Aug 12, 2017

Merleau-Ponty: Văn xuôi thế giới

Maurice Merleau-Ponty (xem thêm ở kia) là một tinh thần tuyệt đẹp mà tinh thần Pháp từng sản sinh được. Merleau-Ponty, chứ không phải Jean-Paul Sartre. Merleau-Ponty có một người bạn rất thân là Claude Lévi-Strauss: con đường của tinh thần Pháp có được tiếp nối hay không ở một thế hệ như thế hệ sinh ra trong thập niên đầu tiên của thế kỷ 20 là nhờ nhiều vào hai con người ấy, Merleau-Ponty và Lévi-Strauss (một nhân vật nữa, cũng thuộc thế hệ này: Emmanuel Levinas, mà chúng ta sẽ sớm động tới), chứ không phải Sartre. Ở đây chắc hẳn ít nhất vài người từng đọc La Pensée sauvage của Lévi-Strauss rồi chứ nhỉ.

La Pensée sauvage của Lévi-Strauss xuất bản năm 1962, đó là cuốn sách chống lại Sartre. Nhưng nói đúng hơn, Lévi-Strauss gạt Sartre sang một bên, chứ không tranh luận với Sartre.

Năm 1962 là một năm sau khi Merleau-Ponty qua đời. Trước đó chừng chục năm đã xảy ra cuộc đoạn tuyệt giữa Merleau-Ponty và Sartre. Thập niên 60 của thế kỷ 20 là thời điểm của một thế hệ khác nữa: đến giữa thập niên 60 (nhất là năm 1966), đã rõ ràng rằng Barthes, Foucault và thêm một số người như Genette, đưa tinh thần chung đi vào con đường khác.

Merleau-Ponty qua đời năm 1961. Ở thời điểm ấy, Merleau-Ponty chủ yếu là tác giả của Phénoménologie de la perception (Hiện tượng luận tri giác), một trong những tác phẩm lớn nhất của lịch sử triết học. Nhưng sau đó rồi, một số di cảo của Merleau-Ponty được xuất bản, trong đó đáng kể hơn cả là Le Visible et l'invisibleLa Prose du monde (Văn xuôi thế giới); cả hai tác phẩm này đều được Claude Lefort phụ trách thực hiện bản thảo.

Là tác phẩm posthumous, là tác phẩm dở dang, nhưng Le Visible et l'invisibleLa Prose du monde vẫn cứ là những cuốn sách rất lớn. Vả lại, có điều gì nói lên rằng "hoàn chỉnh" thì hơn là "dở dang" không? Tuyệt đối không có. Paul Valéry nói rằng sự hoàn chỉnh chỉ là một tai nạn: mọi thứ đều phải dở dang. Ta sẽ, rất sớm, đến với Valéry. Không thể nghĩ ở Việt Nam có một nền nghiên cứu văn chương và triết học phương Tây đích thực được, khi mà không hề có gì về Paul Valéry suốt hơn một trăm năm vừa rồi.

Trong rất nhiều năm tháng, Sartre mốt khủng khiếp ở Việt Nam. Thế nhưng, tôi nghĩ đã thấy rất rõ, Sartre sẽ trở thành mốt khi nào xã hội Việt Nam trải qua một pha "bourgeois hóa" mãnh liệt. Đó là Sài Gòn thời điểm thập niên 60, là Việt Nam thập niên 90 và là giai đoạn mấy năm vừa rồi. Mặc cho mọi điều trông có vẻ nghịch lý đến đâu, Sartre mới đích thực là hiện thân của tinh thần bourgeois. Và mặc cho mọi vẻ bên ngoài, Sartre và Camus chính là biểu hiện lớn của sự không biết đọc ở tổng lượng độc giả nói chung.

Văn xuôi thế giới của Merleau-Ponty nằm trong loạt "đọc lý thuyết": tất nhiên khái niệm "lý thuyết văn học" của tôi mở ra khá rộng, ta sẽ còn bàn kỹ hơn về điều này, mối quan hệ giữa triết học và lý thuyết văn học, ở kia.


nhân tiện: đã thêm Aden Arabie của Paul Nizan (tất nhiên, Nizan và Merleau-Ponty không xa lạ gì với nhau)



