Jun 7, 2017

Một vụ việc ám muội (tiếp nữa)

Một vụ việc ám muội (Une ténébreuse affaire) là một trong những câu chuyện hấp dẫn nhất, đặc biệt nhất và cũng đáng sợ nhất của Vở kịch con người. Viết Một vụ việc ám muội, Balzac thể hiện một trình độ cao cường, đáng mơ ước đối với bất kỳ nhà văn chuyên viết truyện trinh thám nào, bởi vì đó là một tiểu thuyết trinh thám thượng thặng. Nhưng đồng thời, Balzac cũng thể hiện một cái nhìn vô cùng sâu sắc và chuẩn xác vào cả một giai đoạn lịch sử Pháp, đoạn cuối kỳ Tổng tài, đầu kỳ Đế chế (nói tóm gọn, đầu thế kỷ 19). Cuốn tiểu thuyết "huy động" đến cả Napoléon, nhưng cũng đưa vào câu chuyện những nhân vật có thật lừng danh như hoàng thân de Talleyrand hay trùm cảnh sát Fouché.

Ở phần trước (xem ở kia), ta biết rằng Michu và vợ, Marthe, cuối cùng đã hiểu được nhau, sau nhiều năm dài tuy sống chung với nhau nhưng không hề biết người kia nghĩ gì. Cái đêm định mệnh đối với rất nhiều con người, diễn ra trong khoảng không gian gần thành phố Troyes, Champagne, giữa mấy địa danh Gondreville, căn chòi Cinq-Cygne (chỗ ở của vợ chồng Michu), khu rừng Nodesme và lâu đài Cinq-Cygne, đã bắt đầu khi vợ chồng Michu băng qua khu rừng đến chỗ lâu đài, và họ phát hiện cảnh binh đã vây chặt nơi này - các cư dân của lâu đài, đặc biệt là nữ bá tước trẻ tuổi de Cinq-Cygne, liệt nữ kiêu hùng hăm ba tuổi, chưa hề hay biết các biến cố có thể ảnh hưởng tới tính mạng của họ. Trong ngày, hai nhân vật "Paridiêng" đã xuất hiện tại đây, đó là Peyrade và Corentin, hai "gián điệp" trong đó Corentin đặc biệt phục vụ cho Fouché. Hai nhân vật đáng sợ này có rất nhiều quyền, bởi vì bọn họ đang điều tra về một âm mưu của phe bảo hoàng (kết hợp cả quý tộc trong nước lẫn những người lưu vong, đặc biệt là các sĩ quan của đội quân Condé) nhằm vào Đệ nhất Tổng tài Bonaparte.

Trong post này, tôi sẽ đi một mạch đến hết chương thứ nhất của Một vụ việc ám muội, mang tên "Những phiền muộn của cảnh sát" (cuốn tiểu thuyết gồm hai chương hết sức đối xứng với nhau). Ta sẽ thấy Balzac sử dụng các nhân vật tài tình đến như thế nào, đến cả thằng bé François con trai của Michu và Marthe xuất hiện thoáng qua ở đầu truyện cũng sẽ có vai trò quan trọng.

Balzac, trong các tiểu thuyết lớn nhất, vô cùng thong dong sau đoạn mở đầu. Ta đã thấy, Marthe Michu tiến lại gần lâu đài, nhưng câu chuyện chính chưa xảy ra ngay lập tức, mà sẽ thêm rất nhiều chục trang Balzac dùng để quay ngược trở lại trong thời gian, rồi miêu tả các nhân vật phụ. Ở phần mới này, ngay sau một đoạn miêu tả (rất xuất chúng) Fouché, chuyện cái đêm hôm ấy tại lâu đài Cinq-Cygne sẽ được thuật luôn, trong một nhịp điệu gấp gáp khó tả.


Đồng thời: kể từ lúc chuyển sang "chục thứ hai" của Vở kịch con người, tôi đã bắt đầu Một người con gái của Eva (Une fille d'Ève). Một đoạn rất dài mới được thêm vào đó; ta đã đi qua đoạn mào đầu dành cho gia thế "hai Marie" và đi luôn vào câu chuyện chính, những gì đã khiến Angélique (bà bá tước de Vandenesse) trong đêm khuya tìm đến nhà em gái Eugénie, tức là phu nhân chủ ngân hàng du Tillet.


-----------

Ta có thể tưởng tượng sự im lặng sâu thẳm ngự trị trong khu vườn, tại các sân, bên ngoài, lúc chín giờ, ở lâu đài Cing-Cygne, nơi vào thời điểm này mọi vật và mọi con người đang được tô điểm một cách hài hòa đến vậy, nơi ngự trị sự yên bình sâu thẳm nhất, nơi sự phồn thịnh đang quay trở lại, nơi nhà quyền quý tốt tính và khôn ngoan hy vọng đưa được cô gái mà ông giám hộ vào cái hệ thống tuân lời của ông bằng chuỗi tiếp nối của các kết quả sung sướng. Những con người thuộc phái quân chủ ấy tiếp tục chơi cái trò boston, nó lan tỏa trên khắp nước Pháp các tư tưởng độc lập dưới một hình thức nhỏ mọn, nó được nghĩ ra nhằm vinh danh những người nổi loạn bên Mỹ, và mang các thuật ngữ tất tật đều gợi nhắc cuộc tranh đấu được Louis XVI khích lệ[80]. Vừa tạo ra các indépendance hoặc các misère[81], họ vừa quan sát Laurence, nàng mau chóng bị cơn buồn ngủ xâm chiếm, thiêm thiếp với một nụ cười châm biếm nở trên môi: ý nghĩ cuối cùng của nàng ôm choàng lấy hoạt cảnh êm ả nơi cái bàn kia, tại đó hai từ mà họ xướng lên, lẽ ra đã có thể thông báo cho vợ chồng d’Hauteserre rằng hai người con của họ đêm qua đã ngủ dưới cùng mái nhà với họ, lại cũng có thể gieo rắc nỗi kinh hoàng ghê gớm nhất. Cô gái hăm ba tuổi nào, giống Laurence, lại chẳng cảm thấy ngạo nghễ khi tự biến mình thành Số Mệnh, và chẳng, giống như nàng, thấy có chút cảm thông với những người mà nàng thấy ở vào vị trí thật thấp so với nàng?

“Cô ấy ngủ rồi, trưởng tu nói, chưa bao giờ tôi thấy cô ấy mệt đến thế.

- Durieu bảo tôi con ngựa của nó tơi tả, bà d’Hauteserre nói, khẩu súng thì không được dùng đến, sạch tươm, như vậy tức là nó đã không đi săn.

- A! đểu thế! cha xứ lại nói, tệ quá nhỉ.

