Showing posts with label tan-van. Show all posts
Showing posts with label tan-van. Show all posts

Jan 1, 2015

Tương lai và sách

Trong các tiểu thuyết của Patrick Modiano, ta hay thấy một nhân vật còn trẻ tuổi lang thang ở khu La tinh, Paris, để bán những quyển sách cũ. Chàng thanh niên ấy như bị mắc kẹt trong cuộc sống hiện tại và thường xuyên mơ thấy một tương lai được rời khỏi đó, lên đường đi xa.

Nhưng cũng Modiano thường xuyên lưu ý chúng ta rằng thời gian chuyển động giống như theo vòng tròn, có những thời điểm tương lai, quá khứ, hiện tại chập lại làm một, không thể tách rời, và những gì xưa cũ hình như lúc nào cũng hiện diện ở đó, dẫu cho mọi biến thiên và sự xuất hiện của rất nhiều điều mới mẻ.

Jan 3, 2014

Chúng ta cần huyền thoại

Chúng ta cần nhiều thứ hơn là chúng ta tưởng. Ngay những người vẫn được cho và tự cho rằng mình chỉ có nhu cầu tối thiểu, ví dụ như những người tu thiền, hình như cả họ cũng đôi khi le lói thấy cần được người khác hiểu rằng mình là những người chỉ cần rất ít thứ. Bằng nhiều cách lắm khi tinh vi, sự chân thành trong việc giải trừ nhu cầu cá nhân vẫn trộn lẫn với một nhu cầu cho kẻ khác biết về cá nhân mình trong hình ảnh một người ít nhu cầu.

Bởi thế, không có gì lạ khi những người “bình thường” có rất nhiều nhu cầu.

Dec 3, 2013

Hà Nội và Sài Gòn

tiếp tục ký sự dài lần trước còn đang bị bỏ dở ở đoạn tàu dừng ở ga Đà Nẵng đủ lâu cho khách tắm và nhìn ngó qua khe cửa dòm lẫn nhau

Hà Nội và Sài Gòn không chỉ khác nhau ở chỗ một đằng gọi mọi thứ là chả trong khi đằng kia gọi là giò hay nem, mà có một lần khi đi ăn bánh cuốn Liên Hương, nhìn mấy thứ người ta dọn ra tôi vẫn cứ tưởng đây là món gì đó dạo đầu ăn trước để đợi bánh cuốn, mãi không thấy có gì thêm mới bẽn lẽn hiểu ra đó chính là bánh cuốn

Aug 24, 2013

Khinh bỉ


bài cuối cùng của chuyên mục "Đọc" của Nhị Linh, kết thúc tròn 5 năm

đây là một trong hai chuyên mục kéo dài nhất của tờ Thể thao & Văn hóa Đàn Ông, chuyên mục dài nhất là của Nguyễn Việt Hà, nhưng chuyên mục ấy tuy dài vẫn có kỳ không có, còn mục của tôi rất đều đặn trong 5 năm :p

Jul 19, 2013

Tình yêu


(bài áp chót)

Ovid, nhà thơ La Mã vĩ đại, từng viết tác phẩm “Nghệ thuật yêu” trong đó ông coi nghệ thuật yêu là thứ nghệ thuật khiến cánh buồm và mái chèo ăn ý với nhau để thuyền lướt sóng thật nhanh, nghệ thuật làm những cỗ chiến xa chạy băng băng. Yêu, theo Ovid, nhất thiết cần nghệ thuật, với những hình mẫu là các vị thần trong hệ thống thần thoại Hy Lạp đã được cải biến sang thế giới La Mã.

Suy tư về tình yêu, khoái cảm, dục vọng, hôn nhân nở rộ vào quãng thế kỷ 19. Không chỉ những nhà văn như Jane Austen hay Henry James liên tục đề cập các chủ đề này, mà ngay nhiều triết gia thuộc hàng thượng thặng cũng cho thấy họ đặc biệt quan tâm: hôn nhân là một “vấn đề triết học” ở nền tảng cuộc sống con người, chứ không phải là chuyện hành chính ra cơ quan nhà nước ký tên vào một tờ giấy. Ví như Soren Kierkegaard, triết gia vô cùng u tối, từng viết một cuốn sách rất lạ lùng mang tên “Nhật ký của kẻ quyến rũ”, hay Amiel, nhà văn kiêm triết gia người Thụy Sĩ từng viết “Nhật ký” dày không biết bao nhiêu trang mà kể chỉ chủ yếu xoay quanh vấn đề có lấy vợ hay không.

