Showing posts with label ernest-hemingway. Show all posts
Showing posts with label ernest-hemingway. Show all posts

Mar 13, 2014

Thế chiến thứ nhất: những ngôi sao

Như hôm trước đã nói, trong Thế chiến thứ nhất, Henri Barbusse là một nhà văn quan trọng, với cuốn tiểu thuyết Khói lửa (Le Feu). Bản dịch Khói lửa là sản phẩm của dịch thuật miền Bắc.

Nhưng Henri Barbusse chưa phải ngôi sao của văn chương Thế chiến thứ nhất. Hai ngôi sao lớn nhất của giai đoạn đó là một người Mỹ, Ernest Hemingway, và một người Đức, Erich Maria Remarque. Hai ngôi sao đích thực này hết sức thu hút dịch thuật miền Nam một thuở.

Hemingway:

Feb 27, 2013

Cà phê


Nhân có Starbucks đi vào Việt Nam, dư luận bỗng trở nên thật ồn ào. Một nhà văn đã viết rằng thế kỷ XX là thế kỷ của dã man và của các thương hiệu. Thế kỷ XXI thì chắc hẳn lại là thế kỷ của các thương hiệu dã man, vì cách đây ít năm ông Friedman trong quyển sách danh tiếng “Thế giới phẳng” đã cả quyết rằng những nước nào có McDonald thì không bao giờ gây chiến với nhau, tức là nhấn mạnh vào tính “chủ hòa” của nền kinh tế thế giới. Starbucks lại gây ra một bầu không khí “chủ chiến” rất rõ rệt, thế mới lạ. Người ta đã làm cho mọi sự giống như là uống Starbucks đồng nghĩa với không yêu cà phê “chân chính”, và qua đó cũng đồng nghĩa với không yêu nước.

Trong sự nhiệt thành đậm mùi vị quốc gia chủ nghĩa và cũng không ít phần ngây thơ này lẽ dĩ nhiên ý kiến của những người uống cà phê để sống hằng ngày chẳng mấy được quan tâm đến, trong khi chính họ mới quyết định phải uống cà phê gì, uống như thế nào, một mình hay với bạn, chẳng liên quan gì đến những cuộc chiến “võ mồm” trên báo chí và Internet. Làm gì có chuyện một kiểu cà phê cứ tuyên bố mình là nhất thì đương nhiên nó là nhất được.

Jan 29, 2010

Sách (VII): Bad Scott & Napônêông


+ Sau Hội hè miên man, lại có thêm một tác phẩm nói không hay ho gì về Scott Fitzgerald, là cuốn tiểu thuyết Alabama Song của Gilles Leroy. Ở đây tác giả lấy giọng của Zelda Fitzgerald để miêu tả một Scott Fitzgerald bất tài, ăn cắp văn của vợ, đồng tính, xấu xa etc. Chuyện chồng ăn cắp văn của vợ, tức là vợ viết rồi chồng ký tên, đã từng xảy ra chẳng hạn như ở cặp Willy-Colette hồi đầu thế kỷ XX. Alabama Song mới là quyển được giải Goncourt 2007, chứ không phải quyển này. Chuyện tôi đã nói một lần rồi, chẳng muốn nói lại nữa. Gilles Leroy cũng cẩn thận, viết ở trong sách rằng đây là một truyện hư cấu, nhưng ai mà biết.

+ Để tưởng nhớ mùi hương.

+ Còn Napônêông? Chắc các bác cũng đoán ra rồi, đó là một loại đèn nêông hiệu Napô :) Giống như là khi người ta nói Ê-min Dô-na viết quyển Lala ấy. Thật ra thì tôi tìm được từ “Napônêông” này trong quyển sách được nhắc tới ở đây, quyển sách được đặc tuyển, quyển sách của năm tại Việt Nam. Thực sự là phải há mồm không ngậm lại được khi đọc cái tin ấy. HNV đúng là……….(kiểm duyệt đục bỏ)……….. Một quyển sách lèo tèo dăm ba bài, không bài nào dài nổi quá 5 trang sách, tức là tất tật chỉ trên dưới một trang A4 (kiểu như mục “Tiếng nói nhà văn”, ai hay đọc báo Văn Nghệ thì biết), không nói được một cái gì đặc biệt, ý tưởng vô cùng nhạt nhẽo, từ ngữ còn không phải là chuẩn hết, ví dụ như không hiểu đúng nghĩa từ “chính kiến”… thế mà là quyển sách của năm. Một trò hề thật là tợn.