Văn xuôi thế giới

Maurice Merleau-Ponty


Bóng ma của một ngôn ngữ thuần túy


Từ rất lâu rồi người ta nói năng trên trái đất và ba phần tư những gì người ta nói không được ai thấy. Một bông hồng, mưa rồi, trời đẹp quá, người thì sẽ chết. Đối với chúng ta đây là các trường hợp thuần túy của biểu đạt. Ta thấy dường như nó đạt đến mức độ toàn vẹn khi chỉ định không chút mờ mịt các sự kiện, vật trạng, tư tưởng hoặc liên hệ, bởi vì, ở đây, nó không để phải trông chờ gì nữa, nó không chứa đựng gì mà không bày ra và làm chúng ta trượt về phía thứ mà nó chỉ tới. Đối thoại, câu chuyện, chơi chữ, tâm sự, lời hứa, lời cầu nguyện, hùng biện, văn chương, nói tóm lại là cái ngôn ngữ lũy thừa hai ấy, nơi người ta chỉ nói đến các vật hay tư tưởng nhằm với tới một ai đó, nơi các từ hồi ứng các từ, thứ ngôn ngữ hối hả trong chính nó, tự xây dựng phía bên trên tự nhiên một vương quốc dày đặc tiếng vo ve và bừng sốt, chúng ta coi nó như là biến thể đơn giản của các hình thức quy ước phát ra một cái gì đó. Biểu đạt, khi ấy, chẳng là gì khác ngoài thay thế một tri nhận hoặc một tư tưởng bằng một dấu hiệu thỏa thuận, nó thông báo, gợi lên hoặc rút gọn cái đó. Tất nhiên, không chỉ có các câu có sẵn và một ngôn ngữ có khả năng chỉ đến những gì chưa bao giờ được nhìn thấy. Nhưng bằng cách nào mà nó làm được như vậy, nếu cái mới không được tạo nên từ các yếu tố cũ, đã được kinh nghiệm, nếu chẳng phải cái đó không thể được định nghĩa một cách đầy đủ nhờ tự vị và các mối quan hệ của cú pháp trong ngôn ngữ đang được sử dụng? Ngôn ngữ có một số lượng nhất định ký hiệu nền móng, liên kết theo đường lối võ đoán với các biểu nghĩa then chốt; nó có khả năng tái hình thành mọi biểu nghĩa mới xuất phát từ các biểu nghĩa kia, tức là nói chúng ra trong cùng ngôn ngữ, và xét cho cùng sự biểu đạt biểu đạt được là bởi vì nó đưa mọi kinh nghiệm của chúng ta quay trở về với hệ thống các tương ứng ban đầu giữa một ký hiệu nào đó và một biểu nghĩa nào đó, mà chúng ta đã nắm được khi học ngôn ngữ ấy, và hệ thống đó là tuyệt đối sáng sủa, vì không ý nghĩ nào lẩn quất trong các từ, không từ nào lẩn quất trong suy nghĩ thuần túy về một cái gì đó. Một cách bí mật, chúng ta thành kính trước lý tưởng ấy về một thứ ngôn ngữ, nó, cho tới sự phân tích chung quyết, hẳn sẽ tự giao nộp cho chúng ta bằng cách giao truyền chúng ta đến các vật. Một ngôn ngữ, đối với chúng ta là cái máy huyền hoặc đó, nó cho phép biểu đạt một số lượng vô tận suy nghĩ hoặc vật với một số lượng có hạn các ký hiệu, bởi vì chúng đã được lựa chọn sao cho có thể tái hình thành một cách chuẩn xác mọi thứ gì mới mẻ mà người ta có thể muốn nói, và có thể truyền đến sự hiển nhiên của những cách gọi tên ban đầu các vật.

Công việc ấy có thể được thực hiện, người ta có thể nói và viết, là bởi ngôn ngữ, cũng như niệm năng của Chúa, chứa đựng mầm mống mọi biểu nghĩa khả dĩ, là bởi mọi suy nghĩ của chúng ta đều được dành để được nó nói ra, là bởi mọi biểu nghĩa xuất hiện trong kinh nghiệm con người đều mang, ở trung tâm của nó, công thức của ngôn ngữ, cũng như, đối với những đứa trẻ con của Piaget, mặt trời mang trong trung tâm của nó tên của nó. Ngôn ngữ của chúng ta tìm thấy lại nơi tận sâu các vật một lời nói đã tạo ra chúng.

Những niềm tin ấy không chỉ thuộc về lương tri. Chúng ngự trị ở các bộ môn khoa học chính xác (nhưng không, như chúng ta sẽ thấy, ở ngôn ngữ học). Người ta sẽ không ngừng nhắc đi nhắc lại rằng khoa học là một ngôn ngữ rất hoàn chỉnh. Như thế cũng có nghĩa ngôn ngữ [langue] là khởi đầu của khoa học, thuật toán là hình thức trưởng thành của ngôn ngữ [langage: có thể hiểu rằng “langue” là khái niệm có mức độ trừu tượng cao hơn so với “langage”]. Thế nhưng, nó buộc các ký hiệu được lựa chọn vào với những biểu nghĩa xác định có chủ ý và không gây nhầm lẫn. Nó thiết lập một số lượng nhất định các mối liên hệ có đặc tính trong suốt; nó tạo ra, nhằm trình hiện chúng, các biểu tượng tự thân thì không nói lên gì hết, như vậy sẽ không bao giờ nói gì nhiều hơn so với những gì người ta đã thỏa thuận khiến chúng phải nói. Bằng cách ấy tự tách khỏi các trượt nghĩa có thể gây lẫn lộn, về nguyên tắc, có thể yên tâm là lúc nào cũng có thể chứng minh các phát ngôn của nó nhờ vào các định nghĩa ban đầu. Chừng nào cần phải biểu đạt trong cùng thuật toán các liên hệ mà nó không được tạo ra để phục vụ, hoặc, như người ta hay nói, các vấn đề “thuộc một hình thức khác”, có lẽ sẽ cần đưa vào các định nghĩa mới và các biểu tượng mới. Nhưng nếu thuật toán hoàn thành công việc của nó, nếu nó muốn là một thứ ngôn ngữ nghiêm ngặt và lúc nào cũng kiểm soát được các phép tính của mình, thì không được phép đưa vào đó bất kỳ thứ gì không hiển ngôn, xét cho cùng các liên hệ mới và cũ cần phải cùng nhau tạo ra một gia đình duy nhất, người ta cần phải thấy chúng được phái sinh từ một hệ thống duy nhất các liên hệ khả dĩ, sao cho không bao giờ có quá những gì người ta muốn nói so với những gì người ta nói hoặc những gì người ta nói so với những gì người ta muốn nói, ký hiệu cần phải tiếp tục là sự rút gọn đơn giản của một suy nghĩ lúc nào cũng có thể được giải thích và chứng minh hoàn toàn. Khi ấy phẩm hạnh duy nhất - nhưng có ý nghĩa quyết định - của biểu đạt là thay thế các ám chỉ rối loạn mà mỗi ý nghĩ của chúng ta có với mọi ý nghĩ khác thông qua các hành động biểu nghĩa, với chúng, chúng ta thực sự có trách nhiệm, bởi vì chúng ta biết chính xác phạm vi, trong việc chiêu hồi cuộc sống các suy nghĩ của chúng ta, và giá trị biểu đạt của thuật toán hoàn toàn nằm ở mối liên hệ không chút mù mờ của các biểu nghĩa phái sinh với các biểu nghĩa sơ khai, và của các biểu nghĩa sơ khai này với những ký hiệu tự thân không mấy ý nghĩa, nơi suy nghĩ chỉ tìm thấy những gì nó từng đặt vào đó.

