Oct 13, 2017

Một câu chuyện từ những đụn cát

Trong số các tập truyện mà Andersen cho xuất bản khi còn sống, tập 1858-1860 xứng đáng được coi là một tác phẩm đặc biệt lớn, nó gồm nhiều câu chuyện không thể quên. Cho đến lúc này, tôi đã "lấy" từ tập này không ít: Con gái chúa tể đầm lầy, Đứa bé gái giẫm chân lên ổ bánh mì, và Anne Lisbeth. Dưới đây, Một câu chuyện từ những đụn cát, chính là truyện cuối cùng, khép lại tập sách vừa nói.

Câu chuyện xảy ra chủ yếu ở vùng Jutland, nước Đan Mạch, nơi chẳng có gì khác ngoài các đụn cát, và để có gỗ, củi, người ta cũng lấy từ biển, tại Jutland, biển cũng chính là rừng. Đây cũng là truyện nơi Andersen động đến không ít chi tiết trong lịch sử đất nước Đan Mạch.

Nếu cần so sánh Một câu chuyện từ những đụn cát với một câu chuyện khác mà nhiều người đã quen thuộc, tôi sẽ nói nó tương ứng với Nữ thần băng giá.


(trong truyện có "fjord", chính là "fiord" mà chúng ta đã thấy ở kia, một dạng vịnh, loan, vụng đặc trưng của miền Bắc Âu; đoạn sau của câu chuyện nhắc đến Vendsyssel, địa danh mà ta đã gặp ở Con gái chúa tể đầm lầy)



Một câu chuyện từ những đụn cát


Đây là một câu chuyện từ những đụn cát của Jutland, nhưng nó đã không khởi đầu từ đó. Không, mà là ở rất xa nơi đây, về phía Nam, bên Tây Ban Nha cơ. Biển chính là một con đường nối các đất nước lại với nhau. Hãy thử hình dung bạn đang ở đó, bên Tây Ban Nha ấy! Trời thì nóng và cảnh vật thì tuyệt đẹp. Những bông hoa lựu đỏ như lửa mọc lên giữa đám nguyệt quế sẫm màu. Một làn gió mát thổi từ núi, nó thổi qua các vườn cam cùng những sảnh Moor thật đẹp có vòm tròn mạ vàng và tường sơn màu sặc sỡ. Lũ trẻ con đi diễu hành cử lễ trên phố, tay cầm nến, cờ tung bay trong gió, và phía trên chúng, cao và trong, bầu trời trải rộng cái vòm cao vút của nó, với những ngôi sao nhấp nháy! Những bài ca và tiếng ca-ta-nhét vang lên, những thằng bé và con bé nhảy múa dưới tán cây keo nở hoa, trong lúc người ăn xin, ngồi trên một khối đá hoa cương, giải khát bằng cách ăn một quả dưa ngọt lừ và thiu thiu ngủ cho trôi đi thời gian. Mọi thứ đều giống như một giấc mơ đẹp! Chỉ cần buông mình vào đó mà thôi… Có một cặp vợ chồng mới cưới, hai con người trẻ tuổi, họ đang tận hưởng mọi thứ của cải trên trái đất này: sức khỏe, tâm hồn vui tươi, sự giàu có và các vinh dự.

- Chúng ta được hạnh phúc ở mức cao nhất có thể có! họ nói, điều đó xuất phát từ đáy lòng họ. Và thế nhưng, hạnh phúc của họ còn có thể tăng thêm một bậc nữa, có điều để được như vậy, Chúa phải ban cho họ một đứa con, một thằng con trai giống họ cả về thể xác lẫn tâm hồn.

Đứa trẻ sung sướng này hẳn sẽ được chào đón trong niềm vui, hẳn nó sẽ được bao bọc trong những săn sóc và tình yêu dịu dàng nhất, trong mọi êm đềm mà sự giàu có và một gia đình sung túc có thể tạo ra.

Đối với họ, ngày tháng trôi đi như một bữa tiệc.

- Cuộc đời là một món quà đầy ân sủng mà trời cao tặng cho chúng ta, một món quà gần như không thể hiểu thấu! người vợ nói, và ân sủng ấy hẳn còn lớn thêm nữa trong khoảng sắp tới của cuộc đời, và cứ như vậy mãi cho đến vĩnh cửu! Ý nghĩ này khiến em thấy không sao theo nổi.

- Phải nói rằng con người thật quá mức ngạo mạn! người chồng nói. Trên thực tế, thật quá kiêu ngạo khi tin rằng người ta sẽ sống vĩnh viễn, rằng người ta sẽ trở nên giống như Chúa! Vả lại đó chính là điều con rắn đã nói, mà nó là bậc thầy về xảo trá.

- Dẫu sao anh cũng không nghi ngờ là sẽ có một cuộc đời sau cuộc đời này đấy chứ? người vợ trẻ hỏi, và cứ như thể một đám mây lướt qua, lần đầu tiên, bầu trời rực nắng các suy nghĩ của họ.

- Lòng tin hứa điều đó, các ông thầy tu nói điều đó! người đàn ông trẻ tuổi đáp, nhưng ở giữa toàn bộ hạnh phúc của anh, anh vẫn cảm thấy và hiểu, thật là một ý nghĩ kiêu ngạo, quá ngạo nghễ khi đòi phải có một cuộc đời khác sau cuộc đời này, đòi hạnh phúc vẫn tiếp diễn! Chẳng phải chúng ta đã nhận được quá nhiều trong sự sống này, đến mức cần phải, buộc phải hài lòng với nó rồi sao?

- Về phần chúng ta, quả thật chúng ta đã nhận được rất nhiều, người phụ nữ trẻ nói, nhưng với hàng nghìn người cuộc đời này chẳng phải một thử thách nặng nề, bao nhiêu con người đã không bị ném vào thế giới trong sự nghèo khó, nỗi xấu hổ, bệnh tật và bất hạnh! Không, nếu không có một cuộc đời nào sau cuộc đời này, thì hẳn mọi thứ đã được phân chia theo cách thức quá bất công trên mặt đất, và như vậy Chúa không công bằng.

- Người ăn mày ở dưới phố kia có những niềm vui trong mắt ông ta cũng lớn ngang với các niềm vui mà ông vua cảm thấy trong cung điện tráng lệ! người đàn ông trẻ tuổi đáp, và em không tin rằng con vật suốt ngày phải chở nặng, bị người ta đánh đập, đói khát và làm việc cật lực, lại có ý thức là nó sở hữu một sự tồn tại nhọc nhằn ư? Trong điều kiện như thế, hẳn nó cũng có thể đòi một cuộc đời khác, và cho rằng thật bất công khi nó đã không được trao cho một thứ hạng cao hơn giữa muôn loài.

- Có rất nhiều chỗ trên vương quốc thiên đường, Đức Ki-tô đã nói thế, người phụ nữ trẻ đáp. Vương quốc thiên đường thì bất tận, cũng như tình yêu của Chúa! Cả con thú cũng là một tạo vật và, theo em, chẳng cuộc đời nào sẽ bị tàn lụi. Nó sẽ đạt tới toàn bộ ân sủng mà nó đủ khả năng nhận và như vậy là đủ cho nó.

- Nhưng đối với anh, thế giới này là đủ rồi! người chồng đáp, vòng tay ôm lấy người vợ yêu quý kiều diễm, miệng hút điếu thuốc lá, trên ban công mở cửa nơi làn không khí trong mát thấm đẫm mùi cam và cẩm chướng. Tiếng nhạc và ca-ta-nhét vẳng lên từ dưới phố, các ngôi sao nhấp nháy trên cao, và một cặp mắt ngập tràn tình yêu, cặp mắt của vợ anh, đang nhìn anh, long lanh vì cuộc sống vĩnh cửu nằm bên trong tình yêu.

- Cũng đáng được sinh ra đấy chứ, nếu được sống một phút giây như thế này, và rồi… biến đi mất! anh mỉm cười nói. Vợ anh giơ tay lên, ra dấu trách móc nhẹ nhàng, và đám mây đã bay qua. Họ hạnh phúc hết sức.

Và mọi thứ dường như được xếp đặt nhằm cho phép họ tiến thêm lên trong các vinh dự, niềm vui và sự êm đềm. Đúng là có một thay đổi, nhưng chỉ là đổi địa điểm, nó chẳng hề làm hại gì tới niềm vui và sự sung sướng mà cuộc đời tặng cho họ. Người đàn ông trẻ tuổi được nhà vua cử đi làm đại sứ tại triều đình đế chế Nga. Đó là một vị trí rực rỡ, mà dòng dõi cũng như năng lực của anh cho phép anh được nhận. Anh có một gia sản lớn, người vợ trẻ của anh cũng góp thêm một gia sản khác lớn không kém, nàng là con gái thương gia giàu nhất và được coi trọng nhất. Một trong những con tàu lớn nhất và đẹp nhất của ông năm ấy, vừa lúc, sẽ đi Stockholm. Nó sẽ đưa những đứa con yêu quý, con gái và con rể ông, tới Saint-Petersburg, và người ta trang hoàng bên trong con tàu bằng một sự xa xỉ vương giả: những tấm thảm mềm nâng bàn chân, lụa là gấm vóc khắp mọi nơi.

Có một bài ba lát anh hùng cổ xưa người Đan Mạch nào hẳn cũng thuộc. Nó tên là “Con trai của vua nước Anh”. Chàng cũng đi trên một con tàu xa xỉ đến mức mỏ neo được khảm vàng màu đỏ rực và tất tật dây chão đều được kết bằng lụa. Người ta buộc phải nghĩ đến con tàu ấy khi nhìn con tàu xuất phát từ Tây Ban Nha. Cùng một vẻ rực rỡ như thế, cùng ý nghĩ ấy vào khoảnh khắc từ biệt:


Cầu Chúa cho phép chúng ta
Còn được hưởng niềm vui gặp lại!


Và gió thổi mạnh từ bờ biển Tây Ban Nha, và những lời từ biệt chỉ ngắn ngủi. Chỉ vài tuần nữa thôi, họ sẽ đến được đích của hành trình. Nhưng khi ra ngoài khơi xa, gió ngừng. Mặt biển phẳng lặng, nước lóng lánh, các ngôi sao trên trời thì nhấp nháy. Trong ca bin lộng lẫy các dạ tiệc được tổ chức.

Dẫu sao rốt cuộc người ta cũng mong gió nổi lên, một thứ gió tốt lành mạnh mẽ, nhưng mãi nó không chịu đến. Những lúc có gió, thì hóa ra lại là gió ngược. Nhiều tuần như thế trôi qua, rồi thậm chí tận hai tháng ròng. Mãi khi ấy gió mới thuận. Nó thổi từ Tây Nam. Họ đang lênh đênh giữa Scotland và Jutland, và gió lớn dần lên, hoàn toàn giống như trong bài ba lát cổ “Con trai của vua nước Anh”:


Rồi bão tố nổi lên, mang đến những đám mây u ám,
Họ không thấy nơi đâu, đất liền hay một nơi trú ngụ,
Họ bèn buông mỏ neo trung thành,
Nhưng gió đẩy họ về phía Tây Đan Mạch.

*
*       *

Rất lâu trước đó, Christian VII trị vì trên ngai vàng Đan Mạch và khi ấy, đó là một chàng trai trẻ. Kể từ bấy rất nhiều chuyện đã xảy ra. Rất nhiều điều đã chuyển hóa và thay đổi. Các hồ và đầm trở thành bãi chăn thả màu mỡ, truông trảng biến thành đất trồng trọt, và nép vào ngôi nhà của người miền Tây Jutland, những cây táo và hoa hồng mọc lên, nhưng phải đi tìm chúng, bởi vì chúng trốn lánh nhằm thoát khỏi sự cắn xé của những cơn gió Tây. Khi người ta ở đó, thật dễ dịch chuyển vào quá khứ, còn xa xôi hơn cả thời trị vì của vua Christian VII. Cũng như Jutland của thời đó, truông rộng màu nâu vẫn còn trải dài suốt hàng dặm, với những gò đất, khoảng lầy lội, các con đường giao nhau, khấp khểnh và phủ đầy cát. Về phía Tây, chỗ các con sông lớn đổ vào các fjord, những đồng cỏ và đầm lầy bị giới hạn lại bởi các đụn cát cao, chúng, giống như một dãy núi ở Alpes, với đỉnh  hình răng cưa, dựng lên trước biển, chỉ bị cắt ngang bởi những vách đất sét thật cao, bị biển giật đi những khối lớn, năm này qua năm khác, thành thử nhiều vạt lớn hoặc các chỏm cao sụp xuống, như thể bị một cơn động đất lắc đổ. Ngày nay mọi thứ vẫn y như cách đây nhiều năm, khi những con người trẻ tuổi hạnh phúc đi biển trên con tàu tráng lệ.