+ Đặc biệt cảm ơn hai bạn đã gửi và mang hai quyển sách ở trong ảnh cho tôi. Quyển bên tay phải là Bao người chờ đợi, Đỗ Tử Trình dịch, NXB Thuận Hóa, 1988. Đây chính là tác phẩm đầu tay của Romain Gary, Éducation européenne (Giáo dục châu Âu), in năm 1945 ở bên Anh, khi chiến tranh còn chưa kết thúc. Bản dịch có lời giới thiệu cẩn thận. Quyển bên trái là Chó trắng, Nguyên Ngọc dịch, NXB Hội Nhà văn, 1996, xuất bản trong khuôn khổ quỹ tài trợ của Đại sứ quán Pháp. Nguyên gốc quyển này là Chien blanc (1970), đã có phim.

Tra trên trang web Thư viện Quốc gia Việt Nam theo tên Gary không ra kết quả nào, theo tên sách thì ra được Chó trắng nhưng không thấy ra Bao người chờ đợi. Kỳ quặc thật.

Cảm ơn hai bạn vì đã cho tôi sách, và nhất là vì đã giữ sách rất cẩn thận.

Oct 5, 2009

Thu vén cho im lặng

+ “Không bài thơ nào hướng tới độc giả, không bức tranh nào hướng tới người xem, không bản giao hưởng nào hướng tới khán giả”, câu này là của Walter Benjamin. Một câu cần được vang lên vào những lúc người ta, vì không còn biết làm gì, quay trở lại nhấn mạnh vào thông điệp của tác phẩm văn chương, coi đó là cứu cánh cho đầu óc thích dừng lại khoanh vùng hơn là đi tiếp, đi nữa, qua đó cho thấy những niềm tin luôn không có sức mạnh. “Tác phẩm văn chương “nói” cái gì? Nó truyền đạt cái gì? Rất ít, với người hiểu văn chương”, Benjamin, người cùng Roland Barthes tạo ra một đường lối hiểu và nói về văn chương riêng của thế kỷ XX, một đường lối đến giờ nhìn lại cũng không lấy gì làm thắng thế, nhưng cũng cho thấy một sức mạnh kiên trì của một niềm tin mỏng.

+ Miêu tả sự im lặng: Dacia Maraini đã chứng tỏ là làm được điều này trong Nữ công tước Marianna Ucrìa (La lunga vita di Marianna Ucrìa). Một nữ công tước bị câm (và điếc) từ nhỏ. Trước một hiện tượng như vậy, một cái gì đó khác văn chương sẽ tập trung vào việc làm thế nào mà nhân vật vượt qua tật nguyền hoặc bị bệnh tật đánh gục, còn văn chương là chuyện bị câm nghĩa là gì, sự câm lặng nghĩa là gì, và bị câm thì có làm sao.

Dacia Maraini từng là bạn đời (không phải vợ) của Alberto Moravia trong khoảng hai mươi năm, sắp sang đến Việt Nam.

+ Đọc Phía sau nghi can X của Higashino Keigo, tôi thấy không có gì cần phải bàn về tài năng lắt léo (nhưng lại ở trong một môi trường chữ nghĩa và tâm lý rất bình dị) của tác giả. Một tiểu thuyết trinh thám đích thực, cao thủ, đến mức điều duy nhất tôi muốn nhớ (như một sự bấu víu? cũng có thể) là một hình ảnh nào đó không liên quan chút nào tới câu chuyện. Tìm ra được cái này cũng khó lắm, vì Keigo xếp được tất tật những gì xuất hiện vào bức tranh, cái nào cũng có chỗ. Cuối cùng chắc chỉ còn hình ảnh bà già dẫn chó đi dạo vào buổi sáng, ba con, mỗi con một sợi dây buộc cổ màu khác nhau.

+ Về sự im lặng cấp độ khác: những bức thư. Thứ nhất là bức thư của Hemingway gửi Maxwell Perkins, các bạn bên déjà vous đã chịu khó dịch ra. Đấy, người ta viết thư cho editor như thế chứ :) Không hiểu câu “Điều đó khiến việc được có tên trong danh mục Who’s Who thật đáng giá”.