- Chà! cô Goujet kêu lên, hồi tôi hăm ba tuổi và hiểu ra mình sẽ là gái già, tôi đã chạy nhảy, đã tự gây mệt mỏi theo một cách khác hẳn. Tôi hiểu rằng nữ bá tước đi dạo trong vùng mà không nghĩ đến chuyện giết thú săn. Đã sắp mười hai năm tròn cô ấy chưa gặp lại hai người anh họ rồi, cô ấy yêu quý họ; ừ thì! nếu ở vào địa vị của cô ấy, nếu mà tôi cũng trẻ trung và xinh đẹp như cô ấy, thì tôi đã đi thẳng một mạch sang Đức! Thế nên cô gái xinh xắn kia có thể đã bị thu hút về phía biên giới.

- Cô thật lanh lẹ, thưa cô Goujet, cha xứ mỉm cười.

- Nhưng, cô lại nói, tôi thấy là anh lo lắng về những đi lại của một cô gái hăm ba tuổi, thì tôi giải thích vậy thôi.

- Hai người anh họ của nó sẽ về thôi, nó sẽ giàu có, rốt cuộc rồi nó cũng sẽ bình tâm thôi, ông d’Hauteserre tốt bụng nói.

- Cầu Chúa cho được như vậy! quý bà già nua kêu lên, với lấy hộp đựng thuốc lá bằng vàng, thứ vật dụng kể từ kỳ Tổng Tài trọn đời đã lại trở nên phổ biến.

- Trong vùng đang có biến chuyển mới, ông già tốt bụng d’Hauteserre nói với cha xứ, từ tối hôm qua Malin có mặt tại Gondreville.

- Malin! Laurence kêu lên, nàng bị đánh thức bởi cái tên này, dẫu đang ngủ say.

- Phải, cha xứ đáp; nhưng đêm nay ông ta lại đi rồi, và người ta thi nhau đồn thổi về mục đích chuyến ghé qua gấp gáp.

- Con người đó, Laurence nói, chính là ác thần của hai nhà chúng ta.”

Nữ bá tước trẻ tuổi vừa mơ thấy hai người anh họ và anh em d’Hauteserre, nàng thấy họ bị đe dọa. Cặp mắt đẹp của nàng trở nên đăm đăm và mờ tối khi nghĩ tới các hiểm nguy họ sẽ phải trải qua tại Paris; nàng vụt đứng dậy, đi lên phòng, không nói thêm lời nào. Nàng ở trong phòng nhỏ, ngay cạnh đó có một cabinet và một ban nguyện, nằm trong ngọn tháp nhỏ nhìn ra ngoài rừng. Đúng lúc nàng rời phòng khách, lũ chó cất tiếng sủa, có tiếng chuông reo ở chỗ cổng nhỏ, và Durieu đi vào phòng khách, mặt lộ rõ vẻ hoảng hốt: “Ông thị trưởng đấy! Có tin mới.”

Ông thị trưởng này, trước đây là người coi chuồng ngựa của nhà de Simeuse, thỉnh thoảng đến lâu đài, tại đó, vì chiến thuật chính trị, vợ chồng d’Hauteserre thể hiện với ông ta một sự kính cẩn khiến ông ta hết sức cảm kích. Con người này, tên Goulard, đã lấy một nữ lái buôn giàu có ở Troyes với tài sản nằm ở xã Cinq-Cygne, tài sản mà ông ta đã làm tăng thêm với toàn bộ đất của một tu viện lớn, mua được nhờ dồn toàn bộ tiền tiết kiệm. Tu viện Val-des-Preux rộng mênh mông, nằm cách lâu đài một phần tư dặm, tạo cho ông ta một chỗ cư ngụ rực rỡ không kém Gondreville, và tại đó ông ta cùng vợ hiện lên giống như hai con chuột trong một vương cung thánh đường. “Goulard chuột sa chĩnh gạo!” lần đầu tiên gặp ông ta ở Cinq-Cygne, Cô đã nói thế. Mặc dù gắn bó rất mật thiết với Cách Mạng và bị nữ bá tước đón tiếp lạnh nhạt, ông thị trưởng lúc nào cũng cảm thấy bị trì giữ bởi các mối dây của lòng kính trọng đối với nhà Cinq-Cygne và nhà Simeuse. Vậy nên ông ta nhắm mắt làm ngơ trước mọi chuyện diễn ra nơi lâu đài. Ông ta gọi là nhắm mắt cái chuyện coi như không nhìn thấy các bức chân dung Louis XVI, Marie-Antoinette, mấy đứa trẻ hoàng gia, Đức Ông, bá tước d’Artois, Cazalès[81], Charlotte Corday trên các ô gỗ lát phòng khách; không thấy có gì là xấu xa khi người ta, ngay trong lúc ông ta hiện diện, mong muốn sự sụp đổ của nền Cộng Hòa, rồi thì chế giễu năm vị đốc chính[82], cũng như tất tật mọi cách kết hợp hồi ấy. Con người này, cũng giống rất nhiều kẻ mới phất, chừng nào đã kiếm xong gia tài, lại xoay ra tin tưởng vào các gia đình lâu đời và muốn được thân cận với họ, cái vị thế ấy vừa được tận dụng bởi hai nhân vật làm cái nghề mà Michu đã chóng vánh đoán ra, và bọn họ đã, trước khi đi tới Gondreville, dò la trong vùng.

Con người thuộc về các truyền thống tốt đẹp của ngành cảnh sát cũ cùng Corentin, con phượng hoàng của giới gián điệp, có một nhiệm vụ ngầm. Malin đã không nhầm khi đoán bọn họ chơi trò hai mặt, hai tên nghệ sĩ của ngạch bông đùa bi thảm kia; vì thế, có lẽ, trước khi chứng kiến bọn họ bắt tay vào việc, cần phải nhắc qua về nhân vật mà bọn họ phụng sự. Bonaparte, khi trở thành Đệ nhất Tổng tài, chứng kiến Fouché cầm đầu Cảnh Sát. Cách Mạng đã thực sự tạo ra, và vậy là có lý, một bộ đặc biệt chuyên trách Cảnh Sát. Nhưng, lúc từ Marengo trở về, Bonaparte lập Sở Cảnh Sát, đưa Dubois vào đó, và điều chuyển Fouché sang Hội Đồng Nhà Nước, đồng thời cử giữ chức bộ trưởng Cảnh Sát con người của thời Quốc Ước, Cochon, kể từ bấy đã trở thành bá tước de Lapparent[84]. Fouché, vốn dĩ coi bộ Cảnh Sát là bộ quan trọng hàng đầu trong một chính phủ có tầm nhìn xa, có chính sách rạch ròi, cho rằng mình bị thất sủng, hoặc giả ít nhất thì cũng bị nghi ngờ, trong việc thuyên chuyển này. Sau khi nhận ra, trong các vụ việc liên quan đến cỗ máy khủng khiếp[85] và âm mưu đang được thuật lại ở đây, sự vượt trội hết mức của nhân vật chính khách vĩ đại này, Napoléon trả lại bộ Cảnh Sát cho ông. Rồi, sau đó, khiếp sợ trước các tài năng mà Fouché thể hiện trong lúc ông đi vắng, trong vụ việc Walcheren, Hoàng Đế giao bộ này cho công tước de Rovigo, và phái công tước d’Otrante đi cai trị các tỉnh Illyrie, một sự phát vãng đích thực[86].