Jun 20, 2013

Cái ác


Một vài nhà phê bình văn học, không hiểu vì lý do gì, có thể chẳng vì lý do gì hoặc do nội tâm thiếu thốn tình yêu, lâu nay cứ duyên dáng kiên nhẫn và nhảm nhí nhắc đi nhắc lại rằng văn chương không có tình yêu là văn chương vứt đi. Nhiều nhà phê bình khác thì bảo văn chương không có tư tưởng lớn là văn chương thời vụ, chẳng đáng tính đến. Lại có cả một lý thuyết rất nghiêm chỉnh chứng minh văn chương có thể không cần câu chuyện nhưng nhất định tác giả phải miêu tả, không miêu tả cái này thì miêu tả cái khác.

Tức là, dường như mọi thứ đang minh họa một cách phong phú cho lời nhận xét rất nhiều độc địa của Milan Kundera, đại khái theo đó nghệ thuật thì có thể chết, nhưng những làm xàm về nghệ thuật thì lại bất tử.

May 21, 2013

ai đem phân chất một mùi hương

Con người ta liên thông với thế giới bằng các giác quan, còn mối quan hệ với quá khứ chắc chắn là phức tạp hơn rất nhiều.

Tôi nhớ đến bộ phim “Johnny Got His Gun”, một bộ phim rất đặc biệt của lịch sử điện ảnh thế giới. Cuốn tiểu thuyết cùng tên được xuất bản năm 1939, đúng vào những ngày đầu tiên của Thế chiến thứ hai, và bối cảnh câu chuyện xảy ra vào cuối Thế chiến thứ nhất. Tác giả cuốn tiểu thuyết, Dalton Trumbo, đồng thời cũng là tác giả kịch bản, và không những thế còn làm nốt nhiệm vụ đạo diễn. Bộ phim được trình chiếu vào năm 1971, ngay lập tức được vinh danh nồng nhiệt ở festival Cannes và trở thành một trong các biểu tượng văn hóa mạnh mẽ của phong trào chống chiến tranh (hồi đó dĩ nhiên là chiến tranh Việt Nam). Xem bộ phim này chắc chắn những người từng khóc khi xem đến đoạn các chàng cao bồi mặt sẹo ngã xuống trong một vụ đọ súng hay nàng nọ biết tin chàng kia tử trận, chắc chắn phải khóc đến cả một bể nước. Ngay cả những người ít dành nước mắt cho phim ảnh (xét cho cùng là phù phiếm - “xa nhau không hề rơi nước mắt”, cần phải thế!) cũng khó tránh khỏi rơm rớm.



May 18, 2013

Phụ nữ

nốt bài này xong là chỉ còn ba bài nữa :p ngay từ bây giờ bác nào muốn thế chỗ tôi thì cứ mạnh dạn xung phong đi :p



Bữa trước, còn chưa xa ngày này lắm, đang đi bộ trên phố bỗng tôi nhìn thấy ở vỉa hè đối diện mối tình đầu của tôi.

Về sau này, tôi lý giải hành động trốn ngay vào ngõ không lấy gì là hào hùng của mình lúc ấy như sau: Tôi ngại đối diện với quá khứ (niềm hoài nhớ không phải điều dễ chịu, dĩ nhiên), tôi lại sợ quá khứ đuổi kịp tôi (trong khi cứ nghĩ mình đã đi rất nhanh, đã tách khỏi mọi ràng buộc tơ mành xưa cũ). Nhưng trốn tránh đến mức nào thì tôi cũng phải đối diện với điều căn cốt nhất: tình đầu thật ra chưa bao giờ giống như ta từng ra sức cố công mà tưởng tượng.

Mar 18, 2013

Cái chết


Nhiều điều rất ghê gớm, gây khủng hoảng trong cuộc sống thực, thì trong văn chương lại là chuyện tầm phào. Ai có sức đọc nhanh một ngày càn lướt được ba cuốn tiểu thuyết sẽ chứng kiến bảy cuộc hôn nhân, hơn chục pha làm tình, một trăm câu nói đùa (trong đó chín mươi câu rất kém hài hước) và dăm ba cái chết.

Hình dung một cách hòa bình, bao dung và thân ái, văn chương có thể hiểu là một cách thức luyện tập tinh thần cho con người ta, giảm trừ sức nặng của những nỗi khủng khiếp ở đời, chuẩn bị để đối mặt với mất mát, tổn thất, với cái chết, với “bước đường cùng” cam go mà rồi thì ai cũng sẽ phải trải qua, với nỗi cô đơn vô bờ bến, sự hiu quạnh tuyệt cùng, tiếc nuối, với “trí nhớ suy tàn” hay một đời “sống mòn”, thân phận “có được là người”, hoàn cảnh “nhân gian thất cách”; thậm chí nó còn chuẩn bị sẵn để ta không đến nỗi tuyệt đối bất ngờ nếu có ngày tỉnh dậy thấy mình bỗng biến thành một con bọ.

Nhiều khi, văn chương chỉ nên là như thế, chứ cứ mãi “chất thép”, “xung kích”, “xung đột”, “chiến đấu”, “mặt trận”, cuộc đời vốn dĩ đã mệt mỏi từ bản chất càng trở nên mệt mỏi thêm.