Thuật toán, dự đồ về một ngôn ngữ phổ quát, là sự nổi loạn chống lại thứ ngôn ngữ có ở đó. Người ta không muốn bị phụ thuộc vào những rối loạn của nó, người ta muốn làm lại nó căn cứ theo sự thật, tái định nghĩa nó tùy theo suy nghĩ của Chúa, tái khởi đầu từ con số không lịch sử của lời nói, hay nói đúng hơn là giật lời nói ra khỏi lịch sử. Lời của Chúa, thứ ngôn ngữ trước ngôn ngữ ấy, mà chúng ta luôn luôn giả định là có, người ta không tìm thấy nó nữa trong các ngôn ngữ đang tồn tại, cũng như trộn lẫn vào với lịch sử và thế giới. Chính cái ngôn [verbe] bên trong mới là thẩm phán cho cái ngôn bên ngoài. Theo nghĩa đó, ta ở vào thế đối nghịch với các lòng tin ma thuật đặt từ mặt trời vào trong mặt trời [“lòng tin ma thuật” ở đây liên quan rất nhiều đến truyền thống nhìn nhận ngôn ngữ xuất phát từ Platon; lẽ dĩ nhiên, kể từ Ferdinand de Saussure, cách nhìn ngôn ngữ đã lệch hẳn đi khỏi trục cũ]. Tuy nhiên, được Chúa tạo ra cùng thế giới, được vận hành bởi Người và được tiếp nhận bởi chúng ta như một đấng cứu rỗi, hoặc giả được chuẩn bị trong niệm năng của Chúa nhờ hệ thống các khả thể bao bọc một cách chói ngời lấy thế giới rối loạn của chúng ta và được tìm lại bởi suy tư của con người, nó nhân danh sự phán truyền bên trong này mà sắp xếp sự hỗn độn của các ngôn ngữ lịch sử, xét cho cùng thì ngôn ngữ giống với các vật và các tư tưởng mà nó biểu đạt, nó là lớp lót của là [être], và người ta không hình dung được các từ hoặc tư tưởng đến với thế giới nếu không có các từ. Dẫu nó mang tính chất huyền thoại hay là khả tri, thì cũng có một nơi để mọi thứ gì là hoặc sẽ là cùng một lúc chuẩn bị được nói ra.

Ở nhà văn đây là một niềm tin nhất quyết. Cần phải luôn luôn đọc lại những câu đáng kinh ngạc sau đây của La Bruyère, được Jean Paulhan trích dẫn: “Giữa tất tật những cách biểu đạt khác nhau có thể dùng cho một suy nghĩ duy nhất trong số các suy nghĩ của chúng ta, chỉ có một cách biểu đạt đúng. Không phải lúc nào người ta cũng gặp được nó trong khi nói hoặc viết: tuy nhiên đúng là nó có tồn tại.” [trích từ Les Fleurs de Tarbes của Paulhan] Ông ấy biết gì về điều đó? Ông ấy chỉ biết rằng người nói hoặc viết trước tiên câm lặng, hướng về phía điều mà anh ta muốn biểu nghĩa, về phía điều mà anh ta sẽ nói, và rằng đột nhiên đợt sóng các từ đến trợ sức cho sự im lặng này, và mang tới cho nó một tương đương thật chuẩn xác, hết sức đủ để trả về cho bản thân nhà văn suy nghĩ của anh ta khi anh ta đã quên nó đi, đến nỗi cần phải tin rằng nó đã được phát ngôn ở mặt bên kia của thế giới. Ngôn ngữ ở đó như một thứ dụng cụ có thể dùng cho mọi mục đích, nó, với tự vị, các cách nói và hình thức đã phụng sự nhiều đến vậy của mình, luôn luôn đáp lại lời kêu gọi và sẵn sàng biểu đạt mọi thứ, là bởi vì ngôn ngữ là kho báu của mọi thứ gì người ta phải nói, bởi vì ở nó đã được viết sẵn toàn bộ kinh nghiệm tương lai của chúng ta, giống như số phận của con người được viết sẵn tại các vì sao. Vấn đề chỉ nằm ở chỗ gặp cái câu đã được làm sẵn ấy nơi vùng rìa của ngôn ngữ, tóm lấy những lời sượng đục mà hữu thể thì thầm. Cũng như chúng ta thấy rằng bạn bè của chúng ta, vốn dĩ là người như họ vốn dĩ, không thể có cái tên nào khác so với tên mà họ có, rằng khi cấp cho họ một cái tên người ta đã chỉ giải mã những gì từng được đòi hỏi bởi màu mắt đó, cái vẻ đó của khuôn mặt, dáng điệu đó - chỉ một số người bị đặt tên sai và mang suốt cuộc đời, giống một bộ tóc giả hay một cái mặt nạ, một cái tên lừa dối hoặc một tên giả [cũng có thể là “bút danh”] - biểu đạt và cái được biểu đạt tráo đổi theo một cách thức kỳ cục vai của chúng và, thông qua một dạng nhận thức đầy nhầm lẫn, ta thấy như thể sự biểu đạt đã ám ở đó từ muôn đời.