Thiên tài kỳ lạ gây choáng váng cho Napoléon theo một đường lối hãi hùng này đã không đột nhiên bùng nổ ở Fouché. Con người của Quốc Ước chẳng được ai biết đến ấy, một trong những nhân vật ngoạn mục nhất và bị đánh giá sai lệch nhất của thời đó, tựu thành trong giông bão. Ông vươn lên, thời Đốc Chính, tới mức từ đó những con người sâu sắc có thể nhìn thấy tương lai nhờ đánh giá quá khứ, rồi đột nhiên, giống như một số diễn viên tầm thường vụt trở nên tuyệt hảo nhờ được một luồng ánh sáng bất chợt rọi chiếu, ông trưng bày các bằng chứng về sự thiện xảo trong cuộc cách mạng ngắn ngủi 18 brumaire. Con người với khuôn mặt nhợt nhạt này, được nuôi dạy trong các chiêu che giấu nơi tu viện kín, nắm được các bí mật của phe Montagnard mà ông thuộc về, cũng như các bí mật bên phe bảo hoàng mà rốt cuộc ông thuộc về, đã chậm rãi và im lìm nghiên cứu những con người, các sự vật, lợi ích của chính trường; ông xâm nhập các bí mật của Bonaparte, cho ngài những lời khuyên hữu ích và các thông tin quý báu. Sung sướng vì đã chứng tỏ tài xoay xở và sự hữu dụng của mình, nhưng Fouché rất cố gắng không bộc lộ toàn bộ con người, ông muốn ở vào vị trí cầm đầu các vụ việc; nhưng những nghi ngại của Napoléon đối với ông đã trả lại cho ông sự tự do trong chính trị. Sự bội bạc hay nói đúng hơn là lòng đa nghi của Hoàng Đế sau vụ Walcheren lý giải về con người này, thật không may, không phải là một đại lãnh chúa, và cách hành xử được noi theo hoàng thân de Talleyrand. Vào thời điểm ấy, cả các đồng nghiệp mới lẫn cũ của ông đều không hề ngờ tới độ rộng thiên tài thuần túy mang tính chất sở bộ của ông, về cốt yếu là có tính chất chính phủ, đúng đắn trong mọi sự phòng xa, và khôn ngoan đến mức không thể tin nổi. Chắc chắn, ngày nay, đối với mọi sử gia đế chế, lòng tự ái quá mức của Napoléon là một trong cả nghìn nguyên do dẫn tới sự sụp đổ của ngài, vả lại sự sụp đổ đó đã, một cách tàn nhẫn, trả giá cho những nhầm lẫn của ngài. Ở vị đế vương đa nghi này có một lòng ghen tuông hướng tới quyền lực trẻ trung của ngài, nó gây ảnh hưởng lên các hành động của ngài cũng ngang bằng với nỗi hận thù bí mật mà ngài dành cho những ai khéo léo, di sản quý báu của Cách Mạng, lẽ ra với họ ngài đã hoàn toàn có thể thiết lập một nội các chuyên dùng để chứa đựng các tư tưởng của ngài. Không phải chỉ Talleyrand và Fouché phủ bóng trùm lên ngài. Thế nhưng, nỗi bất hạnh của những kẻ soán đoạt nằm ở chỗ chuốc lấy kẻ thù là những người đã mang lại cho bọn họ ngai vàng, cũng như những người đã bị họ đoạt mất cái ngai. Napoléon không bao giờ, bằng ngôi vị của ngài, thuyết phục được hoàn toàn những ai ngài từng phải coi là thượng cấp hoặc người ngang hàng, cũng như những ai bị kìm giữ bởi luật lệ: chẳng người nào thấy mình có bổn phận đối với lời thệ trước ngài. Malin, con người trung bình, không đủ khả năng coi trọng thiên tài nhiều bóng tối của Fouché cũng như ngờ đến ánh mắt chớp nhoáng của ông, tự đốt cháy mình, giống như một con bướm nơi ngọn nến, khi đến nhờ ông ngầm gửi người của ông tới Gondreville nơi, ông ta nói, ông ta hy vọng sẽ tìm được các luồng ánh sáng chiếu vào âm mưu. Fouché, không gây khiếp sợ cho ông bạn bằng một cuộc hỏi cung, tự hỏi tại sao Malin lại đến Gondreville, làm sao mà lại không cung cấp tại Paris và ngay tắp lự các thông tin mà ông ta biết. Cựu hùng biện gia, được nuôi dưỡng bằng các điêu trá và thật ra bằng cả trò chơi hai mang mà nhiều người Quốc Ước từng đóng, tự nhủ: “Nhờ ai mà Malin có thể biết điều gì đó nhỉ, trong khi ngay chúng ta đây còn chưa biết nhiều nhặn cho lắm?” do đó Fouché kết luận là có một sự đồng lõa ngấm ngầm hoặc được trông đợi nào đó, và tuyệt đối tránh nói bất kỳ điều gì cho Đệ nhất Tổng tài. Ông thà chọn cách bị biến thành công cụ trong tay Malin còn hơn mất ông ta. Thành thử Fouché giữ riêng một phần lớn các bí mật mà ông bắt chợt được, và áp đặt lên mọi người một quyền lực còn lớn hơn quyền lực của Bonaparte. Lối hành xử hai mang này là một trong những điều mà Napoléon trách cứ vị bộ trưởng của mình nặng nề nhất[87]. Fouché biết rõ các trò xảo Malin từng dùng để đoạt lấy khu đất Gondreville, và chúng cũng buộc ông ta phải theo dõi sát sao các ông de Simeuse. Anh em de Simeuse phụng sự cho đội quân của Condé, cô de Cinq-Cygne là em họ của họ, như vậy họ có thể đang ở quanh quất đâu đó và tham gia âm mưu, sự tham gia của họ hàm ý rằng trong vụ việc có vai trò của nhà Condé mà họ phục vụ tận tụy. Ông de Talleyrand và Fouché nhất quyết làm sáng tỏ cái góc rất khuất này của âm mưu năm 1803. Những nhìn nhận trên được bao quát bởi Fouché một cách mau chóng và đầy sáng suốt. Nhưng giữa Malin, Talleyrand và ông những mối liên hệ buộc ông phải vận đến sự cẩn trọng lớn nhất, và khiến ông muốn biết thật rõ bên trong lâu đài Gondreville. Corentin gắn bó mật thiết với Fouché, cũng như ông de La Besnardière với hoàng thân de Talleyrand, cũng như Gentz với ông de Metternich, cũng như Dundas với Pitt, cũng như Duroc với Napoléon, cũng như Chavigny với hồng y de Richelieu[88]. Corentin là, không phải cố vấn của ông bộ trưởng này, mà linh hồn đọa lạc của ông, Tristan bí mật của ông vua Louis XI thu nhỏ ấy[89]; thành thử Fouché, hết mực tự nhiên, đã để hắn lại ở bộ Cảnh Sát, nhằm có ở đó một con mắt và một cánh tay. Thanh niên này, người ta nói thế, chắc hẳn phải thuộc về Fouché thông qua một mối quan hệ dòng giống không chịu thú nhận, bởi vì ông thưởng cho hắn hết sức hậu hĩnh mỗi lần nào dùng đến hắn. Corentin kết thân với Peyrade, học trò cũ của thủ lĩnh cảnh sát cuối cùng; tuy nhiên, hắn có nhiều bí mật đối với Peyrade. Corentin nhận từ Fouché mật lệnh dò xét lâu đài Gondreville, dựng lại sơ đồ của nó ở trong óc, và nhận biết tại đó mọi chỗ nào kín đáo. “Có thể rồi đây chúng ta sẽ còn phải quay lại đó”, cựu bộ trưởng nói với hắn, tuyệt đối giống như Napoléon nói với các sĩ quan thân cận của mình là phải xem xét thật kỹ càng chiến địa Austerlitz, tận đến chỗ nào ngài tính sẽ rút về. Corentin sẽ còn phải nghiên cứu cách hành xử của Malin, tìm hiểu về ảnh hưởng của ông ta trong vùng, quan sát những người mà ông ta dùng tại đó. Fouché cho sự hiện diện của các Simeuse trong khu vực là một điều chắc chắn. Bằng cách khéo léo do thám hai viên sĩ quan được hoàng thân de Condé yêu quý ấy, Peyrade và Corentin có thể sẽ thu lượm được những luồng ánh sáng quý giá rọi lên các đường dây mối nhợ của âm mưu bên kia sông Rhin. Trong mọi trường hợp, Corentin đều có tiền, các mệnh lệnh và người cần thiết để vây Cinq-Cygne và thám thính trong vùng từ khu rừng Nodesme cho tới Paris. Fouché yêu cầu phải cẩn trọng hết mức và chỉ cho phép thực hiện khám xét chỗ ở tại Cinq-Cygne trong trường hợp có được các thông tin tích cực từ Malin. Cuối cùng, ông cung cấp cho Corentin thông tin về nhân vật khó lường Michu, đã bị theo dõi kể từ ba năm nay. Suy nghĩ của Corentin cũng trùng hợp với suy nghĩ của sếp lớn: “Malin có biết về âm mưu!” “Nhưng ai mà biết, hắn tự nhủ, Fouché cũng có hay luôn!”

