Apr 19, 2012

Trò chuyện với Linda Lê

Linda Lê (sinh năm 1963) là nhà văn gốc Việt viết văn bằng tiếng Pháp, với những tác phẩm nổi tiếng: Phúc âm tội ác, Ba nữ thần số mệnh, Cronos... Tiểu thuyết của bà gây kinh ngạc vì sự u tối, văn chương đẹp dị thường và những suy tư ám ảnh. Linda Lê còn là một nhà phê bình văn học nổi tiếng với những bình luận sắc sảo về nhiều nhà văn lớn trong quá khứ. Tại Việt Nam, tiểu thuyết Vu khống và tập truyện ngắn Lại chơi với lửa đã được ấn hành trong mấy năm trở lại đây. Gửi đứa con mà tôi sẽ không sinh (À l’enfant que je n’aurai pas) là tác phẩm mới nhất của bà, được viết dưới dạng một lá thư.

Với tôi, “Gửi đứa con mà tôi sẽ không sinh” chứa đựng nhiều đặc tính của một tác phẩm thuộc truyền thống “tiểu thuyết bằng thư” [roman épistolaire] vốn có dấu ấn đậm đà trong lịch sử văn học Pháp (ví dụ như “Julie” của Rousseau hay “Những mối quan hệ nguy hiểm” của Laclos), nhưng bức thư của bà trên thực tế lại không phải là một “tiểu thuyết bằng thư” đúng nghĩa. Bà nghĩ thế nào về nhận xét này?

Bức thư này có thể được coi như một tác phẩm hư cấu, mặc dù tôi đã cho người kể chuyện mang một số nét của con người tôi. Đây là câu chuyện về một người phụ nữ nhìn lại một giai đoạn trong quá khứ của mình, vào lúc cô lựa chọn là sẽ không sinh con. Tuy nhiên đây không phải là một “tiểu thuyết bằng thư”, vì người phụ nữ này gửi thư cho một nhân vật không tồn tại và vì bức thư của cô sẽ không có được tiếng vọng nào.

Apr 17, 2012

Kim Lăng thập tam thoa

Nam Kinh. Tháng Chạp năm 1937.

Nếu dòng chữ trên đây xuất hiện ở “xen” mở đầu một bộ phim, người xem sẽ hiểu ngay rằng những gì họ sắp thấy không chỉ không hề dễ chịu, mà còn là một thảm họa thực thụ mà càng ngày người ta càng phải điều chỉnh lại nhận thức về độ rộng lớn và mức độ dã man.

Điện ảnh dĩ nhiên không bỏ qua sự kiện này. Ai từng xem bộ phim “Nanking” (2007), dù chỉ là vài cảnh, cũng sẽ không bao giờ quên nổi. Bộ phim ấy làm về những gì diễn ra trong “khu an toàn” của thành phố Nam Kinh dưới sự chiếm đóng của quân đội Nhật Bản.

Cuốn tiểu thuyết “Kim Lăng thập tam thoa” của Nghiêm Ca Linh (Lê Thanh Dũng dịch, Phương Đông & NXB Văn học) cũng lấy bối cảnh cùng khoảng thời gian với phim “Nanking”, nhưng không phải trong khu an toàn của những người ngoại quốc bị mắc kẹt lại Nam Kinh mà là bên ngoài, tại một nhà thờ Mỹ đơn độc dưới sự điều hành của linh mục Engman, một khoảng không gian theo quy ước lẽ ra phải là trung lập đối với các bên tham chiến và được lính cả hai phe tôn trọng. Thế nhưng cũng như “khu an toàn” không hề an toàn cho phụ nữ ở trong đó, nhà thờ đã không trung lập vì tiếp nhận mấy người lính Trung Quốc thoát được khỏi súng đạn và lưỡi lê của quân Nhật, và đến cuối cùng cũng không được lính Nhật tôn trọng.