Đó là cuối tháng Chín. Đó là một ngày Chủ nhật, trời có nắng, tiếng chuông nhà thờ ngân dọc theo fjord Nissum. Các nhà thờ giống như những khối đá granit, mỗi nhà thờ là một mẩu của núi. Biển Bắc hẳn có thể ào lên chúng, thì hẳn chúng vẫn sẽ đứng vững. Phần lớn chúng thiếu mất gác chuông, vậy nên những cái chuông được treo ngay ngoài trời giữa hai thanh xà. Buổi lễ vừa kết thúc, giáo dân từ ngôi nhà của Chúa túa ra và bước vào nghĩa địa, nơi, ngay thời ấy, đã chẳng có cây hay bụi rậm, không cây hoa nào được trồng, cũng chẳng có vòng hoa đặt trên mộ. Những mô đất nhỏ cho thấy chỗ người chết đã được chôn. Một thứ cỏ cứng, bị gió quật nát, mọc lên trong toàn nghĩa địa. Chỉ duy nhất một ngôi mộ, có lẽ, mang một công trình tưởng niệm, nghĩa là một khúc gỗ mục, đẽo thành hình quan tài. Mẩu gỗ này có xuất xứ từ khu rừng phía Tây của vùng: tức là biển hoang dã. Đối với người sống dọc theo bờ biển, chính đó là nơi các thanh xà mọc lên, những tấm ván và mẩu gỗ được chuyển động của sóng đưa vào đất liền. Gió và sương mù sẽ mau chóng làm mục các khúc gỗ. Một trong các mẩu gỗ ấy nằm trên một nấm mộ trẻ con, và một trong các phụ nữ vừa từ nhà thờ đi ra bước về phía ấy. Bà đứng bất động, ngắm nhìn mẩu gỗ đã bắt đầu mục, và không lâu sau đó, chồng bà cũng tới bên. Họ không nói một lời, ông cầm lấy tay bà, rồi họ rời khỏi ngôi mộ, bước đi trên truông rộng màu nâu, họ vượt qua các đầm lầy và tiến về phía những đụn cát. Họ im lặng bước đi thật lâu.

- Hôm nay bài giảng kinh rất hay, người đàn ông nói. Nếu không có Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ chẳng có gì hết.

- Vâng, vợ ông đáp. Người làm chúng ta vui, và Người làm chúng ta buồn! Người có quyền làm thế! Ngày mai, thằng bé nhà mình tròn năm tuổi đấy, nếu chúng ta còn giữ được nó.

- Em buồn bã như thế cũng chẳng để làm gì đâu! người đàn ông nói. Nó như thế mà lại tốt! Bởi vì nó đang ở chỗ mà chúng ta phải cầu nguyện xin được đến.

Rồi họ không nói gì thêm nữa, và tiến về phía ngôi nhà của họ, giữa các đụn cát. Đột nhiên, tại nơi cỏ cát không giữ được cát đứng yên, trước một trong những ngôi nhà hiện ra một cái gì trông như cột khói, đó là một trận gió lớn, nó ào vào đụn cát rồi sau đó cuốn các hạt cát nhỏ lên cao, trong một cơn xoáy lốc. Thêm một đợt gió nữa, nó ném vào bức tường ngôi nhà tất cả chỗ cá mà họ đã treo lên dây để phơi khô, rồi mọi thứ trở lại yên bình. Mặt trời xối xả.

Người đàn ông cùng vợ bước vào nhà, mau chóng cởi bỏ quần áo ngày Chủ nhật, rồi họ băng qua các đụn cát, chúng giống những đợt sóng cát to lớn chừng như đột nhiên sững lại trong chuyển động. Mái nhà bằng rạ và các cành cỏ cát cứng màu xanh nhợt tương phản với màu cát, trắng đồng phục. Vài người hàng xóm tới, họ chung sức kéo những con thuyền lên cao hơn trên cát, gió thổi mạnh hơn, lạnh thấu xương, và khi họ lại vượt qua các đụn cát theo chiều ngược lại, cát và những viên sỏi nhỏ sắc nhọn ập vào mặt họ. Những con sóng nhô cao chỏm bạc và gió phăng đi đỉnh trên cùng của chúng, làm bắn bọt tung ra xa.

Trời đã tối. Trong không khí có một tiếng ồn mỗi lúc một lớn thêm, tạo thành từ những tiếng gào hú, than thở, như thể đang có hằng hà sa số bóng ma tuyệt vọng. Nó vượt trội lên khỏi tiếng gầm của biển, mặc dù ngôi nhà người ngư dân nằm rất gần bờ. Cát quật lên các ô kính, và đôi lúc, một đợt gió mạnh ào đến, như thể muốn lay đổ ngôi nhà đến tận nền móng. Trời tối đen, nhưng vào quãng nửa đêm trăng sắp sửa lên.

Bầu không khí sáng hơn, nhưng cơn bão đang dồn hết sức lực tung hoành trên biển sâu và đen thẳm. Các ngư dân đã đi nằm từ lâu, nhưng không có chuyện nhắm được mắt trong một thời tiết như thế này. Có người gõ vào cửa sổ, cửa mở ra và ai đó nói:

- Một con tàu lớn dạt vào doi cát cuối cùng! các ngư dân nhảy vọt ra khỏi giường, vội vã mặc quần áo.

Trăng đã hiện ra. Đủ sáng để người ta có thể nhìn rõ mọi thứ, nếu đủ sức mở to mắt trong bão cát. Gió mạnh đến nỗi phải khó nhọc rạp người xuống; họ đã vượt qua được các đụn cát bằng cách trườn đi giữa các cơn gió, và ở đó, sương mù cùng bọt mặn trôi nổi trong không khí giống lông thiên nga bốc lên từ biển, nó vừa ào vào bờ như một thác nước gầm rú và sôi lục bục. Thực sự là phải có con mắt lão luyện lắm thì mới có thể ngay lập tức nhìn thấy con tàu ở đâu. Đó là một con tàu tuyệt đẹp hai cột buồm. Còn cách nơi vẫn là dòng kênh trên biển chừng một cây số thì nó bị sóng đánh dạt về phía đất liền, đâm sầm vào doi cát khác và chìm xuống. Không thể cứu hộ được, biển quá dữ, nó đánh đập con tàu và ào nước qua bên trên. Người ta nghĩ mình nghe thấy những tiếng hét hoảng loạn, những tiếng gọi hãi hùng trước cái chết, người ta trông thấy diễn ra các hoạt động cuống cuồng và tuyệt vọng. Rồi một tảng nước khổng lồ ập xuống giống như một khối đá hung ác, làm biến mất cột buồm chính, đuôi tàu vểnh lên rất cao phía trên mặt nước. Hai người cùng nhau nhảy xuống biển, và chỉ một chớp mắt, họ biến mất, rồi một trong những đợt sóng lớn nhất vỗ vào các đụn cát ném lên bờ một xác người, đó là một phụ nữ, đã chết, họ nghĩ. Vài phụ nữ nháo nhác quanh nàng và họ nghĩ nàng vẫn còn thoi thóp sống. Nàng được đưa đi qua các đụn cát về ngôi nhà của người ngư dân. Sao mà nàng đẹp và sang trọng! Chắc hẳn đây phải là một quý bà.

Người ta đặt nàng nằm lên cái giường khốn khổ. Không có đến một sợi lanh, đó là một tấm chăn len, và nó rất ấm.

Nàng hồi tỉnh, nhưng lên cơn sốt, nàng hoàn toàn không biết chuyện gì đã xảy ra, cũng như nàng đang ở đâu, vả lại như vậy là tốt, bởi vì mọi thứ gì là thân thiết với nàng đều đã nằm lại dưới đáy biển. Đã xảy đến với những người ấy cùng cái điều mà bản ba lát anh hùng “Con trai của vua nước Anh” từng kể:


Thật đáng sợ khi thấy,
Con tàu bị vỡ tan tành.


Những mảnh tàu vỡ và các khúc gỗ dạt lên bờ. Nàng là người duy nhất sống sót. Gió vẫn gầm rú bên ngoài. Có những lúc nàng bình tâm lại, nhưng mau chóng lại tới những cơn đau và những tiếng hét. Nàng mở cặp mắt đẹp, nói vài câu, nhưng không ai trong số những người có mặt ở đó hiểu nàng nói gì.

Chính vào lúc ấy, sau tất tật những đau đớn và cuộc chiến đấu, như để nhận về một phần thưởng, nàng bế trên tay một đứa trẻ mới sinh. Lẽ ra nó phải được đặt nằm trên một cái giường lộng lẫy, chăng màn lụa, trong ngôi nhà tráng lệ. Lẽ ra những tiếng kêu sung sướng phải vang lên cầu chúc cho nó một cuộc đời giàu có tài sản trái đất, nhưng Đức Chúa đã khiến nó được sinh ra tại cái xó nghèo khó kia. Thậm chí nó còn không được nhận đến cả một nụ hôn của mẹ.

Người vợ ngư dân đặt đứa bé lên ngực mẹ nó, nhưng nó đang ở gần một trái tim không còn đập. Nàng đã chết. Đứa bé lẽ ra phải được nuôi dưỡng bởi sự giàu có và hạnh phúc đã bị ném vào thế giới, bị biển ném lên các đụn cát, để nó phải biết số phận và những ngày tháng cơ cực của người nghèo.

Và bài hát cổ vẫn tiếp tục quay trở lại với chúng ta trong tâm trí:


Con trai của ông vua, nước mắt chảy tràn trên má,
Bởi ý Chúa, nên ta ở đây, Bovbjerg này!
Mọi sự đều xui xẻo đối với ta!
Nhưng nếu ta tới vùng đất phong của ngài Bugge,
Chắc không hiệp sĩ hay tên gia nhân nào dám ức hiếp ta.


Con tàu đã dạt vào cái nơi nằm hơi chếch về phía Nam so với fjord Nissum, trên đoạn bờ biển mà ngài Bugge xưa kia từng sở hữu, một trong các điền thổ của ông. Quãng thời gian tồi tệ và phi nhân tính, hồi cư dân bờ biển miền Tây cư xử rất xấu, như người ta vẫn hay nói, đối với những người đắm tàu, đã qua từ lâu. Ở đây người ta bày tỏ lòng xót thương, họ nuôi nấng, bao bọc những người thoát nạn, đó là những gì ngày nay người ta thấy tỏa rạng trên các khuôn mặt với các đường nét cao quý nhất. Người mẹ hấp hối và đứa trẻ đáng thương lẽ ra phải được vây quanh bởi sự chiều chuộng và săn sóc, tại một nơi nào đó mà “gió đưa họ đến”, nhưng chắc hẳn chẳng đâu khác họ có thể được đón tiếp nồng ấm hơn so với tại nhà người vợ ngư dân nghèo khổ, mới hôm trước bà còn đứng trước nấm mộ con của bà với tấm lòng trĩu nặng, lẽ ra hôm nay nó tròn năm tuổi, nếu Chúa ban ơn cho nó được sống.

Chẳng người nào biết người phụ nữ lạ mặt vừa chết là ai, nàng từ đâu tới. Các mảnh tàu vỡ và những khúc gỗ của con tàu câm lặng về điều này.

Bên Tây Ban Nha, trong ngôi nhà tráng lệ, không bức thư nào, không tin tức nào có bao giờ đến nơi để nói về cô con gái và người con rể. Họ đã không tới được đích. Những cơn bão hung dữ đã hoành hành mấy tuần vừa qua. Người ta đợi suốt nhiều tháng trời. “Tàu đã đắm cả người lẫn của cải. Không ai thoát nạn.” Đó là điều mà họ biết.

Nhưng tại các đụn cát vùng Husby, trong ngôi nhà của ngư dân, giờ đây có một thằng bé con.

Nơi nào Chúa ban đồ ăn cho hai người, thì chắc chắn người thứ ba cũng sẽ được ăn, và trên bờ biển, thật dễ làm món cá cho một cái miệng đói. Người ta đặt cho thằng bé cái tên Jørgen.

“Chắc đây là một thằng bé Do Thái, người ta nói, nước da của nó sẫm lắm!” “Cũng có thể là một thằng bé người Ý, hoặc Tây Ban Nha!” ông mục sư nói. Người vợ của ngư dân không thấy có gì khác biệt giữa ba dân tộc này, và bà thấy được an ủi với ý nghĩ đứa bé đã được nhận báp têm để trở thành một người Ki-tô giáo. Thằng bé lớn nhanh như thổi, thứ đồ ăn còi cọc truyền hơi ấm và sức lực vào dòng máu cao quý của nó, nó lớn lên trong ngôi nhà khiêm nhường ấy. Tiếng Đan Mạch, theo lối nói của người Tây Jutland, trở thành ngôn ngữ của nó. Hạt lựu của đất Tây Ban Nha đã biến thành thứ cỏ cát trên bờ biển Tây Jutland. Con người ta có thể thành ra như thế đấy! Nơi tổ ấm này, cậu bé bắt rễ toàn bộ cuộc đời mình, theo năm tháng. Cậu sẽ biết đến cái đói, cái lạnh, nhu cầu và nỗi khó nhọc của người nghèo, nhưng cũng cả niềm vui của người nghèo nữa.

Đối với mọi con người tuổi thơ có các khoảnh khắc rực sáng, chúng còn chiếu rọi cho cả phần đời về sau. Hàng đống thứ bày ra trước cậu, làm cậu vui thích, khiến cậu được giải khuây! Khắp bãi biển, dài suốt nhiều dặm, chất đầy các món đồ chơi: một tấm thảm khảm đá cuội, đỏ như san hô, vàng như hổ phách, trắng và tròn trịa như trứng chim. Có đủ mọi thứ màu, biển mài nhẵn tất tật chúng, làm chúng trở nên thật mịn. Ngay một bộ xương cá khô, các loại cây thủy sinh bị gió thổi héo, tảo trắng nhức mắt, dài và hẹp như những dải ruy băng, bay phất phơ giữa các tảng đá, mọi thứ đều được tạo ra nhằm làm vui thú và giải khuây cho mắt nhìn và tinh thần, và thằng bé là một đứa sáng dạ. Rất nhiều tài năng lớn còn đang thiếp ngủ bên trong cậu. Sao mà cậu giỏi nhớ các câu chuyện và bài hát mà cậu từng nghe, sao mà cậu khéo tay đến thế! Với các hòn đá và vỏ sò, cậu làm ra những con tàu đầy đủ, những hình ảnh có thể dùng để trang trí cho căn phòng. Thật kỳ lạ, nó có thể diễn đạt các ý nghĩ bằng cách tạc chúng vào một mẩu gỗ, bà mẹ nuôi của cậu nói, và thế nhưng nó vẫn còn rất bé. Giọng của cậu rất hay và cậu dễ dàng thuộc các giai điệu. Lồng ngực cậu giấu bên trong nhiều sợi dây hẳn sẽ có thể vang lên khắp thế giới, nếu cậu được đặt vào một chỗ khác chứ không phải nhà của ngư dân bên bờ Biển Bắc.