Nhưng nếu con người đào lên được một thứ ngôn ngữ tiền sử được nói ra trong các vật, nếu mà có, vẫn trong phạm vi những lời bập bẹ của chúng ta, một thời hoàng kim của ngôn ngữ nơi các từ bám thẳng vào các vật, thì sự giao tiếp chẳng hề có chút bí ẩn nào. Tôi chỉ ra ở bên ngoài tôi một thế giới đã cất tiếng nói giống như tôi đưa ngón tay chỉ vào một vật đã nằm sẵn trong thị trường của những người khác. Người ta nói rằng các biểu đạt của vẻ bên ngoài tự thân chúng cũng mờ mịt và rằng cái màu đỏ của khuôn mặt kia đối với tôi là khoái thú, xấu hổ, giận dữ, nóng bức hoặc giả màu đỏ của truy hoan tùy thuộc theo hoàn cảnh chỉ ra. Cũng vậy, cử động của ngôn ngữ chẳng hề có chút quan trọng nào trong tinh thần người quan sát nó: nó im lặng chỉ cho anh ta những vật mà anh ta đã biết tên, bởi vì anh ta là tên của chúng. Nhưng ta hãy bỏ lại huyền thoại về một thứ ngôn ngữ của vật, hay nói đúng hơn là hãy tóm lấy nó trong hình thức đã thăng hoa của nó, hình thức của một ngôn ngữ phổ quát, tức là cái bọc lấy từ trước mọi thứ gì mà nó có thể phải nói bởi vì các từ của nó cũng như cú pháp của nó phản ánh những khả thể nền tảng và những cấu âm của chúng: hệ quả vẫn y nguyên. Không có phẩm hạnh nào của lời nói, không có quyền năng ẩn giấu nào bên trong nó. Nó là ký hiệu thuần túy cho một biểu nghĩa thuần túy. Người nào nói, sẽ mã hóa suy nghĩ của mình lại. Anh ta thay thế nó bằng một sự sắp xếp vang lên hoặc hiển hiện chẳng là gì khác ngoài những âm thanh trong không khí hoặc các nét bút trên tờ giấy. Suy nghĩ tự biết và tự đủ; nó tự ghi nhận ra bên ngoài qua một thông điệp không mang nó, và chỉ định danh nó, không dính chút mờ mịt nào, cho một suy nghĩ khác có khả năng đọc thông điệp bởi vì nó, nhờ hiệu ứng của sự sử dụng, buộc các quy ước con người, hoặc của một thiết chế thánh thần, cùng biểu nghĩa vào với các ký hiệu. Dẫu có là như thế nào, chúng ta cũng không bao giờ tìm thấy trong các lời nói của người khác điều gì khác ngoài những gì chính chúng ta đặt vào đó, giao tiếp là một sự có vẻ như [apparence], nó không nói cho chúng ta bất kỳ điều gì thực sự mới. Làm sao mà nó có thể đủ sức lôi kéo chúng ta đi ra ngoài quyền năng suy nghĩ của chính chúng ta, vì các ký hiệu mà nó bày ra trước chúng ta hẳn sẽ chẳng nói gì cho chúng ta nếu chúng ta chưa có sẵn về phía chính chúng ta biểu nghĩa của chúng? Quả đúng là trong lúc quan sát giống Fabrice các ký hiệu trong đêm [Merleau-Ponty đang ám chỉ đến Fabrice del Dongo của La Chartreuse de Parme (Stendhal), đoạn Fabrice ngồi tù trong pháo đài; xem thêm ở kia], hoặc giả trong lúc nhìn các chữ chậm và nhanh của tờ báo trượt đi trên những bóng đèn bất động [ô!], tôi thấy như thể ở đó sinh ra một tin tức. Một cái gì đó phập phồng và trở nên sống động: ý nghĩ con người bị chôn vùi vào bên trong khoảng cách. Nhưng xét cho cùng đó chỉ là một ảo tượng. Nếu tôi không ở đó để tri nhận một nhịp điệu và xác định các chữ đang chuyển động, thì hẳn sẽ chỉ có một sự nhấp nháy chẳng nghĩa lý gì giống như các vì sao nhấp nháy, những ngọn đèn sáng lên rồi tắt đi, dưới tác động của dòng điện chạy qua. Ngay cả tin về một cái chết hoặc về một thảm họa mà bức điện mang đến cho tôi, đó tuyệt đối vẫn không phải là một tin tức; tôi chỉ nhận được nó bởi vì tôi đã biết rằng những người chết và những thảm họa là khả thể. Chắc chắn, kinh nghiệm mà con người có với ngôn ngữ không phải là kinh nghiệm đó: họ thích đến phát điên việc được trò chuyện với nhà văn lớn, họ tới thăm ông ta giống như người ta đến ngắm tượng thánh Pierre, tức là họ ngấm ngầm tin vào các phẩm hạnh bí mật của giao tiếp. Họ biết rõ rằng một tin tức là một tin tức và rằng không ích gì khi từng cứ nghĩ mãi tới cái chết chừng nào còn chưa biết cái chết của một người mà người ta yêu quý. Nhưng ngay khi suy nghĩ về ngôn ngữ, thay vì sống nó, họ liền chẳng hề thấy bằng cách nào người ta lại có thể chiếm mất của nó những quyền năng ấy. Dẫu sao, tôi hiểu những gì người ta nói với tôi bởi vì tôi biết từ trước nghĩa các từ mà người ta hướng đến tôi, và xét cho cùng tôi chỉ hiểu những gì mà tôi đã biết, tôi chỉ tự đặt cho mình các vấn đề mới là những vấn đề mà tôi có thể giải quyết. Hai chủ thể nghĩ bị nhốt vào trong các biểu nghĩa của họ - giữa họ các thông điệp chạy đi chạy lại, nhưng chúng không mang gì, chỉ là dịp để mỗi người chú ý đến những gì anh ta đã biết - rốt cuộc, khi một người nói còn người kia nghe, các suy nghĩ thay nhau được tái tạo, nhưng họ chẳng hề hay biết điều đó, và không bao giờ đương đầu với nhau - đúng, như Paulhan nói, lý thuyết chung này về ngôn ngữ hẳn sẽ dẫn tới hệ quả “theo đó rốt cuộc mọi điều diễn ra giữa họ như thể chẳng hề có ngôn ngữ” [trích từ Les Fleurs de Tarbes của Paulhan].