Cảm ơn và xin lỗi

Tôi cảm ơn bất kỳ ý kiến nào của bất kỳ ai chỉ ra những chỗ sai, nhầm lẫn, cẩu thả của tôi, không chỉ là trong các bản dịch mà ở bất kỳ công việc nào khác. Với người chữ nghĩa, không gì quý bằng điều đó. Mỗi sai lầm đều phải trả giá, mỗi vấp váp là một bước tiến của nhận thức.

Thời gian vừa qua, tôi đã chăm chú xem lại Bản đồ và vùng đất, tôi công nhận là có những sai lầm, có cả những chỗ thực sự tôi cũng không hiểu tại sao lại có thể nhầm lẫn vô cớ và ngớ ngẩn như vậy.

Xem xét kỹ, tôi thấy rằng có chừng bốn, năm chỗ do quá ỷ vào trí nhớ mà tôi đã không tra cứu thêm, dẫn đến hiểu sai, cùng một số chỗ nhìn nhầm các từ có tự dạng tương đối giống nhau và vài chỗ nhìn sót mất chữ. Ngoài ra, nhiều chỗ khác nên sửa để tốt hơn.

Tôi không nói đến từng chi tiết nữa, mặc dù có những chỗ người chỉ trích tôi chưa hẳn là hoàn toàn chuẩn xác, mà tôi coi đây là một cơ hội, một dịp để xem lại, điều chỉnh toàn diện hơn cho công việc cá nhân. Đây cũng là cơ hội để hoàn thiện hóa bản dịch Bản đồ và vùng đất.

Một lần nữa, tôi cảm ơn những người đã chỉ trích tôi, và xin hiểu là tôi thực sự cầu thị trước mọi ý kiến tâp trung vào cách hiểu, ngữ nghĩa, hành văn và mọi khía cạnh khác của ngôn ngữ.

Tôi xin lỗi độc giả vì còn để những sai sót, khiến cho sự tiếp nhận, cảm nhận một tác phẩm văn học bị khuyết thiếu, làm giảm đi hứng thú của việc đọc.

Tôi chỉ xin nói thêm vài điều: tôi đã không hề cẩu thả trong quá trình dịch Bản đồ và vùng đất, tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần (theo tôi nhớ lại là bốn lần) sau khi đã hoàn thành bản dịch cũng như sửa chữa lại xong xuôi. Sai lầm lớn nhất của tôi là không chú trọng được đúng vào những chỗ có khả năng sai sót, và những lần đọc lại sau này không đối chiếu đầy đủ với bản gốc.

Một nhà văn có ý thức mỗi khi viết một tác phẩm đều nghĩ mình nỗ lực viết ra một cái mà Roberto Bolaño gọi là "tác phẩm lỗi lạc". Một người dịch nhiều ý thức mỗi lần dịch một tác phẩm cũng đều làm hết sức để cho bản dịch của mình thực sự hoàn hảo, không thể chê trách. Kết quả rất thường xuyên không được như mong muốn, vì chữ nghĩa có yếu tố chủ quan rất lớn, nhưng nếu không luôn luôn sẵn sàng để nỗ lực thì sẽ chẳng bao giờ làm được việc gì.

Xem xét lại bản dịch của tôi, một điều tôi thấy ấm lòng là không một lúc nào vì vấp phải một đoạn văn quá khó mà tôi tìm cách vòng tránh, "ăn bớt", làm méo mó nội dung một cách chủ ý để công việc được dễ dàng hơn; tôi cũng nhìn lại được nhiều đoạn, nhiều chi tiết tôi đã tìm hết cách để tra cứu, suy nghĩ, vật lộn mà hiểu và tìm ra cách diễn đạt tương đối thích hợp.

Nói rộng hơn, tôi tham gia xuất bản và dịch thuật ở Việt Nam vào cuối một giai đoạn và ở đoạn mở đầu một thời kỳ khác. Chính vì biết được những giai đoạn khác từng như thế nào mà tôi, cùng nhiều người nữa, đang nỗ lực rất lớn, để thay đổi, mặc dù biết rằng công việc ấy không hề dễ dàng.