Bức thư thứ hai: Céline gửi Mauriac. Bác Pierre Assouline này đưa nó lên là vì thật kỳ cục khi nghĩ đến việc Céline lại giao thiệp thư từ với Mauriac. Tài liệu mới, được Henri Godard công bố trên NRF mới đây. Thư gửi để cảm ơn mà Céline như chửi Mauriac hehe: “Tuy vậy không gì xích chúng ta lại gần nhau, không gì có thể xích chúng ta lại gần nhau; ông thuộc về một giống loài khác, ông gặp những người khác, ông nghe thấy những giọng nói khác. Với tôi, kẻ giản đơn, Chúa là một thứ trò vè có tác dụng làm người ta suy nghĩ tẹt ga hơn về bản thân mình, khỏi phải nghĩ đến bọn người nữa, nói tóm lại là để đào thoát luôn cho xong.”

Từ phát hiện này đến một công bố khác: có vẻ như thời điểm bắt đầu của Thơ Mới đã phải tính lại sau bài này của Lại Nguyên Ân.

Aug 24, 2009

Mình nói chuyện gì khi mình chả nói chuyện gì

Đợt này tiều tụy quá, tiều tụy như một con khị chứ không có được uy nghi như cái tivi và phẳng lì như màn hình LCD giống dạo trước. Dù vậy thì vẫn có cái hay là khi tiều tụy như một con khị thế này thì lại dẫn tới tình hình "người chiến sĩ ấy ai đã gặp anh không thể nào quên" (Hoàng Vân, à hay là Hoàng Việt nhỉ, chịu không sao mà nhớ nổi).

Văn chương đợt này: tầm thường, sách vở đợt này: hơi dở. Không văn chương sách vở nữa vậy, hôm nay tôi sẽ nói về một thứ không văn chương cũng chẳng sách vở. Đó là cái Google Analytics, một công cụ rất chi là hay.

Các bác biết rồi thì không nói, các bác chưa biết có thể hình dung là khi có một trang web hay một trang blog, nếu copy cái code do GA cung cấp vào thì hàng ngày các bác có thể xem tình hình tiến triển trang của mình đến đâu. GA này có nhiều category, theo đó có thể xem bao nhiêu người truy cập, trung bình thời gian lưu lại, cái entry nào nhiều người xem nhất, vân vân và vân vân, nhưng tôi thích nhất là hai cái, xem người vào trang của mình từ đâu tới và xem người ta tìm ra trang của mình bằng từ/cụm từ nào khi sử dụng các search engine.

Aug 12, 2009

Bọn Marcel

+ Nói rõ hơn về giai đoạn Hoài Thanh viết cho Tràng An: đó là sau khi Hoài Thanh bật khỏi Hà Nội, bị mật thám mang về Vinh, ở Vinh một thời gian (thay Tôn Quang Phiệt làm gia sư cho một nhà giàu) thì tình cờ gặp Bùi Huy Tín chủ nhà in Đắc Lập và theo BHT vào Huế làm thợ sửa mo-rát, đến 1935 (Hoài Thanh sinh năm 1909) khi Tràng An bắt đầu được ấn hành thì Hoài Thanh đã có mặt trong những số đầu tiên.

Một số điều tôi rút ra từ các bài phê bình văn học (cả điểm tin tức văn nghệ) trên Tràng An (cũng cần nhắc lại: hồi Tràng An này Hoài Thanh không viết nhiều về văn học):

- Bài đầu tiên của mục "Phê bình văn nghệ": viết về tiểu thuyết Cô Lâu mộng của Võ Liêm Sơn (ai đọc lịch sử thời này rồi đều biết Võ Liêm Sơn, một nhân vật có nhiều quan hệ thân thiết với gia đình Hồ Chí Minh).

- Đánh giá Trông dòng sông Vị của Trần Thanh Mại có giá trị ngang ngửa Phê bình và cảo luận của Thiếu Sơn đã in trước đó, nhưng cùng lúc lại nói Tú Xương không phải thi sĩ, mà chỉ là một "người làm thơ".

- Coi Thế Lữ có vai trò giống như Nguyễn Du xưa kia.

- Một bài rất đáng chú ý: "Cụ Phan Sào Nam còn viết báo làm gì?" ý nói Phan Bội Châu lẩm cẩm, làm cách mạng xong rồi thì cứ ngồi đó mà hưởng danh tiếng, sao lại còn viết văn làm thơ xong rồi còn đăng lên báo làm những người yêu mến cụ rất lấy làm "khổ tâm".