Corentin, lên đường đi Troyes trước Malin, đã gặp chỉ huy cảnh binh, và chọn lấy những người mưu trí nhất, cùng lúc phong một viên đại úy khéo léo làm chỉ huy toán lính. Corentin chỉ định điểm hẹn là lâu đài Gondreville với viên đại úy kia, và bảo anh ta phái đi trong đêm, tới bốn điểm khác nhau trên thung lũng Cinq-Cygne và ở các khoảng cách đủ lớn để không đánh động người nào, một nhóm gồm mười hai người. Bốn nhóm này phải tạo thành một hình vuông và quây chặt lấy xung quanh lâu đài Cinq-Cygne. Khi để mặc hắn lại trong lâu đài để ra ngoài hội kiến với Grévin, Malin đã khiến Corentin thực hiện xong một phần nhiệm vụ. Từ ngoài vườn đi vào, ông cố vấn Nhà Nước đã xác nhận quá mức rõ ràng với Corentin rằng anh em Simeuse và anh em d’Hauteserre đang ở trong vùng, hai nhân viên cần phải sai đại úy lên đường, anh ta đã, quá may mắn cho các nhà quyền quý, băng qua rừng theo lối đi chính trong lúc Michu đang chuốc rượu viên gián điệp Violette của anh ta. Ông cố vấn Nhà Nước đã mở đầu bằng cách kể cho Peyrade và Corentin về cuộc mưu sát mà ông ta vừa thoát khỏi. Hai tay Paridiêng bèn kể lại câu chuyện khẩu súng cạc bin, và Grévin bèn phái Violette đi thu lượm các thông tin về những gì đang diễn ra tại căn chòi. Corentin bảo viên chưởng khế, nhằm đảm bảo an toàn, dẫn theo ông cố vấn Nhà Nước bạn ông đến thành phố Arcis ngủ đêm, ở nhà của ông. Vào đúng lúc Michu đang băng đi trong rừng chạy bổ tới Cinq-Cygne, Peyrade và Corentin từ Gondreville khởi hành trên một cỗ xe ngựa tồi tàn bằng gỗ liễu gai, thắng vào một con ngựa trạm, do viên đội trưởng Arcis đánh, đó là một trong những người mưu mẹo nhất của toán lính, do viên chỉ huy Troyes khuyên họ sử dụng.

“Cách hay nhất để tóm gọn tất cả là báo trước cho chúng, Peyrade nói với Corentin. Vào thời điểm chúng đang hoảng sợ, rồi thì muốn giải tán giấy tờ hoặc chạy trốn, chúng ta ập đến như một cơn lốc. Đám cảnh binh vây quanh lâu đài sẽ tạo hiệu ứng một cú cất lưới. Như thế, chúng ta sẽ không để sổng một kẻ nào.

- Các ông có thể sai ông thị trưởng đến đó, đội trưởng nói, ông ta dễ tính, ông ta không muốn điều xấu cho họ, họ sẽ không nghi ngờ ông ta.”

Đúng lúc Goulard sửa soạn đi ngủ, Corentin, đã cho cỗ xe dừng lại trong một khoảng rừng nhỏ, đích thân đến để nói với ông ta rằng trong chốc lát nữa một nhân viên chính phủ sẽ ra lệnh cho ông ta vây lâu đài Cinq-Cygne với mục đích bắt các ông d’Hauteserre và de Simeuse tại đó; và, trong trường hợp bọn họ đã biến mất, cần phải chắc chắn xem bọn họ có ngủ ở đó đêm hôm qua không, rồi lục soát giấy tờ của cô de Cinq-Cygne, và có lẽ bắt giữ nhiều người cùng các chủ lâu đài.

“Cô de Cinq-Cygne, Corentin nói, chắc hẳn được những nhân vật lớn bảo trợ, bởi vì tôi có mật lệnh báo trước cho cô ta về chuyến viếng thăm này, và phải làm mọi cách để bảo vệ cô ta, nhưng không để lộ thân phận. Chừng nào đã tới hiện trường, tôi sẽ không còn là người chỉ huy nữa, tôi không đi một mình, thế nên ông chạy nhanh đến lâu đài đi.”