Mar 15, 2012

Chị Thu Hồng nói

Đây là nhà báo Thu Hồng nói, liên quan đến tôi. Tôi rất cảm kích và cám ơn, tôi nhìn thấy thiện ý bên trong những lời của chị. Lời khuyên về giải pháp của chị tôi cũng sẽ cân nhắc, coi như là một lựa chọn nữa (thêm vào những lựa chọn mà tôi đã nghĩ đến).

Nhưng trong những gì nhà báo Thu Hồng nói cũng có chút nhầm lẫn (ngoài nhầm lẫn nho nhỏ khi viết "cour miễn phí": đúng phải là "cours miễn phí"). Theo như chị Thu Hồng viết thì như thể tôi đã "viết một bài trả lời Tiền vệ" liên quan đến loạt bài mới đây của Hà Thúc Lang. Chắc chị Thu Hồng muốn nói đến cái này. Cái "thư ngỏ" này hoàn toàn không liên quan, vì nó thuộc về một vụ khác, với nhân vật Vi Văn Tuyên. Và nó cũng không phải là thứ duy nhất, vì sau khi đã đáp lại những điểm Vi Văn Tuyên nêu ra (ở đây, đây, và đây), tôi mới viết thư đó (có thể tham khảo thêm cái này), chứ không phải nói khẩu thiệt vô bằng. Nó có "tầm bậy" hay không thì tôi không biết, tôi chỉ nói những gì mà tôi nhìn thấy.

Tôi cũng không "im lặng" như chị Thu Hồng nói. Tôi chưa nói gì không có nghĩa là tôi im lặng luôn. Trước hết là tôi hết sức biết ơn người tỉ mỉ chỉ ra những chỗ mà họ cho là tôi dịch sai. Những người chữ nghĩa biết điều gì là đáng quý trong các phê phán lẫn nhau. Nhưng tôi cũng cần thời gian để xem từng chỗ một. Lời cảm ơn tôi gửi trước, bàn luận sẽ để sắp tới đây. Tôi không bắt đầu việc này sớm hơn được vì cho đến hôm nay một công việc quan trọng của tôi mới hoàn thành: chiều nay đã diễn ra suôn sẻ buổi ra mắt bản dịch Lolita của dịch giả Dương Tường, tôi mới bỏ được một gánh nặng, với tư cách người biên tập cho cuốn sách. Bản dịch mang rất nhiều công sức và kỳ vọng của một người bạn đã xong, giờ tôi có thể quay sang việc khác.

Tôi luôn luôn ý thức được rằng chữ nghĩa là quý phẩm nhưng chữ nghĩa cũng là cạm bẫy, rằng hiểu cho đến cùng từ ngữ cũng khó như hiểu một con người. Cẩn thận đến đâu cũng là không thừa, và cẩn thận đến đâu cũng là không đủ.

Mar 13, 2012

Những nhà thơ trở lại

Cái mệnh đề “Việt Nam một cường quốc thơ” mới xuất hiện nhưng có vẻ đã được số đông ngầm thừa nhận trong sự hân hoan chung, tuy nhiên cái mệnh đề ấy có vẻ chông chênh, khó đứng vững nếu nhìn vào cách “cường quốc thơ” đối xử với một số nhà thơ của quá khứ, những phần khúc khuỷu, khó nhọc và khuất lấp của di sản thơ Việt Nam. Khi mà các nhà thơ như Vũ Hoàng Chương, Ngân Giang hay Nguyễn Bắc Sơn vẫn còn chìm trong sự hờ hững của giới thưởng ngoạn và giới nghiên cứu hiện nay, thì tình trạng cũng phi lý giống như giả sử Baudelaire, Bishop hay Ungaretti bị các quốc gia của họ bỏ quên trong góc thờ ơ vào thời hiện tại.

Thế nhưng, các nhà thơ quá khứ, bởi sức mạnh nội tại của mình, vẫn trở lại, và nếu Bùi Giáng trở lại dưới hình thức một dòng lũ ồ ạt ngôn từ (tập “Đười ươi chân kinh”), thì Quang Dũng (tập “Mắt người Sơn Tây”) và Phùng Cung (tập “Xem đêm”) trở lại gây chú ý bởi một khía cạnh hoàn toàn trái ngược: họ nổi bật vì kiệm lời đến đáng ngạc nhiên.