- Những ai quan tâm đến Hoài Thanh với tư cách dịch giả có thể tập trung vào bản dịch bài diễn văn của Gide mà Hoài Thanh cho đăng vào cuối năm 1935.

- Mấy chi tiết tôi cho là rất quan trọng ở bài viết về Henri Barbusse (dịp Barbusse mất; dịp này Hoài Thanh trách cứ các báo ở Việt Nam im tịt không tưởng niệm gì). Chỉ là mấy từ mà tôi nhặt ra: "bọn Marcel Proust và Fernand Gregh", "thơ của bọn Parnasse và Symbolisme kiểu cách và xa tự nhiên". Hoài Thanh có vẻ rất dị ứng với chính phái "nghệ thuật vị nghệ thuật" (Parnasse tức là Thi Sơn, Symbolisme tức là Chủ nghĩa Tượng trưng). Cái gu của Hoài Thanh hướng tới cái dễ hiểu, cái đẹp nhưng là cái đẹp dễ hiểu (nói đúng hơn là cái đẹp hiểu được, cắt nghĩa được). Có tương đồng gì giữa Hoài Thanh tây học và Hoài Thanh trong cốt cách một nhà nho, ưa "kính nhi viễn chi" không nhỉ? Rất khó nói.

- Điều trên, cộng với một điều nữa: Hoài Thanh là một người hết sức thành thật (cái này trước đây thực sự tôi không tin lắm dù nhiều người nói, nhưng ngày càng tin hơn), đã khiến Hoài Thanh sẽ thực sự là người đầu tiên "đánh" Nhân Văn-Giai Phẩm, dù bài viết của Hoài Thanh không có trong tập Bọn Nhân Văn trước tòa án dư luận in dưới sự chủ trì của Như Phong sau này. Hoài Thanh chính là người ngồi chủ tọa cuộc phê phán "Nhất định thắng" ngay đầu năm 1956. Toàn thể các tài liệu liên quan đều có thể tìm thấy trên Internet, talawas cũng như một số trang cá nhân, Nguyễn Trọng Tạo, Trần Nhương... Với tôi đây cũng là một lần "bị lựa chọn" lớn nữa. Và vẫn chưa hết.

- Trước đây một lần tôi nhắc đến Hoài Thanh và so sánh Hoài Thanh với Sainte-Beuve, chủ yếu là do trực cảm. Với các tài liệu mới công bố này tôi nghĩ là so sánh ấy đã có cơ sở hơn hẳn. Cụ thể như thế nào thì... nói sau.

+ Tôi đã từng đối chiếu từng câu giữa nguyên bản tiếng Anh A Moveable Feast và bản dịch tiếng Pháp mang tên Paris est une fête của Marc Saporta, một bản dịch được in rất nhiều lần và có vẻ chưa bao giờ gây điều tiếng gì. Tôi có thể nói rằng bản tiếng Pháp làm biến dạng Hemingway ghê gớm, thường xuyên viết lại câu, đoạn, thêm bớt, sai mấy chỗ rất nặng, nhìn chung là một bản dịch khó nói là tốt.

Tôi cũng đã từng đối chiếu không ít như thế. Có thể nói rằng nhìn chung các dịch giả tiếng Pháp đáng tin cậy hơn các dịch giả tiếng Anh (khá nhiều bản tiếng Anh cắt đến khoảng 10% văn bản; cái này còn liên quan tới quan điểm dịch thuật và xuất bản chung), nhưng không phải cái nào cũng tuyệt vời cả. Dùng một bản dịch khác để nói về một bản dịch từ một thứ tiếng khác nữa là việc không có giá trị. Trong phạm vi tôi biết, bản dịch tiếng Việt của A Moveable Feast tốt hơn bản dịch tiếng Pháp. Chuyện Hemingway là nhà văn khó thì tôi không bàn đến vội.

+ Blog tôi hiện nay trong dashboard không thấy hiện mục "blogs I follow" nữa, các bác có bị thế không?