Dec 28, 2012

Sài Gòn và Hà Nội

Sài Gòn và Hà Nội khác nhau không chỉ ở chỗ một đằng thì gọi “chanh đá” một đằng thì gọi “đá chanh”, và hình như cũng không phải cứ đi đến tận cùng thì thằng nào con nào cũng giống nhau hết (mà tận cùng là cái gì vậy ta?) :p

Bắt đầu từ hồi năm ngoái, nhìn Sài Gòn của Catinat Đồng Khởi, Sài Gòn của những vùng ven, tôi thấy rõ chỉ Sài Gòn mới đích thực là một thành phố. Hà Nội của tôi (nói cho oai, chứ có mà “của tôi” khối, có con mẹ nào Hà Nội gốc nghe thấy nó lại chửi cuốc mả lên :p) là một thị trấn, mãi mãi là một thị trấn, có to lên thế này hay to lên thế nữa thì nó vẫn cứ là một thị trấn, một thị trấn to lên to mãi. Cũng đã có một thời hồi tôi còn là thanh niên mới nhớn, Hà Nội rất có vẻ muốn trở nên một thành phố, nhưng hào hứng chóng tắt cơn say chóng tỉnh, Hà Nội lại dập dìu mười giờ tối tắt đèn đi ngụ.

Aug 26, 2012

của người khác


Cách đây không lâu, có một nghiên cứu đưa ra kết quả: người sử dụng Facebook luôn luôn trưng ra trên “tường nhà” mình một hình ảnh về bản thân vui tươi hơn, sung sướng hơn thực tế. Có nghĩa là con người ta (giờ đây cách nói khái quát này tạm chấp nhận được vì lượng người dùng Facebook trên thế giới đã lớn lắm rồi) thường xuyên bị thôi thúc bởi ham muốn tô điểm cuộc đời. Để làm gì? Câu hỏi này đưa ta vào một lĩnh vực phức tạp và gay cấn của mối quan hệ giữa mình và người khác.

May 10, 2012

Người Hà Nội sợ

Người Hà Nội mặc áo “na tô” di dép lốp đội mũ cối (trước đây) và người Hà Nội đầu trọc lóc xăm trổ đầy mình cưỡi xe SH (hiện nay), những “quân khu thủ đô” ấy tạo ra ấn tượng về những con người có khả năng không biết sợ là gì. Nhìn chung người Hà Nội thường ghê gớm, đã thế lại còn nói năng hiểm hóc, vòng vèo, đang rất trơn tru hiền dịu bỗng đâu nảy ra một cái ý gì đó thật là xỏ xiên, mai mỉa, gây choáng váng cho cả những “đầu gấu” của những miền khác.

Thế người Hà Nội sợ gì?

Có thể họ sợ sáng ngủ dậy Hồ Gươm của họ bị bứng đi đâu mất, hoặc bị công ty xây dựng nào đấy san phẳng xây cao ốc mấy chục tầng chăng? Hay sợ sáng ngủ dậy không có phở mà ăn (vào “thời phoóc-môn” vẫn có khối người Hà Nội mặt mũi lầm lì vào quán phở, không khác nào các chiến sĩ trên bức tượng “Quyết Tử”), sợ tối về góc phố không còn quán nước mà ngồi (giờ thì không còn là “trà đá hóng gió” nữa mà mốt đang triền miên “trà chanh chém gió”), sợ đêm thì hàng quán cháo gà miến ngan bị công an phường chạy xe thùng tới dẹp bỏ? Hay họ sợ gió Lào, sợ gió mùa Đông Bắc, sợ cúp điện và sợ thất tình?

Cũng có thể họ sợ đi ngoài phố bị sa xuống ổ gà. Đi trên phố phường Hà Nội mà khôn ngoan ra thì cố mà cúi đầu xuống nhìn đường, phố rộng nhất thủ đô cũng có những cái hố sâu hoắm như ở một khu đầm lầy trong rừng nhiệt đới, nơi sang trọng nhất cũng có thể có một nắp cống không hiểu từ bao giờ đã ngạo nghễ hé lên.

Nhưng hiểm họa đáng sợ nhất ở Hà Nội không phải là từ mặt đất. Hiểm họa từ trên trời rơi xuống mới thật là kinh khủng.

Nhìn những cô gái, và cả những bà già, nói tóm lại là phụ nữ sống ở Hà Nội, cứ ra phố là bịt mặt mặc áo chống nắng thì biết: cái áo chống nắng qua nhiều mùa giờ đã cải tiến rõ rệt, có những loại áo dài đến tận mắt cá chân, biến phụ nữ Hà Nội thành những con chiên đạo Hồi tình cờ và tự nguyện. Điều quái lạ là rất nhiều khi những bộ quần áo ấy mở ra, ta thấy bước ra từ bên trong không phải là một giai nhân da trắng như tuyết mà lại là một người phụ nữ da rất đen. Da đen thế thì sao lại phải cố giữ cho trắng? Chẳng biết, chỉ biết mặt trời là một hiểm họa đương nhiên. Điều này nhìn chung là nghĩ mãi thì cũng hiểu được: ở ngoài biển giờ đây phụ nữ (và cả đàn ông, tất nhiên) vẫn hay mặc nguyên quần áo nhảy xuống vầy nước, thì tại thành phố cái sự quần áo có hơi phi logic một chút thì cũng đâu có vấn đề gì.