Một hôm, có một con tàu đắm ở đây, một hòm củ hoa hiếm được lôi vào bờ. Người ta lấy mấy củ cho vào nồi nấu lên vì tưởng là ăn được, những cũ khác nằm lại trên cát rồi thối đi, chúng đã không hoàn thành được sứ mệnh của mình, tức là bày ra sự xa xỉ của màu sắc, sự rực rỡ mà chúng chứa đựng… Jørgen có biết đến một số phận khá khẩm hơn không? Các củ hoa không trụ được lâu, nhưng về phần cậu, cậu vẫn còn nhiều năm để sống.

Chẳng bao giờ họ nảy ra ý nghĩ, cả cậu cũng như những người khác, ở đó, rằng ngày tháng cô độc và đơn điệu. Có hàng đống thứ để làm, để nghe và để nhìn. Bản thân biển đã là một cuốn sách giáo khoa lớn mỗi ngày lại mở một trang mới: phẳng lặng, sóng lừng, gió nhẹ và bão tố. Các vụ đắm tàu là những khoảnh khắc trọng đại. Những lúc đi nhà thờ, thật giống như là đi dự lễ hội. Về phần khách khứa, có một người đặc biệt được chào đón tại nhà ông bà ngư dân, mỗi năm hai lần. Đó là ông chú của bà mẹ, người buôn lươn ở Fjaltring, gần Bovbjerg. Ông tới trên một cỗ xe sơn đỏ, chất đầy lươn. Cỗ xe kín mít giống như một cái hòm và trang trí hoa tuy líp xanh, trắng. Nó được hai con bò màu tím sẫm kéo, và Jørgen được phép cầm cương điều khiển chúng.

Ông lái buôn lươn là người có trí tuệ và rất vui nhộn. Ông mang theo trên người một bi đông đựng đầy rượu. Ông mời mọi người một cốc nhỏ, hoặc cũng có thể là một tách cà phê, nếu không có đủ ly cốc, và cả Jørgen, dẫu còn rất nhỏ, cũng được một đê khâu đầy ắp rượu. Đấy là để tiêu hóa con lươn béo, ông lái buôn lươn nói và ông luôn luôn kể cùng một câu chuyện, và nếu nó làm người ta cười, ngay lập tức ông kể lại nó thêm một lần nữa cho cùng những người ấy nghe. Tất cả những kẻ ba hoa đều làm như vậy! Và vì Jørgen mượn từ câu chuyện này nhiều câu nói trong suốt quãng tuổi trẻ và cả khi đã trưởng thành, chắc hẳn chúng ta cũng nên nghe nó.

“Lũ lươn luồn lội trên sông, và mẹ lươn nói với các con gái của nó, vì chúng xin phép được bơi ngược dòng một chút để đi chơi: “Đừng đi quá xa đấy! Tên ngư dân chuyên bắt lươn độc ác sẽ mau chóng tới và hắn sẽ bắt hết bọn mày cho mà xem!” Nhưng chúng đi quá xa và trong tổng số tám con lươn, chỉ ba con trở về với mẹ lươn, chúng than vãn: “Bọn con chỉ vừa mới đi qua cửa thì tên ngư dân chuyên bắt lươn độc ác đã đến và giết mất năm chị em của bọn con! - Chắc rồi chúng sẽ về thôi. - Không! bọn lươn con đáp, vì hắn đã lột da họ, thái thành những miếng nhỏ rồi rán lên. - Chắc rồi chúng sẽ về thôi! mẹ lươn nói. - Vâng, nhưng hắn đã ăn thịt họ mất rồi! - Chắc rồi chúng sẽ về thôi, mẹ lươn vẫn nói. - Nhưng chưa hết, hắn lại còn uống rượu nữa! lũ con gái cho biết. - Ây dà! Nếu vậy, chúng sẽ chẳng bao giờ về nữa đâu! mẹ lươn kêu lên. Rượu thì đủ sức chôn lươn!”

- Và chính vì vậy mà người ta luôn luôn phải uống một cốc rượu nhỏ để ăn kèm cái món này! ông lái buôn lươn nói.

Và câu chuyện này trở thành sợi chỉ đỏ của cuộc đời Jørgen, nó quyết định tâm trạng của cậu. Cả cậu nữa, cậu cũng rất muốn vượt qua ngưỡng cửa, bơi “ngược dòng một chút”, nghĩa là đi ra thế giới trên một con tàu. Và mẹ cậu cũng nói giống mẹ lươn: “Có rất nhiều người độc ác, đám ngư dân chuyên bắt lươn!”, nhưng tuyệt đối cần phải rời xa các đụn cát một chút, phải lấn sâu một chút vào cái truông, và đó là chuyện sẽ xảy đến. Bốn ngày ngập tràn vui tươi, những ngày rực sáng nhất của tuổi thơ cậu, đang tiến lại gần. Chúng là đại diện cho toàn bộ vẻ duyên dáng của Jutland, niềm vui và mặt trời của tổ ấm. Cậu sẽ đến dự một bữa tiệc - nói đúng ra là một bữa tiệc đám ma.

Một người bà con giàu có trong gia đình ngư dân mới chết. Ngôi nhà lớn của ông nằm sâu trong nội địa. “Về phía Đông, vài độ chếch lên Bắc”, như người ta nói. Ông bố và bà mẹ sẽ đi đến đó, và Jørgen sẽ đi cùng. Sau khi rời các đụn cát, họ băng qua truông rộng và vùng đầm bãi, rồi họ tới đồng cỏ màu lục nơi con sông Skjaerum chảy qua; con sông này, nơi có rất nhiều lươn, nơi mẹ lươn sống cùng các con gái của nó, mà đám người độc ác bắt lấy rồi thái thành những miếng nhỏ. Và thế nhưng, con người cũng không thường đối đãi với đồng loại của mình tốt đẹp hơn. Ngài Bugge, hiệp sĩ đã được nhắc đến trong bài hát cổ, bị ám sát bởi những kẻ độc ác, và dẫu người ta có ra sức bảo ông là người tốt, thì dẫu thế nào ông cũng từng muốn giết người quản đốc xây dựng cho ông một tòa lâu đài với nhiều tháp canh và những bức tường dày, tại chính cái nơi Jørgen đang ở cùng bố mẹ nuôi, nơi con sông Skjaerum chảy vào fjord Nissum. Người ta vẫn còn nhìn thấy bờ ta luy, và các dải tường màu đỏ rải rác đây đó. Chính đây là nơi hiệp sĩ Bugge, sau khi viên đốc công đi khỏi, đã nói với người hầu: “Đuổi theo hắn và nói với hắn: “Thưa ngài, tháp bị nghiêng!” Nếu hắn quay lại thì giết hắn luôn và lấy chỗ tiền mà ta đã cho hắn, nhưng nếu hắn không quay lại, thì cứ để mặc hắn đi!” Và tên gia nhân tuân lời. Đốc công đáp: “Tháp thì không nghiêng đâu, nhưng rồi một ngày từ phía Tây một người mặc áo choàng màu xanh sẽ tới làm nó bị nghiêng!” Và chuyện đã xảy ra đúng như vậy một trăm năm sau đó, vào lúc Biển Bắc dâng nước vào và tháp bị đổ. Nhưng người chủ tòa lâu đài, Predbjørn Gyldenstjerne, xây, còn cao hơn, tại nơi đồng cỏ kết thúc, một ngôi nhà mới, và nó vẫn còn đứng vững, đó là Nørre-Vosborg.

Jørgen phải đi qua phía trước nơi này cùng bố mẹ nuôi của cậu. Cậu đã được nghe miêu tả mọi chi tiết trong suốt những buổi tối mùa đông dài, và giờ đây, cậu ngắm nhìn khu đất, với hào nước thật rộng, đám cây và bụi rậm. Ta luy phủ đầy dương xỉ vươn cao ở bên trong, nhưng điểm duyên dáng hơn cả là các cây bồ đề cao lớn. Chúng vươn lên tận mái nhà và tỏa vào không khí ngập tràn hương thơm dịu ngọt nhất. Về phía Tây Bắc, trong một góc vườn, có một bụi cây lớn với những bông hoa trông thật giống tuyết mùa đông ở ngay giữa màu xanh mùa hè. Đó là một bụi cây cơm cháy, bụi cơm cháy đầu tiên mà Jørgen nhìn thấy nở hoa theo cách này. Ký ức mà nó để vương lại nơi cậu, cùng đám bồ đề, suốt cuộc đời cậu sẽ là hương thơm và vẻ duyên dáng của Đan Mạch, mà tâm hồn trẻ thơ của cậu “giữ lại cho tuổi già”.

Chuyến đi mau chóng tiếp tục, thuận lợi hơn, vì từ Nørre-Vosborg trở đi, tức là nơi có bụi cơm cháy trổ hoa, có thể đi bằng xe ngựa. Họ gặp những người khác cũng được mời tới dự đám tang, và đi cùng luôn, trên cỗ xe của họ. Đúng là cả ba người phải chen chúc ngồi ở phía sau, trên một cái hòm nhỏ bằng gỗ có nẹp sắt, nhưng dẫu thế thì vẫn cứ tốt hơn so với phải cuốc bộ, họ cho là vậy. Con đường của họ đi qua mặt truông khấp khểnh. Lũ bò kéo xe thỉnh thoảng dừng lại, những khi có một đám cỏ màu lục giữa thảm thạch thảo. Trời nắng ấm, và từ xa người ta có thể nhìn thấy một cảnh tượng kỳ lạ, một làn khói uốn lượn và thế nhưng trông lại trong hơn không khí. Ta có thể nhìn xuyên qua, cứ như thể các tia ánh sáng cuộn tròn và nhảy múa trên truông.

- Thần Loki đang dẫn đàn cừu đấy, họ nói, và Jørgen không hỏi gì thêm. Cậu có cảm giác đang bước thẳng vào vùng đất của các câu chuyện cổ tích, và thế nhưng đó lại là thực tại! Sao mà khắp xung quanh im lìm đến thế!

Truông rộng ngút tầm mắt, trông nó giống một tấm thảm rất xa xỉ. Thạch thảo đang ra hoa, bách xù màu lục cũng như bách và các búp sồi non nổi lên trên lớp thạch thảo của truông giống như những bó hoa. Hẳn người ta thấy rất thèm muốn được nằm lăn ra đó nếu không có tất tật lũ rắn độc kia! Người ta hay nhắc đến chúng, cũng như rất đông chó sói vẫn còn đó, vả lại đây chính là lý do khiến tổng này tên là tổng Ulvborg, Tổng Chó Sói. Ông xà ích già kể rằng, thời bố của ông, lũ ngựa trong vùng hay bị buộc phải đánh nhau thật dữ dằn với đám thú hoang kia, giờ đây chúng đã bị tận diệt, và một sáng nọ, đúng lúc ông đi đến đây, có một con ngựa đang giẫm đạp lên một con chó sói mà nó đã giết chết, nhưng chân con ngựa cũng nát bấy, bê bết máu.

Chuyến đi băng qua mặt truông khấp khểnh và cát sâu đã chóng kết thúc quá mức. Họ dừng lại trước ngôi nhà có tang, ở đó rất đông người, cả bên trong lẫn bên ngoài. Các cỗ xe đậu cạnh nhau, lũ ngựa và bò đi nhởn nhơ trên cánh đồng lơ thơ cỏ. Những vách cát thật lớn, cũng như những vách cát thân thuộc với họ, bên bờ Biển Bắc, vươn lên đằng sau trang trại, và trải rộng hết tầm mắt! Làm sao mà chúng lại có thể ăn sâu vào đất liền ba dặm liền, đến tận đây, cũng cao và hùng mạnh đúng y như những đụn trên bờ biển? Gió đã nâng chúng lên và dịch chuyển chúng. Chúng cũng có câu chuyện riêng của mình.

Người ta hát các bài thánh thi, vài người già khóc, nhưng ngoài đó ra, Jørgen thấy mọi thứ đều rất dễ chịu. Có rất nhiều đồ ăn thức uống, lươn béo ngon lành nhất, mà để ăn người ta cần phải chiêu thêm một cốc rượu. “Rượu chôn được lươn!” ông lái buôn lươn từng nói vậy, và những lời của ông rất hay được người khác nhắc lại.

Jørgen lúc thì ở bên trong, khi lại ở bên ngoài ngôi nhà. Ngày thứ ba, cậu cảm thấy thoải mái như ở nhà mình, giống như cậu từng ở ngôi nhà của ngư dân giữa các đụn cát, nơi cậu đã sống cả đời cho tới lúc đó. Quả thật nơi đây, tại truông rộng, tự nhiên phong phú theo cách khác hẳn. Thạch thảo điểm xuyết rất nhiều hoa, mâm xôi và việt quất khắp nơi, to và ngọt, người ta có thể dễ dàng dùng chân nghiền nát chúng, và thạch thảo ứa ra thứ chất lỏng màu đỏ bên trong nó.