Khoa học và kinh nghiệm của biểu đạt


Thế nhưng, cái sự làm cho mình bị quên đi, trong chừng mực nó biểu đạt được, lại đích xác là một kết quả của ngôn ngữ. Trong chừng mực tôi bị một cuốn sách cuốn hút, tôi không còn nhìn thấy các chữ trên trang nữa, tôi không còn biết khi nào thì mình lật trang, xuyên qua tất tật những ký hiệu ấy, tất tật những trang giấy ấy, tôi nhắm và luôn luôn đạt đến cùng sự kiện, cùng cuộc phiêu lưu, tới mức thậm chí còn chẳng biết là dưới góc độ nào, trong phối cảnh nào chúng đã được trao cho tôi, cứ như thể, trong tri giác ngây thơ, có một con người với một vóc dáng con người mà tôi nhìn thấy ở đó và tôi hẳn sẽ chỉ có thể nói dưới “chiều cao bề ngoài” nào tôi nhìn thấy anh ta với điều kiện tôi phải nhắm một mắt lại, gây phân mảnh cho thị trường của tôi, xóa đi chiều sâu, phóng chiếu toàn bộ cảnh tượng lên một bề mặt duy nhất, có tính chất ảo giác, so sánh mỗi mảnh với một đồ vật nào đó ở gần như cây bút của tôi, rốt cuộc có như vậy thì mới có thể tạo cho anh ta một chiều cao thích hợp. Nếu hai mắt đều vẫn mở, sự so sánh là bất khả, cây bút của tôi vẫn là vật ở gần, những xa xôi là những xa xôi, từ nó đến chỗ kia không có các kích thước chung, hoặc giả, nếu tôi so sánh được với một vật thuộc phong cảnh, thì dẫu vậy tôi vẫn không thể thực hiện so sánh ấy cùng lúc với các vật khác. Người ở kia vừa không cao một xăng ti mét vừa không cao một mét bảy lăm, mà đó là một người-ở-xa, chiều cao của anh ta ở đó giống như một nghĩa ám lấy anh ta, chứ không như một tính chất có thể quan sát, và tôi chẳng hề biết gì về những thứ giống như ký hiệu mà mắt tôi sử dụng để thông báo cho tôi về anh ta. Vậy nên một cuốn sách lớn, một vở kịch lớn, một bài thơ trong kỷ niệm của tôi giống như một cái khối [bloc]. Tôi hoàn toàn có thể, bằng cách làm sống lại sự đọc hoặc sự trình hiện, nhớ đến một khoảnh khác nào đó, từ nào đó, hoàn cảnh nào đó, bước ngoặt hành động nào đó. Nhưng khi làm thế, tôi được hưởng một kỷ niệm duy nhất và không cần đến những chi tiết kia thì cũng đã có thể ở đó trong sự hiển nhiên của nó, cũng lạ thường và không thể cạn kiệt giống như một điều trông thấy. Cuộc trò chuyện kia, nó từng gây sửng sốt cho tôi, và là nơi, được một lần, tôi thực sự có cảm giác mình đang nói với một ai đó, tôi biết nó toàn vẹn, ngày mai tôi có thể kể lại nó cho những ai quan tâm đến nó, nhưng, kể cả khi nó thực sự khiến tôi say mê như một cuốn sách, thì tôi cũng sẽ chẳng thể nào tập hợp các kỷ niệm tách rời khỏi nhau, tôi vẫn giữ nó trong tay như một vật, cái nhìn của ký ức tôi bao phủ lấy nó, chỉ cần tôi tái định vị trong sự kiện là đủ để mọi thứ, các cử chỉ của người đối thoại, những nụ cười của anh ta, những ngập ngừng của anh ta, những lời nói của anh ta tái hiện ở đúng chỗ của chúng. Khi một ai đó - tác giả hay một người bạn - từng diễn đạt được, tức thì các ký hiệu bị quên đi, chỉ còn lại độc nghĩa, và sự hoàn hảo của ngôn ngữ chính nằm ở chỗ không để bị trông thấy.