Một lưu ý quan trọng với người đi lại ở thành phố Hà Nội: hãy cố mà bảo vệ mặt trận trên cao của mình. Một cành cây to tướng rơi trúng vào đầu người đi xe máy hoặc khách bộ hành là chuyện không hề hiếm. Rồi còn có thể rơi từ cành cây xuống những thứ gì thật lạ, thường là túi rác nhà trên tầng cao ném xuống, ông chủ nhà tối làm tí bia rồi nên hơi yếu tay, túi rác không xuống được đến lòng đường mà mắc lại ở lưng chừng không gian. Thậm chí có những lúc cả đoạn dây điện dài loằng ngoằng như rắn rết thuồng luồng chụp xuống; vốn dĩ người Hà Nội đã không còn lạ những câu chuyện về điện giật trên đường từ rất lâu rồi. Điều này còn kinh hãi hơn nữa: Hà Nội là công trường xây dựng trường thiên của hàng chục năm nay, điều đó ai cũng rành lắm, nhưng kinh nghiệm của hàng chục năm trời vẫn không giúp cho người ta hiểu rằng những cái cần cẩu xoay xoay tít trên cao kia có thể dội những trận bom sắt và bê tông đích thực xuống dưới phố, vì cần cẩu luôn luôn cần những khối bê tông chặn đằng sau đít cho “cân”. Đứng đợi đèn đỏ, nhiều lúc bạn sẽ giật mình khi nhìn thấy bóng cần cẩu hắt xuống mặt đường, hăm dọa còn hơn những con diều hâu vùng núi.

Và cũng đừng vừa đi vừa ngửa cổ nhìn lên trời (nhất là đừng há miệng). Một là “bọn xấu miệng” sẽ nói bạn là người “mắt đếm lá chân đá ống bơ” (nghĩa là bị dở người), hai là bạn rất dễ bị ve tè vào mặt. Rất nhiều chuyên gia xã hội học đã đau đầu tìm hiểu mà không biết tại sao dân Hà Nội đầu gấu thế mà lại răm rắp tuân thủ luật quy định đội mũ bảo hiểm. Thì tự dưng có một cái cớ khiến người ta không phải mất mặt mà vẫn bảo vệ được từ phía trên đầu, quá là tiện. Đội mũ bảo hiểm rồi, dân phố cổ rất hiên ngang đi qua bên dưới cầu chui kể cả lúc có đoàn tàu chạy qua bên trên. Trước đây, có khi toàn bộ người đi đường dừng cả lại khi xảy ra hiện tượng ấy, vì ai mà biết được từ trên cao kia có thể rơi xuống cái gì vào đầu.

Ai mà biết được cái gì sẽ rơi trúng đầu mình, đó là triết lý sống của người Hà Nội. Ai mà biết được từ trên trời rơi xuống cái gì trúng vào xóm cô đầu Khâm Thiên xưa kia. Ai mà biết sự bất ngờ có thể đáng sợ đến như thế nào.

Apr 30, 2012

Giá kể là Tây


Càng ngày tôi càng nhìn thấy nhiều hơn trên đường phố Hà Nội cảnh tượng này: những nam thanh nữ tú tóc vàng mắt xanh, rồi cả những người nước ngoài đã đứng tuổi, đi xe máy dạo mát ngoài đường, miệng cười hớn hở vui tươi phơi phới ngắm nghía phố xá và con người, trông thật vui mắt, nhưng họ lại không đội mũ bảo hiểm. Giờ đây nhiều người nước ngoài ở Hà Nội đã bớt phần rón rén khi đi bộ trên phố, qua đường cũng băng rất nhanh ở bất kỳ chỗ nào chứ không đợi đến được đoạn có dải đường dành riêng, cũng không bị các tay lái ô tô, xe máy của Hà Nội “uy hiếp” để mãi mà không dám bước chân từ vỉa hè xuống lòng đường nữa.

Và hơn thế nữa, về mặt tâm lý, người nước ngoài ở Hà Nội hiện nay đã rất tự tin, họ biết rằng Hà Nội về bản chất là một thành phố an toàn về nhiều mặt, mức sống cũng không quá cao nếu biết cách luồn lách, uống bia vỉa hè ở đoạn phố Tạ Hiện giao với Hàng Giày cũng mát mẻ và thú vị, người dân về cơ bản lại rất niềm nở, thân thiện. Họ cũng biết rằng khi họ cầm lái xe máy trên đường phố, rất ít khi có chuyện cảnh sát giao thông “động” đến họ.