Chuyến thăm của ông thị trưởng vào giữa buổi tối lại càng gây nhiều kinh ngạc hơn cho những người đang chơi bài bởi vì Goulard trương ra một bộ mặt rất hoảng sợ.

“Nữ bá tước đâu? ông ta hỏi.

- Đi ngủ rồi”, bà d’Hauteserre đáp.

Ông thị trưởng vẻ mặt ngơ ngác bắt đầu nghe thấy tiếng động trên tầng.

“Hôm nay ông bị làm sao thế, hả Goulard?” bà d’Hauteserre hỏi.

Goulard đang ở vào nỗi sửng sốt sâu sắc nhất, trong lúc săm soi những khuôn mặt chan chứa vẻ ngây thơ kia, mà người ta có thể có vào mọi lứa tuổi. Căn cứ vào sự bình thản này và vào ván boston đang chơi dở, ông ta không hình dung được điều gì tương hợp với những mối nghi ngờ của cảnh sát Paris. Đúng lúc đó, Laurence, đang quỳ gối trong gian nguyện, hăng hái cầu nguyện cho âm mưu được thành công! Nàng cầu Chúa ban sự giúp đỡ và cứu trợ những kẻ mưu hại Bonaparte! Nàng chất chứa tình yêu trong lời cầu xin Chúa diệt trừ cái con người định mệnh đó! Sự cuồng tín của các Harmodius, các Judith, các Jacques Clément, các Ankastroëm, các Charlotte Corday, các Limoëlan[90] làm sôi nổi tâm hồn đẹp đẽ, trinh nguyên và thuần khiết ấy, Catherine đang trải giường, Gothard thì đi ra đóng cửa sổ, thành ra Marthe Michu, đã đến bên dưới các cửa sổ của Laurence, và nhặt sỏi ném vào đó, có thể được nhận ra.

“Thưa cô, có biến, Gothard nói khi nhìn thấy một phụ nữ lạ mặt.

- Im! Marthe thì thào, đến đây tôi bảo.”

Gothard ra đến ngoài vườn trong khoảng thời gian còn ngắn hơn thời gian một con chim cần để từ trên cây xuống tới mặt đất.

“Một chốc nữa thôi lâu đài sẽ bị đám cảnh binh vây chặt. Cậu, cô nói với Gothard, lẳng lặng đi thắng yên ngựa cho Cô đi, rồi dắt nó đi xuống qua ngách đường hào, giữa ngọn tháp kia và khu chuồng ngựa.”

Marthe run lên khi nhìn thấy, cách cô hai bước chân, Laurence, nàng đi ra theo Gothard.

“Có chuyện gì thế? Laurence chỉ hỏi có vậy, chẳng hề tỏ ra xúc động.

- Âm mưu ám hại Đệ nhất Tổng tài đã bị phát hiện, Marthe nói thầm vào tai nữ bá tước trẻ tuổi, chồng tôi, nghĩ cách cứu hai người anh họ của cô, sai tôi đến đây bảo cô đến nói chuyện với anh ấy.”

Laurence lùi lại ba bước, và nhìn Marthe. “Cô là ai? nàng hỏi.

- Marthe Michu.

- Tôi không biết cô muốn gì ở tôi, cô de Cinq-Cygne lạnh lùng đáp.

- Đi nào, cô giết họ mất bây giờ. Đến đây, nhân danh người nhà de Simeuse! Marthe nói, quỳ gối xuống và chìa hai tay về phía Laurence. Ở đây có thứ giấy tờ nào không, thứ gì đó có thể gây hại cho cô? Từ trên rừng phía cao kia, chồng tôi đã nhìn thấy những cái mũ tròn lấp lánh, và những khẩu súng trường của cảnh binh.”

Gothard đã khởi sự trèo lên tầng áp mái, nó nhìn thấy xa xa hình ảnh quân phục của đám cảnh binh, thông qua sự im lìm sâu thẳm của vùng nông thôn nghe thấy tiếng động những con ngựa của bọn họ; nó tụt xuống chuồng ngựa, thắng yên cương cho con ngựa của cô chủ, dưới chân nó, chỉ theo một lời của Gothard, Catherine buộc vải vào.

“Tôi phải đi đâu? Laurence hỏi Marthe, ánh mắt và lời lẽ của cô gây chấn động nơi nàng bởi âm sắc không thể giả vờ của lòng thành thực.

- Qua chỗ cái ngách! cô đáp, lôi Laurence đi theo, người chồng cao quý của tôi đang ở đó, cô sẽ hiểu một tên Judas nghĩa là như thế nào!”

Catherine vội chạy vào phòng khách, lấy ở đó roi ngựa, găng tay, mũ, voan che của cô chủ, và đi ra. Sự xuất hiện đột ngột và hành động của Catherine là một lời bình luận đầy ý nghĩa đối với những lời của ông thị trưởng, đến nỗi bà d’Hauteserre và trưởng tu Goujet liếc nhìn nhau, qua đó họ truyền sang nhau cái suy nghĩ hãi hùng này: “Vĩnh biệt toàn bộ niềm hạnh phúc của chúng ta! Laurence tham gia âm mưu, cô ấy đã gây lầm lạc cho hai người anh họ và hai anh em d’Hauteserre!”

“Ông muốn nói gì cơ? ông d’Hauteserre hỏi Goulard.

- Nhưng lâu đài đang bị bao vây rồi, sẽ có một cuộc khám xét đấy. Nếu mà hai con ông đang ở đây, thì ông bảo họ trốn ngay đi, cùng các ông de Simeuse nữa.

- Các con tôi! bà d’Hauteserre hoảng hốt kêu lên.

- Chúng tôi không gặp ai cả, ông d’Hauteserre nói.

- Vậy thì tốt! Goulard nói. Nhưng tôi quá yêu quý gia đình Cinq-Cygne cũng như gia đình Simeuse, thành thử tôi không hề muốn chứng kiến bất hạnh xảy đến với họ. Nghe tôi nói cho rõ nhé. Nếu các vị có giấy tờ gì nguy hiểm…

- Giấy tờ?… nhà quyền quý nhắc lại.

- Phải, nếu các vị có, thì đốt ngay chúng đi, ông thị trưởng nói tiếp, tôi sẽ đi giữ chân đám nhân viên.”

Goulard, vừa muốn chiều lòng con dê bảo hoàng lại vừa muốn đẹp ý bắp cải cộng hòa, đi ra, đúng lúc đó lũ chó bắt đầu sủa điên dại.

“Ông không còn thời gian nữa, họ đến rồi, cha xứ nói. Nhưng ai sẽ đi báo cho nữ bá tước đây, mà cô ấy đâu rồi?

- Catherine đã không vào đây lấy roi ngựa, găng tay và mũ của cô ấy để làm vì đâu”, cô Goujet lên tiếng.

Goulard tìm cách níu chân hai nhân viên vài phút bằng cách tuyên bố với họ về việc các cư dân lâu đài Cinq-Cygne hoàn toàn không biết chuyện gì.