Nhưng ngay cái đó vẫn là phẩm hạnh của ngôn ngữ: chính nó ném chúng ta đến những gì mà nó biểu nghĩa; nó tự che giấu đi trước mắt chúng ta thông qua bản thân sự vận hành của nó; thắng lợi của nó nằm ở chỗ tự xóa đi và trao cho chúng ta khả năng xâm nhập, ở bên kia các từ, bản thân suy nghĩ của tác giả, thành thử sau đó rồi chúng ta tin rằng mình đã giao tiếp với ông ta theo đường lối không lời, trực tiếp từ tinh thần với tinh thần. Các từ khi đã nguội đi liền rơi trở lại xuống trang giấy với tư cách những ký hiệu đơn giản, và chính là bởi chúng đã phóng chúng ta đi thật xa khỏi chúng, chúng ta thấy thật khó tin vì ngần ấy ý nghĩ đã đến với chúng ta từ chúng. Tuy nhiên chính là chúng đã nói chuyện với chúng ta, trong lúc đọc, khi mà, được hỗ trợ bởi chuyển động ánh mắt chúng ta và ham muốn của chúng ta, nhưng cũng đồng thời hỗ trợ, tung đi tiếp cái nhìn đó không chút sai chệch, chúng tái tạo cùng chúng ta cặp người mù và người liệt - khi chúng, nhờ chúng ta, và chúng ta, nhờ chúng, là lời nói thì đúng hơn là ngôn ngữ, và cùng lúc cũng là giọng nói và âm vọng của nó.

