳ quặc kia, nữ kỵ sĩ xinh đẹp bắt đầu sống tại một căn hộ được trang bị đồ đạc một cách tuyệt diệu bởi thợ làm thảm của bá tước Adam, bởi vì Paz muốn tại dinh thự Laginski người ta bàn tán về sự điên rồ của anh. Malaga, mà cuộc phiêu lưu này là một giấc mơ thuộc Nghìn lẻ một Đêm, được phục vụ bởi vợ chồng Chapuzot, vừa là người tâm phúc vừa là gia nhân của cô. Vợ chồng Chapuzot và Marguerite Turquet đợi một cú mở nút câu chuyện nào đó; nhưng sau một quý, cả Malaga lẫn Chapuzot đều chẳng biết phải giải thích như thế nào cái thói trái khoáy của tay bá tước Ba Lan. Paz đến ngồi đó khoảng một tiếng mỗi tuần, trong quãng thời gian này anh ở phòng khách, chẳng bao giờ muốn cả vào phòng boudoir của Malaga lẫn phòng ngủ của cô, nơi chẳng bao giờ anh bước vào, mặc cho các ma nớp khép léo nhất của nữ kỵ sĩ và vợ chồng Chapuzot. Bá tước hỏi han về các sự kiện nhỏ bé tô điểm cho cuộc sống nàng diễn viên, và lần nào anh cũng để lại hai đồng bốn mươi franc trên bệ lò sưởi.

“Ông ấy có vẻ rất buồn chán, mụ Chapuzot nói.

- Đúng, Malaga đáp, cái ông này lạnh lẽo cứ như băng giá…

- Nhưng dẫu sao ông ấy tốt”, Chapuzot kêu lên, sung sướng vì thấy mình được mặc đồ may bằng vải Elbeuf và giống với một nhân viên văn phòng nào đó của một bộ.

Bằng số tiền cho đi định kỳ, Paz tạo cho Marguerite Turquet một món tiền lợi tức ba trăm hai mươi franc mỗi tháng. Món tiền này, gộp vào với món thù lao còm cõi của Rạp Xiếc, khiến cô được hưởng một cuộc sống huy hoàng nếu so với nỗi khốn cùng đã qua. Những câu chuyện kỳ lạ được lặp đi lặp lại ở Rạp giữa các nghệ sĩ về hạnh phúc của Malaga. Sự phù phiếm của nữ kỵ sĩ khiến cô khoe sáu mươi nghìn franc thay vì sáu nghìn franc mà căn hộ của cô đã buộc viên đại úy phải chi ra. Theo lời các anh hề và các diễn viên phụ, Malaga ngập trong tiền; vả lại cô đến Rạp Xiếc với áo choàng burnous quyến rũ có mũ, đồ ca-sơ-mia, những tấm khăn tuyệt diệu. Rốt cuộc, tay Ba Lan là loại đàn ông tốt đẹp nhất mà một nữ kỵ sĩ có thể gặp được: không quấy rối, chẳng hề ghen tuông, để cho Malaga được hoàn toàn tự do.

“Có những phụ nữ thật sung sướng! đối thủ của Malaga nói. Tôi đây, người giúp rạp thu về một phần ba doanh số, thì chẳng bao giờ gặp được chuyện tương tự.”

Malaga đội những cái mũ đẹp, lấp ló hiện ra (cách nói đáng ngưỡng mộ của từ điển dành cho Các Cô Gái) trên xe ngựa, trong rừng Boulogne, nơi tuổi trẻ thanh lịch bắt đầu để ý đến cô. Rốt cuộc, người ta bắt đầu nhắc đến Malaga tại cái trung giới của các phụ nữ khó nắm bắt, và ở đó người ta tấn công hạnh phúc của cô bằng những lời vu khống. Người ta bảo là cô mắc chứng mộng du, và tay Ba Lan được coi là một kẻ chuyên thôi miên đi tìm hòn đá triết học. Vài lời còn đẫm chất độc hơn câu ấy biến Malaga trở nên kỳ thú còn hơn Psyché[96]; cô vừa khóc vừa nhắc lại chúng cho Paz nghe.

“Khi nào em trách móc một người phụ nữ, cô nói khi đã kể xong, em không vu khống cô ta, em không nói rằng người ta thôi miên cô ta để tìm những viên đá ở đó; em sẽ nói cô ta lưng gù, và em chứng minh điều đó. Tại sao ông lại làm hại em thế?”

Paz giữ một sự im lặng tàn nhẫn nhất. Mụ Chapuzot rốt cuộc cũng biết tên và tước hiệu của Thaddée; rồi mụ dò la được ở dinh thự Laginski những điều chắc chắn: Paz còn độc thân, người ta không hề biết anh có con gái đã chết cả bên Ba Lan lẫn tại Pháp. Do đó Malaga không thể tự ngăn mình cảm thấy hãi hùng.

“Con gái ơi, mụ Chapuzot thẽ thọt, cái con quái vật ấy…”

Một người đàn ông chỉ nhìn theo một đường lối xảo trá - liếc trộm - mà không dám phát ngôn về bất kỳ điều gì - không đủ tự tin - với một tạo vật đẹp như Malaga, trong óc mụ Chapuzot, hẳn phải là một con quái vật.

“Con quái vật ấy thuần hóa cô để dẫn cô đến một cái gì đó trái pháp luật hoặc tội lỗi. Chúa ơi là Chúa ơi, nếu cô phải ra tòa đại hình, hoặc, điều này làm tôi phát run từ đầu đến chân, chỉ nhắc đến thôi là đã phát run rồi, ra tòa tiểu hình[97], rồi người ta cho cô lên báo… Tôi, cô có biết nếu ở vào địa vị của cô tôi sẽ làm gì không? Thế này nhé! lếu ở vào địa vị cô, tôi sẽ báo cảnh sát, để được an toàn.”

Một ngày nọ khi những ý nghĩ điên rồ nhất lên men trong tâm trí Malaga, lúc Paz đặt mấy đồng tiền vàng lên lớp nhung phủ bệ lò sưởi, cô cầm lấy vàng lên ném vào mặt anh và nói: “Tôi không muốn thứ tiền ăn cắp.”

Viên đại úy đưa vàng cho vợ chồng Chapuzot và không trở lại nữa. Thời điểm này Clémentine đang trải qua mùa đẹp trời ở đất của ông cậu, hầu tước de Ronquerolles, tại Bourgogne. Khi Rạp Xiếc không còn thấy Thaddée ở chỗ quen thuộc của anh, giữa các nghệ sĩ rộ lên một tin đồn. Sự kỳ vĩ của tâm hồn Malaga đối với một số người bị coi là xuẩn ngốc, những người khác lại thấy như thế là khôn ngoan. Cách hành xử của tay người Ba Lan, khi được kể cho những phụ nữ khéo léo hơn cả, bị coi là không thể giải thích được. Thaddée nhận được trong vòng chỉ một tuần ba mươi bảy bức thư từ các phụ nữ lẳng. Thật may mắn cho anh, sự e dè đáng kinh ngạc nơi anh chẳng hề làm sống dậy những mối hiếu kỳ trong giới thượng lưu và chỉ trở thành đối tượng cho những lời ngồi lê đôi mách nơi trung giới.

Hai tháng sau, nữ kỵ sĩ xinh đẹp, nợ đìa, viết cho bá tước Paz bức thư dưới đây, mà các dandy hồi ấy coi là một kiệt tác:


“Ông, mà em vẫn còn dám gọi là bạn em, ông có thể đem lòng thương hại em sau chuyện đã xảy ra và đã bị ông hiểu tệ hại đến như thế không? Tất cả những gì có thể khiến ông tổn thương, trái tim em đều phản đối. Nếu em từng đủ sung sướng để ông thấy thích ở bên cạnh em như đã từng, thì ông hãy quay trở lại… bằng không, em sẽ rơi vào cơn tuyệt vọng. Sự khốn cùng đã ập đến, và ông không biết nổi tất tật những gì rất phiền toái mà nó dẫn theo đâu. Hôm qua, em đã sống bằng một con cá trích giá hai xu cùng một xu bánh mì. Đó mà là bữa trưa của tình nhân của ông à? Em không còn vợ chồng Chapuzot nữa, bọn họ từng tỏ ra tận tụy với em đến thế! Sự vắng mặt của ông đã gây ra hậu quả là khiến em nhìn thấy đáy của những mối thân tình giữa con người… Một con chó mà người ta nuôi còn không bỏ chúng ta đi, thế mà đám Chapuzot đã đi mất. Một viên mõ tòa, chẳng nói chẳng rằng, đã tịch biên mọi thứ nhân danh chủ nhà, ông ta nhẫn tâm lắm, còn chủ hiệu trang sức thì chẳng chịu đợi thêm dẫu chỉ là mười hôm nữa; bởi vì, cùng lòng tin tưởng của ông, sự mua chịu cũng bỏ đi theo! Một hoàn cảnh mới thương tâm làm sao đối với các phụ nữ chẳng có gì khác ngoài niềm vui để tự trách mình! Bạn của em ơi, em đã phải mang đến nhà bà dì[98] tất tật những gì có giá trị; em chẳng còn lại gì ngoài kỷ niệm về ông, và thế là mùa lạnh đã tới. Trong mùa đông em không có lửa sưởi, vì ở đại lộ người ta chỉ còn diễn các vở rối nữa thôi, ở đó em gần như chẳng có gì để làm ngoài vài vai lặt vặt không tôn lên một phụ nữ. Làm sao mà ông lại có thể nhầm lẫn như thế về sự cao quý trong những tình cảm mà em dành cho ông, bởi xét cho cùng chúng ta đâu có hai cách để biểu hiện lòng biết ơn của chúng ta. Ông từng tỏ ra vui thích đến thế khi em được đầy đủ, làm sao mà ông lại có thể bỏ mặc em trong khốn khó? Ô! người bạn duy nhất trên trái đất của em, trước khi lại lên đường đi khắp các hội chợ cùng gánh xiếc Bouthor, vì ít nhất em cũng sẽ kiếm sống được bằng cách ấy, xin hãy tha lỗi cho em vì đã muốn biết có phải em đã mất ông vĩnh viễn hay chăng. Nếu em nghĩ đến ông vào đúng khoảnh khắc nhảy qua vòng tròn, có khả năng em sẽ bị ngã gãy chân vì hụt mất một nhịp! Dẫu có là thế nào, suốt cả cuộc đời ông sẽ luôn luôn có

“MARGUERITE TURQUET.”


“Bức thư này, Thaddée vừa phá lên cười vừa tự nhủ, làm mình tốn mười nghìn franc đây!”

Clémentine về tới nơi ngày hôm sau và, ngày hôm sau, Paz thấy nàng đẹp hơn, yêu kiều hơn bất kỳ lúc nào khác. Sau bữa tối, trong đó nữ bá tước tỏ vẻ hoàn toàn thờ ơ với Thaddée, diễn ra trong phòng khách, sau khi viên đại úy đi khỏi, một cảnh giữa bá tước và vợ. Tỏ vẻ muốn hỏi ý kiến Adam, Thaddée đã để lại, như thể vì vô ý, bức thư của Malaga.