“Ông còn chưa biết những kẻ đó đâu”, Peyrade cười vào mũi Goulard.

Hai kẻ hắc ám theo đường lối đểu cáng kia bước vào, theo sau là viên đội trưởng Arcis và một cảnh binh. Dáng vẻ ấy làm bốn người chơi bài boston đông cứng người lại vì sợ, họ ở yên tại chỗ của mình, khiếp hãi trước một màn trưng bày sức mạnh như vậy. Tiếng ồn gây ra bởi chừng một chục cảnh binh, với lũ ngựa giậm chân, vang lên trên bãi cỏ.

“Ở đây chỉ thiếu mỗi cô de Cinq-Cygne, Corentin lên tiếng.

- Nhưng chắc là nó đang ngủ thôi, ở trên phòng, ông d’Hauteserre đáp.

- Đi cùng tôi, thưa các bà”, Corentin nói, phóng vọt vào phòng để quần áo và từ đó lên cầu thang, cô Goujet và bà d’Hauteserre chạy theo. “Cứ trông cậy vào tôi, Corentin nói thầm vào tai bà già, tôi là người của các vị, tôi đã sai viên thị trưởng đến báo tin cho các vị. Hãy nghi ngờ đồng nghiệp của tôi và tin tôi, tôi sẽ cứu tất cả mọi người!

- Nhưng có chuyện gì thế? cô Goujet hỏi.

- Chuyện sống chết! bà không biết à?” Corentin hỏi.

Bà d’Hauteserre ngất xỉu. Trước nỗi kinh ngạc to lớn của cô Goujet và trước nỗi ngao ngán bất tận của Corentin, căn hộ của Laurence hoang vắng. Chắc chắn là không một ai có thể thoát ra khỏi khu vườn lớn cũng như khỏi lâu đài để đi vào thung lũng, mà mọi lối ra đều bị canh gác, Corentin sai một cảnh binh lên mỗi phòng, hắn ra lệnh lục soát các ngôi nhà, tàu ngựa, rồi đi xuống phòng khách, nơi Durieu, vợ ông cùng mọi người khác đã lao tới, trong nỗi kinh hoàng lớn lao nhất. Peyrade dùng con mắt xanh lơ nhỏ xíu săm soi tất tật các ngoại hình, hắn vẫn lạnh lùng và bình thản ở ngay giữa cơn náo loạn ấy. Khi Corentin xuất hiện trở lại, chỉ có một mình, vì cô Goujet đang chăm sóc cho bà d’Hauteserre, người ta nghe thấy có tiếng ngựa phi, xen lẫn với tiếng khóc của một đứa trẻ. Lũ ngựa đi vào qua chỗ hàng rào lưới sắt nhỏ. Ở chính giữa nỗi lo lắng chung, một viên đội trưởng hiện ra, đẩy Gothard đi phía trước, hai tay bị trói, cùng Catherine, đến trước mắt hai nhân viên.

“Đây là lũ tù binh, anh ta nói. Cái thằng nhóc này cưỡi ngựa chạy trốn.

- Đồ ngu! Corentin nói thầm vào tai viên đội trưởng sửng sốt, tại sao không để cho nó chạy đi? chúng ta chỉ cần đi theo là sẽ biết được điều gì đó.”

Gothard đã chọn cách khóc lóc dầm dề giống như bọn ngu xuẩn. Catherine thì lấy điệu bộ ngây thơ trong trắng khiến tay nhân viên già hơn phải suy nghĩ rất sâu xa. Học trò cũ của Lenoir, sau khi so sánh hai đứa trẻ này với nhau, sau khi săm soi dáng vẻ ngây độn của ông quyền quý già cứ nghĩ mình mưu trí lắm, ông cha xứ tinh quái đang nghịch mấy cái phiếu[91], nỗi hoảng hốt của tất cả mọi người và của vợ chồng Durieu, đi đến chỗ Corentin thì thầm vào tai hắn: “Bọn này chắc không khoai lắm!”

Trước tiên Corentin đáp lại bằng một ánh mắt, đưa tay chỉ cái bàn chơi bài, rồi nói: “Họ đang chơi boston! Người ta đang trải giường cho cô chủ nhà, cô ta trốn đi, họ ngạc nhiên, chúng ta sẽ bắt đầu siết.”

Một kẽ ngách luôn luôn có nguyên do và tính chất hữu dụng. Sau đây là sự thế nào và tại sao lại có cái ngách nằm giữa ngọn tháp ngày nay mang tên Tháp Cô, và chuồng ngựa. Ngay khi tới sống ở Cinq-Cygne, ông già tốt bụng d’Hauteserre liền biến một mương dài dùng để dẫn nước từ rừng chảy xuống hào thành một con đường ngăn hai mảnh đất thuộc về khu đất riêng của lâu đài, nhưng chỉ là để trồng ở đó chừng một trăm cây óc chó mà ông tìm được tại một vườn ươm. Trong vòng mười một năm, đám óc chó này đã trở nên rậm rạp, gần như phủ kín cái con đường đã sẵn lọt thỏm vào hai bên bờ cao sáu bộ, và đi theo nó người ta đến được một cánh rừng nhỏ ba mươi arpent mới được mua về. Khi lâu đài đã có đủ các cư dân, ai cũng thích đi qua ngả cái hào để ra chỗ con đường xã lộ chạy men theo các bức tường khu vườn lớn rồi dẫn tới trang trại, hơn là đi vòng hàng rào sắt. Bằng cách hay dùng lối ấy, dẫu chẳng hề muốn, người ta làm cái ngách rộng hẳn ra, mà chẳng mấy đoái hoài bởi vì vào thế kỷ mười chín hào nước thì hoàn toàn vô tích sự, và ông giám hộ hay nói đến chuyện lấp nó đi. Sự phá hoại liên tục này đẩy đất, sỏi, đá xuống, rốt cuộc thì lòng hào trở nên rất nông. Nước ở cái nơi đã gần như trở thành đường này chỉ dềnh lên vào những khi nào mưa lớn. Tuy nhiên, mặc cho những xuống cấp đó, mà tất cả mọi người, trong đó có chính nữ bá tước, đều góp công góp sức, cái ngách vẫn dốc ngược, thành thử rất khó dắt một con ngựa xuống, đặc biệt là khó đưa nó lên trên đường xã lộ; nhưng dường như, những lúc gặp hiểm nguy, lũ ngựa lại rất hiểu ý chủ. Trong khi nữ bá tước trẻ tuổi còn do dự xem có nên đi theo Marthe hay không và đòi cô giải thích thêm, thì Michu, từ trên gò đất dõi theo các di chuyển của đám cảnh binh và hiểu ra ý đồ của hai gián điệp, đã tưởng mình thất bại đến nơi vì không thấy ai đến. Một nhóm cảnh binh lần theo bức tường khu vườn lớn, tản đều giống như các đồn canh, giữ một khoảng cách giữa những người đơn lẻ đủ để hiểu được nhau nhờ giọng nói và ánh mắt, nghe và theo dõi từng tiếng động và bất kỳ thứ nhỏ nhặt nào. Michu, nằm sấp bụng, áp tai xuống đất để ước lượng thời gian còn lại, theo lối người Anhđiêng[92], căn cứ vào âm thanh. “Mình đã đến quá muộn! ông nhủ thầm trong lòng. Violette sẽ phải trả giá đắt! Sao mà lão mãi mới chịu say như thế! Làm gì bây giờ?” Ông nghe tiếng nhóm lính phụ trách khu rừng đi ngang qua trước hàng rào và, tuân theo một ma nớp tương tự ma nớp của nhóm từ xã lộ đi vào, sắp hội với nhau. “Vẫn còn chừng năm hay sáu phút nữa!” ông tự nhủ. Đúng lúc đó, nữ bá tước hiện ra, Michel túm mạnh lấy nàng và đẩy nàng vào con đường thụt xuống.