Thế là, một mặt thì ngày càng có nhiều hơn những lời chỉ trích của người nước ngoài hướng vào chất lượng ngành du lịch Việt Nam, đăng tải thôi thì đủ mọi chỗ, từ báo chí cho đến facebook, blog cá nhân (những chỉ trích cũng rất hữu lý), một mặt khác, không ít người nước ngoài đi xe vượt đèn đỏ, không đội mũ bảo hiểm hoặc chở nhiều người trên xe. Cảnh sát giao thông Hà Nội, vốn rất tích cực chặn phạt người vi phạm luật, nhất là trong quãng thời gian mấy tháng gần đây (có những hôm một trạm giao thông đông đến hàng chục nhân viên nhằm xử lý triệt để tình hình rối loạn giao thông), lại chẳng mấy khi chạm đến những người nước ngoài phạm luật. Thậm chí tôi còn từng chứng kiến không ít lần cảnh sát giao thông cười rất tươi với các anh Tây chị Tây không đội mũ bảo hiểm, cứ như thể đó là một việc gì thú vị lắm.

Đây cũng chỉ là một biểu hiện của hiện tượng người nước ngoài ở Việt Nam, biểu hiện bề mặt, dễ nhìn thấy hơn cả.

Dường như trong xã hội chúng ta hiện nay, có một sự phân biệt ngầm nào đó, không cần tinh ý lắm cũng có thể thấy. Vào quán ăn hay quán cà phê, nếu là người nước ngoài bạn sẽ được phục vụ tốt hơn, được ân cần niềm nở nhiều hơn. Đến nơi nào mà “xịn xịn”, nếu muốn kiểm chứng điều này, bạn hãy làm một bài test nho nhỏ: hãy thử nói bằng một thứ tiếng nào khác tiếng Việt, sao cho nhân viên nghĩ rằng bạn là một người nước ngoài, rồi xem thái độ phục vụ và thời gian giải quyết công chuyện có nhanh hơn so với nếu bạn nói bằng tiếng Việt hay không.

Điều này là đáng vui hay đáng buồn, tôi không biết, chỉ biết rằng ngay cả những người có học vấn cao cũng mang trong đầu một sự phân biệt nhất định nào đó, một điều gì đó rất có thể chỉ là vô thức nhưng gặp dịp là thể hiện ra bên ngoài. Một người nổi tiếng như nhà văn, ca sĩ, người mẫu có thể rất khó tính, kiêu kỳ với phóng viên người Việt Nam, nhưng lại hết sức vồn vã không chỉ với phóng viên nước ngoài mà cả với bất kỳ người nước ngoài nào mà họ gặp.

Và những lúc đang mải mê vừa đi trên phố vừa suy nghĩ cho bài sắp tới cho mục “Nhìn ngược, Nhìn xuôi” này, lỡ tay vượt đèn vàng, bị cảnh sát tuýt còi, tôi lại thầm nghĩ giá kể mình là “Tây” thì khỏe biết bao nhiêu.

Đương đầu với đơn giản

Nhà văn người Pháp Frédéric Beigbeder, một “tay chơi” có danh tiếng lẫy lừng trong nhiều ngón nghề, từng khẳng định: “Sau ba năm, một cặp đôi phải bỏ nhau, tự sát, hoặc sinh con, đó là ba cách xác nhận kết cục của họ”. Một mối tình kết thúc bằng việc hai con người hoặc lủi thủi hoặc hằm hè chia tay nhau, điều này rất không đáng bị coi là lạ. Mối tình có đoạn kết là một cú nhảy từ trên cầu xuống sông, lao vào đầu máy xe lửa, hoặc tanh bành hơn nữa là có mùi vị của thuốc ngủ quá liều hay thuốc súng đủ liều, phim ảnh văn chương cũng chẳng hiếm khi cung cấp ví dụ. Điều lạ ở đây là Beigbeder xếp ngang hàng việc có con với bỏ nhau và tự sát.

Trong mọi trường hợp xuất hiện “người thứ ba” xen vào giữa một cặp yêu nhau, chắc chắn một đứa trẻ con ít gây nghi kỵ nhất. Chẳng ai nghĩ đến chuyện so sánh đứa bé với nỗi nguy hiểm từ một gã đàn ông sát gái mặt đầy sẹo nhưng tâm hồn bay bổng, một cô gái xinh đẹp mềm mại buồn nhưng lại rất cứng rắn trong công cuộc gây thương nhớ, hoặc thậm chí một bà mẹ chồng tai quái quyết chí chiếm trọn chỗ trong trái tim đứa con trai. Thế nhưng câu chuyện tình yêu vẫn cứ rẽ ngoặt vào lúc khả năng hoặc thực tế về một đứa trẻ xuất hiện.