“Thaddée khốn khổ! Adam nói với vợ sau khi thấy Paz chuồn đi. Thật là bất hạnh khi một người nổi bật đến thế lại trở thành món đồ chơi của một cô diễn viên hề hạng bét! Anh ấy sẽ đánh mất mọi thứ vào đây, anh ấy sẽ tha hóa, thêm một thời gian nữa sẽ khó mà nhận ra nổi anh ấy. Này, em yêu, đọc đi”, bá tước nói, chìa bức thư của Malaga cho vợ.

Clémentine đọc bức thư, nó tỏa mùi thuốc lá, và ném nó đi bằng một cử chỉ ghê tởm.

“Tấm băng đô bịt mắt anh ấy có dày đến cỡ nào, thì chắc hẳn anh ấy cũng sẽ nhận ra điều gì đó, Adam nói. Malaga sẽ làm anh ấy sáng mắt.

- Rồi anh ta sẽ quay lại với cô ta! Clémentine nói, và anh ta sẽ tha thứ. Các anh bao giờ cũng chỉ độ lượng với những phụ nữ đáng kinh khiếp như vậy thôi!

- Họ cần điều đó đến thế, Adam nói.

- Thaddée đúng đắn… khi ở lại nhà, nàng đáp.

- Ồ! thiên thần của anh, em đi xa quá đấy”, bá tước nói, trước tiên sung sướng vì có thể hạ thấp người bạn trong mắt vợ, giờ không muốn kẻ tội lỗi mắc án tử.

Thaddée, vốn dĩ biết rõ Adam, đã đòi chàng phải giữ bí mật sâu thẳm nhất: anh bảo, coi như là xin thứ lỗi vì tiêu nhiều tiền và cầu xin bạn để cho mình lấy đi chừng một nghìn écu để đưa cho Malaga.

“Đó là một người có một tính cách kiêu hãnh, Adam nói tiếp.

- Thế nào kia?

- Nhưng, đã không tiêu hơn mười nghìn franc cho cô ta, và để cho mình bị lôi kéo lại bởi một bức thư như thế này trước khi mang đến cho cô ta tiền để trả nợ! đối với một người Ba Lan, Chúa ơi!…

- Nhưng anh ta có thể làm anh khánh kiệt, Clémentine nói, giọng the thé của phụ nữ Paris những lúc nương tử ấy biểu hiện sự nghi ngờ mèo cái của mình.

- Ôi! anh biết anh ấy mà, Adam đáp, anh ấy sẽ vì chúng ta mà hy sinh Malaga.

- Để rồi xem, nữ bá tước nói.

- Nếu cần phải thế vì hạnh phúc của anh ấy, anh sẽ không ngần ngại mà đòi anh ấy bỏ cô ta. Constantin đã nói với anh là trong quãng thời gian diễn ra mối quan hệ giữa họ, Paz, cho tới khi ấy vốn dĩ tỉnh táo đến vậy, thỉnh thoảng về nhà trong tình trạng say bí tỉ… Nếu anh ấy bị lôi kéo vào sự say xỉn, anh cũng sẽ thấy buồn ngang với nếu như chuyện xảy ra với con anh.

- Đừng nói thêm với em về chuyện này nữa”, nữ bá tước kêu lên, phác thêm một cử chỉ đầy kinh tởm.

Hai hôm sau, viên đại úy nhận thấy trong các cung cách, trong âm sắc giọng nói, trong ánh mắt của nữ bá tước các hiệu ứng khủng khiếp phát xuất từ sự thiếu kín đáo của Adam. Nỗi khinh miệt đã đào sâu những vực thẳm giữa người phụ nữ quyến rũ ấy và anh. Vậy nên ngay lúc ấy anh rơi luôn vào một cơn sầu muộn sâu thẳm, bị gặm nhấm bởi ý nghĩ này: “Mày đã tự biến mình trở nên không xứng đáng với nàng.” Đối với anh cuộc sống trở nên nặng trĩu, mặt trời đẹp nhất trong mắt anh cũng một màu ghi tối. Tuy nhiên, bên dưới những đợt sóng đau khổ chua chát ấy, anh vẫn tìm được các khoảnh khắc vui tươi: lúc đó anh có thể lao mình không chút nguy hiểm nào vào niềm ngưỡng mộ của mình dành cho nữ bá tước chẳng còn chú ý mảy may đến anh khi mà, vào các bữa tiệc, náu mình một góc, câm lặng, nhưng mắt căng ra và tấm lòng rung động, anh không để sót một cử chỉ nào của nàng, không bỏ sót một khúc hát nào mà nàng hát. Rốt cuộc anh sống bằng cuộc đời đẹp đẽ ấy, anh có thể tự tay chải lông con ngựa mà nàng sẽ cưỡi, tận tụy với kinh tế của ngôi nhà rực rỡ này, cho những lợi ích của nó anh nhân đôi lòng tận tâm. Những khoái lạc im lặng ấy được chôn sâu trong trái tim anh giống như những khoái lạc của người mẹ mà đứa con chẳng bao giờ biết được điều gì trong trái tim của mẹ nó; bởi vì có phải là hiểu biết không khi chẳng biết tới một thứ gì đó ở trong đó? Chẳng phải như vậy còn đẹp hơn tình yêu trong trắng mà Pétrarque dành cho Laure, rõ ràng nó được bù lại bởi một kho báu vinh quang và bởi thắng lợi của thơ ca mà nàng đã gợi hứng? Cái cảm giác mà chắc hẳn d’Assas đã có vào lúc hấp hối lại chẳng phải là toàn bộ một cuộc đời ư[99]? Cảm giác này, Paz có được mỗi ngày mà không chết, nhưng cũng là không kèm món tiền chuộc của sự bất tử. Vậy thì có gì ở trong tình yêu để mà, mặc cho những khoái thú bí mật kia, Paz lại bị những nỗi sầu nhai ngấu nghiến? Thiên chúa giáo đã làm tình yêu lớn thêm nhiều đến nỗi ở đó có thể nói nó đã cưới lấy theo cách không thể tách rời sự coi trọng và cao quý. Tình yêu không thể có nếu thiếu những vượt trội được con người lấy làm ngạo nghễ, và hiếm có người được yêu khi bị khinh miệt đến vậy, nên Thaddée chết vì những vết thương mà anh cố tình tự gây cho bản thân mình. Được nghe thấy nàng nói hẳn nàng sẽ yêu anh rồi chết?… chàng si tình khốn khổ hẳn sẽ thấy cuộc đời mình đã được hoàn trả đủ mức. Những nỗi sợ của hoàn cảnh trước đây đối với anh còn đáng thích thú hơn so với phải sống gần nàng, phủ lên nàng đầy tràn những hào phóng của anh mà không được coi trọng, không được hiểu. Rốt cuộc, anh muốn món tiền chuộc của đức hạnh nơi nàng. Anh gầy đi võ vàng, anh ốm nặng đến nỗi, bị một cơn sốt thiêu đốt, trong tháng Giêng anh buộc phải nằm liệt giường nhưng không muốn mời bác sĩ. Bá tước Adam cảm thấy những mối lo lắng lớn cho Thaddée tội nghiệp của chàng. Nữ bá tước thì tàn nhẫn nói riêng với chồng: “Để mặc anh ta thôi, anh không thấy là anh ta đang trải qua một cơn sám hối khổng lồ à[100]?” Câu nói này mang lại cho Thaddée lòng can đảm của nỗi tuyệt vọng, anh nhỏm dậy, ra khỏi nhà, thử vài trò giải khuây và khỏe lại. Quãng tháng Hai, Adam thua bạc một khoản khá tại Jockey-Club, và vì sợ vợ, chàng đến gặp Thaddée, cầu xin anh nhận khoản này anh đã dùng trong các tiêu tốn với Malaga.

“Có gì là lạ thường đâu nếu cô diễn viên đó khiến anh tốn mất hai mươi nghìn franc? Chuyện này chỉ liên quan đến mình tôi; trong khi nếu nữ bá tước biết là tôi đã mất chúng do thua bạc, tôi sẽ bị cô ấy coi thường; hẳn cô ấy sẽ thấy lo ngại cho tương lai.

- Lại còn thế nữa! Thaddée kêu lên, để buột ra một tiếng thở dài thật sâu.

- A! Thaddée, giúp tôi đi, chúng ta sẽ hết nợ với nhau, nếu không phải tôi bắt đầu mang nợ anh.

- Adam, cậu sẽ có con, đừng đánh bạc nữa”, đại úy nói.

“Malaga lại làm chúng ta tốn thêm hai mươi nghìn franc! nữ bá tước kêu lên vài hôm sau đó sau khi biết sự hào phóng mà Adam dành cho Paz. Mười nghìn trước đây, thế là tổng cộng ba mươi nghìn! một nghìn năm trăm lợi tức, bằng số tiền trả để giữ lô của em ở Italiens, tài sản cho cả đống tư sản… Ồ! người Ba Lan các anh, nàng nói, trong lúc hái những bông hoa trong nhà kính đẹp đẽ của mình, các anh thật là khó tin thật đấy. Anh không tức tối chút nào à?

- Paz tội nghiệp ấy…

- Paz tội nghiệp đó, Paz tội nghiệp, nàng nhắc lại, ngắt lời chàng, anh ta có lợi ích gì cho chúng ta đây? Em sẽ tự tay cai quản nhà cửa, em! Anh sẽ đưa cho anh ta một trăm louis[101] tiền lợi tức mà anh ta từng từ chối, để anh ta tự xoay xở theo ý thích với Rạp Xiếc Olympique.

- Anh ấy rất hữu ích cho chúng ta, chắc chắn anh ấy đã tiết kiệm cho chúng ta hơn bốn mươi nghìn franc từ một năm nay. Rốt cuộc, thiên thần yêu quý, anh ấy đã thay mặt chúng ta gửi một trăm nghìn franc ở chỗ Rothschild, một tên quản lý tài sản hẳn đã xoáy mất của chúng ta món ấy…

Clémentine dịu lại, nhưng nàng vẫn không bớt phần khắc nghiệt với Thaddée. Vài hôm sau, nàng mời Paz đến gặp tại phòng boudoir nơi một năm về trước nàng đã kinh ngạc đến thế khi so sánh anh với bá tước; lần này, nàng tiếp riêng anh, chẳng hề thấy trong chuyện này có chút nguy hiểm nào.

“Paz thân mến của tôi, nàng nói với anh vẻ thân tình không hậu ý của những người trên nói với thuộc hạ, nếu anh yêu Adam như anh vẫn nói, anh sẽ làm một điều mà anh ấy sẽ không bao giờ yêu cầu anh làm, nhưng tôi, vợ của anh ấy, tôi không do dự đòi ở anh…

- Liên quan đến Malaga, Thaddée nói, với một sự châm biếm sâu sắc.