Chỗ này, có một ngôi mộ đá, chỗ kia, một mộ khác. Những làn khói bay lên trong bầu không khí tĩnh lặng. Đó là những đám cháy ở truông, người ta nói, chúng rọi sáng rất đẹp trong suốt buổi tối.

Đã sang đến ngày thứ tư, và đó là thời điểm kết thúc của bữa tiệc đám ma. Phải rời khỏi các đụn cát trong nội địa để quay về các đụn cát bờ biển.

- Dẫu sau thì những đụn cát của chúng ta mới là thật, ông bố nói, các đụn ở đây chẳng có sức mạnh gì cả.

Và người ta kể về cách thức chúng xuất hiện nơi đây, mọi thứ đều rất dễ hiểu. Người ta đã tìm thấy một xác chết trên bờ biển, các nông dân chôn nó vào nghĩa địa, nhưng bão cát khởi sự, biển hung dữ cuộn sóng. Một người thông thái trong giáo xứ khuyên mọi người mở nấm mộ ra kiểm tra xem có phải kẻ vừa được chôn đang mút ngón tay cái hay không, bởi vì nếu vậy thì tức là người ta đã chôn một thủy thần xuống đất, và biển dâng sóng để lên cướp về. Người ta mở nấm mộ ra. Đúng là cái xác đang mút ngón tay cái. Ngay lập tức người ta cho cái xác lên xe, thắng hai con bò vào, và cứ như bị ruồi nhặng đốt, họ vội vã đưa cỗ xe vượt qua truông và đầm lầy, ra ngoài biển. Cơn bão cát bèn lắng xuống, nhưng các đụn thì vẫn còn ở lại. Jørgen nghe toàn bộ câu chuyện và nhớ mãi, đó là những ngày hạnh phúc nhất trong suốt quãng tuổi thơ của cậu: những ngày có bữa tiệc đám ma.

Thật tuyệt diệu khi được di chuyển, nhìn ngắm các vùng đất mới và những con người mới, và cậu đã không ngừng di chuyển. Cậu còn chưa tròn mười bốn tuổi, vẫn còn là một đứa trẻ. Cậu ra đi trên một con tàu và làm quen với những gì thế giới có thể trao tặng. Cậu biết tới thời tiết tồi tệ, bão tố trên biển, sự độc ác của những con người cứng rắn. Cậu trở thành phụ việc trên tàu! Ăn uống kém, những đêm lạnh lẽo, những sự trừng phạt và các cú đấm là những gì cậu phải nhận về. Một điều gì đó bắt đầu sôi lên trong dòng máu Tây Ban Nha trâm anh thế phiệt của cậu, và những lời giận dữ trào ra khỏi miệng cậu, nhưng chắc chắn là sẽ khôn ngoan hơn nếu nuốt chúng đi, và cậu có cảm giác mình là một con lươn đang bị người ta lột da, bị người ta thái ra thành những miếng nhỏ và bị cho vào chảo.

“Mình sẽ trở lại”, một giọng nói vang lên bên trong cậu. Cậu có dịp nhìn thấy bờ biển Tây Ban Nha, tổ quốc của bố mẹ cậu, chính cái thành phố nơi họ từng sống trong cảnh thịnh vượng và hạnh phúc, nhưng cậu không biết gì về vùng đất quê hương cũng như bố mẹ cậu, và gia đình cậu còn biết về cậu ít hơn.

Vả lại thằng bé phụ việc không được phép lên bờ, và thế nhưng, vào ngày cuối cùng con tàu đậu lại đó, cậu vẫn đặt chân lên đất liền. Cậu phải đi mua đồ, rồi vác chúng về tàu.

Jørgen ở đó, mặc trên người những thứ quần áo rách rưới, như thể đã được giặt dưới hố và phơi khô trên lò sưởi. Đây là lần đầu tiên cư dân của các đụn cát ấy nhìn thấy một thành phố lớn. Sao mà các ngôi nhà cao thế, phố thì hẹp, đông đặc những người là người! Người ta chen lấn chỗ này, người ta chen lấn ở chỗ kia, cả một xoáy lốc đích thực cư dân thành thị và nông dân, thầy tu và lính tráng. Người ta hò hét, lảm nhảm, nhạc chuông của lũ lừa và la kêu tinh tang, cùng lúc chuông nhà thờ cũng vang lên! Có thể nghe thấy những tiếng hát, tiếng nhạc, tiếng quai và đập búa, bởi vì nghề nào cũng có xưởng riêng ngoài cửa nhà hoặc trên vỉa hè, và mặt trời thì xối xả, và không khí thì nặng nề đến nỗi cứ như thể người ta đang ở trong một cái lò nướng bánh mì đầy bọ dừa, bọ da, ong và ruồi, chúng vo ve và kêu ong ong. Jørgen chẳng biết phải đi đâu nữa. Khi ấy cậu chỉ nhìn thấy ngay trước mặt cánh cửa đồ sộ của vương cung thánh đường, các ngọn nến tỏa ánh sáng vào bóng tối nhờ nhợ dưới những vòm cao, và tỏa ra mùi hương trầm. Ngay người ăn mày nghèo nhất quần áo vá chằng vá đụp cũng cả gan leo cầu thang để vào bên trong. Người thủy thủ mà Jørgen hộ tống đi qua nhà thờ và thế là Jørgen ở bên trong chính điện. Các bức tranh nhiều màu nổi bật lên trên những cái nền mạ vàng. Mẹ của Chúa với Jesus Hài Đồng ở trên ban thờ giữa hoa và nến. Các ông thầy tu mặc áo lễ hát, lũ trẻ con xinh đẹp trợ lễ ăn vận trau chuốt đung đưa những bình hương bằng bạc. Đó là một cảnh tượng rực rỡ, tráng lệ. Nó xâm lấn vào tâm hồn của Jørgen, cậu cảm thấy bị ngộp. Nhà thờ và lòng tin của bố mẹ cậu đang bao quanh cậu và rung lên hòa nhịp với tâm hồn cậu, thành thử cậu trào nước mắt.

Từ nhà thờ, họ đi ra chợ. Phải mang thực phẩm và đồ dự trữ về. Chuyến đi không ngắn, cậu cảm thấy mệt, và cậu dừng chân nghỉ trước một ngôi nhà lớn lộng lẫy có các cây cột đá hoa cương, tượng và những cầu thang rộng. Cậu ngả cái thùng đang vác dựa vào bức tường, nhưng một người gác cửa vai đeo ngù mau chóng xuất hiện, giơ cao cây gậy có tay nắm bạc, và đuổi cậu đi, cậu, người cháu của ngôi nhà, nhưng chẳng ai biết điều đó, cậu thì lại càng không.

Rồi cậu quay trở lại tàu, bị ngược đãi và phải hứng chịu những lời cục cằn, ít được ngủ và rất nhiều việc. Giờ đây cậu đã biết như thế nghĩa là thế nào! Thật tốt lành khi trải qua các thử thách nặng nề trong tuổi trẻ, người ta nói, và điều đó rất đúng, với điều kiện người ta sẽ có một tuổi già tốt đẹp.

Hợp đồng của cậu hết hạn, con tàu lại đang ở gần fjord Ringkøbing, vùng Jutland. Cậu lên bờ và quay trở về nhà giữa các đụn cát ở Husby, nhưng mẹ cậu đã chết trong lúc cậu đi vắng.

Mùa đông tiếp theo đặc biệt khắc nghiệt. Những cơn bão tuyết hoành hành trên biển và trên đất liền. Người ta không sao đi lại nổi. Sao mà mọi thứ được phân chia theo cách thức khác biệt đến thế trên cõi đời này! Một cái lạnh băng giá và những cơn lốc xoáy ở đây, trong khi tại đất nước Tây Ban Nha, sự ấm áp của nắng lên đến mức cháy bỏng, và thậm chí còn hơi quá mức, và thế nhưng, trong một ngày băng giá tươi đẹp, khi mà thời tiết trong vắt và Jørgen trông thấy lũ thiên nga từ biển bay tới thành những dải lớn, bay trên fjord Nissum và tiến về phía Nørre-Vosborg, dẫu sao cậu cũng thấy rằng ở đây người ta được hít thở không khí tốt lành nhất và rằng ở đây mùa hè cũng rất dễ chịu. Lúc đó, trong ý nghĩ cậu nhìn thấy truông rộng nở hoa và tím sậm vào với đám mâm xôi mọng nước. Các cây bồ đề và bụi cơm cháy ở Nørre-Vosborg đang rộ hoa. Rồi một ngày, sẽ phải quay trở lại đó.

Mùa xuân đến gần, công việc chài lưới bắt đầu, Jørgen giúp một tay. Năm vừa qua cậu đã lớn lên nhiều và cậu mau chóng làm việc. Cậu đầy hào hứng, cậu biết bơi, đứng trong nước, hai chân đập, lộn nhào và vùng vẫy. Người ta thường cảnh báo cậu là phải cẩn thận với các đàn cá thu. Chúng cuốn lấy người bơi giỏi nhất, kéo anh ta xuống sâu dưới nước, ăn thịt anh ta và rồi người ta sẽ không còn nhìn thấy anh ta nữa. Nhưng đó không phải số phần mà Jørgen phải gánh chịu.

Bên nhà hàng xóm, trong các đụn cát, có một thằng bé, Morten, Jørgen rất thân với cậu ta, và họ cùng lên một con tàu khởi hành sang Na uy. Họ cũng đi Hà Lan, và không bao giờ có chuyện gì để cãi cọ với nhau, tuy vậy cũng rất dễ cãi cọ, và nếu người ta có một bản tính hơi dữ dội, người ta dễ có những cử chỉ đột ngột quá mức. Đó là chuyện từng xảy đến một lần với Jørgen, khi họ cãi nhau vì một chuyện không đâu. Họ đang ngồi đằng sau cửa ca bin và ăn từ một cái khay bằng đất đặt ở chính giữa. Jørgen cầm con dao nhíp trên tay, cậu giơ nó về phía Morten, nhưng cùng lúc đó, mặt cậu trắng bệch và ánh mắt có một biểu hiện khủng khiếp. Và Morten chỉ nói: “À ra thế, cậu thuộc loại người thích dùng dao cơ đấy…”

Cậu ta chỉ vừa nói thế thì bàn tay Jørgen đã buông thõng xuống. Cậu không nói một lời, ăn hết phần của mình rồi quay đi làm việc. Khi xong việc quay về, cậu đến trước Morten và nói:

- Đấm thẳng vào mặt tớ đi! Tớ xứng đáng chịu như vậy! Bên trong tớ như thể có một cái nồi sôi sùng sục!

- Thôi ta không nhắc lại chuyện ấy nữa! Morten đáp. Và sau đó, tình bạn giữa họ gần như được nhân đôi. Thành thử khi họ quay trở về nhà tại Jutland giữa các đụn cát và kể lại chuyện đã xảy ra, họ cũng nhắc đến điều đó. Jørgen từng có lúc sôi lên, nhưng dẫu thế nào thì đó cũng là một cái nồi trung thực. “Đó không phải một người Jutland! Không thể nói đó là một người Jutland!”, và khi được phát ra từ Morten, đó là những lời rất trí tuệ.

Cả hai đều trẻ trung và khỏe mạnh, vững chãi và lực lưỡng, nhưng Jørgen dẻo dai hơn.

Tại Na uy, các nông dân đưa súc vật lên núi cao ăn cỏ. Ở sườn phía Tây của Jutland, bên trong các đụn cát, người ta dựng những cái lán bằng các mảnh tàu vỡ, sau đó phủ lên trên than bùn của vùng truông và nhiều lớp thạch thảo, những cái ổ được đặt khắp nơi quanh căn phòng, tại đó các ngư dân ngủ và sống vào đầu mùa xuân. Ai cũng có “nữ phụ tá” riêng, như người ta vẫn hay gọi, công việc của người đó là mắc mồi vào lưỡi câu, đón tiếp các ngư dân với một cốc bia nóng khi họ lên bờ và lo cho họ ăn lúc họ mệt mỏi trở về nhà. Các nữ phụ tá dỡ cá từ tàu xuống, làm cá và thường tất bật luôn chân luôn tay.

Jørgen, bố cậu, vài ngư dân khác, cùng nữ phụ tá của họ sống cùng một nơi. Morten thì ở ngay bên cạnh.

Thế nhưng có một cô gái, Else, mà Jørgen biết kể từ khi cô còn bé tí. Họ rất thân với nhau, họ nhìn nhận mọi sự theo cùng cách thức, ở rất nhiều điểm, nhưng họ là trái ngược của nhau nếu xét vẻ bên ngoài. Cậu có nước da sẫm, còn cô thì da rất trắng, mái tóc vàng như lanh. Cặp mắt cô xanh biếc như nước biển dưới mặt trời.

Một hôm họ đi dạo cùng nhau, Jørgen cầm tay cô, dịu dàng nhưng giữ thật chắc, cô nói với cậu: “Jørgen, em có điều này muốn nói! Cho phép em được là nữ phụ tá của anh, bởi vì anh giống như một người anh trai của em, nhưng Morten, anh ấy và em, bọn em đã đính hôn với nhau… Đừng kể điều này với những người khác nhé!”

Và Jørgen có cảm giác như thể cát của đụn sụt đi dưới chân cậu. Cậu không nói một lời, chỉ gật đầu, như thế thì cũng giống như là đồng ý. Cậu chẳng cần nói gì thêm, nhưng ngay lập tức cậu cảm thấy trong trái tim rằng cậu không thể chịu đựng Morten, và càng nghĩ vậy - cho tới lúc ấy còn chưa bao giờ cậu nghĩ về Else theo cách thức đó - cậu càng thấy rõ hơn là Morten đã ăn cắp mất của cậu thứ duy nhất mà cậu yêu, và đó lại chính là Else. Cậu vừa nhận ra điều này.