Jul 14, 2009

Papa cũng đi ăn mảnh

Thường thì sau khi chết các nhà văn (nhất là lớn, nhỏ ai mà quan tâm) mới bắt đầu trở nên rộn ràng. Tờ The Guardian ở đoạn cuối bài này liệt kê một số vụ việc mới đây, liên quan tới một số người như George Orwell hoặc André Malraux. Tất nhiên toàn là những chuyện mang tính tiêu cực, nhất là thường xuyên dính dáng đến những thứ tài liệu mới được công bố.

The Guardian có vẻ bỏ qua hai nhà văn tên tuổi khác: Kundera và Auden. Kundera từng bị cáo buộc chỉ điểm theo giấy tờ của công an mật Tiệp Khắc, còn Auden làm thơ ca ngợi Stalin. Vụ Kundera có vẻ không còn ai nói đến nữa.

Nhân vật chính lần này là Ernest Hemingway. Theo quyển sách vừa xuất bản Spies: The Rise and Fall of the KGB in America (Yale University Press) của ba tác giả John Earl Haynes, Harvey Klehr and Alexander Vassiliev, Ernest Hemingway bắt đầu được KGB tuyển làm nhân viên cho mình vào năm 1941. Không những thế, Hemingway còn tự đề nghị được phục vụ. Năm 1941 là ngay trước khi Hemingway sang Trung Quốc, tại đó ông gặp Tưởng Giới Thạch (công khai) và Chu Ân Lai (bí mật).

Nhân vật đáng chú ý trong ba tác giả kể trên là người mang họ Nga: Vassiliev; đó là một cựu sĩ quan KGB, đã xâm nhập được kho hồ sơ thời Stalin.

Tuy nhiên theo cuốn sách, câu chuyện không có gì là ly kỳ cả: sau vài năm không thấy Hemingway cung cấp được tài liệu chính trị gì quan trọng, KGB đánh giá ông là loại "điệp viên tài tử" (dilettante spy) và rốt cuộc gạch tên khỏi danh sách. The Guardian chỉ nhẹ nhàng nói là Hemingway chắc "lose some of his lustre".

Có thể Papa thiếu tiền hoặc thấy thiếu cảm giác mạnh nên định phiêu lưu một chuyến chăng?

+ Còn ở đây khi các bạn nói đến chuyện đích danh với tên thật sao mà mình thấy funny thế (chú ý các comment).

+ Frederic Raphael mà viết lách như thế này bằng tiếng Việt chắc bị dân tình chửi chết cha vì cứ tương từ ngữ ngoại nhập vào. Không trong sáng tiếng Anh và không thuần thục tinh thần dân tộc, đã thế lại cứ chơi trò elite: viết tiếng Anh thế này có chết không cơ chứ: "just the kind of remark to nettle the bien-pensants", "Le Lièvre de Patagonie leaps from episode to episode of a vie mouvementée" hay là "during the plus beaux jours of Saint Germain-des-Prés", từ tiếng Anh thì cũng lại toàn chơi gốc Pháp, như là "rancour" chẳng hạn. Hê hê nhưng personally thì tôi thấy đọc rất dễ hiểu.

Bài này điểm quyển hồi ký mang tên Le Lièvre de Patagonie, của nhân vật nói tên ra là đã thấy oách rồi: Claude Lanzmann. Quyển này là quyển tôi đang chờ đợi nhất, mà không biết đồng chí đang cầm bỗng dưng lưu lạc đâu mất dấu vết. "Into the Wild" chăng :) Phần câu khách của bài (bài điểm sách thường có một hoặc nhiều yếu tố câu khách) là khi Raphael viết về Lanzmann hồi trẻ:

Jun 2, 2009

A Farewell to...

Yiyun Li kể câu chuyện hồi còn ở Trung Quốc trên The New Yorker. Một câu chuyện như thế này rất nhiều người Việt Nam cũng có trong ký ức. Hoặc ít nhất là những mảnh nhỏ của nó:

Chẳng hạn như là "my year of involuntary service", nghĩa vụ quân sự, vụ đọc sách bị bố mẹ cấm (sao nhiều người bị bố mẹ ngăn cản đọc sách thế nhỉ; hình như các bố mẹ Trung Quốc và Việt Nam luôn ngấm ngầm sợ con cái mình rơi vào vòng tay nguy hiểm của sách vở, rời xa thực tế, xuất hiện những suy nghĩ không kiểm soát được), vụ bố mẹ quản lý chuyện yêu đương, và vụ xếp hàng hồi tem phiếu.