- Ừ thì! đúng, nàng nói, nếu anh muốn kết thúc những ngày của anh cùng chúng tôi, nếu anh muốn chúng ta vẫn là bạn tốt, thì hãy bỏ cô ta đi. Làm sao mà một người lính cũ…

- Tôi mới ba lăm tuổi thôi, anh nói, và chưa có lấy một sợi tóc bạc[102]!

- Anh có vẻ có tóc bạc đấy, nàng nói, cũng vậy mà thôi. Làm sao mà một người tính toán giỏi như thế, xuất sắc như thế…”

Thật rùng rợn vì câu này được nàng nói với một chủ ý hiển nhiên là đánh thức ở anh sự cao quý tâm hồn mà nàng nghĩ đã tắt ngấm.

“Xuất sắc như anh vốn dĩ, nàng nói tiếp sau một quãng dừng thoáng qua gây ra bởi một động tác của Paz, mà lại để dính bẫy như một đứa trẻ! Cuộc phiêu lưu của anh đã biến Malaga thành người nổi tiếng… Ừ thì! ông cậu tôi đã muốn gặp cô ta, và ông ấy đã gặp. Cậu tôi không phải người duy nhất, Malaga tiếp tất tật các quý ông đó rất thịnh tình… Tôi đã tưởng anh có tâm hồn cao quý… Chậc! Xem nào, đối với anh đó sẽ là một mất mát lớn đến nỗi không thể sửa chữa à?

- Thưa bà, nếu tôi biết đến một sự hy sinh nào có thể thực hiện để giành lại sự coi trọng của bà, thì nó sẽ mau chóng được thực hiện; nhưng bỏ Malaga thì không thuộc vào đó…

- Ở địa vị của anh, đó cũng là điều tôi sẽ nói nếu giả dụ tôi là đàn ông, Clémentine đáp. Ừ thì! nếu tôi coi đó là một sự hy sinh lớn, chẳng có gì phải tức tối đâu.”

Paz rời khỏi đó, sợ là mình phạm phải một điều xuẩn ngốc, anh cảm thấy những ý nghĩ điên rồ xâm chiếm lấy mình. Anh ra ngoài dạo chơi cho thoáng khí, ăn vận phong phanh mặc cho trời lạnh, mà không sao tắt đi nổi những ngọn lửa trên mặt và vầng trán. “Tôi đã tưởng anh có tâm hồn cao quý!” Câu nói này, anh vẫn nghe thấy văng vẳng. “Thế mà chỉ mới cách đây một năm, anh tự nhủ, cứ nghe Clémentine nói thì hẳn mình đã một mình đánh bại tụi Nga!” Anh nghĩ đến chuyện bỏ lại dinh thự Laginski, xin phục vụ trong các đội binh Ottoman và rồi bị giết chết bên châu Phi; nhưng anh bị ngăn lại bởi một nỗi lo khủng khiếp. “Không có mình, họ sẽ ra sao? họ sẽ sớm khánh kiệt. Nữ bá tước tội nghiệp! cuộc sống sẽ tồi tệ đến mức nào đối với nàng nếu tiền lợi tức chỉ giảm xuống mức ba mươi nghìn livre? Nào, anh tự nhủ, bởi vì đối với mình nàng đã mất rồi, can đảm lên, và ta hãy làm cho xong việc.”

Ai cũng biết rằng kể từ năm 1830 carnaval tại Paris đã có một sự phát triển phi thường, nó trở nên có tầm vóc châu Âu và bởi vậy rất hài, rất sôi động so với carnaval Venise quá cố. Có phải, với các sản nghiệp giảm sút trầm trọng, người Paris đã nghĩ ra trò vui thú tập thể, giống như với các câu lạc bộ của mình họ tạo ra các phòng khách không có các bà chủ nhà, không sự lịch thiệp và rẻ tiền? Dẫu có là thế nào, tháng Ba nhan nhản các vũ hội như thế, nơi nhảy nhót, đùa cợt, vui đùa lố bịch, điên loạn, các hình ảnh kệch cỡm và những lời nhạo báng được chuốt nhọn bởi tinh thần Paridiêng đạt tới các hiệu ứng khổng lồ. Cơn điên này khi ấy có phố Saint-Honoré là tụ điểm chính, và có Musard là Napoléon[103] của nó, đó là một người đàn ông lùn tịt được sinh ra để điều hành một thứ âm nhạc cũng mãnh liệt giống như đám đông lộn xộn, và để chỉ huy galop, thứ nhạc xoay tròn điên loạn ấy, một trong những vinh quang của Auber, bởi vì galop mới chỉ có hình dạng và thơ ca riêng kể từ khúc galop lớn Gustave[104]. Chẳng phải đoạn kết hùng vĩ này có thể được dùng làm biểu tượng cho một thời kỳ khi, kể từ năm mươi năm, mọi thứ diễu qua với sự chóng vánh của một giấc mơ? Thế nhưng, Thaddée nghiêm trang, mang một hình ảnh thần thánh không tì vết trong tim, đến đề xuất với Malaga, nữ hoàng của các điệu nhảy carnaval, đến diễn một đêm tại vũ hội Musard, khi anh được biết nữ bá tước, cải trang đến tận răng, sẽ đến xem, cùng hai phụ nữ trẻ khác có chồng họ hộ tống, cảnh tượng kỳ khôi của một trong những vũ hội quái đản đó. Ngày thứ Ba béo năm 1838, lúc bốn giờ sáng, nữ bá tước, quấn mình trong một cái áo choàng domino màu đen và ngồi trên các bậc khán đài của một trong các khán phòng của căn phòng khổng lồ kia, nơi kể từ khi Valentino biểu diễn các công xe của mình[105], nhìn thấy diễu qua trong màn galop Thaddée trong vai Robert Macaire[106] dẫn nữ kỵ sĩ vận trang phục nàng mọi rợ, đầu cắm đầy lông chim giống một con ngựa tế, và nhảy tưng tưng phía trên các nhóm người, như một ánh ma trơi đích thực.

“A! Clémentine nói với chồng, người Ba Lan các anh, các anh đúng là những người không có tính cách. Ai mà dám không tin lời Thaddée? Anh ta đã hứa với em, mà không biết em sẽ ở đây nhìn thấy mọi thứ nhưng không bị trông thấy.”

Vài hôm sau, nàng mời Paz ăn tối. Sau bữa ăn, Adam để họ lại với nhau, và Clémentine mắng mỏ Thaddée theo lối khiến anh cảm thấy nàng không muốn có anh ở nhà nữa.

“Vâng, thưa bà, Thaddée nhún nhường nói, bà nói đúng, tôi là một kẻ chẳng ra gì, tôi đã hứa rồi. Nhưng bà muốn gì nào? tôi đã định lùi ngày chia tay với Malaga ra sau carnaval… Vả lại, tôi sẽ thẳng thắn: người phụ nữ ấy cuốn hút tôi mạnh mẽ đến nỗi…

- Một phụ nữ bị đám cảnh binh tống cổ ra khỏi chỗ của Musard, và bởi một điệu nhảy mới gớm guốc làm sao!

- Tôi công nhận, tôi sai rồi, tôi sẽ rời nhà của bà; nhưng bà cũng biết Adam rồi đấy. Nếu tôi bỏ lại cho bà dây cương tài sản, bà sẽ cần hết sức mạnh tay. Tôi mắc trọng tội liên quan đến Malaga, nhưng tôi lại biết để mắt đến các áp phe của hai người, trông coi người làm và săn sóc từng chi tiết nhỏ nhặt. Vậy nên hãy để tôi chỉ rời hai người sau khi đã thấy bà đủ sức tiếp tục sự quản lý của tôi. Giờ đây bà lấy chồng cũng đã được ba năm rồi, và bà đã thoát khỏi những điên rồ đầu tiên mà tuần trăng mật gây ra. Các phụ nữ Paris, những người có tước hiệu cao nhất, ngày nay đã trở nên rất giỏi trong việc cai quản một sản nghiệp và một ngôi nhà… Vâng! chừng nào tôi đã chắc chắn, về năng lực của bà thì ít hơn là về sự cứng rắn của bà, tôi sẽ rời khỏi Paris.

- Đây đang là Thaddée của Vác-sa-va nói, chứ không phải Thaddée của Rạp Xiếc, nàng đáp. Chừng nào đã được chữa lành thì hãy quay về với chúng tôi.

- Chữa lành?… không bao giờ, Paz nói, cụp mắt xuống nhìn đôi bàn chân xinh đẹp của Clémentine. Bà không biết, thưa bà bá tước, những gì người phụ nữ ấy sở hữu ở khía cạnh đậm đà và bất ngờ trong tinh thần đâu.” Cảm thấy lòng can đảm đang tụt mất, anh nói thêm: “Trên đời này không có người phụ nữ nào, với các dáng vẻ õng ẹo rất riêng, ngang bằng được với bản tính thẳng băng của con thú non như thế đâu…

- Vấn đề là tôi chẳng hề muốn có gì giống thú vật hết”, nữ bá tước nói, ném về phía anh một ánh mắt rắn hổ mang lên cơn lôi đình.

Tính từ buổi sáng ấy trở đi, bá tước Paz nói cho Clémentine các chi tiết công việc, tự biến mình thành gia sư của nàng, chỉ bảo cho nàng những điểm khó khăn trong quản lý tài sản, giá thật của các thứ và cách thức để không bị người ta ăn cắp quá nhiều. Nàng có thể trông cậy vào Constantin và biến anh ta thành quản gia. Thaddée đã đào tạo Constantin. Đến tháng Năm, anh thấy nữ công tước đã hoàn toàn đủ sức điều hành tài sản của nàng; bởi vì Clémentine thuộc vào số các phụ nữ có cái nhìn chuẩn xác, trực cảm tốt và ở họ thiên tài của nữ chủ nhà là bẩm sinh.

Cái tình thế được Thaddée dẫn dắt với chừng ấy tự nhiên ấy có một trở ngại khủng khiếp cho anh, bởi vì những đau đớn không hề êm dịu như anh từng tưởng. Người tình khốn khổ này đã không tính đến sự ngẫu nhiên trong một điều. Thế nhưng, Adam đổ bệnh rất nặng. Thaddée, thay vì đi khỏi, trở thành hộ lý cho bạn. Sự tận tụy của viên đại úy không biết tới mệt mỏi. Một phụ nữ nảy ra ham muốn sử dụng kính viễn vọng của sáng suốt hẳn đã nhìn thấy trong sự anh hùng của đại úy có một dạng trừng phạt mà các tâm hồn cao quý tự bắt mình phải chịu nhằm đè nén những suy nghĩ vô ý xấu xa[107]; nhưng các phụ nữ nhìn thấy mọi thứ hoặc không thấy gì hết, tùy thuộc vào cấu hình tâm hồn họ: tình yêu là ánh sáng duy nhất của họ.

Trong vòng bốn mươi lăm ngày, Paz thức, chăm sóc Mitgislas mà không tỏ vẻ gì là có nghĩ đến Malaga, vì nguyên do tuyệt hảo là anh chưa từng bao giờ nghĩ đến cô. Chứng kiến Adam sắp chết nhưng chưa hấp hối, Clémentine triệu tập những bác sĩ nổi tiếng nhất.