Nếu biển hơi động và các ngư dân trở về trên những con thuyền, hãy nhìn khi họ vượt qua các doi cát. Một người đứng ở phía trước, những người khác quan sát người ấy, ngồi đó với mái chèo thò ra bên ngoài, cho đến lúc nào người kia dùng một động tác báo hiệu cho họ con sóng lớn nhất đã tới, nó sẽ nâng bổng con thuyền lên, và quả thật nó nâng thuyền lên, thành thử từ trên bờ người ta có thể nhìn thấy đáy thuyền, và ngay phút chốc sau đó, toàn bộ con thuyền bị che giấu đi mất bởi các tảng nước biển dềnh lên phía trước nó, không còn nhìn thấy thuyền, người lẫn cột buồm nữa. Người ta có thể nghĩ rằng biển đã nuốt chửng họ đi. Một lát sau, họ lại hiện ra, giống như một con vật dưới biển sừng sững trườn trên sóng. Các tay chèo hoạt bát với mái chèo nhịp nhàng. Tại doi cát thứ hai và thứ ba, mọi chuyện lại diễn ra như ở chỗ doi cát đầu tiên, rồi sau đó, các ngư dân nhảy xuống nước, kéo con thuyền lên trên bờ. Đợt sóng nào cũng giúp thêm cho họ và đẩy họ một cú mạnh, cho đến khi họ rời khỏi mép nước.

Chỉ một sự nhầm lẫn trong điều hành trước doi cát, chỉ một sự ngần ngừ thôi, họ sẽ đắm thuyền.

“Nếu thế thì mình sẽ tiêu đời, Morten cũng vậy!” Ý nghĩ ấy nảy ra trong tâm trí Jørgen, ngoài biển, vào đúng lúc ông bố nuôi của cậu vừa ngã bệnh nặng. Cơn sốt thiêu đốt ông. Đang ở gần sát doi cát thứ nhất. Jørgen nhảy vọt về phía trước: “Bố, để con làm cho!” cậu nói, và ánh mắt cậu lướt qua Morten, lướt qua các con sóng. Nhưng đúng vào lúc mọi người khua thật mạnh mái chèo, lúc đợt sóng mạnh nhất ào tới, cậu nhìn thấy khuôn mặt tái nhợt của bố và… cậu không thể làm theo xung động xui khiến cậu làm điều độc ác. Con thuyền ổn thỏa vượt qua các doi cát và vào được đất liền, nhưng ý nghĩ xấu xa vẫn đọng lại trong máu cậu. Nó làm sôi lên, rồi lại sôi thêm nữa, mỗi nhành nhỏ nỗi cay đắng về kỷ niệm mà cậu còn giữ về cái thời họ còn là bạn. Họ rời nhau ra mà cậu không sao gắn kết lại được, và cũng không định làm vậy. Morten đã làm cậu khổ, cậu cảm thấy điều đó, và chỉ vậy thôi cũng đã đủ để khiến lòng cậu thấy vô cùng căm hận người bạn. Vài ngư dân nhận ra điều này, nhưng Morten thì không. Cậu vẫn tốt tính và lắm mồm như thường lệ, hơi quá lắm mồm.

Ông bố đỡ đầu của Jørgen phải nằm liệt giường, đó là giường hấp hối của ông. Ông chết vào tuần sau đó, và Jørgen được thừa kế ngôi nhà đằng sau các đụn cát, đó chỉ là một ngôi nhà tiều tụy, nhưng dẫu sao thì vẫn là một cái gì đó. Morten chẳng có nhiều đến thế.

- Dẫu thế nào thì cậu cũng sẽ thôi làm trên thuyền chứ, Jørgen! Cậu sẽ ở lại với chúng tôi! một ngư dân già nói.

Điều này không nằm trong các kế hoạch của Jørgen, cậu đã thấy trước là mình sẽ tiếp tục chu du thế giới thêm chút nữa. Ông lái buôn lươn ở Fjaltring có một ông cậu tại Skagen-Cũ. Đó là một ngư dân, nhưng đồng thời cũng là một thương gia giàu có sở hữu một con tàu. Ông nổi danh là một người duyên dáng. Chắc hẳn là rất nên làm việc cho ông. Skagen-Cũ nằm tít trên phía Bắc Jutland, xa khỏi các đụn cát ở Husby hết mức mà người ta có thể đi trong vùng, và chắc chắn đây chính là điều khiến Jørgen thích nhất. Thậm chí cậu không muốn ở lại dự đám cưới của Else và Morten, sẽ được tổ chức vài tuần sau đó.

Thật thiếu khôn ngoan nếu ra đi, ông già ngư dân cho là vậy. Jørgen giờ đã có một ngôi nhà. Chắc hẳn Else sẽ sẵn sàng chọn cậu.

Jørgen đáp lại một cách yếu ớt. Thật không dễ biết cậu muốn nói điều gì, nhưng ông già dẫn Else đến gặp cậu. Cô không nói gì nhiều, nhưng dẫu sao cô vẫn nói:

- Anh có một ngôi nhà! Phải suy nghĩ.

Và Jørgen suy nghĩ rất nhiều.

Biển động, với những cơn sóng mạnh, và trái tim chàng trai còn động hơn. Rất nhiều ý nghĩ, khi mạnh lúc yếu, lướt qua trong đầu óc và tâm trí Jørgen, và cậu hỏi Else:

- Nếu Morten có một ngôi nhà giống như nhà của anh, em sẽ thích ai hơn?

- Nhưng Morten không có và sẽ không có nhà!

- Nhưng cứ cho là cậu ấy có đi!

- Thế thì chắc em sẽ chọn Morten, bởi vì trái tim em muốn vậy! Nhưng chẳng phải nhờ đó mà người ta sống được đâu.

Và Jørgen suy nghĩ về điều này suốt một đêm. Có một cái gì đó bên trong cậu mà cậu không sao giải thích nổi, nhưng có một ý nghĩ còn mạnh hơn tình yêu mà cậu dành cho Else. Và cậu bèn đi gặp Morten, những gì cậu nói cũng như làm vào dịp này, cậu đều đã suy nghĩ rất kỹ. Cậu nhường lại cho bạn ngôi nhà, với những điều kiện dễ chịu nhất. Về phần mình, cậu muốn lên làm việc trên một con tàu. Cậu thích như vậy. Và Else hôn lên môi cậu khi nghe thấy điều đó, bởi vì cô yêu Morten hơn.

Jørgen muốn lên đường vào lúc sáng sớm. Tối hôm trước, khi đã muộn, cậu muốn đến thăm Morten một lần nữa. Trong lúc đi sang nhà bạn, cậu bắt gặp giữa các đụn cát ông già ngư dân, người không muốn cậu ra đi. Chắc chắn Morten khâu một cái mỏ vịt vào bên trong quần, ông nói, thế cho nên bọn con gái mới phát rồ lên vì cậu ta như thế [mê tín Đan Mạch: các don Juan tập sự cũng nên thử xem sao]. Jørgen không quan tâm lắm đến lời lẽ của ông, chào tạm biệt và đi tới nhà của Morten. Cậu nghe thấy bên trong có tiếng nói chuyện ồn ào, Morten đang không ở một mình. Jørgen do dự. Nhất là cậu không muốn gặp Else, và xét cho cùng, cậu cũng không muốn Morten lại nói cảm ơn cậu một lần nữa, thế cho nên cậu quay lưng bỏ đi.

Sáng hôm sau, trước khi trời sáng, cậu soạn tay nải, xách cái hộp đựng đồ ăn và xuôi các đụn cát đi về phía con đường chạy dọc bờ biển. Đi theo ngả này thì dễ hơn so với con đường phủ cát, và cũng ngắn hơn nữa, bởi vì trước hết cậu muốn đến Fjaltring, gần Bovbjerg, nơi ông lái buôn lươn sống, cậu đã hứa sẽ tới thăm ông.

Biển xanh ngắt và sáng lấp lánh, có đủ thứ loại vỏ sò trên mặt đất, những món đồ chơi của tuổi thơ cậu vỡ vụn dưới hai bàn chân. Trong lúc bước đi, cậu bị chảy máu mũi, chuyện chẳng có gì đáng nói, nhưng cũng có thể hết sức quan trọng. Vài giọt máu to rơi xuống tay áo cậu. Cậu chùi chúng đi, chặn máu chảy và cảm thấy đầu óc cùng tâm trí thơ thới. Vài cái cây nhỏ nở hoa trên mặt cát. Cậu hái lấy một bông màu trắng gài lên mũ. Cậu muốn mình vui vẻ và tươi tắn, cậu, hiện đang bước ra ngoài thế giới rộng lớn, “vượt qua ngưỡng cửa để bơi ngược dòng một chút!” giống như lũ lươn nhỏ từng nói. “Hãy cẩn thận với những kẻ độc ác muốn bắt lấy các con, lột da các con, thái các con thành những miếng nhỏ rồi cho các con vào chảo”, cậu vừa tự nhắc lại vừa cười vang. Chắc chắc cả đời cậu sẽ biết cách lo cho mình được an toàn. Lòng can đảm là một sự bảo vệ rất tốt.

Mặt trời đã lên cao, cậu tiến lại gần cửa biển hẹp nối Biển Bắc với fjord Nissum. Cậu ngoái đầu lại và trông thấy, cách một đoạn khá xa, hai người cưỡi ngựa. Nhiều người khác đi phía sau. Họ phi rất gấp. Điều này chẳng liên quan gì đến cậu.

Phà đang ở bờ bên kia. Jørgen gọi nó, rồi leo lên, nhưng trước khi cậu được người chèo thuyền đưa ra đến giữa dòng, những người hết sức vội vã kia đã tới nơi, họ gọi, họ đe dọa và tự nhận mình đại diện cho chính quyền. Jørgen không hiểu như thế nghĩa là thế nào, nhưng cậu cho rằng tốt hơn hết là nên quay lại. Đích thân cậu cầm lấy một mái chèo và quay trở lại điểm xuất phát. Người ta bèn nhảy phắt lên phà, và trước khi cậu kịp phản ứng, họ trói hai tay cậu lại.

- Hành động xấu xa của mi sẽ khiến mi phải mất mạng, bọn họ nói. Thật tốt vì bọn ta đã bắt được mi.

Người ta buộc cậu tội giết người. Morten đã được tìm thấy với một con dao găm cắm vào cổ họng. Hôm trước, buổi tối muộn, một ngư dân đã bắt gặp Jørgen đang trên đường đi sang nhà Morten. Đây không phải lần đầu tiên Jørgen giơ dao lên trước cậu ta, theo như người ta vẫn biết. Chắc chắn cậu là hung thủ. Giờ đây phải nhốt giam cậu lại. Ringkøbing là nơi cần đến, nhưng con đường thì dài, gió Tây đang thổi, họ sẽ cần ít nhất nửa tiếng đồng hồ để vượt qua fjord để tới sông Skjaerum, và ở đó, sẽ chỉ còn hơn nửa dặm là tới Nørre-Vosborg, vốn dĩ là một tòa lâu đài bao quanh là tường thành và hào sâu. Trên tàu có một người anh em của người quản lý khu đất. Người ta nghĩ hẳn sẽ có thể tạm thời nhốt Jørgen xuống căn hầm nơi phù thủy bô hê miêng Margrethe nổi tiếng từng ở trước khi bị hành hình.

Người ta chẳng buồn nghe những gì Jørgen muốn nói để tự biện hộ. Mấy giọt máu trên áo sơ mi của cậu nói lên những điều chống lại cậu, không thể chắc chắn hơn. Cậu có ý thức về sự vô tội của mình, nhưng vì không thể có chuyện tự biện minh ở đây, cậu đành thúc thủ trước số phận.

Họ cập tàu vào đúng nơi xưa kia từng là lâu đài của hiệp sĩ Bugge, nơi Jørgen từng đến dự tiệc với bố mẹ nuôi. Bữa tiệc đám ma, bốn ngày tràn ngập hạnh phúc, những ngày tươi sáng nhất trong toàn bộ tuổi thơ của cậu. Người ta lại bắt cậu đi theo con đường băng ngang đồng cỏ dẫn tới Nørre-Vosborg, và bụi cơm cháy vẫn đó, đang kỳ nở hoa tưng bừng, các cây bồ đề tỏa hương thơm. Cậu thấy như thể mình ở nơi này mới hôm qua.

Bên cánh phía Tây của lâu đài, có một lối đi chui qua bên dưới cầu thang lớn, tại đó có đường dẫn xuống một căn hầm thấp, trần vòm, chính là nơi nữ phù thủy Margrethe lừng danh từng bị tra tấn. Mụ đã ăn năm trái tim trẻ con, và nghĩ nếu ăn thêm được hai trái tim nữa, mụ sẽ bay được và trở nên vô hình. Một lỗ thông gió hẹp đào vào trong tường, nhưng không có cửa sổ. Các cây bồ đề thơm ngát mọc bên ngoài không thể gửi tới chút an ủi nào. Mọi thứ tại đây đều lạnh lẽo, ẩm ướt và mốc thếch. Chỉ có một cái giường tồi tàn, nhưng ý thức yên ổn chính là một cái gối êm, thành thử Jørgen tha hồ ngủ ngon.