Apr 26, 2012

Ra quân


Chúng ta không “làm xong một công việc”, mà chúng ta nói mình “hoàn thành một nhiệm vụ”.

Ở đây, tôi rất hiểu, rằng để trỏ cùng một sự việc người ta có rất nhiều cách nói. Cũng chính điều này làm nên sự phong phú của ngôn từ, và qua đó là sự phong phú của cuộc sống. Cũng ở đây, ta có thể thấy ngôn từ có tác động đến đời sống như thế nào. Cuộc gặp gỡ và sự tác động ngôn từ-cuộc sống không chỉ đi theo một hướng, không chỉ là cuộc sống tác động vào ngôn từ để phát sinh các hiện tượng ngôn ngữ từ thú vị đến khó hiểu, từ nhẹ nhàng vui vẻ đến khó chịu nặng nề. Ngôn từ cũng tác động ngược lại một cách mạnh mẽ, tuy rằng khó nhìn hơn. “Hãy nói cho tôi biết ở tình huống như vậy bạn sử dụng thành ngữ gì, tôi sẽ nói bạn là ai…”


Mar 10, 2012

vẫn lạnh


Điều gì làm cho cuộc sống ở Hà Nội đã khó khăn lại càng trở nên khó khăn hơn, ngoài chuyện thời tiết giai đoạn này cứ ba ngày hửng nắng lại bốn ngày gió mùa Đông Bắc mưa dầm dề, ngoài chuyện xăng đột ngột tăng giá và nhiều tuyến phố trong trung tâm không thể đỗ xe được nữa?

Đó chính là chuyện không chuyên.

Người Hà Nội quen buôn bán lâu năm, khéo léo và tinh tế, nhiều bà chủ bán hàng để ý quản nhân viên tới mức chỉ cần nhân viên đưa đồ cho khách bằng một tay hay lỡ miệng nói câu nào không đủ kính ngữ là chấn chỉnh ngay, nhẹ nhàng nhưng kiên quyết. Khu vực phố cổ vẫn còn rất nhiều quán ăn nhỏ bé gọn gàng, thậm chí chỉ một bàn xếp trên vỉa hè mà ngăn nắp sạch sẽ tuyệt đối, vợ làm đồ ăn chồng bưng bê phục vụ, thân tình mà không suồng sã, kín đáo mà không xa cách. Đó là cả một nghệ thuật, một sự chuyên nghiệp được rèn luyện qua nhiều đời. Sự chuyên nghiệp trong phục vụ người khác.

Nhưng chuyển sang hình thức kinh doanh lớn thì người Hà Nội chưa quen, những ưu điểm lâu đời bỗng biến đi đâu hết cả, gây ra sự bực bội kinh khủng cho người nơi khác đến, cả người Việt Nam lẫn người nước ngoài, vốn dĩ chưa thể tìm ngay đến được những quán xá nền nếp, chỉn chu nhưng thường ngõ ngách chật chội, tồn tại từ bao đời nay.

Mar 3, 2012

full of


number 30 :p

Ngày xưa, Nguyễn Bính viết bài thơ “Lá thư về Bắc” có đoạn rất cảm động: “Thỉnh thoảng anh nên phí ít giờ/Viết cho em lấy một dòng thư/Trời ơi, tưởng tượng em sung sướng/Được đọc thư anh gửi bất ngờ”. Cũng bài thơ ấy chứa đựng những tình cảm chan chứa hăng say của người thanh niên lên đường đi lập nghiệp phương xa: “Xe lửa qua Gôi, qua Ninh Bình/Lần lần xe lửa tuốt vô Thanh/Quay về đất Bắc, em thầm nhủ/Nơi ấy quê ta, ôi cảm tình!” Những tình cảm như thế giờ đây tuyệt vô âm tín trong thơ ca Việt Nam cũng như trong đầu óc con người. Nguyên nhân là vì đâu? Chắc hẳn không vì con người ngày nay kém tình cảm, mà rất đơn giản, ngày nay ai viết thư nữa, đi tàu hỏa từ đầu này đến đầu kia đất nước cũng là chuyện ngày càng hiếm rồi.

Cũng như nhiều người, như tất cả mọi người của thời hôm nay, tôi có hòm thư email chứ không chờ đợi thư tay nữa. Mọi thứ đều đi qua đường điện tử, giờ chỉ còn những người tổ chức chương trình văn hóa giàu lòng hoài cổ mới còn gửi giấy mời qua đường bưu điện, hoặc giả họ là những người cẩn thận: đã gửi qua email rồi lại gửi thêm giấy mời in giấy nữa cho “chắc ăn”. Nhớ cách đây mới chừng chục năm, phần lớn thư từ trao đổi còn tin cậy giao phó cho những thùng thư bưu điện và các bác bưu tá, giờ đến đọc sách còn đọc bằng Kindle, iPhone, sáng “lướt oép” bằng iPad, trong cặp trong túi gần như không bao giờ có bút, để mà mỗi lần cần ký tên nhiều khi nhao nhác lên vì hỏi khắp đồng nghiệp trong phòng cũng không ai có lấy một cái bút.