“Nếu anh ta thoát được, bác sĩ thông thái nhất lên tiếng, thì đó chỉ có thể là nhờ một nỗ lực của tự nhiên. Những người chăm sóc anh ta phải rình thời điểm đó và hỗ trợ thêm cho tự nhiên. Cuộc sống của bá tước nằm trong tay các hộ lý của anh ta.”

Thaddée truyền đạt lại bản án này cho Clémentine, lúc đó đang ngồi dưới cái đình Trung Quốc[108], vừa để hồi sức sau những mỏi mệt vừa để các bác sĩ được tự do không bị làm phiền. Đi theo các công tua của lối đi rải cát dẫn từ phòng boudoir tới tảng đá trên đó căn đình Trung Quốc được dựng, người tình của Clémentine như thể đang ở dưới đáy một vực thẳm từng được Alighieri miêu tả[109]. Con người bất hạnh ấy đã không lường trước khả năng trở thành chồng của Clémentine và đã tự giam cầm mình trong một hố bùn. Anh tới, khuôn mặt méo mó, trở nên trác tuyệt vì đau khổ. Mặt anh, giống như mặt Méduse[110], truyền đi nỗi tuyệt vọng.

“Anh ấy chết rồi?… Clémentine hỏi.

- Họ đã kết án cậu ấy; ít nhất, họ giao phó cậu ấy lại cho tự nhiên. Đừng vào vội, họ vẫn còn ở đó, và Bianchon[111] sẽ đích thân tháo bỏ các máy móc.

- Tội nghiệp quá! tôi tự hỏi đôi khi tôi có hành hạ anh ấy hay không, nàng nói.

- Bà đã làm cậu ấy rất hạnh phúc, hãy yên tâm về điều này, Thaddée nói, và bà đã rất độ lượng với cậu ấy…

- Mất mát của tôi sẽ là không thể hàn gắn.

- Nhưng, thưa bà yêu quý, giả dụ bá tước không qua được, thì chẳng phải bà đã phán xử cậu ấy từ trước ư?

- Tôi đã yêu anh ấy không phải một cách mù quáng, nàng đáp; nhưng tôi từng yêu anh ấy như một người vợ phải yêu chồng mình.

- Vậy thì bà, Thaddée nói tiếp, bằng một cái giọng mà Clémentine không nhận ra, hẳn sẽ ít tiếc nuối hơn so với nếu mất đi một trong những con người là niềm kiêu ngạo của bà, tình yêu của bà và cả cuộc đời bà, của các phụ nữ! Bà có thể thành thực với một người bạn như tôi… Tôi sẽ tiếc cậu ấy, tôi!… Rất lâu trước đám cưới của hai người, tôi đã biến cậu ấy thành con của tôi, và tôi đã hy sinh cuộc đời tôi cho cậu ấy. Vậy nên trên đời này tôi sẽ chẳng còn lợi ích gì hết. Nhưng cuộc đời vẫn còn đẹp với một bà góa hăm tư tuổi.

- Này! anh biết rõ là tôi chẳng yêu ai, nàng nói, với vẻ hung tợn của nỗi đau đớn.

- Bà còn chưa biết yêu nghĩa là như thế nào, Thaddée nói.

- Ồ! so sánh giữa các loại chồng, tôi đủ trí tuệ để thích một đứa trẻ giống như Adam tội nghiệp của tôi hơn là một con người vượt trội. Đã sắp tròn ba mươi ngày kể từ khi chúng ta nói với nhau: Anh ấy sẽ sống hay không? Các khả năng ấy đã chuẩn bị kỹ càng cho tôi, cũng như anh thôi, trước mất mát này. Tôi có thể thẳng thắn với anh. Ừ thì! tôi sẵn sàng cho đi cuộc đời tôi để giữ cuộc đời của Adam. Sự độc lập của một phụ nữ tại Paris, chẳng phải đó là sự cho phép buông mình vào những trò vờ vịt yêu đương của những kẻ khánh kiệt hoặc phá tán tài sản đấy ư? Tôi đã cầu Chúa để lại cho tôi người chồng thật vui tươi này, thật tốt tính, ít quấy rầy đến thế, và đã bắt đầu biết sợ tôi.

- Bà nói rất thật, và tôi càng yêu bà hơn vì thế, Thaddée nói, cầm lấy tay Clémentine hôn, nàng để anh làm vậy. Trong những thời khắc trang trọng như thế này, có cái gì đó không rõ thật sung sướng khi thấy một phụ nữ không đạo đức giả. Người ta có thể nói chuyện với bà. Ta có thấy tương lai không? Hãy giả dụ Chúa không nghe lời bà, và tôi là một trong những người thích hợp nhất để hét lên với Người: “Hãy để bạn tôi lại cho tôi!” Phải, năm mươi đêm vừa qua đã không làm mắt tôi yếu đi, và nếu cần ba mươi ngày ba mươi đêm chăm sóc nữa, thì bà cứ ngủ đi, thưa bà, còn tôi sẽ thức trông. Tôi sẽ giật được cậu ấy khỏi cái chết nếu, như họ nói, ta có thể cứu cậu ấy nhờ sự chăm sóc. Xét cho cùng, mặc cho bà và mặc cho tôi, bá tước đã chết. Vâng, nếu bà yêu cậu ấy, ồ! nhưng được yêu bởi một người đàn ông có tấm lòng và tính cách xứng đáng với bà…

- Có lẽ tôi đã điên cuồng muốn được yêu, nhưng tôi còn chưa từng bao giờ gặp…

- Nếu bà đã nhầm…”

Clémentine nhìn Thaddée chằm chằm, đoán ở anh ít tình yêu hơn là một suy nghĩ hám lợi, nàng bao trùm sự khinh miệt của mình lên anh bằng cách chiếu ánh mắt vào anh từ chân lên đầu, và nghiền nát anh bằng mấy từ này: “Malaga khốn khổ!” được phát ra theo ba tông giọng mà chỉ các bà lớn mới biết cách tìm ra trong kho ngôn ngữ cao ngạo của họ. Nàng đứng dậy, để lại Thaddée ngất xỉu, bởi vì nàng không hề ngoái đầu, bước đi với một chuyển động cao quý về phòng boudoir của mình và lên phòng Adam.

Một tiếng sau, Paz trở về căn phòng của người ốm; và như thể không phải vừa lĩnh cú đòn chết người, anh tiếp tục chăm sóc bá tước. Kể từ thời khắc định mệnh ấy anh trở nên yên tĩnh; vả lại anh có một cuộc đấu tay đôi với căn bệnh, anh chiến đấu với nó theo cách thức khơi dậy lòng ngưỡng mộ nơi các bác sĩ. Vào bất cứ giờ nào người ta cũng thấy hai mắt anh sáng trưng như hai ngọn đèn. Không hề biểu lộ chút giận dỗi nào đối với Clémentine, anh nghe những lời cảm ơn của nàng mà không nhận lấy, như thể anh bị điếc. Anh tự nhủ: “Nàng sẽ phải nợ mình cuộc sống của Adam!” và lời nói này, anh viết nó ra, có thể nói là vạch bằng lửa trong căn phòng người ốm. Đến ngày thứ mười lăm, Clémentine buộc lòng phải giảm bớt các chăm sóc của nàng, trước nguy cơ sẽ gục ngã trước nỗi mệt. Paz thì không biết đến mệt mỏi. Rốt cuộc, quãng cuối tháng Tám, Bianchon, bác sĩ của gia đình, tuyên bố với Clémentine là bá tước sẽ sống.

“A! thưa bà, đừng thấy biết ơn tôi chút nào hết, ông nói. Nếu không có người bạn của ông ấy hẳn chúng ta đã không thể cứu nổi ông ấy rồi!”

Ngày hôm sau cảnh khủng khiếp dưới cái đình Trung Quốc, hầu tước de Ronquerolles đến thăm cháu; bởi vì ông sắp lên đường sang Nga để lo một công vụ bí mật, và Paz, đờ đẫn vì thiếu ngủ đã nói vài lời với nhà ngoại giao. Thế nhưng, cái ngày bá tước Adam và vợ lần đầu tiên ra ngoài bằng xe ngựa, đúng lúc cỗ xe chuẩn bị rời chỗ thềm nhà, một viên cảnh binh bước vào sân dinh thự và hỏi bá tước Paz. Thaddée, đang ngồi phía trước xe, ngoái đầu lại để nhận một bức thư dán tem bộ Ngoại giao và bỏ vào túi bên cái áo, bằng một động tác ngăn cản Clémentine và Adam nhắc đến nó. Ta không thể chối là những người thượng lưu rất giỏi bộ môn ngôn ngữ không nói ra lời. Tuy nhiên, khi tới cửa ô Maillot, Adam, dụng đến các ưu tiên của một người mới ốm dậy mà những đỏng đảnh phải được thỏa mãn, nói với Thaddée: “Chẳng có gì là bí mật giữa hai anh em yêu quý nhau giống như chúng ta yêu quý nhau, anh biết bức thư chứa gì bên trong, nói với tôi đi, tôi phát sốt vì tò mò rồi đây.”

Clémentine nhìn Thaddée với dáng vẻ của người phụ nữ tức giận và bảo với chồng: “Anh ấy dỗi với em từ hai tháng nay dữ đến mức em sẽ tránh không nằn nì thêm.

- Ồ! Chúa ơi, Thaddée dáp, vì tôi sẽ không thể ngăn các báo đăng tin này, tôi sẽ nói luôn điều bí mật: hoàng đế Nicolas ban cho tôi đặc ân, phong tôi làm đại úy tại một  trung đoàn sắp hành quân đi Khiva[112].

- Và anh sẽ đi? Adam kêu lên.

- Tôi sẽ đi, bạn thân mến ạ. Tôi đã đến với cấp bậc đại úy, tôi quay trở lại vẫn là đại úy… Malaga có thể sẽ khiến tôi làm nhiều trò ngu xuẩn. Ngày mai chúng ta sẽ ăn tối cùng nhau lần cuối. Nếu tôi không khởi hành đi Saint-Petersburg vào tháng Chín, thì tôi sẽ phải tới đó bằng đường bộ[113], mà tôi thì không giàu, tôi phải để lại cho Malaga sự độc lập nhỏ mọn của cô ta. Làm sao có thể không chăm lo cho tương lai người phụ nữ duy nhất từng biết cách hiểu tôi? cô ấy thấy tôi vĩ đại, Malaga ấy! Malaga thấy tôi đẹp! có lẽ Malaga không chung thủy với tôi, nhưng cô ấy sẵn sàng lao vào…

- Vào cái vòng tròn vì anh và sẽ rơi rất chuẩn xác xuống lưng con ngựa của cô ta, Clémentine mau mắn nói.

- Ồ! bà không biết Malaga rồi, đại úy nói, với một sự cay đắng sâu sắc và một ánh mắt tràn ngập châm biến khiến Clémentine trở nên mơ mộng và lo lắng.