Cánh cửa dày bằng gỗ sồi khóa kín, bên ngoài chặn ngang một thanh sắt, nhưng cơn ác mộng của sự mê tín vẫn luồn được vào qua một lỗ khóa, trong tòa lâu đài cũng như tại nhà của ngư dân, và lại càng mạnh mẽ hơn tại nơi Jørgen giờ đây đang phải ở, nghĩ đến phù thủy Margrethe cùng những việc ma quái mà mụ từng làm. Những ý nghĩ cuối cùng của mụ tràn đầy căn phòng này, vào đêm trước ngày hành hình. Cậu nhớ đến tất tật trò phù thủy mà người ta từng thực hiện nơi này trước kia, khi lãnh chúa Svanwedel còn sống ở đây, và người ta biết rằng sáng nào cũng thế, con chó canh đều bị treo cổ lên lan can cây cầu sắt bằng dây xích của chính nó. Tất tật những thứ ấy tràn ngập trong các ý nghĩ của Jørgen, khiến cậu rùng mình, và thế nhưng, một tia nắng vẫn chui được vào nơi này, soi sáng cho cậu từ bên trong, đó chính là kỷ niệm về bụi cơm cháy nở hoa và những cây bồ đề.

Cậu ở đó không lâu. Người ta đưa cậu tới Ringkøbing, tại đó nhà tù cũng khắc nghiệt tương đương.

Đó là thời khác với thời của chúng ta. Cuộc sống rất cực nhọc đối với người nghèo. Người ta chỉ mới bắt đầu biến các trang trại thành điền sản của các hiệp sĩ, và dưới chế độ ấy, người xà ích và gia nhân trở thành quan tòa, thành thử vì một tội lỗi nhỏ, họ có thể kết tội người nghèo phải mất hết tài sản và bị quật roi ở chỗ đông người. Ở đây vẫn còn lại một vài thẩm phán trong số đó, và tại Jutland, cách xa Copenhagen hoàng gia và các nhà lãnh đạo được soi sáng và được thúc đẩy bởi những dự định tốt đẹp, luật pháp vẫn được thực thi theo cách riêng, và không thực sự phải lấy làm lạ khi vụ việc của Jørgen cứ kéo dài nhùng nhằng.

Lạnh lẽo khủng khiếp, nơi mà cậu đang ở, chừng nào thì chuyện mới chịu kết thúc? Dẫu không hề đáng phải chịu điều đó, cậu đã bị ném vào nỗi sầu khổ và khốn cùng, đó là số phần của cậu! Bằng cách nào cậu đã rơi trúng xuống nơi đây? Giờ đây cậu có thời gian để suy nghĩ đến điều đó. Tại sao cậu lại ở trong tình trạng này? Ừ thì, mọi điều hẳn sẽ được soi sáng trong “cuộc đời khác”, cái cuộc đời chắc chắn đang chờ sẵn chúng ta! Lòng tin ấy đã bắt rễ ăn sâu bên trong cậu tại ngôi nhà nghèo khổ. Điều chưa từng soi rọi cho suy nghĩ của bố cậu, trong sự thịnh vượng và dưới mặt trời Tây Ban Nha, đã trở nên đối với cậu, trong lạnh lẽo và bóng tối, một luồng ánh sáng mang tới sự an ủi, món quà tặng đầy ân sủng của Chúa, và nó không bao giờ gây thất vọng.

Đã đến mùa bão xuân. Người ta nghe thấy tiếng nước Biển Bắc ầm ào từ cách nhiều dặm, sâu trong nội địa, nhưng chỉ là sau khi cơn bão đã tan. Điều đó khiến người ta nghĩ tới những cỗ xe nặng, hàng trăm cái, đang nối đuôi nhau đi trên một con đường khấp khểnh nhiều lồi lõm. Từ nhà tù của mình, Jørgen nghe thấy âm thanh ấy và điều này khiến cậu cảm thấy nhẹ nhõm. Hẳn không một giai điệu cổ xưa nào có thể chạm sâu vào trái tim cậu giống như những âm sắc ấy, tiếng biển ầm ào, biển tự do đưa ta đi khắp nơi trên đời, làm ta bay lên với những cơn gió, và dẫu có đi đến đâu, người ta vẫn có ngôi nhà của mình đi theo, giống con ốc sên mang trên mình ngôi nhà của nó. Người ta lúc nào cũng được ở trên mặt đất thân quen, được ở nhà mình, ngay cả khi đang ở nước ngoài.

Sao mà cậu lắng nghe tiếng gầm gào sâu thẳm ấy, sao mà các ý nghĩ của cậu làm trào dâng những kỷ niệm! “Tự do, tự do! Hân hoan xiết bao khi được tự do, dẫu rằng giày thì long mất đế và áo quần thì rách rưới!” Đôi khi, ý nghĩ này làm cậu bừng lửa, và cậu đấm tay vào tường.

Hàng tuần, hàng tháng, rồi cả năm tròn trôi qua, người ta bắt được một tên ma cà bông, Niels Ăn Trộm, người ta cũng đặt cho hắn biệt danh Buôn Ngựa, và thế là quãng thời gian tốt đẹp hơn đã tới. Người ta hiểu Jørgen phải gánh chịu sự bất công như thế nào.

Ở phía Bắc fjord Ringkøbing, tại một quán rượu nhỏ, buổi chiều trước khi Jørgen rời khỏi nhà mình và trước khi vụ giết người xảy ra, Niels Ăn Trộm và Morten đã gặp nhau. Họ uống vài cốc, như thế lẽ ra chẳng khiến ai phải rối loạn đầu óc, nhưng dẫu sao cũng khiến Morten nói hơi nhiều. Cậu ta trở nên vênh vang, kể rằng mình đã mua một ngôi nhà và sắp lấy vợ. Và khi Niels hỏi tiền đang ở đâu, cậu ta đã kiêu hãnh vỗ tay vào túi áo: “Ở nơi nó phải ở!” cậu ta đáp.

Sự huênh hoang ấy đã khiến cậu ta mất mạng. Sau khi cậu ta rời quán rượu, Niels đã đi theo rồi đâm dao vào cổ họng cậu để lấy chỗ tiền không hề tồn tại.

Sự việc đã được phân tích một cách tỉ mỉ. Chúng ta chỉ cần biết rằng Jørgen được thả tự do. Nhưng sự đền bù nào mà người ta có thể trao cho anh đây, cho những nỗi đau mà anh đã phải trải qua trong vòng hơn một năm, trong tù, trong sự lạnh lẽo, tách biệt với xã hội? Ừ thì, người ta nói với anh là thật may vì anh vô tội, giờ anh có thể đi. Ông thị trưởng cho anh mười mark làm tiền lộ phí, và nhiều người dân của thành phố mời anh uống bia, mời anh ăn những thứ ngon lành. Dẫu sao thì cũng có những con người trung hậu! Chẳng phải tất cả mọi người đều chăm chăm “bắt, lột da và cho vào chảo”! Nhưng điều tốt đẹp nhất trong toàn bộ câu chuyện này là ông thương gia Brønne ở Skagen, nơi Jørgen từng muốn đến làm một năm trước, đúng lúc ấy đang có mặt tại Ringkøbing, để lo việc buôn bán. Ông nghe được toàn bộ câu chuyện. Vốn dĩ là người từ tâm, ông hiểu và cảm nhận được những gì Jørgen đã phải chịu đựng. Thế nên ông muốn làm điều tốt cho anh, và còn hơn thế nữa, cho anh thấy rằng cũng vẫn có những con người trung hậu.

Anh từ nhà tù ra với tự do, như thể đến vương quốc thiên đường, đến với tình yêu và lòng hào hiệp! Cũng phải vậy thôi! Trong đời, chẳng có cốc nào chỉ đựng độc rượu áp xanh đắng. Một con người trung hậu không thể trao cái đó cho đồng loại của anh ta. Chúa, vốn dĩ tất tật là tình yêu, có thể nào làm vậy được chăng?

- Cầu cho tất tật những thứ đó bị chôn chặt và lãng quên! ông thương gia Brønne nói. Chúng ta hãy cố sức quên đi cái năm vừa rồi; đốt luôn quyển lịch thì càng tốt. Và hai hôm nữa thôi, chúng ta sẽ tới Skagen, chốn yên bình, êm ả và dễ chịu! Người ta nói rằng đó là một nơi hẻo lánh của đất nước này. Nhưng đó là chốn êm ả bên góc bếp lửa, với những cửa sổ mở ra thế giới rộng lớn.

Một chuyến đi mới tuyệt làm sao! Anh lại có thể hít thở không khí! Anh đã rời khỏi bầu không khí lạnh lẽo của nhà tù để bước ra với sự nồng ấm của mặt trời. Truông rộng phủ thạch thảo ra hoa, một thảm thực vật rậm rạp, và chàng mục đồng trẻ tuổi ngồi trên tảng đá cao thổi sáo, cây sáo mà anh ta làm từ một khúc xương cừu. Người ta nhìn thấy bà tiên Morgana, ảo ảnh rực rỡ mà không khí của sa mạc tạo ra, với những khu vườn treo và rừng lơ lửng, cũng như sự uốn lượn nhẹ nhàng và lạ thường kia của không khí, mà người ta gọi là “thần Loki dắt đàn cừu”.

Chuyến đi đưa họ tới miền Bắc, về phía Limfjord, băng ngang vùng Vendsyssel, theo hướng Skagen, từ đó đã di cư những người đàn ông râu dài, những người Lombard, vào thời đói kém, dưới triều trị vì của vua Snio, lúc mà người ta sắp phải giết hết trẻ con và người già, nhưng người phụ nữ cao quý Gambaruk, vốn dĩ sở hữu các khu đất trên đó, đã đề xuất, thay vào đó, rằng thanh niên rời khỏi đất nước. Jørgen có biết về chuyện này, hiểu biết của anh mở rộng đến đó, và dẫu không biết vùng đất của người Lombard đằng sau dãy núi Alpes cao vời, ít nhất anh vẫn biết trông họ như thế nào. Bản thân anh cũng từng ở miền Nam, khi anh còn trẻ, tại đất nước Tây Ban Nha. Anh còn nhớ người ta đã chất đống trái cây như thế nào, rồi thì những bông hoa lựu đỏ, tiếng vo ve và ong ong cùng tiếng chuông trong thành phố giống như tổ ong lớn, nhưng dẫu sao tại đất nước của mình thì người ta vẫn cảm thấy tốt đẹp hơn, và tổ ấm của Jørgen chính là Đan Mạch.

Rốt cuộc họ đến Vendilskaga, tức là “Skagen”, gọi theo các văn bản Na uy và Ai xơ len cổ xưa. Ngay vào hồi ấy Skagen-Cũ đã trải rộng hàng dặm, với các đụn cát và cánh đồng trồng trọt, về phía Tây và phía Đông, cho tới ngọn hải đăng gần dải đất mang tên Grenen. Có những ngôi nhà và trang trại, cũng như ngày nay, rải rác giữa các ngọn đồi cát do gió tạo nên, chuyển động không ngừng, phong cảnh sa mạc nơi gió lăn lộn trong cát và là nơi lũ mòng biển, chim én biển cùng thiên nga hoang dã kêu ồn ào đến thủng màng nhĩ. Về phía Tây Nam, cách Grenen một dặm, là Høien hay Skagen-Cũ. Chính đây là nơi ông thương gia Brønne sống, cũng là nơi Jørgen sẽ sống. Tường của trang trại được quét hắc ín, mỗi khu phụ đều có một con thuyền lật úp giống như mái nhà, những mảnh tàu đắm được đặt sát vào nhau để tạo thành chuồng lợn. Không có hàng rào, bởi vì chẳng có gì để mà rào với chắn, nhưng trên các sợi dây, chăng thành các dãy dài sát vào nhau, lũ cá đã mổ bụng treo đó để phơi khô trong gió. Suốt dọc bãi biển, đầy xác cá trích thối. Lưới đánh cá chỉ vừa quăng xuống nước là người ta đã có thể kéo lên bờ hằng hà sa số cá trích. Có quá nhiều cá trích, phải đổ bớt xuống biển, hoặc cứ vứt đó cho chúng thối đi.

Vợ của thương gia và con gái ông, cả những người hầu nam cùng nữ, vô cùng vui sướng khi ông bố về đến nhà. Mọi người bắt tay nhau, những tiếng la hét và tiếng nói chuyện, và sao mà cô con gái có khuôn mặt xinh và cặp mắt trông tốt lành đến thế!

Bên trong ngôi nhà dễ chịu và thông thoáng. Người ta đặt các món cá lên bàn, món cá bơn mà một ông vua hẳn có thể gọi là cao lương mỹ vị, rượu vang lấy từ ruộng nho vùng Skagen, tức là biển rộng lớn: ở đây, nho dạt vào bờ đã được ép, đóng sẵn trong thùng và đựng sẵn trong chai.

Khi bà mẹ và cô con gái, sau đó, biết được Jørgen là ai và anh đã phải trải qua những khổ đau nào, tuy rằng anh vô tội, những cặp mắt nhìn anh còn dịu dàng hơn nữa, và đôi mắt ánh lên nhiều êm ái nhất là mắt của con gái, cô nương Clara xinh đẹp. Anh tìm được một tổ ấm êm ả ở Skagen-Cũ. Điều này khiến trái tim anh sung sướng, và trái tim của Jørgen đã kinh qua đủ loại kinh nghiệm, kể cả những đợt sóng cay đắng của tình yêu, chúng gây cứng rắn, hoặc cũng có thể chúng làm mềm đi. Trái tim của Jørgen vẫn còn rất mềm mại, anh còn trẻ, trong đó vẫn có chỗ. Chính vì vậy có thể nói các hoàn cảnh đã hội tụ thật tuyệt vời, bởi chỉ ba tuần sau đó cô nương Clara sẽ đi tàu đến Kristiansand, bên Na uy, để thăm bà dì và ở lại đó suốt mùa đông.