Ta hãy nói rằng có hai ngôn ngữ: ngôn ngữ về sau, thứ được thu nhận, và biến mất trước nghĩa mà nó đã trở thành vật chứa - và ngôn ngữ được lập thành trong khoảnh khắc của biểu đạt, chính là cái làm cho tôi trượt từ các ký hiệu đến nghĩa - ngôn ngữ được nói và ngôn ngữ nói. Chừng nào tôi đã đọc cái cuốn sách, nó liền tồn tại giống như một cá nhân duy nhất và không thể nghi ngờ ở phía bên kia các chữ và các trang, chính là khởi phát từ nó mà tôi tìm lại được những chi tiết mà tôi cần và thậm chí người ta còn có thể nói rằng trong lúc đọc, luôn luôn là khởi phát từ cái toàn bộ, như nó từng có thể xuất hiện với tôi tại điểm tôi đang ở, mà tôi hiểu được từng câu, từng nhịp điệu của câu chuyện, từng sự mắc lại của các sự kiện, tới mức mà tôi, độc giả, tôi có thể có cảm giác mình đã tạo ra cuốn sách từ đầu đến cuối, như Sartre nói [trích từ “Qu’est-ce que la littérature?” tức là Văn chương là gì? (tại sao lại có thể gọi “cái đó” là “văn học”?]. Nhưng xét cho cùng, đó chỉ là khi về sau. Nhưng xét cho cùng, cuốn sách mà tôi yêu quý này, hẳn tôi không thể tạo ra nó. Nhưng xét cho cùng, trước hết phải đọc và, lại là Sartre nói rất chuẩn xác, rằng đọc “bắt lấy” giống như bắt lửa [phóng túng tí: ở đây Merleau-Ponty dùng động từ “prendre”]. Tôi đưa que diêm lại gần, tôi châm lửa một mẩu giấy nhỏ, và thế là động tác của tôi nhận về từ các vật một sự hỗ trợ đầy cảm hứng, cứ như thể lò sưởi, củi khô chỉ đợi có vậy để làm bừng ngọn lửa lên, cứ như thể que diêm đã chỉ là một câu thần chú ma thuật, một lời gọi của cái tương tự, được cái tương tự hồi ứng, bên ngoài mọi chừng mực. Tức là tôi khởi sự đọc một cách lười biếng, tôi chỉ mang tới chút ít suy nghĩ - thế rồi đột nhiên vài từ đánh thức tôi, lửa đã bắt [“bén” có lẽ hay hơn, nhưng thôi kệ], các ý nghĩ của tôi cháy, chẳng còn lại gì trong cuốn sách khiến tôi thờ ơ, ngọn lửa xơi tất tật những gì mà sự đọc ném vào đó. Tôi nhận về và tôi trao đi với cùng một động tác. Tôi đã trao đi hiểu biết ngôn ngữ của tôi, tôi đã mang tới những gì tôi từng biết về nghĩa các từ kia, những hình thức kia, cú pháp kia. Tôi cũng đã trao đi toàn bộ một kinh nghiệm về người khác cũng như về các sự kiện, mọi tra vấn mà nó từng để lại trong tôi, những hoàn cảnh vẫn còn mở rộng cửa đó, còn chưa bị tống khứ đi và cũng là các hoàn cảnh mà tôi biết quá rõ cách giải quyết thông thường. Nhưng hẳn cuốn sách sẽ không khiến tôi quan tâm đến vậy nếu nó chỉ nói với tôi về những gì tôi biết. Tất tật những gì tôi vừa mang đến, nó đều sử dụng luôn nhằm kéo tôi đi ra khỏi. Nhờ dựa vào những ký hiệu kia, mà tác giả và tôi thỏa thuận với nhau, bởi vì chúng tôi nói cùng ngôn ngữ, nó đã khiến cho tôi hiểu đúng cái điều ấy, rằng chúng tôi ở trên một địa hạt đã trở nên chung nhau của các biểu nghĩa thu nhận được và có đó. Nó chui vào ổn định bên trong thế giới của tôi. Và rồi, dần dà, nó xoay các ký hiệu đi khỏi nghĩa thông thường của chúng, và chúng kéo tôi theo giống như một xoáy lốc về phía cái nghĩa khác kia, mà tôi tới để hội cùng. Tôi biết, trước khi đọc Stendhal [Merleau-Ponty thuộc thế hệ vô cùng rành và hâm mộ văn chương Stendhal: một ảnh hưởng rất lớn từ một nhân vật, ông thầy giáo Alain], một thằng khốn nghĩa là như thế nào, vậy nên tôi có thể hiểu ông ấy muốn nói gì khi viết rằng “fiscal Rossi” [ấy thế nhưng, vừa nói điều trong ngoặc vuông phía trên, cũng phải nói ngay rằng Merleau-Ponty nhớ nhầm tên nhân vật: Rassi chứ không phải Rossi; đây là nhân vật của La Chartreuse de Parme, một viên quan liên quan đến thuế má] là một thằng khốn. Nhưng khi “fiscal Rossi” bắt đầu sống, thì chuyện không còn nằm ở chỗ hắn là một thằng khốn, mà ở chỗ thằng khốn là một fiscal Rossi. Tôi chui vào trong mo-ran của Stendhal nhờ các từ rất thông dụng mà ông dùng, nhưng những từ đó dưới tay ông đã chịu một sự xoắn vặn bí mật. Các giao cắt càng được nhân nhiều lên, càng thêm nhiều mũi tên hiện ra chỉ về địa điểm ấy của suy nghĩ nơi tôi chưa từng bao giờ đến trước đó, nơi có thể, nếu không có Stendhal, tôi sẽ không bao giờ đến, trong khi những dịp mà Stendhal sử dụng chúng mỗi lúc một cả quyết hơn chỉ ra nghĩa mới mà ông cấp cho chúng, tôi càng lại gần ông hơn, cho tới lúc rốt cuộc tôi đọc các từ của ông ngay trong ý hướng của ông khi viết chúng ra. Người ta không thể bắt chước giọng của một ai đó mà không lặp lại một cái gì đó trong vẻ bên ngoài của anh ta và xét cho cùng, trong phong cách cá nhân của anh ta. Tức là rốt cuộc giọng của tác giả dẫn suy nghĩ của anh ta vào tôi. Những từ thường dùng, những đoạn dẫu sau thì cũng đã biết - một cuộc đấu súng, một cơn ghen - trước tiên gửi trả tôi về thế giới của mọi người, đột nhiên vận hành giống như các sứ điệp từ thế giới của Stendhal và sau rốt đặt tôi, nếu không phải vào hữu thể ở phương diện kinh nghiệm của ông, thì ít nhất cũng là vào cái tôi tưởng tượng đó, mà ông từng áp vào với bản thân ông trong vòng năm mươi năm, và cùng lúc ông chuyển nó vào trong các tác phẩm. Chỉ khi ấy độc giả hoặc tác giả mới có thể nói, cùng Paulhan: “Ít nhất trong tia chớp này, tôi đã là anh.” [tiếp tục trích Les Fleurs de Tarbes] Tôi tạo ra Stendhal, tôi là Stendhal trong lúc đọc ông, nhưng đấy là bởi vì trước tiên ông đã biết cách đặt tôi vào nơi của ông. Quyền năng tối cao của độc giả chỉ có tính chất tưởng tượng, vì anh ta thu được toàn bộ sức mạnh của mình từ cái máy quái quỷ ấy [khái niệm “machine infernale”, trong đó “infernal” là tính từ của “enfer” tức là “địa ngục”], tức là quyển sách, bộ máy chuyên tạo ra các biểu nghĩa. Những mối liên hệ giữa độc giả với cuốn sách cũng giống các mối tình trong đó trước hết một người chế ngự, bởi vì người đó có nhiều lòng kiêu ngạo hay nhiều sự quyết liệt hơn; nhưng tất tật những thứ ấy mau chóng sụp đổ và đến lượt người kia, nhút nhát hơn và khôn ngoan hơn, trở thành người cầm cương. Thời điểm của biểu đạt là thời điểm khi mối liên hệ đảo ngược, khi cuốn sách chiếm hữu lấy độc giả. Ngôn ngữ được nói chính là ngôn ngữ mà độc giả mang theo với mình, đó là cả khối những liên hệ của các ký hiệu được thiết lập cho những biểu nghĩa có sẵn, mà nếu không có, quả thật, hẳn anh ta sẽ không thể khởi sự đọc, đó là thứ cấu thành nên ngôn ngữ và tổng số những gì được viết trong ngôn ngữ ấy, tức đó cũng là tác phẩm của Stendhal vào lúc nó được hiểu và được cộng thêm vào di sản của văn hóa. Nhưng ngôn ngữ nói [“ngôn ngữ được nói”: “langage parlé”; “ngôn ngữ nói”: “langage parlant”] thì lại là sự chất vấn mà cuốn sách hướng đến độc giả hữu quan, đó chính là cái thao tác thông qua đó một sự sắp xếp nào đó các ký hiệu và biểu nghĩa đã có sẵn bị biến chất đi, rồi mỗi cái thay hình đổi dạng, để rốt cuộc tiết ra một biểu nghĩa mới, thành lập trong tinh thần của độc giả, giống như một công cụ kể từ nay đã khả dụng, ngôn ngữ của Stendhal. Chừng nào đã thu nhận được thứ ngôn ngữ này, rất có thể tôi sẽ ảo tưởng mình đã tự hiểu được nó: nhưng chính là nó đã chuyển hóa tôi và khiến tôi trở nên đủ khả năng hiểu nó. Xét cho cùng, quả thật mọi chuyện xảy ra như thể đã không hề có ngôn ngữ; và, sau đó rồi, tôi thấy sướng vì mình hiểu Stendhal xuất phát từ hệ thống các ý nghĩa của tôi, và cùng lắm thì tôi cũng sẽ chỉ dè sẻn mà nhường lại cho ông một nhánh trong cái hệ thống ấy giống như những ai trả một món nợ cụ bằng cách vay tiền chủ nợ. Có lẽ xét về lâu dài rồi thì điều đó cũng sẽ đúng. Có lẽ, nhờ Stendhal, chúng ta sẽ vượt qua được Stendhal, nhưng đó sẽ chỉ là vì ông đã ngừng nói với chúng ta, đó là vì những gì ông viết đối với chúng ta sẽ đánh mất đi phẩm hạnh biểu đạt của chúng. Chừng nào ngôn ngữ thực sự vận hành được, thì không có lời mời đơn giản, đối với ai nghe hoặc đọc, để khám phá trong chính mình các biểu nghĩa đã có sẵn ở đó. Có mưu mẹo ấy, nhờ đó nhà văn hoặc diễn giả chạm vào trong chúng ta những biểu nghĩa ấy, khiến chúng phát ra các âm thanh lạ thường, trước tiên cứ như phô hoặc chướng, rồi gắn chúng ta vào hệ thống hòa âm của ông ta khéo léo đến nỗi kể từ nay chúng ta coi nó là của mình luôn. Tức là từ ông ta tới chúng ta, đó không còn là các liên hệ thuần túy từ tinh thần đến tinh thần nữa. Nhưng tất tật những thứ đó đã khởi đầu bằng sự đồng lõa của lời nói và vọng âm của nó, hoặc, để dùng một từ mạnh mẽ mà Husserl áp dụng cho tri giác của người khác, bằng “sự ghép đôi” của ngôn ngữ.