- Vĩnh biệt những cây non của khu rừng Boulogne tươi đẹp này nơi phụ nữ Paris dạo chơi, nơi những kẻ lưu đày tìm thấy một tổ quốc ở nơi đây dạo chơi. Tôi chắc chắn rằng mắt tôi sẽ chẳng còn nhìn thấy lại những cây xanh trên lối đi Quý Cô, cũng như các cây trên đường Quý Bà, rồi thì những cây keo, cũng như cây bách của các bùng binh… Trên các bến bờ châu Á, tuân theo các dự đồ của hoàng đế vĩ đại mà tôi đã muốn trở thành chủ nhân của tôi, có lẽ lên đến chức vụ chỉ huy một đội quân nhờ lòng can đảm, nhờ chơi rỡn với tính mạng, có lẽ tôi sẽ tiếc Champs-Élysées nơi bà từng, có một lần, mời tôi lên ngồi cạnh. Rốt cuộc, tôi sẽ luôn luôn nuối tiếc những khắc nghiệt của Malaga, Malaga mà tôi đang nhắc đến vào lúc này.”

Những lời ấy được nói theo cách thức khiến Clémentine phải run rẩy.

“Tức là anh rất yêu Malaga? nàng hỏi.

- Tôi đã hy sinh cho nàng cái danh dự mà chúng tôi không bao giờ hy sinh…

- Danh dự nào?

- Nhưng… danh dự mà chúng tôi muốn giữ bằng mọi giá trong mắt thần tượng của chúng tôi.”

Sau câu trả lời ấy, Thaddée giữ một sự im lặng bất khả xâm nhập nhất; anh chỉ phá vỡ nó khi đi qua Champs-Élysées, nơi anh nói, tay chỉ vào một tòa nhà dựng bằng ván gỗ: “Kia là Rạp Xiếc!”

Trước bữa tối anh đến đại sứ quán Nga một lúc, từ đó sang bộ Ngoại giao, và sáng ra anh đi Le Havre trước khi nữ bá tước và Adam ngủ dậy.

“Anh đã mất một người bạn, Adam nói, nước mắt lưng tròng khi biết tin bá tước Paz đã đi khỏi, một người bạn theo đúng nghĩa của từ này, và anh không biết điều gì đã làm anh ấy bỏ chạy khỏi nhà anh giống như chạy một nạn dịch. Bọn anh không phải bạn bè cự tuyệt nhau vì một phụ nữ, anh nói, nhìn Clémentine chăm chăm, và thế nhưng tất cả những gì anh ấy nói hôm qua về Malaga… Nhưng anh ấy chưa từng bao giờ chạm đầu ngón tay vào cô gái đó…

- Sao anh biết? Clémentine hỏi.

- Nhưng lẽ dĩ nhiên anh đã nảy ra tò mò đến gặp cô Turquet, và cô gái tội nghiệp vẫn còn chưa tự giải thích được về thái độ dè dặt tuyệt đối của Thad…

- Đủ rồi đấy, thưa ông”, nữ bá tước nói, nàng rút về phòng, tự nhủ: “Lẽ nào mình lại là nạn nhân cho một sự lừa dối trác tuyệt?”

Nàng vừa nói xong câu ấy trong lòng, thì Constantin đưa cho Clémentine bức thư sau đây, mà Thaddée đã nguệch ngoạc trong đêm.


“Thưa nữ bá tước, đi đến Caucase để cho mình bị giết và mang theo lòng khinh bỉ của nàng, thật là quá mức: vậy thì người ta phải chết hoàn toàn. Tôi đã nâng niu nàng khi nhìn thấy nàng lần đầu tiên giống như người ta nâng niu một phụ nữ mà người ta lúc nào cũng yêu, ngay cả sau sự thiếu chung thủy của nàng ấy, tôi đây vốn dĩ là người chịu ơn của Adam, cậu ta đã chọn nàng và nàng đã cưới cậu ta, tôi đây nghèo khổ, tôi đây người quản lý tự nguyện, tận tâm với nhà của nàng. Trong nỗi đau khổ kinh khiếp ấy, tôi đã tìm được cuộc đời tuyệt diệu nhất. Được trở thành một mắt xích không thể thiếu ở nhà nàng, biết trở nên hữu ích cho sự xa xỉ của nàng, cho sự thoải mái của nàng, là cả một nguồn hân hưởng; và nếu những hân hưởng ấy mới chỉ là sống động trong tâm hồn thôi khi đó là Adam, xin hãy đánh giá nó trở nên như thế nào lúc một phụ nữ được yêu kính trở thành nguyên tắc và hiệu ứng của chúng! Tôi đã biết đến những khoái cảm mẫu tử trong tình yêu: tôi đã chấp nhận cuộc sống như vậy. Tôi đã, giống những người nghèo trên đường lớn, dựng một căn nhà bằng sỏi trên rìa lãnh địa đẹp của nàng, mà chẳng chìa tay cho nàng. Nghèo và bất hạnh, mù quáng vì hạnh phúc của Adam, tôi từng là người cho đi. A! nàng từng được bao quanh bởi một tình yêu thuần khiết như tình yêu của một thiên thần hộ mệnh, hắn canh thức trong lúc nàng ngủ, hắn dùng ánh mắt ve vuốt nàng lúc nàng đi qua, hắn hạnh phúc được ở đó, rốt cuộc nàng từng là mặt trời của tổ quốc đối với kẻ lưu đày khốn khổ kia, hắn đang viết thư cho nàng, nước mắt lưng tròng khi nghĩ tới hạnh phúc của những ngày đầu tiên. Mười tám tuổi, chưa từng yêu ai, tôi đã coi là người tình lý tưởng một phụ nữ quyến rũ ở Vác-sa-va, với người ấy tôi kể lại những suy nghĩ, những ham muốn của mình, nữ hoàng của những ngày và những đêm của tôi! Người phụ nữ ấy chẳng hề biết gì, nhưng tại sao lại phải nói cho nàng ấy?… tôi! tôi yêu tình yêu của tôi. Hãy đánh giá, căn cứ vào cuộc phiêu lưu hồi trẻ đó của tôi, tôi đã hạnh phúc đến thế nào khi sống trong tầng cầu có sự tồn tại của nàng, được chải lông con ngựa của nàng, được tìm kiếm những mẩu vàng mới thêm vào cho túi tiền của nàng, được coi sóc những huy hoàng bàn ăn của nàng và những bữa tiệc của nàng, được thấy nàng làm lu mờ các tài sản lớn hơn tài sản của nàng nhờ tài khéo của tôi. Với lòng hăng hái như thế nào tôi đã lao vào Paris khi Adam bảo tôi: “Thaddée, nàng muốn cái này cái kia!” Đó là một trong những ân sủng không thể diễn tả. Nàng từng muốn mấy thứ đồ lặt vặt, trong một khoảng thời gian hạn định, chúng đã buộc tôi chạy long tóc gáy, phải phóng xe chạy suốt bảy tiếng đồng hồ, và những khoái cảm mới lớn lao làm sao khi được đi lo việc cho nàng! Được nhìn thấy nàng cười tươi giữa những bông hoa của nàng, mà không để cho nàng nhìn thấy, tôi đã quên mất rằng chẳng có ai yêu tôi… rốt cuộc hồi ấy tôi chẳng có gì ngoài tuổi mười tám của tôi. Có những ngày niềm hạnh phúc khiến tôi quay cuồng đầu óc, đêm đến tôi tới hôn lên nơi, đối với tôi, bàn chân nàng đã để lại những dấu vết rực sáng, như ngày xưa tôi từng thực hiện những phép mầu của tên kẻ trộm để đến hôn cái chìa khóa mà nữ bá tước Ladislas đã chạm tay vào khi mở một cánh cửa. Không khí mà nàng hít thở có tính chất chữa bệnh, đối với tôi có nhiều cuộc sống hơn để khát khao, và tôi đã ở đó giống, như người ta hay nói, ở miền nhiệt đới, ngập tràn một làn hơi chất chứa các nguyên tắc của sáng tạo. Phải nói rõ cho nàng những điều này thì mới giải thích được cho nàng sự tự phụ kỳ quặc của những suy nghĩ vô ý nơi tôi. Hẳn tôi sẽ chết trước khi thú nhận với nàng bí mật của tôi! Hẳn nàng còn nhớ vài ngày hiếu kỳ trong đó nàng đã muốn gặp tác giả các phép mầu rốt cuộc cũng đã khiến được nàng sửng sốt. Tôi đã nghĩ, xin thứ lỗi cho tôi, thưa bà, tôi đã nghĩ là nàng yêu tôi. Sự trìu mến của nàng, những ánh mắt nàng được diễn giải bởi một người tình, đối với tôi quá mức nguy hiểm, nên tôi đành tự tạo ra Malaga, biết rằng có những mối quan hệ mà phụ nữ chẳng thể nào tha thứ; tôi đã tự tạo ra cô ta vào đúng cái lúc tôi thấy tình yêu của tôi đang truyền đi một cách định mệnh. Giờ đây hãy ném hết lên tôi nỗi khinh miệt mà nàng từng vốc đầy tay đổ lên tôi mặc dù tôi chẳng xứng phải chịu như vậy; nhưng tôi nghĩ chắc chắn rằng cái buổi tối khi dì nàng đưa bá tước đi, nếu tôi nói với nàng những gì tôi vừa viết, chỉ cần nói xong thôi, tôi đã trở nên giống như con hổ được thuần hóa đã cắm răng trở lại vào thịt sống, nó bốc lên hơi nóng của máu, vân vân…

“Nửa đêm,

“Tôi đã không thể tiếp tục, kỷ niệm về cái giờ khắc ấy vẫn còn quá sống động! Phải, khi ấy tôi đã lên cơn điên loạn. Niềm Hy Vọng nằm trong cặp mắt nàng, Chiến Thắng và những ngọn cờ đỏ của nó chừng như bừng lên trong mắt tôi và thu hút mắt nàng. Tội lỗi của tôi là đã nghĩ tất tật những thứ ấy, có lẽ là nghĩ sai. Chỉ nàng mới có thể là người xét xử cho cái cảnh khủng khiếp đó, nơi tôi đã có thể dồn nén tình yêu, ham muốn, những thứ lực khó chiến thắng nhất của người đàn ông dưới bàn tay băng giá của một lòng biết ơn phải là vĩnh viễn. Sự khinh bỉ khủng khiếp của nàng đã trừng phạt tôi. Nàng đã chứng tỏ cho tôi rằng người ta không thể quay trở lại từ nỗi kinh tởm cũng như lòng khinh. Tôi yêu nàng đến phát điên phát rồ. Chỉ cần tôi đi, Adam sẽ chết; tôi phải đi vì lý do còn mạnh hơn, Adam đã được cứu sống. Người ta không giật bạn của mình khỏi vòng tay cái chết để lừa anh ta. Vả lại, sự ra đi của tôi là đòn trừng phạt cho cái suy nghĩ mà tôi từng có là để mặc cậu ta chết khi các bác sĩ nói với tôi rằng cuộc sống của cậu ta phụ thuộc vào các hộ lý. Vĩnh biệt, thưa bà; tôi mất mọi thứ khi rời Paris, và nàng chẳng mất gì khi không còn ở bên cạnh nàng

“Con người tận tụy của nàng
Thaddée Paç.”