Cho đến nay, nhiều bài thơ của Quang Dũng đã được phổ nhạc, lẽ dĩ nhiên độc giả thơ ở Việt Nam biết đến ông không ít, Quang Dũng của “Mây đầu ô”, của “Em mãi là hai mươi tuổi/Ta mãi là mùa xanh xưa”… nhưng thật ít người nói được về tổng thể sự nghiệp thơ ca của Quang Dũng là như thế nào. Quang Dũng có “Chiêu Quân” từ ngay năm ông 16 tuổi (năm 1937), một bài thơ đẹp lung linh: “Hồ xang hồ xang xự hồ xang/Chiêu Quân nàng ơi lệ dâng hàng”, thế nhưng sau khởi đầu vô cùng hứa hẹn, ông lại không làm nhiều thơ. Điều đặc biệt ở Quang Dũng là đã không làm nhiều thơ như các đồng nghiệp, rất nhiều bài làm rồi ông lại không công bố, dù rằng giờ đây khi đọc, ta có thể thấy những bài thơ mà tác giả “giấu đi” ấy không hề tồi. Tâm hồn thơ Quang Dũng bay bổng (“Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm”) nhưng sự bay bổng ấy không làm giảm bớt đòi hỏi nghiệt ngã mà chính ông hướng vào bản thân mình. Điều ấy có lẽ đóng góp một phần quan trọng làm nên căn cốt một nhà thơ độc đáo bậc nhất thơ ca hiện đại Việt Nam, cái giọng thơ lúc nào cũng một mực hướng tới sự trong vắt của những tầng mây sạch.

Mar 12, 2012

Sách (LV) Thêm Malaparte

Hóa ra Malaparte đã có khá nhiều trong tiếng Việt. Đây là quyển thứ ba của Malaparte mà tôi tìm được (chú ý trên bìa ghi tên thành Malaparto), không ghi tên dịch giả mà ghi tên nhà xuất bản:



Còn đây là hai bản dịch cùng một cuốn sách. Hồi trước Mr Tin Văn còn dịch quyển nào nữa không?






Mar 10, 2012

vẫn lạnh


Điều gì làm cho cuộc sống ở Hà Nội đã khó khăn lại càng trở nên khó khăn hơn, ngoài chuyện thời tiết giai đoạn này cứ ba ngày hửng nắng lại bốn ngày gió mùa Đông Bắc mưa dầm dề, ngoài chuyện xăng đột ngột tăng giá và nhiều tuyến phố trong trung tâm không thể đỗ xe được nữa?

Đó chính là chuyện không chuyên.

Người Hà Nội quen buôn bán lâu năm, khéo léo và tinh tế, nhiều bà chủ bán hàng để ý quản nhân viên tới mức chỉ cần nhân viên đưa đồ cho khách bằng một tay hay lỡ miệng nói câu nào không đủ kính ngữ là chấn chỉnh ngay, nhẹ nhàng nhưng kiên quyết. Khu vực phố cổ vẫn còn rất nhiều quán ăn nhỏ bé gọn gàng, thậm chí chỉ một bàn xếp trên vỉa hè mà ngăn nắp sạch sẽ tuyệt đối, vợ làm đồ ăn chồng bưng bê phục vụ, thân tình mà không suồng sã, kín đáo mà không xa cách. Đó là cả một nghệ thuật, một sự chuyên nghiệp được rèn luyện qua nhiều đời. Sự chuyên nghiệp trong phục vụ người khác.

Nhưng chuyển sang hình thức kinh doanh lớn thì người Hà Nội chưa quen, những ưu điểm lâu đời bỗng biến đi đâu hết cả, gây ra sự bực bội kinh khủng cho người nơi khác đến, cả người Việt Nam lẫn người nước ngoài, vốn dĩ chưa thể tìm ngay đến được những quán xá nền nếp, chỉn chu nhưng thường ngõ ngách chật chội, tồn tại từ bao đời nay.