Đọc là một sự đương đầu



(còn nữa)



Michel Foucault: "Thư viện huyền hoặc" (về Flaubert)
Albert Béguin: Tâm hồn lãng mạn và giấc mơ

4 comments:

  1. tiếp tục: đã bắt đầu đến những đoạn rất xuất chúng

    ReplyDelete
  2. tầm nhìn ở ngoài chân trời. "bởi vì ở nó đã được viết sẵn toàn bộ kinh nghiệm tương lai của chúng ta," vậy thì từ "Chúa" cũng nằm ở trung tâm của "Chúa" giống như từ "mặt trời" nằm ở trung tâm của "Mặt Trời" và "Chúa" cũng là một "thuật toán"? những phân tích này cho thấy "thế giới" thật là trống rỗng biết bao mà nhờ có "ngôn ngữ" thì lại nắm bắt và tương tác được. à tất nhiên phải chờ "trượt" tiếp mới biết như nào.
    hehe sáng láng cực. Merleau-Ponty đã thấy trước cả màn hình tinh thể lỏng. nhưng đây toàn những câu hỏi liên tiếp trồi ra. phát khiếp!

    ReplyDelete
  3. tiếp tục: Merleau-Ponty đã bắt đầu miêu tả hành động đọc trong mối quan hệ với "hành động tình yêu"

    ReplyDelete
  4. hệ thống này, của "ngôn ngữ thuần túy" với các "thời điểm của biểu đạt," hồi ứng với mô hình hệ thống thần kinh não bộ, mà choáng nhất là Merleau-Ponty mô tả nó đang vận động, đang là, đang "bắt lửa."
    cũng là văn chương: không tránh được sự hùng biện ( - ngôn ngữ nói, nhỉ - ) "Có lẽ xét về lâu dài rồi thì điều đó cũng sẽ đúng. Có lẽ, nhờ Stendhal, chúng ta sẽ vượt qua được Stendhal, nhưng đó sẽ chỉ là vì ông đã ngừng nói với chúng ta, đó là vì những gì ông viết đối với chúng ta sẽ đánh mất đi phẩm hạnh biểu đạt của chúng."

    ReplyDelete