“Nếu Adam tội nghiệp của mình nói đã mất đi một người bạn, thì mình đã mất đi gì đây, mình ấy? Clémentine tự nhủ, người nàng rũ ra và ánh mắt dán chặt lên một bông hoa trên thảm.

Đây là bức thư mà Constantin bí mật đưa cho bá tước.


“Mitgislas thân mến, Malaga đã kể hết với tôi. Nhân danh hạnh phúc của cậu, đừng bao giờ buột miệng nói với Clémentine lời nào về những lần cậu đến chỗ Malaga; và hãy để cô ấy luôn luôn nghĩ rằng Malaga đã làm tôi tiêu tốn một trăm nghìn franc. Với tính cách của mình, nữ bá tước sẽ không tha thứ cả cho những lần thua bạc cũng như những lần cậu đến chỗ Malaga đâu. Tôi không đi Khiva, mà đi Caucase. Tôi lên cơn sầu muộn; và với đà tiến của tôi, tôi sẽ trở thành hoàng thân Paz trong vòng ba năm tới, hoặc chết. Vĩnh biệt; dẫu cho tôi đã rút sáu mươi nghìn franc ở chỗ Rothschild, chúng ta không còn nợ nần gì với nhau.

Thaddée.”


“Sao mình ngu thế! thiếu điều thì lúc nãy mình đã tiêu rồi”, Adam tự nhủ.

Thaddée đi đã được ba năm, báo chí còn chưa nhắc đến một hoàng thân Paz nào. Nữ bá tước Laginska hết sức quan tâm đến các cuộc hành quân của hoàng đế Nicolas, nàng là người Nga ở tấm lòng, nàng đọc gần như hau háu mọi tin tức từ đất nước ấy. Một hay hai lần mỗi mùa đông, nàng nói vẻ hờ hững với ông đại sứ: “Cậu có biết bá tước Paz tội nghiệp của bọn cháu ra sao rồi không?”

Hỡi ôi! phần lớn phụ nữ Paris, những tạo vật được coi là sáng suốt và nhiều trí tuệ như vậy, đi qua và sẽ luôn luôn đi qua bên cạnh một Paz mà không nhìn thấy. Phải, hơn một Paz chẳng được biết tới; nhưng, điều đáng sợ khi nghĩ tới! có những người giống như vậy không được biết tới ngay cả khi họ được yêu. Người phụ nữ giản dị nhất trên đời vẫn cứ đòi ở người đàn ông vĩ đại nhất chút ít vớ vẩn phù phiếm; và tình yêu đẹp nhất cũng chẳng có ý nghĩ gì khi nó quá thô ráp: nó cần được dàn dựng kỹ lưỡng, trang phục và đồ kim hoàn.

Tháng Giêng năm 1842, nữ bá tước Laginska, ăn vận lộng lẫy bằng nỗi sầu muộn dịu dàng, gây ra niềm đam mê dữ dội nhất ở bá tước de La Palférine[114], một trong những sư tử[115] lừng lẫy nhất của Paris hiện nay. La Palférine hiểu chinh phục một phụ nữ bị canh giữ bởi một Ảo Tượng là khó đến mức nào, anh ta trông chờ, để lôi kéo người phụ nữ quyến rũ ấy, vào một cú bất ngờ cùng lòng tận tâm của một phụ nữ hơi ghen với Clémentine, và sẽ là người sẵn sàng tạo ra sự ngẫu nhiên cho bất ngờ này.

Mặc cho toàn bộ trí tuệ, không đủ khả năng nghi ngờ một sự phản bội giống thế, nữ bá tước Laginska phạm một sự thiếu thận trọng là đi cùng người được gọi là bạn gái đó tới vũ hội hóa trang ở Opera[116]. Quãng ba giờ sáng, bị lôi cuốn bởi sự say sưa của vũ hội, Clémentine, mà La Palférine đã trưng bày tất tật những quyến rũ của mình, nhận lời đi ăn khuya và sắp leo lên cỗ xe của người bạn giả đò kia. Đúng vào cái giây phút kịch tính ấy, nàng bị ôm lấy bởi một cánh tay mạnh mẽ và mặc cho những tiếng la hét, bị lôi lên xe của nàng, cửa đã mở sẵn, và nàng không hề biết là đang ở đó.

“Anh ta đã không rời khỏi Paris”, nàng kêu lên khi nhận ra Thaddée đang chạy biến đi vào lúc cỗ xe chở nữ bá tước đã lăn bánh.

Đã từng bao giờ phụ nữ có một cuốn tiểu thuyết như vậy trong đời chưa? Giờ khắc nào, Clémentine cũng hy vọng gặp lại Paz[117].