Điều tôi thấy đáng chú ý là các nhà văn Trung Quốc hồi đó đọc sách rất đa dạng: Cao Hành Kiện học đại học chuyên ngành tiếng Pháp, đọc Beckett và/hoặc Ionesco, Đới Tư Kiệt thì như ai cũng biết là đọc Balzac, còn Yiyun Li đọc Thomas Hardy, D. H. Lawrence và Hemingway. Nhà văn Việt Nam thì hình như có mỗi Remarque.

May 27, 2009

The Eternal Return

+ Bác Pierre Assouline có vẻ rất quan tâm đến vấn đề dịch thuật. Cái billet ngày hôm nay nói đến bản dịch mới một tác phẩm lớn của Alfred Doeblin, Berlin Alexanderplatz. Dịch giả lần này là Olivier Le Lay, sinh năm 1976, một cựu học sinh ENS (rất có thể đồng chí này có cùng tuteur với tôi), từng dịch Handke và Jelinek, nói ngắn gọn là chuyên dịch văn học Áo. Trước đây đã từng có bản dịch quyển này của Zoya Motchane, nhưng cũng như ờ... ờ... nhiều thứ khác, thỉnh thoảng cũng phải dịch lại một số quyển. Trong A Moveable Feast, ở chương về hiệu sách-thư viện của Sylvia Beach và vài chỗ nữa ở các đoạn sau, Hemingway cũng nhắc tới bản dịch Chiến tranh và hòa bình của Constance Garnett, một thời được coi là kinh điển nhưng giờ đây phải làm lại, cùng hoàn cảnh với Alexandre Vialatte dịch Kafka hay Henri Mongault dịch văn học Nga (ref.: số chuyên đề về Gogol của tạp chí Nghiên cứu văn học số 5/2009 :)

+ Đồng chí dịch Thế giới hậu Mỹ làm bay hơi mất câu của Toynbee được tác giả đặt lên làm đề từ: "Growth takes place whenever a challenge evokes a successful response that, in turn, evokes a further and different challenge. We have not found any intrinsic reason why this process should not repeat itself indefinitely, even though a majority of civilisations have failed, as a matter of historical fact." Một câu của Toynbee có thể còn giá trị hơn cả quyển sách của Zakaria lol.

+ Đầu óc nhiều khi thật kỳ lạ, hôm nay nhìn thấy Alice Munro được giải Man Booker International tự nhiên tôi nhớ là đã từng biết một nhân vật tên là May Munro mà nhớ mãi không ra là ai. Đến lúc bỗng xuất hiện một hình ảnh trong đầu: té ra là tên nhân vật trong phim The Specialist, với Sylvester Stallone và Sharon Stone hehehe.

+ Thơ ký Lâm đúng là dồn tớ vào chân tường nhá. Đặt một vấn đề khó không chịu được: How to find good things to say about Stanley in three days? Ặc.

+ Tờ Magazine Littéraire cấu trúc lại khác hết ngày xưa. Bây giờ có cả mục "Le Pastiche", kiểu Proust ngày xưa làm pastiche chẳng hạn như Saint-Simon (à quyển này cũng là Charlotte Mandell dịch sang tiếng Anh :), và một mục mang tên "Archétype" của Augustin Trapenard, lại thêm một nhân vật từ Normal Sup chui ra. Ces normaliens, ils sont vraiment omniprésents. Có lần tôi tức quá vì tờ báo bỏ mất mục "Retour aux classiques" của Linda Lê (đã có lần viết về Alfred Doeblin) tôi đã viết thư cho báo để phản đối. No reply :)

+ Nhiều bạn nhìn cái title chắc tưởng tôi lại viết về Kundera haha. C'est un leurre hihi.

May 22, 2009

Out of Paris

Thật tuyệt vời và cũng thật rất không tuyệt vời khi đọc đi đọc lại một cuốn sách như A Moveable Feast.

Nó là một cuộc tính sổ, nhưng cũng là cuốn sách rất tình cảm cho Paris. Căn nguyên nhan đề nằm ở một bức thư Hemingway viết cho một người bạn vào năm 1950: "If you are lucky enough to have lived in Paris as a young man, then wherever you go for the rest of your life, it stays with you, for Paris is a moveable feast."