“Cứ đi thẳng!” “Đưa cô ấy, ông nói với vợ, đến chỗ anh buộc con ngựa, và phải nhớ là đám cảnh binh có tai đấy nhé.”

Nhìn thấy Catherine mang tới cây roi, đôi găng và cái mũ, nhưng nhất là khi nhìn thấy con ngựa và Gothard, người đàn ông này, vốn dĩ rất có tài ứng biến trong hiểm nguy, quyết định đánh lừa đám cảnh binh với cùng mức độ thành công như ông vừa đánh lừa Violette. Gothard đã, cứ như một trò ảo thuật, đưa được con ngựa xuống lòng hào.

“Buộc vải vào chân ngựa à?… Để ta ôm cháu một cái nào!” viên tá điền nói, ôm chặt lấy Gothard.

Michu để cho con ngựa bước đi bên cạnh cô chủ của nó rồi cầm lấy găng tay, mũ, cây roi.

“Cháu là người nhanh trí, cháu sẽ hiểu lời ta, ông lại nói. Điều khiển con ngựa của cháu leo lên con đường kia, phóng vọt đi, kéo lũ cảnh binh đuổi theo cháu, phi thật nhanh vào, băng cánh đồng về phía trang trại, kéo theo tất tật đám lính đang tản mát quanh đây”, ông nói thêm, kết thúc bằng cách khoát tay chỉ con đường cần theo. “Còn cháu, con gái, ông nói với Catherine, có các cảnh binh khác đang đến đây theo lối từ Cinq-Cygne tới Gondreville, cháu chạy về hướng ngược lại với hướng của Gothard, dẫn chúng đi từ lâu đài về phía rừng. Tức là, hãy làm thế nào để chúng tôi không phải lo lắng điều gì bên dưới này.”

Catherine và thằng bé đáng ngưỡng mộ, trong vụ việc này nó sẽ còn thể hiện rất nhiều bằng chứng về trí tuệ, thực hiện ma nớp của chúng theo cách thức khiến cho cả hai nhóm cảnh binh đều tưởng con mồi của bọn họ đang chạy tháo thân. Ánh trăng lừa mị không cho phép nhìn rõ cả dáng vóc lẫn quần áo hay giới tính, cũng như số lượng người mà bọn họ truy đuổi. Bọn họ chạy theo hai đứa trẻ chiểu theo cái câu châm ngôn lừa phỉnh này: phải bắt lấy những kẻ nào bỏ trốn! mà sự ngớ ngẩn nếu nhìn nhận từ cảnh sát ở tầm cao vừa được chỉ ra đầy mạnh mẽ bởi Corentin cho viên đội trưởng hiểu. Michu, trông chờ vào bản năng của đám cảnh binh, có thể đến được chỗ khu rừng chỉ một chốc lát sau khi nữ bá tước, được Marthe dẫn đường, đã tới điểm hẹn.

“Chạy về chòi đi, ông nói với Marthe. Khu rừng chắc bị bọn Paridiêng canh gác, ở lại đây thì nguy hiểm lắm. Chắc chúng ta sẽ cần tất cả mọi người được tự do.”

Michu cởi dây buộc con ngựa của mình, và bảo nữ bá tước đi theo.

“Tôi sẽ không đi xa hơn, Laurence nói, trước khi anh đưa cho tôi xem một bằng chứng về lợi ích mà anh mang tới cho tôi, bởi vì xét cho cùng, anh là Michu.

- Thưa cô, ông đáp, giọng dịu dàng, vai trò của tôi có thể giải thích hết sức ngắn gọn. Tôi là, mà các ông de Simeuse không hay biết, người canh gác gia tài cho họ. Về điều này tôi đã nhận các chỉ thị từ ông bố quá cố của họ và người mẹ yêu quý của họ, bà ấy là người bảo trợ của tôi. Thế nên tôi đã vào vai một tay Jacobin hung dữ, nhằm phụng sự cho các cậu chủ của tôi; thật không may, tôi đã khởi đầu vai trò quá muộn, và đã không thể cứu ông bà!” Nói đến đây, giọng Michu nghẹn lại. “Kể từ khi các cậu trốn đi, tôi đã chuyển cho họ những khoản tiền mà họ cần để có thể sống thoải mái.

- Qua nhà Breintmayer ở Strasbourg có phải không? nàng hỏi.

- Vâng, thưa cô, qua các thông tín viên của ông Girel ở Troyes, một người bảo hoàng cũng, giống như tôi, biến thành Jacobin, để lo cho gia sản của ông ấy. Tờ giấy mà người chủ trang trại của cô nhặt được một tối nọ, khi từ Troyes đi ra, chính là có liên quan đến việc ấy, nó có thể gây hại cho chúng tôi: đời tôi thì không còn thuộc về tôi nữa, mà là thuộc về họ, cô có hiểu không? Tôi đã không thể trở thành chủ nhân Gondreville. Với vị thế của tôi, hẳn người ta sẽ cắt cổ tôi và hỏi tôi đã lấy từ đâu nhiều vàng đến vậy. Tôi đã chọn cách mua lại khu đất sau này; nhưng thằng khốn Marion lại là tay chân của một thằng khốn khác, Malin. Dẫu sao thì Gondreville cũng sẽ quay về với những người chủ của nó thôi. Chuyện này cứ để tôi lo. Cách đây bốn tiếng, tôi đã rình bắn Malin, ồ! phải làm thế! Đức Mẹ ôi! chừng nào hắn chết, người ta sẽ bán phát mãi Gondreville, người ta sẽ bán nó đi, và cô có thể mua. Trong trường hợp tôi chết, vợ tôi sẽ đưa cho cô một bức thư hướng dẫn cô lấy phương tiện. Nhưng cái thằng kẻ cướp đó nói với Grévin đồng phạm của hắn, một kẻ đê tiện khác, rằng các ông de Simeuse đang âm mưu chống lại Đệ nhất Tổng tài, họ đang ở trong vùng và tốt hơn hết là giao nộp họ và giũ bỏ họ, để có thể yên bình tại Gondreville. Thế nhưng, vì đã thấy có hai tay trùm gián điệp đến đây, tôi bèn hạ khẩu cạc bin của tôi xuống, và đã không mất chút thời gian nào để lao bổ tới đây, vì nghĩ chắc cô có biết hai cậu ở đâu và làm thế nào để báo tin cho họ. Vậy thôi.