Paris, tháng Giêng 1842

-----------

[1] Cf. chú thích số 29 của Ferragus.
[2] Nhân vật hầu tước du Rouvre (cùng con gái) được Balzac tạo ra lần đầu tiên trong Ursule Mirouët, tức là không lâu trước Nàng tình nhân hờ (Ursule Mirouët đăng báo lần đầu tiên năm 1841, còn Nàng tình nhân hờ được viết năm 1842), nhưng khi đó còn chưa được miêu tả rõ rệt.
[3] Thoạt tiên, Balzac định đặt tên nhân vật của mình là Adam Wenceslas Laginski, sau đổi lại, từ Adam Wenceslas thành Adam Mitgislas; Wenceslas là tên người chồng của bà Hanska (thời điểm của Nàng tình nhân hờ, tức là năm 1842, người chồng ấy còn chưa chết), người tình lâu dài của Balzac. Nàng tình nhân hờ là một câu chuyện đặc biệt đối với Balzac, vì ngoài nhiều ý nghĩa khác, nó còn liên quan rất nhiều đến đất nước Ba Lan của người tình.
[4] Thật ra điều này sai; dẫu quả thật các từ tiếng Ba Lan tạo cảm giác có rất nhiều phụ âm, tiếng Ba Lan không hề có ít nguyên âm.
[5] “Cậu” hay “bác”? dường như không thể xác quyết được điều này, cũng như ở nhiều trường hợp khác; xem thêm chú thích số 53 của Người phụ nữ tuổi ba mươi.
[6] Tương tự, như trên, không thể chắc đây là “dì” hay “bác”; thêm một lần nữa, cặp anh em (hay chị em?) này lại xuất hiện, cũng như ở Ferragus, Nữ công tước de Langeais và một số tác phẩm khác; hầu tước de Ronquerolles và bà de Sérizy thuộc vào số các nhân vật phụ rất quan trọng của Vở kịch con người, có thể coi là những mối nối tuy nhỏ nhưng hết sức hữu ích, và được Balzac sử dụng rất nhiều lần.
[7] Bối cảnh là cuộc xâm chiếm Algérie của Pháp, khởi đầu năm 1830; trong vòng khoảng hai chục năm kể từ đó, các chiến dịch được gọi dưới cái tên chung là “chống Abd-el-Kader”, trong đó có trận Macta mà Balzac nhắc đến ở đây (trận đánh xảy ra vào cuối tháng Sáu năm 1835, như vậy là ngay trước đám cưới của Clémentine và Adam).
[8] Đây là một trong rất nhiều ví dụ về việc Balzac chỉ trích “Code Civil” ban hành thời Napoléon; cụ thể hơn, Balzac đang muốn nói đến việc bộ luật này bỏ chế độ quyền lợi con trưởng trong gia đình.
[9] Florine là một trong những nhân vật ngày nay sẽ được gọi là “gái bao” xuất sắc nhất mà Balzac từng tạo ra; đó là một nữ diễn viên bắt đầu sự nghiệp rất sớm, khi còn chưa đầy mười lăm tuổi, có tình nhân đầu tiên là Étienne Lousteau, một nhân vật cũng xuất hiện nhiều trong Vở kịch con người; tất nhiên Florine xuất hiện trong Bước thăng trầm của kỹ nữ, nhưng ngoài đó ra còn đóng vai trò lớn trong những câu chuyện thuộc Une fille d’Ève (Một người con gái của Eva): Florine khi ấy là tình nhân của nhà văn Raoul Nathan, hoặc Un début dans la vie (Một đoạn đầu đời); tính tổng cộng, Florine xuất hiện trong ít nhất mười lăm tác phẩm của Vở kịch con người.
[10] Tức là triều vua Louis-Philippe, “ông vua-công dân”, giai đoạn hay được gọi là Nền quân chủ tháng Bảy, bắt đầu từ Cách mạng tháng Bảy năm 1830 đến Cách mạng tháng Hai năm 1848; đây là quãng thời gian có đặc điểm nổi bật là giới tư sản Pháp trỗi dậy mãnh liệt; đoạn sau của Nàng tình nhân hờ sẽ cho thấy rõ hơn điều đó.
[11] “Sarmate” là cách gọi bắt nguồn từ Hérodote, trỏ những người du mục thảo nguyên ở xứ Scythie; nhìn chung, người Ba Lan có thể được gọi là “sarmate”, người Rumani, “valaque”, vì các nguyên do lịch sử; trong danh sách liệt kê của Balzac, cần để ý “Rzewuski”, mà Balzac thích thú cho vào: đó chính là họ (nhũ danh) của bà Hanska, như ta thấy ở lời đề tặng của Séraphîta.
[12] Cf. chú thích số 39 của Albert Savarus.
[13] Mấy chốn “cao cấp” của Paris một thuở; đặc biệt, độc giả của À la recherche du temps perdu hẳn biết rõ “Jockey-Club”.
[14] Những năm này, “vấn đề Ba Lan” rất nổi bật trong tranh luận chính trị ở Pháp.
[15] Cf. chú thích số 17 của Mặt bên kia của lịch sử hiện thời.
[16] Balzac ám chỉ các đội quân lê dương Ba Lan gia nhập quân đội Pháp; năm 1796, khi nhà nước Ba Lan sụp đổ, tướng Dombrowski lưu vong sang Pháp, lập các đội quân Ba Lan ở đây; quân Ba Lan tham gia chiến đấu ngay từ chiến dịch Ý, tức là khi Napoléon còn chưa trở thành Tổng tài; trong miêu tả cuộc duyệt binh năm 1813 ở đầu Người phụ nữ tuổi ba mươi, ta cũng thấy nhắc đến những người lính Ba Lan trong đội quân của Napoléon.
[17] Sa hoàng Nicolas của nước Nga ở thời điểm này đang “xử lý” Ba Lan.
[18] Đây chính là thời điểm của “chiến tranh nha phiến” bên Viễn Đông; một dịp tốt để Balzac tiếp tục nói xấu người Anh.
[19] Jósef Antoni Poniatowki (1763-1813): cháu của vua Ba Lan, từng gia nhập quân đội Phổ, lên đến lon đại tá, trở về Ba Lan, chiến đấu chống Nga, liên minh với Napoléon, tham gia nhiều cuộc chiến tranh dưới sự chỉ huy của Napoléon, lập nhiều công trạng ở vị trí tư lệnh quân đoàn số 5 Ba Lan của Đội Quân Vĩ Đại, đặc biệt trong Chiến dịch Nga năm 1812; năm 1813, Poniatowski tham gia Chiến dịch Đức, được Napoléon đặc cách phong thống chế của Đế chế ngày 16 tháng Mười năm 1813 ngay khi trận Leipzig bắt đầu (đây là vị tướng nước ngoài duy nhất được hưởng vinh dự này); ba hôm sau, ngày 19, khi quân Pháp thua trận rút lui, Poniatowski chết đuối lúc vượt sông Elster (chi tiết cái chết này của Poniatowski sẽ được nhắc đến trong Nàng tình nhân hờ); Balzac nhiều lần nhắc đến Poniatowki trong Vở kịch con người, chẳng hạn ở Mặt bên kia của lịch sử hiện thời.
[20] Poniatowski không phải là vua, nhưng Napoléon, sau khi Poniatowski đã chết, từng nhắc đến, và coi đó mới là vị vua đích thực của Ba Lan.
[21] Nhìn chung rất khó hiểu thực sự Balzac muốn nói gì ở đây.
[22] Joachim Lelewel (1786-1861), đóng vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng năm 1830; sau khi Vác-sa-va bị chiếm đóng, đang là thành viên chính phủ lâm thời, Lelewel sang Pháp tị nạn, nhưng cuối cùng bị đẩy đến Bỉ; hoàng thân Adam-Georges Czartoriski (1770-1861) là người đứng đầu chính phủ lâm thời Ba Lan năm 1831, cũng sang Paris để tị nạn, rất bị giới chính trị cấp tiến Pháp ghét.
[23] Dante Alighieri (Vở kịch con người của Balzac lấy nhiều nét, nhất là ở cấu trúc, từ Kịch Thần của Dante) cũng từng là một người bị phát vãng, do các tranh chấp chính trị tại thành phố Florence.
[24] Một nhân vật có thể quay trở lại theo cách đơn giản như thế này, trong Vở kịch con người; dường như Rastignac ở thời điểm này đang là bộ trưởng.
[25] Một nhân vật hết sức hấp dẫn của Vở kịch con người: dòng dõi quý tộc, làm thị đồng cho Napoléon từ khi mười hai tuổi, trở thành tay chơi khét tiếng, có đặc biệt nhiều tình nhân, xuất hiện trong hơn hai mươi tác phẩm thuộc Vở kịch con người.
[26] Trích Thánh Vịnh.
[27] Thêm lần nữa: khái niệm “lãnh thổ trung lập”, như ta đã thấy ở chẳng hạn Ferragus hay Albert Savarus.
[28] Balzac đặc biệt ưa thích mỉa mai phụ nữ Anh; cf. đoạn đầu Albert Savarus.
[29] Ám chỉ đến tác phẩm Bucoliques của Virgile, nhà thơ La Mã (ánh mắt nhìn xiên xiên của lũ dê đực).
[30] Khi miêu tả sự “cao cấp” của người Ba Lan, thế nào Balzac cũng nhắc đến gia đình Radzivill; bà Hanska có họ hàng với gia đình này.
[31] Phố La Pépinière cũng xuất hiện trong nhiều tác phẩm khác của Vở kịch con người (ngày nay là phố La Boétie; nhà văn Eugène Sue, tác giả Những bí ẩn thành Paris, sống ở phố này, và các miêu tả dinh thự nhà Laginski ở đây có vay mượn từ nhà của Sue).
[32] Dường như ở đây Balzac muốn nói đến nhà hát thì đúng hơn là đại lộ (về đại lộ Italiens: cf. chú thích số 13): vì có nhà hát Théâtre-Italien, còn gọi là Opéra-Comique, cũng như “Italiens”, nên đại lộ này mới được đặt tên như vậy.
[33] Một trong các “nhân vật nữ lớn” của Vở kịch con người, một “nữ hoàng của faubourg Saint-Germain”, cũng là “nữ hoàng của Paris”; xem thêm chú thích số 36 của Ferragus; ngay đoạn sau cũng sẽ nhắc đến danh hiệu “nữ hoàng của Paris”.
[34] Các nhân vật nữ được kể tên ở đây đều có câu chuyện rất đáng nhớ trong Vở kịch con người; chẳng hạn, Marie de Vandenesse là vợ của Félix de Vandenesse, nhân vật chính của Bông huệ trong thung (câu chuyện chính của Marie nằm ở Une fille d’Ève tức Một người con gái của Eva), du Guénic là Sabine de Grandlieu, vợ của Calyste du Guénic, câu chuyện chủ yếu được kể trong Béatrix.
[35] Balzac không bỏ qua cái gì hết: ở đây là bàn về kiến trúc, và sẽ còn được tiếp tục triển khai rộng lớn, chi tiết hơn nhiều trong Les petits bourgeois (Đám tiểu tư sản); dẫu nhìn nhận như thế nào, cũng phải công nhận Balzac rất chuẩn xác khi nói đến nhà cửa của giới tư sản, nhà giàu mới nổi (nouveau riche).
[36] Ở đây, cụ thể Balzac nói đến quan tòa “président à mortier”: một chức quan tòa án của thời “Ancien Régime” (thời trước Cách mạng 1789), quyền hành rất lớn, sở dĩ có tên như vậy là vì họ mặc một cái áo thụng gọi là “mortier”, nhung đen thêu vàng.
[37] “Sân” (cour) và “vườn” (jardin) làm nên đặc trưng cho nhà ở của quý tộc Pháp ngày xưa, từ đó có thành ngữ “phía sân” (côté cour), “phía vườn” (côté jardin).
[38] Nhà kính (serre) trồng cây rất mốt thời ấy; phòng boudoir: cf. chú thích số 72 của Ferragus.
[39] Jean-Marie Jacques, còn gọi là Carle Elschoët (1791-1856): điêu khắc gia, tác giả quần thể tượng đặt chỗ bồn nước quảng trường Concorde ngày nay; Jean-Baptiste-Jules Klagmann (1810-1867): điêu khắc gia nổi tiếng.
[40] Ta thấy ở đây một cách thức rất đặc trưng của Balzac trong Vở kịch con người: vừa nhắc đến hai họa sĩ có thật (và nổi tiếng) thời ấy, thì sau đó là một nhân vật do Balzac tạo ra; Hyppolite Schinner xuất hiện rất sớm, trong La Bourse (Cái túi tiền); Un début dans la vie (Một đoạn đầu đời) nhắc đến Schinner theo đường lối rất hài hước: Joseph Bridau học trò của Schinner vờ mình chính là Schinner để trêu chọc người khác; Schinner cũng xuất hiện trong Pierre Grassou, tác phẩm tàn khốc nhất thuộc Vở kịch con người về thế giới họa sĩ, cũng như trong La Rabouilleuse.
[41] Cf. chú thích số 24 của Một vụ việc ám muội.
[42] Nhân vật lừng lẫy của lịch sử La Mã.
[43] Cf. chú thích số 18.
[44] “Pavillon chinois”: thêm một cái mốt khác của thời ấy.
[45] Ý muốn nói xứ nhiệt đới.
[46] Balzac luôn luôn nói đến muôn vàn thứ đồ lặt vặt trong các căn phòng phụ nữ.
[47] Wenceslas Steinbock, nhân vật do Balzac tạo ra, xuất hiện chủ yếu trong La Cousine Bette, một điêu khắc gia.
[48] Balzac cũng chính là một trong các thiên tài lúc nào cũng bị đám chủ nợ rượt theo sát đít.
[49] Félicie de Fauveau (1803-1880) thì lại là một nhân vật có thật, từng thuộc đoàn tùy tùng của nữ công tước de Berry năm 1832 (thời điểm “Vendée của phe chính thống”, mà bà de Berry là thủ lĩnh); Balzac từng gặp cô de Fauveau.