Khi đã từng ở Paris thời trai trẻ thì sau này dù có đi đâu Paris vẫn mãi đi cùng, bởi vì "Paris is a moveable feast". Đến chương cuối, cả nhà Hemingway rời khỏi Paris, khi đó Mr. Bumby ông con trai hay chơi trong giường cũi với con mèo F. Puss sẽ không thể giữ được sức khỏe tốt nếu tiếp tục ở lại. Một câu đầy cay đắng của Hemingway nói rằng "our Paris was too cold for him". Cay đắng, bởi vì với Hemingway rời Paris tức là rời khỏi nơi có thể ngồi viết văn hàng giờ, gỡ bỏ đi tất cả những gì người khác thường giữ lại trong truyện, tại Closerie des Lilas ngay đoạn quảng trường Observatoire. Quán Rotonde ở đại lộ Raspail là nơi để khoe mẽ, nhưng Closerie des Lilas thì khác, tại đó có anh phục vụ bàn Jean sẵn sàng rót đầy tràn ly whisky cho Hemingway và người bạn Evan Shipman. Chương cuối sách được đặt cái tên đầy nostalgia: "There Is Never Any End to Paris".

May 21, 2009

Short

+ Dạo này tôi đổ đốn, toàn động vào những thứ ngắn tũn, thường là truyện ngắn nhưng không chỉ vậy, còn cả các thể loại ngắn nữa, như là tiểu thuyết ngắn (với tôi là chưa tới 200 trang) và rất nhiều thứ ngắn nữa (hint: đọc câu cuối entry này hehe).

+ A Moveable Feast làm người ta hiểu được có thể nói xấu người khác hay đến đâu, và khi nói xấu đạt đến trình độ nào đó thì nó là nghệ thuật, mặc dù Gertrude Stein hay Scott Fitzgerald hay Ernest Walsh hay rất nhiều người khác chắc chắn sẽ không đồng ý như vậy. A Moveable Feast không giống một cuốn hồi ký bằng một vụ tính sổ cá nhân cuối đời Hemingway. Các nhận xét về văn học của "Hem" có một sự cực đoan hiếm có, băn khoăn tại sao một người viết dở như Dostoyevsky lại vẫn viết ra được những thứ đáng tin đến vậy, ca ngợi Turgenev và thích thú những quyển đầu tiên của Georges Simenon khi ấy vừa xuất hiện, nhưng có thể dành những câu rất độc địa cho vô số người, như là Sherwood Anderson chẳng hạn.

Quyển sách này chia thành nhiều chương ngắn, có chương cực ngắn, chỉ mấy trang. Theo nhiều người thì bà vợ cuối của Hemingway đã chế biến lại khá nhiều trình tự, thậm chí cắt bỏ đi kha khá đoạn, nhất là những đoạn liên quan tới người vợ đầu Hadley của Hemingway (sách xuất bản posthumously). Chương dài nhất viết về Scott Fitzgerald, cũng chính là nơi Hemingway tung hàng loạt chiến thuật chiến lược và thể hiện tài năng không thể lặp lại về miêu tả người khác dưới một cái nhìn ác ý. Hemingway ghét nhiều người (ghét gần như tất cả), nhưng hiếm khi nào ghét ai đến như ghét Fitzgerald, như một điều ám ảnh. Miêu tả lần đầu gặp Fitzgerald (tại quán Dingo) Hemingway đã ngay lập tức gài vào chi tiết Fitzgerald đi cùng một cầu thủ bóng chày (pitcher) và nói rằng mình thích cầu thủ hơn Fitzgerald.

Điều cay đắng là tôi lại thích Fitzgerald hơn Hemingway (lol) nên rất khó mà thưởng thức trọn vẹn được tài nghệ của Hemingway.

+ Đợt này: tập truyện ngắn Xoa tay và cười của Ngô Phan Lưu. Các bác có thể xem trên blog của NPL. Vào mục "Góc nhìn văn học" là đọc được lời giới thiệu cuốn sách của Nguyễn Chí Hoan (nhưng đừng đọc bài ngay dưới đó nhé :) Thời gian vừa qua: Xoa tay và cười, Du hành cùng Herodotus, Vu khống, Chinatown (return); thời gian sắp tới: quyển sách của Lévai Ballazs (cái tên sau đánh dấu vào chữ nào ấy nhỉ hehe), tandem cùng bác Hoàng Linh, một vụ hợp tác thật là mỹ miều :), rồi Nam tước trên cây của Calvino và... bạn Huong Chicago ơi, A Moveable Feast :))

+ Có liên quan: như một món quà cho các bạn mê phim ảnh, nhưng món quà này thuộc loại rất dễ gây thất vọng.