Chủ nhật ngay trước khi cô lên đường, cả nhà đến nhà thờ làm lễ ban thánh thể. Nhà thờ thật lớn và tuyệt diệu. Những người Scotland và người Hà Lan đã xây nó nhiều thế kỷ về trước, cách không xa thành phố hiện nay. Nó đã hơi xập xệ, và con đường phải đi trên cát sâu lên xuống liên tục khá mệt. Tuy nhiên người ta sẵn lòng vượt xa xôi để đi đến nhà của Chúa, hát các bản thánh thi và nghe một bài giảng đạo. Cát ăn tới tận bức tường bao nghĩa địa, nhưng người ta quét sạch những hạt cát mà gió thổi lên các nấm mộ.

Đó là nhà thờ lớn nhất miền Bắc Limfjord. Trên ban thờ, Đức Mẹ Đồng Trinh, một vương miện bằng vàng đội trên đầu và Jesus Hài Đồng bế trên tay, có dáng vẻ của một người sống. Hình các vị thánh tông đồ được tạc vào bục hợp xướng, và tít trên cao bức tường, có thể nhìn thấy chân dung những ông thị trưởng cùng cố vấn cũ của Skagen, với ấn tín của họ. Bục giảng kinh được chạm trổ. Mặt trời rọi ánh sáng chói lọi vào trong nhà thờ và chiếu sáng ngọn đèn chùm bằng đồng thau bóng, cũng như con thuyền nhỏ treo trên trần vòm.

Jørgen như thể bị choáng ngợp bởi một cảm giác thiêng liêng, nó mang sự thuần khiết của tuổi thơ, cũng giống như lúc, hồi còn rất trẻ, anh từng ở trong vương cung thánh đường rực rỡ trên đất Tây Ban Nha, nhưng nơi này, anh có ý thức mình là một phần của giáo phận.

Sau bài giảng kinh là đến lễ ban thánh thể. Anh được nhận bánh thánh và rượu lễ, cũng như những người khác, và tình cờ anh quỳ gối ngay bên cạnh cô Clara, và thế nhưng các ý nghĩ của anh chăm chú hướng về Chúa, cùng sự phụng sự thiêng liêng, thành thử mãi lúc đứng dậy anh mới nhận ra cô ở bên cạnh mình. Anh nhìn thấy hai má cô đẫm nước mắt.

Hai hôm sau, cô lên đường sang Na uy và Jørgen trở nên vô cùng hữu ích tại trang trại. Anh tham gia công việc chài lưới, và thời ấy người ta đánh được nhiều cá hơn so với hiện nay. Các đàn cá thu sáng lấp lánh lên trong những đêm tối trời, và chúng biết định hướng. Cá chào mào hay gầm lên và bạch tuộc thì có những tiếng hú đáng thương khi bị người ta truy đuổi. Lũ cá không câm lặng như người ta vẫn hay nói. Jørgen thì câm lặng hơn nhiều, về những thứ mà anh giữ cho riêng anh, nhưng rốt cuộc rồi chúng cũng bật ra ngoài.

Mọi Chủ nhật, khi anh ở nhà thờ và cặp mắt anh nhìn chăm chăm vào bức tranh trên ban thờ có hình Maria, mẹ của Chúa, thế nào chúng cũng dừng một lúc tại cái nơi cô Clara từng quỳ gối bên cạnh anh, và anh nghĩ tới cô, cô từng tốt với anh đến vậy.

Đã là mùa thu, rồi đến mùa đông. Nước dồn đọng và tạo ra những trận lụt lội trong thành phố Skagen. Cát không thể hút hết chỗ nước ấy. Người ta buộc phải lội bì bõm, và đôi lúc thậm chí còn phải đi lại bằng thuyền. Các trận bão đánh dạt hết con tàu này đến con tàu khác lên những doi cát chết chóc. Có những trận bão tuyết và những trận bão cát. Cát xoáy thành lốc quanh các ngôi nhà, thành thử người ta phải ra ngoài theo đường ống khói, nhưng trong vùng điều này không có gì đáng kinh ngạc. Người ta cảm thấy thật ấm áp trong căn phòng, than bùn thạch thảo và những mảnh tàu đắm cháy tí tách, và ông thương gia Brønne lớn giọng đọc sách, ông đọc câu chuyện về hoàng tử Hamlet của Đan Mạch, chàng từ nước Anh sang, đã cập bến ở đây, gần Bovbjerg, và tiến hành một trận đánh. Nấm mộ của chàng nằm ở Ramme, cách nơi ông lái buôn lươn sống hai dặm. Những tấm bia đá được dựng lên, hàng trăm cái, trên truông rộng, một nghĩa địa khổng lồ. Bản thân ông thương gia Brønne cũng từng đi thăm mộ Hamlet. Họ kể chuyện về thời xa xưa, về những người láng giềng, người Anh và Scotland, và Jørgen hát bài hát về “Con trai của vua nước Anh”, và về con tàu tuyệt diệu cùng thủy thủ đoàn của nó:


Nó được mạ vàng từ đầu đến đuôi,
Lời của Đức Chúa được viết lên trên đó.
Và ở mũi tàu có một bức tranh,
Con trai của ông vua ôm người yêu của chàng trong vòng tay.


Đặc biệt, đoạn này được Jørgen hát với xiết bao trìu mến. Nó làm mắt anh sáng long lanh. Cũng phải nói rằng kể từ khi sinh ra mắt anh đã rất đen và rất sáng.

Hát và đọc sách có vị trí của chúng trong nhà, nơi sự êm đềm ngự trị. Cả lũ vật nuôi trong nhà cũng được coi như là thành viên của gia đình và mọi thứ đều được coi sóc cẩn thận. Gian bếp lấp lánh với những cái đĩa lau rửa sáng bóng, và trên trần nhà treo xúc xích cùng giăm bông, dồi dào lương thực dự trữ cho mùa đông. Vả lại giờ đây chuyện vẫn như vậy tại đó, trong nhiều trang trại giàu có của vùng bờ biển phía Tây. Có rất nhiều thực phẩm, các căn phòng trang trí đẹp đẽ, trí tuệ và sự vui tươi, và vào thời của chúng ta, sự thịnh vượng đã được thiết lập. Tại đó người ta rất hiếu khách, giống như trong túp lều của người Ả rập.

Jørgen chưa từng bao giờ có được một thời kỳ dễ chịu đến thế, tính từ bốn ngày của bữa tiệc đám ma, khi anh còn nhỏ, và thế nhưng, cô Clara đang đi vắng, tuy nhiên cô không vắng trong ý nghĩ của anh, cũng như trong những cuộc trò chuyện của anh.

Tháng Tư, một con tàu sắp khởi hành sang Na uy. Jørgen sẽ đi trên đó. Anh rất hào hứng, giờ đây, và anh đã béo ra, bà Brønne bảo. Nhìn anh thật thích mắt.

- Bà cũng vậy, ông thương gia già nói. Jørgen đã tạo không khí vui tươi cho những buổi tối mùa đông của chúng ta, và cho cả bà nữa! Bà đã trẻ lại, năm nay, trông bà thật xinh đẹp và duyên dáng! Phải nói rằng bà từng là cô gái đẹp nhất của Viborg, và như vậy là không hề đơn giản, bởi vì tôi vẫn luôn luôn thấy rằng ở đó có các cô gái xinh đẹp nhất.

Jørgen không nói gì để góp chuyện, nhưng anh nghĩ đến một cô gái Skagen, và anh sắp đến gặp cô. Con tàu thả neo ở Kristiansand. Gió thuận đưa anh đến đó trong vòng nửa ngày.

Một sáng nọ, ông thương gia Brønne đi tới ngọn hải đăng cách xa Skagen-Cũ, gần Grenen. Người ta đã tắt ngọn lửa đốt bằng than từ lâu, mặt trời đã lên cao, ông trèo lên tháp. Cách một dặm tính từ điểm chót đất liền vươn xa nhất ra biển, có các doi cát ngầm dưới nước. Hôm ấy, nhiều tàu đi lại ở chỗ này, và trong số chúng, ông nghĩ mình nhận ra trong kính viễn vọng con tàu Karen Brønne. Và đúng là nó đang tiến lại gần bờ. Clara và Jørgen ở trên boong. Ngọn hải đăng và tháp chuông của Skagen khiến họ nghĩ đến một con hạc và một con thiên nga trên mặt nước xanh lơ. Clara ngồi gần thành tàu và cô trông thấy các đụn cát dần dà hiện ra. Nhưng đúng thế, gió vẫn duy trì, chỉ một tiếng nữa thôi là họ đã có thể ở nhà. Càng gần tổ ấm và niềm vui bao nhiêu, họ lại càng ở gần cái chết và những nỗi hãi hùng của nó bấy nhiêu.

Một thanh ván tàu bục ra, nước tràn vào, người ta vội vá chỗ thủng, bơm nước, giương hết buồm lên, làm hiệu kêu cứu. Chỉ còn phải đi nốt một dặm cuối cùng, có rất nhiều thuyền của ngư dân, nhưng chúng ở xa. Gió thổi về phía bờ biển, những cơn sóng cũng giúp sức, nhưng không đủ, con tàu chìm dần. Jørgen dùng cánh tay phải ôm chắc lấy Clara.

Ánh mắt cô dõi vào cặp mắt anh khi anh gọi tên Chúa Trời rồi cùng cô lao xuống biển. Cô hét lên, nhưng cô có thể chắc chắn là anh sẽ không buông cô ra.

Câu hát của bài ba lát kể: “Và ở mũi tàu có một bức tranh, con trai của ông vua ôm người yêu của chàng trong vòng tay”, Jørgen đang làm đúng như thế vào giờ khắc của hiểm nguy và sợ hãi. Thật hữu dụng khi người ta bơi giỏi. Anh dùng hai bàn chân và một bàn tay để tiến lên, trong lúc tay kia giữ chặt cô gái. Anh bơi ngửa, đạp chân, vận dụng mọi cách chuyển động mà anh biết, sao cho có đủ sức để vào bờ. Anh nghe thấy cô buột ra một tiếng thở dài, anh cảm thấy một cơn run rẩy dữ dội lướt qua người cô, và ôm chặt lấy cô hơn. Một đợt sóng trùm lên họ, một luồng nước nâng họ lên, sao mà nước sâu thế, trong thế. Trong một lúc, anh nghĩ mình nhìn thấy đàn cá thu sáng lóng lánh phía dưới kia, hay đó chính là con quái vật Leviathan, nó muốn nuốt chửng họ? Những đám mây tỏa bóng xuống nước, và các tia nắng lại lấp lánh. Lũ chim bay thành các đám lớn lướt qua phía trên, vừa bay vừa kêu, còn lũ vịt trời nặng nề và ngái ngủ, dật dờ buông thả theo sóng đưa, bay lên, hoảng hốt trước người đang bơi. Nhưng sức lực của anh cạn dần, anh cảm thấy điều đó. Vẫn còn cách bờ xa, và thế nhưng, cứu hộ đã đến, một con thuyền sáp lại gần… Nhưng dưới nước, anh thấy thật rõ một bóng hình màu trắng nhìn anh đăm đăm… Một cơn sóng nâng bổng họ lên, bóng hình sáp lại gần… Anh nhận một cú đập thật mạnh, tiếp đó là màn đêm, mọi thứ biến mất.

Có một xác tàu đắm trên doi cát, biển trùm nước lên nó, mũi thuyền màu trắng ngả xuống dựa vào mỏ neo, mũi nhọn của nó dập dờn mặt nước. Jørgen đã đâm phải nó, dòng nước đã đẩy anh với một lực rất lớn. Anh bất tỉnh và chìm xuống cùng khối nặng anh mang theo, nhưng đợt sóng tiếp theo lại nâng họ lên, anh và cô gái trẻ.

Các ngư dân nhấc họ lên khỏi nước và đặt họ lên thuyền. Máu chảy ròng ròng trên mặt Jørgen, anh như thể đã chết, nhưng anh giữ cô gái chặt đến mức phải cố lắm mới gỡ được tay anh ra. Cô ở đó, trắng nhợt, vô hồn, nằm trên con thuyền tiến về phía Grenen, đỉnh chóp của Skagen.

Người ta làm hết mọi cách để làm Clara hồi tỉnh. Cô đã chết. Anh đã bơi thật lâu ngoài biển với một cái xác, anh đã rất nỗ lực, và anh đã bị kiệt sức vì một người chết.

Jørgen vẫn còn thở. Họ đưa anh vào ngôi nhà gần nhất, trong các đụn cát. Một cựu bác sĩ phẫu thuật quân y, đang tình cờ có mặt ở đó, đồng thời cũng là thợ rèn và lái buôn, chăm sóc cho Jørgen trước khi người ta đi mời viên bác sĩ ở Hjørring vào hôm sau.

Não của người bệnh đã bị tổn hại. Anh cư xử như một kẻ loạn trí, bật ra những tiếng thét hoang dã, nhưng ngày thứ ba, anh chìm vào tình trạng đờ đẫn kéo dài. Tính mạng anh như thể chỉ còn treo trên sợi tóc, và điều tốt đẹp nhất mà người ta có thể mong chờ cho Jørgen, bác sĩ nói, là sợi dây đó đứt đi.

- Hãy cầu Đức Chúa cho cậu ấy được giải thoát! Cậu ấy sẽ không bao giờ bình thường trở lại đâu.