Hồi đầu thì fpt, vnn, những hòm thư lôi thôi cách rách trong chuyện đăng ký mà lại có dung lượng rất nhỏ, thế nhưng có cái địa chỉ email mà in lên danh thiếp thì thấy “oai” lắm, thấy như thể mình đang đơn thương độc mã bước vào một thế giới khác, nơi chỉ chấp nhận những con người tân tiến, kịp thời hiểu tầm quan trọng của sức mạnh và tốc độ điện tử. Email hồi ấy lắm lúc bỏ quên hàng tuần, hàng tháng không “check”, đến khi sực nhớ mở ra thì ôi thôi đã quên mất password.

Rồi dần dà, cũng chẳng biết chính xác là lúc nào, email trở thành không thể thiếu, hiện diện đương nhiên trong cuộc sống, rồi email được tích hợp vào các loại điện thoại “smart”, đi đâu cũng check mail, mở ra giải quyết công việc ngay cả khi ở nơi núi rừng heo hút, hoặc nhấn vào một đường link xem câu chuyện cười, một cái tin đang rất “hot” ngay trong lúc đang làm một số công việc chỉ liên quan đến cá nhân mình.

Thoắt đi một cái, hòm thư email cũng đầy lên như hòm thư gỗ hòm thư sắt trước kia, mỗi lần ta đi xa không về, để thư từ, báo chí, sách vở, tờ bướm quảng cáo vân vân và vân vân chảy tràn ra khỏi ô, giống như một thứ gác cửa trung thành luôn luôn đập ngay vào mắt ta trước nhất lúc trở về nhà, để ta yên tâm rằng trong khi đi xa, vắng mặt ở đó, ta vẫn không bị lãng quên, rằng “đâu đó có người đợi ta”. Hòm thư của Goolge (gmail), một thứ vô cùng “oách” khi mới ra đời, hứa hẹn với người sử dụng là sẽ cung cấp một dung lượng “vô biên”, điều khác biệt căn bản với mọi loại email đang tồn tại vào thời điểm ấy, tức là không việc gì phải tiếc bộ nhớ, không việc gì phải lâu lâu xóa bớt thư cũ. Bỗng đến lúc hòm thư gmail cũng đầy tràn, trong bối cảnh cả thế giới ai ai cũng email từng giờ, từng phút. Tức là cả công nghệ tiên tiến nhất cũng chẳng hề “vô biên”, công nghệ cũng có thể đánh lừa, như xưa kia người bưu tá đến không đúng giờ làm ta lỡ dịp được nhận một lá thư mãi không thấy tới.

Rồi cái hòm thư email cũng có thể trở nên nhức nhối với những bạn bè thư từ từng nhộn nhịp cách hiện nay hàng trăm trang về phía trước, giờ làm gì ở đâu không thể biết được. Nhức nhối với một lá thư giải quyết công việc còn nằm đó mà ta quá chán không mở ra đọc, những nhắc nhở như được gửi tới từ một người quan sát hùng mạnh vô hình nào đó… Lo đối phó với sự hiện diện mọi lúc mọi nơi của những email đã trở thành một đặc điểm của con người thời công nghệ cao hiện nay. Lấy đâu ra mà “Trời ơi, tưởng tượng em sung sướng/Được đọc thư anh gửi bất ngờ”. Người ta thấy bất ngờ vì một lá thư nhàu nát do đã đi qua một chặng đường dài gian khổ, vì nét bút có vẻ kém lực so với ngày trước, chứ không thể bất ngờ vì một cái email theo font chữ quy chuẩn và tiêu đề chung chung theo kiểu “Dạo này thế nào?”, “Lâu quá không thấy”…

Hòm thư đầy, sau những ngao ngán tiếc nuối, rồi sẽ đến lúc con người “pro” chúng ta hiểu ra rằng phải can đảm mà tiếp tục cuộc chơi được quy định luật lệ chặt chẽ: đã đến lúc từ bỏ sự miễn phí dễ dàng, trả tiền để mua tiếp cái sự “vô biên” được hứa hẹn.

Feb 25, 2012

nào ta cùng tự sát

(các bạn đọc nhiều, đố biết cái title là chế từ cái gì :d)

Có những thứ tồn tại thật dai dẳng, nhất là các giấc mơ, trong đó một giấc mơ thường xuyên nồng nàn cháy bỏng ở người Việt Nam nói chung và người Hà Nội nói riêng: giấc mơ “nhà lầu xe hơi”.