+ Những mối tình nực cười của Kundera: lần đầu tiên một tập truyện ngắn.

+ Truyện ngắn hay nhất đọc được đợt vừa qua: "Đêm lãng quên" của Nguyễn Đình Toàn in trên số Văn Nghệ đặc biệt 30/4 các nhà văn miền Nam trước 1975, một miêu tả tâm trạng người già xứng đáng với Tanizaki.

+ Tôi mặc quần soóc thấy nhiều người khen là đẹp mỹ miều :)))

May 7, 2009

Hạnh phúc ngắn ngủi của Francis Macomber

Trên tờ The Guardian hay có list sách hay do một nhà văn hay ai đó tự lập ra. Có rất nhiều, cũng tương tự như "Le Questionnaire de Marcel Proust" (vụ questionnaire này cũng rất vòng vèo, đại khái là khi còn nhỏ Proust đọc thấy cái test tiếng Anh và nhiều lần trả lời, rồi thay đổi một chút các câu hỏi; bản thảo này gần đây được bán đấu giá lên tới trên 100.000 euro: xem thêm ở đây). Lần này danh sách của Malcolm Pryce chọn 10 "expatriate tale" hay nhất rất thú vị. Tôi cũng chẳng biết Pryce là ai, danh sách của Pryce tôi cũng chỉ biết vài quyển: The Quiet American của Greene (ai mà không biết), The Alexandria Quartet của Lawrence Durrell (với tôi Durrell là tương ứng bên tiếng Anh của Albert Cohen bên tiếng Pháp), The Gentleman in the Parlour của Somerset Maugham, Speak, Memory của Nabokov (mà trên blog cũ tôi cũng từng nói đến), Under the Volcano của Malcolm Lowry (cũng là một duyên nợ: do một lần quá chán nản chẳng có gì làm trong một thư viện rộng mênh mông nên tôi đã lỡ tay rút trúng quyển này và đọc say sưa), và A Moveable Feast của Hemingway. (Nhìn chung hiểu biết của tôi về văn học Anh-Mỹ là rất hạn chế).

Cách Pryce viết về cuốn hồi ký của Hemingway cứ là lạ, đọc mấy lần mới hiểu đại khái:

"Hemingway in Paris in the 20s. Starving, living in a garret with his wife, but somehow able to write in the morning and go to the races every afternoon. It all seems so achingly romantic that it comes as a shock in later years to find out it was mostly bollocks - he wasn't really starving but had loads of money. Ah well. The bits about sharing the place with Ezra Pound, F. Scott Fitzgerald, Ford Maddox Ford, John Dos Passos, James Joyce and Gertrude Stein are true. As is the sage advice he gave, that when writing one should always leave a bit over for the next day; stop before one has finished what one was..."

A Moveable Feast (nhan đề siêu khó dịch, bên Pháp chơi ngay trò lẩn tránh, chuồn lẹ, dokhnian way :) bằng cách phiên đi thành Paris est une fête, Paris là một bữa tiệc) rất mỏng, nhưng kể rất nhiều chuyện, đặc biệt hấp dẫn là chuyện về Gertrude Stein hồi đó sống ở phố Fleurus (Stein cũng xuất hiện trong phim Modigliani, như một con ngoáo ộp).

Hồi này Hemingway sống ở khu quận năm, quanh quẩn phố Mouffetard (La Mouffe), quảng trường Constrecarpe, gần phố Cardinal Lemoine và hay đi ngược sang bên quận sáu đến "A Good Café on the Place de St-Michel" - Một quán rất được trên quảng trường St-Michel :) và bắt đầu tự xây dựng kỹ thuật viết văn như sau này chúng ta (một số) sẽ thấy.

Thôi bận rồi để lúc khác viết tiếp hehe (ở Việt Nam truyện "The Short Happy Life of Francis Macomber" trong tập The Snows of Kilimanjaro được dịch thành "Hạnh phúc ngắn ngủi của Mắc Com-bơ").

+ Tức quá, có bài báo "Hemingway's Gender Trouble" của Gerald Kennedy này muốn vơ quá mà nó đòi trả tiền; bác nào có sẵn hay đang có pass lấy hộ được không ạ? Tks tks :)