Nhưng cuộc sống không rời bỏ anh, sợi dây không muốn đứt, có điều anh bị mất trí nhớ, mọi mối dây gắn với các khả năng đầu óc của anh đã bị cắt mất, đó là điều đáng sợ hơn cả. Anh chỉ còn lại một cơ thể, một cơ thể sẽ phải hồi phục sức khỏe, bắt đầu đi trở lại.

Jørgen ở lại trong ngôi nhà của thương gia Brønne.

- Cậu ấy đã mắc phải căn bệnh nan y này để cứu con gái chúng ta, ông già nói. Giờ đây, cậu ấy là con trai của chúng ta.

Người ta nói rằng Jørgen là một thằng khờ, nhưng cũng không hẳn vậy. Anh giống như một thứ nhạc cụ mà các sợi dây đã bị chùng không còn có thể rung lên được nữa… Đôi lúc, trong vòng vài phút, chúng căng ra và rung động… các giai điệu cũ liền vang lên, vài nhịp. Những hình ảnh diễu qua để rồi tan biến… Anh ở đó, ánh mắt chăm chăm, vẻ xa vắng. Chúng ta có thể tin là anh không cảm thấy đau đớn. Cặp mắt sẫm màu của anh đã đánh mất vẻ ngời sáng, chúng giống thứ thủy tinh đen mờ xỉn.

- Jørgen khờ khạo tội nghiệp! người ta nói.

Chính anh từng, trong lòng mẹ anh, được bế ẵm, để anh có một cuộc đời nơi trần thế phong phú và hạnh phúc, thành thử “thật ngạo mạn, quá mức kiêu ngạo” khi mong muốn, thêm vào đó, sẽ có một cuộc đời sau cuộc đời này. Mọi năng lực lớn lao của tâm hồn anh vậy là đã mất đi! Những ngày cay cực, nỗi đau đớn và sự thất vọng là số phần duy nhất của anh. Anh giống như một thứ cây hoa hiếm tuyệt diệu, bị nhổ lên khỏi mặt đất màu mỡ của nó rồi ném xuống cát để rồi thối rữa ở đó! Những gì được tạo ra theo hình ảnh của Chúa chẳng đáng giá hơn vậy hay sao? Hay mọi thứ vẫn chỉ là trò chơi của sự tình cờ? Không, Chúa, mà tình yêu là vô tận, muốn và sẽ trao cho anh một sự bù trừ trong một cuộc đời khác, cho những đau đớn và thiếu thốn mà anh đã phải chịu đựng nơi hạ giới. “Đức Chúa làm lành cho muôn người, sự từ bi Ngài giáng lên các vật Ngài làm nên.” Đó là những lời của một bài thánh thi của David mà bà vợ ông thương gia đọc, với lòng tin và tín ngưỡng, bà sùng đạo và đã già, và trái tim bà cầu nguyện sao cho Đức Chúa giải thoát sớm cho Jørgen, để anh được bước vào ân sủng của Chúa, cuộc đời vĩnh cửu.

Clara đã được chôn tại nghĩa địa có bức tường bao chôn sâu dưới cát. Dường như Jørgen không có ý thức về điều đó, nó không thuộc vào số các ý nghĩ của anh, chúng chỉ hiện ra từ quá khứ dưới hình dạng các mảnh tàu đắm. Mọi Chủ nhật, anh đi cùng gia đình tới nhà thờ, và rồi anh ngồi đó, ánh mắt trống rỗng. Một hôm, trong lúc người ta hát các bài thánh thi, anh thở dài, cặp mắt bừng sáng lấp lánh, chúng quay về phía ban thờ, về phía cái nơi hơn một năm về trước anh đã quỳ gối cùng người bạn gái nay đã chết. Anh thốt ra tên của cô và mặt trở nên trắng bệch, những giọt nước mắt chảy tràn trên má.

Anh được dìu đi ra khỏi nhà thờ, và anh nói với họ là anh cảm thấy ổn. Anh không có cảm giác mình đã bị ốm. Anh không còn nhớ, anh, người từng chịu biết bao thử thách, chịu đau khổ. Và Chúa, đấng sáng tạo của chúng ta, thì thông thái, và tình yêu của Người là vô tận, ai có thể nghi ngờ đây? Trái tim của chúng ta và trí tuệ của chúng ta công nhận điều đó, và Kinh Thánh thì xác nhận: “Sự từ bi Ngài giáng lên các vật Ngài làm nên.”

Bên Tây Ban Nha, tại cái nơi, giữa những cây cam và nguyệt quế, một cơn gió nóng thổi thành từng đợt qua các vòm tròn kiểu Moor mạ vàng, nơi các bài hát và ca-ta-nhét vang lên, một ông già không con cái đang ở trong ngôi nhà lộng lẫy. Đó là vị thương gia giàu có nhất. Ngoài phố, bọn trẻ con diễu hành cử lễ, tay cầm nến và những lá cờ bay trong gió. Còn có gì trong số của cải của ông mà ông không sẵn sàng cho đi, để được có ở bên cạnh các con, con gái ông hoặc giả đứa con của cô, có lẽ còn chưa bao giờ nhìn thấy ánh sáng của thế giới này? “Đứa trẻ tội nghiệp!”

Đúng thế, đứa trẻ tội nghiệp! Đứa trẻ, đúng, và thế nhưng anh đã ba mươi tuổi… Đó là tuổi của Jørgen tại Skagen-Cũ.

Gió đã dồn cát lên những nấm mộ của nghĩa địa, đến tận chân nhà thờ, nhưng chính nơi đó, bên cạnh những người đi trước, bên cạnh bố mẹ và những người yêu quý, người chết muốn và phải được chôn cất. Vợ chồng ông thương gia Brønne nằm đó, gần con của họ, dưới lớp cát trắng.

Đó là đầu năm, đúng mùa bão. Cát của các đụn bay tứ tung, biển lừng những cơn sóng lớn, lũ chim hợp thành từng mảng lớn, giống những đám mây khi trời bão, bay ngang qua, vừa bay vừa kêu phía trên các đụn cát. Những vụ đắm tàu liên tiếp xảy ra trên các doi cát kể từ mũi Skagen cho tới các đụn cát Husby.

Một buổi chiều, Jørgen chỉ có một mình trong phòng, một luồng sáng rọi qua tâm trí anh, cái cảm giác lo lắng ấy hiện ra, thứ vẫn thường, trong tuổi trẻ của anh, thúc đẩy anh đi ra các đụn cát và truông rộng:

“Về nhà! Về nhà!” anh nói. Không ai nghe thấy lời anh. Anh ra khỏi nhà, tiến lên trong các đụn cát, cát và những viên sỏi nhỏ tạt vào mặt anh, bốc lên thành những xoáy lốc quanh anh. Anh tiến về phía nhà thờ. Cát đã dồn lại dọc theo các bức tường và tới tận lưng chừng cửa sổ, nhưng trên lối đi phía trước, cát đã được quét sạch, cửa nhà thờ không đóng và rất dễ mở nó ra. Jørgen bước vào.

Gió thổi, hú hét bên trên thành phố Skagen. Đó là một trận cuồng phong người ta chưa từng chứng kiến bao giờ, trong suốt ký ức con người, một thời tiết khủng khiếp, nhưng Jørgen đang ở trong nhà của Chúa, và lúc mà đêm đen giăng phủ bên ngoài, một ánh sáng bên trong rọi chiếu lên anh. Đó là ánh sáng của tâm hồn, mà người ta sẽ chẳng bao giờ tắt đi được. Anh có cảm giác tảng đá nặng vốn dĩ nằm trong đầu anh đã nổ tung trong một tiếng nổ lớn. Anh nghĩ mình nghe thấy có tiếng đàn orgue chơi, nhưng đó là tiếng của cơn bão và tiếng gầm của biển. Anh ngồi trên ghế băng của nhà thờ, và những ngọn nến cháy sáng, hết ngọn nến này đến ngọn nến khác, một sự rạng rỡ mà anh mới chỉ từng nhìn thấy tại đất nước Tây Ban Nha. Và mọi bức chân dung những ông cố vấn và thị trưởng cũ vụt trở nên sống động. Họ bước ra khỏi bức tường nơi họ đã ở từ rất nhiều năm. Họ ngồi xuống ghế. Các cổng và cửa của nhà thờ mở ra và tất cả người chết đi vào, vận trang phục tiệc tùng, như vào thời của họ. Họ tiến lên trong âm thanh một thứ âm nhạc thật đẹp và ngồi xuống những cái ghế. Tiếng hát các bài thánh thi vang lên như biển ầm ào, và ông bố cùng bà mẹ nuôi già tại các đụn cát Husby có ở đó, cũng như ông thương gia già Brønne và vợ ông, và bên cạnh họ, ngay sát Jørgen, có cô con gái dịu dàng và duyên dáng của họ. Cô chìa tay cho Jørgen, và họ đi đến chỗ ban thờ, nơi họ từng quỳ gối xưa kia, và ông mục sư đặt bàn tay họ vào nhau, làm lễ cho một cuộc đời trong tình yêu… Rồi vang lên âm thanh kèn trom pét, lạ lùng như giọng trẻ con tràn đầy một ham muốn nhớ nhung. Nó lớn lên mãi cho tới lúc trở thành giống như những cây đàn orgue lớn, một trận cuồng phong các âm thanh tràn đầy và gây phấn hứng, vươn lên cao và thế nhưng đủ mạnh mẽ để có thể làm nổ tung đá trên nấm mộ.

Và con thuyền treo phía trên cao hạ xuống trước mặt hai người. Nó trở nên thật lớn và thật rực rỡ, với các cánh buồm bằng lụa và một trục căng buồm mạ vàng, những mỏ neo bằng vàng màu đỏ rực và dây chão thì kết bằng lụa, giống như đã được viết trong bài hát. Cặp vợ chồng lên boong tàu, và toàn bộ khách khứa đang ở trong nhà thờ đi theo họ, có đủ chỗ cũng như sự rực rỡ cho tất cả mọi người. Và những bức tường cùng vòm trần của nhà thờ nở hoa giống như bụi cơm cháy, và các cây bồ đề thơm ngát êm ả vẫy các cành và lá của chúng. Họ cúi chào từ biệt, và con tàu bay lên, mang theo cặp vợ chồng, đưa họ băng ngang biển và không khí. Mỗi ngọn nến chính là một ngôi sao nhỏ, và gió rền vang một bản thánh thi, và mọi người cùng đồng thanh hát:


Trong tình yêu, về phía vinh quang!
Không một cuộc đời nào sẽ mất!
Hạnh phúc không nói nên lời!
Hallelujah!


Vả lại những lời ấy là những lời cuối cùng mà anh phát ra nơi thế giới này. Sợi dây nối với tâm hồn bất tử đã đứt… Đó chỉ còn là một thân xác đã chết ở trong nhà thờ u tối, phía trên cơn bão hoành hành, bao quanh là một xoáy lốc cát.

*
*       *

Hôm sau là một ngày Chủ nhật. Các giáo dân và vị mục sư tới để làm lễ. Phải khó khăn lắm họ mới đến được đó. Hành trình trên mặt cát đã gần như là không thể, và giờ đây khi họ tới được nơi, cửa nhà thờ bị chôn vùi dưới một ngọn đồi cát lớn. Ông mục sư bèn đọc một bài nguyện, nói rằng Chúa đã đóng cửa ngôi nhà này, nhà của Người, và họ phải đi khỏi đó, dựng một ngôi nhà mới tại một nơi khác.

Rồi họ hát một bài thánh thi và đi về nhà.

Người ta không sao tìm được Jørgen tại thành phố Skagen hoặc ngoài chỗ các đụn cát. Những đợt sóng ào lên cát đã cuốn anh đi mất, người ta bảo thế.

Xác của anh được chôn vào trong cái quách lớn nhất, chính là nhà thờ. Trong cơn bão, Chúa đã ném đất lên quan tài. Lớp cát dày ở đó, và vẫn ở đó.

Cát bay đã phủ kín những vòm lớn. Bụi cây gai và hoa hồng dại mọc lên trên nhà thờ nơi giờ đây người dạo chơi tiến đến chỗ tháp chuông vươn lên khỏi cát, tấm bia mộ đồ sộ, mà người ta có thể trông thấy từ cách xa nhiều dặm. Chẳng ông vua nào có mộ phần tuyệt diệu hơn! Chẳng ai gây náo loạn sự yên nghỉ của người chết. Chẳng ai từng biết điều đó, mãi cho đến giờ… Chính cơn bão đã kể cho tôi nghe câu chuyện này giữa những đụn cát.




các truyện của Andersen:

Andersen: Anne Lisbeth
Andersen: Đứa bé gái giẫm chân lên ổ bánh mì
Andersen: Mộc thần nữ
Andersen: "Năm hạt đậu nhỏ chui ra từ vỏ đậu", "Đứa trẻ tật nguyền", "Thiên thần"
Andersen: Cây đèn đường cũ
Andersen: Con gái chúa tể đầm lầy
Trở về cổ điển: Andersen

4 comments:

  1. Lâu rồi...không đọc dài như vầy mà còn nữa...

    ReplyDelete
  2. Cứ sáng cuối tuần là cháu bé được đọc một truyện của Andersen ;)
    <3
    EMi

    ReplyDelete
  3. một tác giả viết ra toàn những kiệt tác chắc phải gọi là kiệt tác gia nhỉ.
    truyện này có vẻ như kể lại cuộc đời của Andersen ở cái kiếp mà ông sống cuộc đời một người kể saga.
    màu sắc quá kỳ diệu. chừng nào in ra xin đặt mua một bản khổ bỏ túi có minh họa nhé!

    ReplyDelete