Thế mà đùng một cái, hình như giờ thì ai cũng đã nhà lầu thật rồi, và cũng đã tương đối nhiều xe hơi. Mặt trái của tấm huy chương ở đây là, như một nhà thông thái từng nói, đại ý các ước mơ là thứ thật nguy hiểm, và nguy hiểm nhất là khi đạt được ước mơ. Ý thâm sâu của điều này là: giấc mơ ấy hình dạng ra sao trong thực tế, rồi sau giấc mơ, thì sao?

Hình như các dạng nhà ở của Hà Nội mấy chục năm nay đều xấu tệ. Nhà cấp bốn, nhà tập thể năm tầng lắp ghép panel, trần nhà thấp và tường nhanh chóng lở vì bị ăn bớt nguyên vật liệu, rồi nhà ống mỏng dẹt, nhà ở gia đình nhưng gom góp đủ mọi loại kiến trúc đông tây kim cổ. Đi kèm với xấu là bất tiện: nhà cấp bốn thì nóng hơn bên ngoài, nhà ống leo cầu thang hụt hơi, nhà tập thể thì chung thân đi xách nước. Giờ đây, kế thừa di sản ấy, hàng loạt nhà cao tầng kiêu hãnh mọc lên, gọi là chung cư cao cấp nhưng mưa lụt thì vẫn ngập hầm để xe, đôi khi thang máy hỏng và rất thường xuyên phải tranh đấu với ban quản trị tòa nhà về đủ mọi thứ dịch vụ và tiền dịch vụ. Không những thế, nguyên vật liệu vẫn bị ăn bớt như trước kia, và hầu như mọi tòa nhà cao hai mươi, ba mươi tầng đều xấu đến kinh ngạc.

Feb 18, 2012

đã tới, đã thấy, đã thua


Chuyện “hơi ngắn” (hụt hơi) và “hơi dài” (tràng giang đại hải với sản phẩm nặng đến cả yến) của các nhà văn, trên chuyên mục này tôi từng bàn đến, mà vẫn canh cánh trong lòng vì chưa đi đủ các trường độ của hơi thở. Vấn đề hơi thở thực là phong phú hơn nhiều người nghĩ, cho nên nhiều cô cậu tuổi trẻ và cả nhiều trung niên lãng mạn vẫn còn đắm đuối “lý thuyết hơi thở nhẹ” của nhà văn Nga Ivan Bunin và trên truyền hình vẫn nhan nhản những quảng cáo kẹo chewing-gum cho hơi thở thơm tho. Nhưng mới hơi ngắn và hơi dài thì chưa thể nào là đầy đủ cho một môi trường sáng tạo, ở Việt Nam hay bất kỳ đâu, bởi cái phổ biến nhất, đáng nói nhất phải là loại hơi này: “hơi trung bình”.


Feb 13, 2012

giễu với cả nhại

tôi thấy rất nực cười vì giới phê bình, nghiên cứu văn học ở Việt Nam rất hay chạy theo một số cái mốt, nhất là một số cách nói; một thời gian cứ nói đến thơ, để ca ngợi là người ta bảo "nhà thơ ấy thật vâm váp", rồi đến mấy đồng chí mở miệng là nói "tiểu tự sự" mặc dù chẳng hiểu "đại tự sự" là cái gì; nhưng tràn lan hơn cả là cụm từ "phong cách giễu nhãi", "lối viết giễu nhại" etc., đặc biệt tập trung ở các bài viết về văn chương Nguyễn Huy Thiệp; nhưng cái "phong cách giễu nhại" này thật ra lại rất thường xuyên là để chỉ "giọng văn mỉa mai/châm chọc" etc. trong khi muốn nói đến nhại và giễu thì nhất định phải chỉ ra được là nhại cái gì, giễu cái gì


Ở độ thứ hai

Các nhà văn (và cả các chuyên gia tâm linh) nằng nặc bắt chúng ta tin rằng thế giới nơi chúng ta đang sống không hoàn toàn là “cái thế giới ấy”, tức là biết về thế giới xung quanh mình là chưa hoàn toàn đủ cho nhận thức. Trong tiểu thuyếtKafka bên bờ biển”, nhà văn Haruki Murakami danh tiếng của nước Nhật cả quyết miêu tả một cánh cửa mở ra thế giới khác, nối dài danh mục tác phẩm văn học khẳng định tồn tại một thế giới song song với thế giới của chúng ta, còn các nhà phân tâm học thì không tin con người hiểu được gì nếu chỉ biết đến phần hữu thức mà bỏ bẵng đi những tầng sâu của vô thức, và các biểu hiện bên ngoài thực chất là được (hoặc bị) thúc đẩy từ mãi bên trong, từ mãi nơi nào đó không thuộc về trí óc, suy nghĩ. Hay nói một cách khác, cuộc đời chúng ta nằm ở một “độ thứ hai” nào đó, chứ không phải “nguyên gốc”, chỉ là một phản chiếu của những gì vô hình nằm đâu đó, có một nguyên mẫu cho tất cả những gì đang tồn tại, và thật ra mọi thứ đều là “tái hiện” cái có sẵn.