[50] “Khuấy động” và “bị khuấy động”: ta gặp ý tưởng này (khi Balzac miêu tả xã hội nói chung) ở nhiều nơi trong Vở kịch con người, chẳng hạn đoạn đầu Mặt bên kia của lịch sử hiện thời.
[51] Tên chính xác của trường kỷ này là “méridienne”.
[52] Hiện nay hay được viết là “farniente” hơn: từ này xuất phát từ tiếng Ý, kết hợp “fare” nghĩa là “làm” và “niente” nghĩa là “không gì cả”: farniente nghĩa là lười nhác.
[53] Đã được Balzac miêu tả chi tiết trong Le Père Goriot; Nucingen xuất hiện rất nhiều trong Vở kịch con người, câu chuyện chính được kể trong La Maison Nucingen, xếp ngay sau César Birotteau và trước Bước thăng trầm của kỹ nữ (câu chuyện nam tước de Nucingen mê mẩn một “kỹ nữ” hết sức nổi tiếng); đến cả vợ của Nucingen là Delphine cũng xuất hiện rất nhiều (cf. chú thích số 36 của Ferragus), và đến cả người giữ két của Nucingen là Castanier cũng trở thành nhân vật chính cho một tác phẩm của Vở kịch con người: Melmoth réconcilié (thuộc các “étude triết học”).
[54] Tombaki (hay tombéki): “tabac” phương Đông, loại thuốc hút rất thơm (thật ra khá là tởm).
[55] Dường như Balzac không rành trò domino cho lắm, nên câu này khá tối tăm: ở đây là một trò chơi chữ, “Pazpartout” vừa chứa tên “Paz” vừa làm người ta nghĩ ngay đến “passe-partout” (vạn năng), có điều ở trò domino không có “passe-partout” (cũng có thể Balzac chế giễu cách nói năng của nữ bá tước Laginska).
[56] Từ tiếng Ý, ý muốn nói bá tước nhả cái miệng tẩu ra (tẩu ở đây là “narguilé”, chứ không phải “pipe”).
[57] Thêm một phụ nữ tóc vàng; cf. chú thích số 4 của Người phụ nữ tuổi ba mươi.
[58] “Keepsake” (một từ tiếng Anh) là một trong những từ xuất hiện đặc biệt nhiều trong Vở kịch con người; nó dùng để trỏ một thứ hồi ấy rất mốt: quyển sách ảnh mà người ta hay dùng để tặng nhau.
[59] Dường như Balzac đang ám chỉ (một cách khó hiểu) đến một tác phẩm nghệ thuật, một bức tranh hay đúng hơn, một bức tượng.
[60] Thêm một so sánh không dễ hình dung nữa của Balzac: Transtevere là một khu phố đông dân ở Rome, nhưng từ đâu có chuyện các chàng trai ở đây thì đẹp? rất khó nói, dẫu sao Balzac cũng vài lần dùng cách so sánh này trong Vở kịch con người.
[61] Ở đây Balzac chơi chữ, dùng hai từ gần âm với nhau để so sánh: giữa một “hiệp sĩ” (paladin) và một “palatin”, tên gọi một chức quan ở Ba Lan.
[62] Thật ra nên dịch thành “bạn sống chết” hoặc “bạn sống chết có nhau” là rất hoàn hảo, có điều cụm từ này sẽ còn xuất hiện trở lại với hoàn cảnh ra đời của nó.
[63] Ta nhớ là ở đoạn trước, khi miêu tả chung về Ba Lan, Balzac từng dùng cụm từ “cộng hòa quý tộc”.
[64] Không phải ở đâu cũng có tước hiệu “đại công tước”.
[65] Ngày 8 tháng Chín năm 1831, cuộc nổi dậy của người Ba Lan đi đến kết cục: một nhân vật quan trọng của Ba Lan giao nộp Vác-sa-va cho người Nga, nghĩ là như vậy thì sẽ tránh được thảm sát, nhưng các đồng bào Ba Lan của nhân vật này cho rằng đó là một hành động phản bội.
[66] Ý nói đã cứu ai thì phải cứu cho đến nơi đến chốn; sông Styx là con sông ở âm phủ.
[67] Tiếng Ý, nghĩa là “thế nên”; đây là một từ Balzac rất thích dùng; vả lại, trong bối cảnh câu chuyện, vợ chồng Laginski mới đi Ý về.
[68] Ta gặp lại một tư thế hết sức đặc trưng cho các nhân vật nam của Vở kịch con người.
[69] Balzac đã chọn cái tên này cho nhân vật của mình theo tên Thaddée Wylezynski, một người anh em họ của bà Hanska.
[70] Dường như trong đời Balzac từng có lần bị một người Genoa lừa đảo.
[71] Cf. chú thích số 24 của Albert Savarus.
[72] Quả thật, ở thời điểm của câu chuyện, diễn viên Gilbert-Louis Duprez bắt đầu lừng danh, trở thành giọng tenor thứ nhất ở Opera, và năm 1837 diễn vai Arnold trong Guillaume Tell (tức là William Tell hoặc Wilhelm Tell) của Rossini; Rossini là một nhạc sĩ quan trọng, được bình luận rất nhiều lần trong Vở kịch con người.
[73] Cf. chú thích số 79 của Ferragus.
[74] Cf. Molière; ở đây Adam muốn nói Paz đang giả vờ.
[75] Nhà thờ nằm ở quận 7, Paris; ở đây muốn nói đến đám cưới của vợ chồng Adam và Clémentine.
[76] Tiếng Ý, nghĩa là “một nghìn linh ba” (theo truyền thuyết, từng có tổng cộng một nghìn linh ba phụ nữ qua tay don Juan).
[77] Thêm một loại thuốc hút có mùi rất thơm khác, ngoài “tomboki” (cf. chú thích số 54); “lataki” (hay đúng hơn là “latakiéh”) là loại thuốc được trồng ở Thổ Nhĩ Kỳ.
[78] Biết ơn và vô ơn, bội bạc thuộc vào những suy tư trung tâm của toàn bộ Vở kịch con người; dường như Balzac thấy đây là một vấn đề đặc biệt quan trọng.
[79] Ở đây trình bày một trong những ý tưởng lớn nhất của Vở kịch con người: Balzac muốn xây dựng nó thành “vòng” quả và “vòng” nhân trong mối “quan hệ nhân quả”, với phần các “étude triết học” dùng để đi tới với “nhân”.
[80] Không thực sự rõ lắm là loại trà kỳ diệu nào.
[81] Các gia đình quý tộc Pháp có dinh thự ở faubourg Saint-Germain, Paris, nhưng họ có đất riêng ở nơi khác, thường là tại các tỉnh; mùa đông, họ ở Paris, nhưng mùa hè thì thường đến sống trên đất của mình (ban đầu, họ của các gia đình quý tộc chính là tên đất của họ: chẳng hạn Alexis de Tocqueville quả thật có đất riêng là “Tocqueville”), gọi là nghỉ ngơi nhưng cũng đồng thời để tiết kiệm, sau những hoang phí của mùa tiệc tùng; ngay đoạn sau của Nàng tình nhân hờ sẽ cho ta thấy rõ hơn điều này.
[82] “Gastrite” (viêm dạ dày) là một trong những bông hoa trong các châm biếm của Balzac; Balzac rất thích nhắc đến nó, coi nó là một căn bệnh của thời đại ở phụ nữ; ta bắt gặp rất nhiều bệnh nhân “gastrite” trong Vở kịch con người, có lẽ còn nhiều hơn bệnh nhân lao phổi.
[83] Cf. chú thích số 28 của Albert Savarus.
[84] Cf. chú thích số 36 của Ferragus; theo “tiểu sử”, de Marsay làm bộ trường giai đoạn 1832-1833, tức là đầu thời Quân chủ tháng Bảy, dưới sự trị vì của Louis-Philippe.
[85] Trong mắt Balzac, nước Ý là chốn của sự khúm núm quá đà.
[86] Thêm một lần nữa: mô típ “yêu và được yêu”.
[87] Vở ba lê của Taglioni, nhạc của Labarre.
[88] Thêm một lần nữa: trò chơi của các tấm gương soi trong những phòng khách thượng lưu.
[89] Cụ thể hơn, đây là loại ghế “bergère”.
[90] Đây là một rạp xiếc, Cirque Olympique; lịch sử cụ thể của nó, người ta không biết rõ, chỉ biết rằng nó là một rạp xiếc mùa hè trên đại lộ Champs-Élysées, sẽ đóng cửa khi tới mùa đông.
[91] Quả thật là có một gia đình Bouthors (chứ không phải Bouthor) chủ một gánh xiếc lưu động; gia đình Franconi lập ra rạp xiếc Olympique.
[92] Balzac rất rành rọt thế giới của các nữ ca sĩ và nghệ sĩ múa Paris; ta thấy điều này ở nhiều tác phẩm thuộc Vở kịch con người.
[93] Tức là cuốn tiểu thuyết Peveril of the Peak của Walter Scott; nhân vật chính trong đó là Alice Bridgenorth; Scott là một trong những nhà văn được Balzac nhắc đến nhiều nhất trong Vở kịch con người.
[94] Nhân vật của hài kịch Ý, típ các lão già ngu ngốc và thớ lợ.
[95] Cf. chú thích số 19.
[96] Đề nghị google.
[97] Tất nhiên mụ Chapuzot không rành ngôn ngữ luật pháp lắm.
[98] Tức là hiệu cầm đồ.
[99] Louis d’Assas là một quý tộc người Pháp thế kỷ XVIII, chết trên chiến trường; Voltaire viết về d’Assas và làm cho d’Assas cùng cái chết trở nên nổi tiếng; ở đây Balzac muốn nói đến sự hy sinh.
[100] Ở đây nữ bá tước dùng từ “olympique”, vừa có nghĩa “to lớn” vừa ám chỉ tới tên của rạp xiếc.
[101] Một louis thường ăn 20 franc; cf. chú thích số 25 của Viên bác sĩ nông thôn.
[102] Thêm một trong rất nhiều nhân vật đàn ông 35 tuổi của Balzac.
[103] Năm 1833, Philippe Musard (1793-1859) lập ra trên phố Saint-Honoré nhà hát Concert Musard, năm 1836 thì chuyển về phố Vivienne; là chỉ huy dàn nhạc, Musard tạo ra các điệu nhảy rất sôi động.
[104] Tức là tác phẩm Gustave III ou le Bal masqué, vở opera của Auber, phần lời của Scribe; ở màn V có khúc ngựa phi nước đại (galop) lừng danh kia.
[105] Valentino ở đây là tên một chỉ huy dàn nhạc của nhà hát Opera.
[106] Nhân vật tướng cướp nổi tiếng, do Frédérick Lemaître tạo ra.
[107] Ở đây có một điều kỳ cục: Balzac muốn nói rằng Thaddée Paz ngấm ngầm mong Adam Laginski chết, thế nhưng trong đời thực, bản thân Balzac hẳn cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự, mong muốn cái chết của Hanski, chồng bà Hanska; tuy nhiên, khi Balzac viết những dòng này, quả thật Hanski đã chết (ngày 10 tháng Mười một năm 1841) nhưng Balzac còn chưa biết tin (đến ngày 5 tháng Giêng 1842 mới biết).
[108] Trong Vở kịch con người, nhiều cảnh đáng nhớ diễn ra tại những cái “đình Trung Quốc” mà các nhà giàu Pháp thời ấy hay cho xây dựng trong nhà mình; cf. chú thích số 44.
[109] Cf. Kịch Thần của Dante Alighieri, phần “Địa Ngục”.
[110] Không biết Méduse (Medusa) thì tốt nhất đừng bao giờ đọc tiểu thuyết.
[111] Bác sĩ Horace Bianchon, một trong những nhân vật trọng yếu nhất của Vở kịch con người; cf. chú thích số 36 của Ferragus.
[112] Khanat độc lập khỏi Tây Turkestan (nay thuộc Uzbekistan); năm 1839, Sa hoàng Nicolas sai quân sang đánh Khiva nhưng thất bại.
[113] Ý nói sẽ đi đường biển; tháng Bảy năm 1843, Balzac cũng sẽ đi bằng con đường này để đi gặp bà Hanska; một chuyến từ Đông Âu trở về Pháp bằng đường bộ đã gây ra bệnh tật dẫn tới cái chết của Balzac mấy năm sau đó.
[114] Nhân vật ăn chơi trác táng, với câu chuyện cuộc đời được Balzac thuật lại một cách tuyệt kỹ trong Un prince de la Bohème (Một ông hoàng của giới lưu đãng).
[115] “Sư tử” (lion): cf. Albert Savarus, đoạn miêu tả Amédée de Soulas.
[116] Vũ hội hóa trang ở Opera cũng là cảnh mở đầu Bước thăng trầm của kỹ nữ.
[117] Còn lại một nhân vật còn chưa được bàn đến nhiều trong các chú thích trên đây: Malaga; ta dễ tưởng tượng, sau khi tạo ra một nhân vật hấp dẫn như thế, có lai lịch đặc biệt như thế, đi từ tầng đáy xã hội lên tới “trung giới” của những phụ nữ khó nắm bắt, Balzac sẽ không bỏ qua Malaga; quả thật, Malaga còn xuất hiện ở nhiều tác phẩm khác nữa thuộc Vở kịch con người, chẳng hạn Un prince de la Bohème (cf. chú thích số 113), ngoài ra Malaga còn có vai trò ở một số cuốn sách khác.




[tiện bút] Đọc Balzac ở Hà Nội
VII. Người phụ nữ tuổi ba mươi
VI. Viên bác sĩ nông thôn
Trở về cổ điển: Balzac - Vở kịch con người
V. Một vụ việc ám muội
IV. Albert Savarus (phần 1)

(phần 2)
III. Séraphîta
II. Ferragus (phần 1)

(phần 2)
I. Mặt bên kia của lịch sử hiện thời
Vinh quang và một cốc nước cho Honoré de Balzac

2 comments:

  1. This comment has been removed by the author.

    ReplyDelete
  2. trời ơi kỹ nghệ SEO xiếc, content con tiếc giờ đã lên đến trình độ này rồi cơ à

    viết hay quá, cứ như nhà báo chuyên nghiệp

    ReplyDelete