- Anh rất xứng là một người quý tộc”, Laurence nói, chìa tay cho Michu, ông định quỳ xuống hôn bàn tay ấy. Laurence thấy cử động của ông, bèn ngăn lại và nói: “Đứng yên, Michu!” bằng giọng nói và ánh mắt khiến cho vào thời điểm ấy ông trở nên sung sướng đúng như ông từng bất hạnh từ suốt mười hai năm nay.

“Cô thưởng cho tôi cứ như thể tôi đã làm xong mọi việc mà tôi vẫn còn chưa làm, ông nói. Cô có nghe thấy tiếng chúng không, đám hầu hạ cho máy chém? Ra chỗ khác nói chuyện nhé.” Michu cầm lấy dây cương con ngựa của Laurence, vòng sang phía lưng nữ bá tước, và nói với nàng: “Cô chỉ cần ngồi sao cho thật vững, vụt roi con ngựa và che mặt để khỏi bị cành cây đập vào thôi.”

Rồi ông dẫn cô gái trẻ, trong vòng nửa tiếng đồng hồ, phi nước đại, chạy vòng vèo, tới rồi lui, băng qua rồi băng lại các khoảnh rừng thưa để xóa dấu vết, rồi dừng lại ở một chỗ.

“Tôi không còn biết là tôi đang ở đâu nữa, thế mà tôi biết rõ khu rừng cũng ngang với anh, nữ bá tước nhìn ra xung quanh.

- Chúng ta đang ở ngay giữa rừng, ông đáp. Chúng ta có hai tên cảnh binh ở phía sau, nhưng giờ thì thoát rồi!”

Cái nơi đẹp đẽ mà viên tá điền dẫn Laurence đến sẽ trở thành địa điểm định mệnh đối với các nhân vật chính của tấn kịch này, cũng như đối với bản thân Michu, thành thử nghĩa vụ của một sử gia là phải miêu tả nó. Vả lại khung cảnh này, như ta sẽ thấy, đã trở nên lừng danh trong những hoạt động tư pháp lừng lẫy hơn cả dưới thời Đế Chế.

Khu rừng Nodesme thuộc về một tu viện tên Notre-Dame. Tu viện này, bị chiếm, cướp bóc, đập phá, đã biến mất hoàn toàn, thầy tu cũng như tài sản. Khu rừng, đối tượng của thèm khát, được nhập vào lãnh địa của các bá tước de Champagne, về sau họ sửa sang nó rồi để cho nó bị bán đi. Trong vòng sáu thế kỷ, tự nhiên phủ lên các đổ nát bằng tấm áo choàng màu lục phong nhiêu và đầy quyền lực của nó, và xóa bỏ chúng đi kỹ đến mức sự tồn tại của một trong những tu viện đẹp nhất chỉ còn lưu vết tích qua một gò đất không mấy cao, dưới bóng đám cây đẹp, và vây quanh là những bụi rậm bất khả xâm nhập mà, kể từ năm 1794, Michu đã thích thú làm cho còn phong phú thêm lên bằng cách trồng cây keo gai tại các khoảng trống. Một cái đầm nằm dưới chân gò đất này, chứng nhận về một dòng suối đã biến mất, hẳn xưa kia nó từng là nguồn cung cấp nước dùng cho tu viện. Vị giáo sư nghiên cứu những cái tên của khu rừng Nodesme là người duy nhất từng nhận ra gốc tích của cái từ tám trăm năm tuổi này, và phát hiện xưa kia từng có một tu viện ở ngay giữa rừng. Khi nghe thấy những tiếng sấm đầu tiên của Cách Mạng vang lên, hầu tước de Simeuse, vì tình thế mà phải xem xét kỹ các giấy tờ, tình cờ biết được nét đặc biệt ấy, bắt tay, trong một hậu ý khá là dễ đoán biết, tìm địa điểm của tu viện. Nhân viên canh gác, vốn dĩ biết rất rõ khu rừng, tất nhiên giúp ông chủ trong công việc này, và hiểu biết của người trông rừng đã khiến ông nhận ra vị trí của tu viện. Quan sát hướng của năm con đường chính trong rừng, trong đó một số đã bị xóa sổ, ông thấy rằng tất cả đều chạy về gò đất và đầm nước, nơi xưa kia hẳn người ta đi tới từ Troyes, từ thung lũng Arcis, từ thung lũng Cinq-Cygne, và từ Bar-sur-Aube. Ông hầu tước muốn thăm dò bên dưới gò đất, nhưng ông chỉ có thể sử dụng cho công việc đó những người không thuộc vùng này. Bị dồn ép bởi hoàn cảnh, ông bỏ bẵng các tìm kiếm, để lại trong tâm trí Michu ý tưởng rằng gò đất che giấu hoặc kho báu hoặc móng của tòa tu viện. Michu tiếp tục công trình khảo cổ ấy; ông cảm thấy đất rỗng bên dưới, cùng ngang mực với đầm, giữa hai cái cây, thẳng dưới điểm dốc duy nhất của gò. Một đêm đẹp trời, ông vác cuốc chim đến đây, và sau một hồi cuốc thì ông thấy lộ ra một khoang hầm và có thể đi xuống đó theo các bậc thang bằng đá. Cái đầm, nơi sâu nhất đạt tới mức ba bộ, tạo thành một lòng chảo với tay cầm như thể nối thẳng vào gò đất, và dễ khiến ta tưởng từ khối đá giả này chảy ra một vòi nước đã biến mất bằng cách thẩm lậu vào khu rừng lớn. Cái đầm lầy đó, vây quanh là các loại cây thủy sinh, dương, liễu, tần bì, là điểm tụ của các lối đi, dấu tích còn lại từ những con đường cổ xưa, cùng các đường rừng, ngày nay trở nên hoang vắng. Thứ nước này, chảy xiết nhưng trông cứ như thể rất lặng, phủ đầy những cây lá rộng, rau cải, trưng bày một làn nước lục đậm, rất khó thấy ở cạnh bờ nơi mọc lên một lớp cỏ mịn và mau. Nó nằm quá xa mọi nhà ở nên không một con vật nào, ngoài thú hoang, đến uống nước. Tin chắc rằng chẳng thể có gì bên dưới đầm nước này, và bị đẩy trở ngược trước các bo khó lại gần của gò đất, các nhân viên canh gác hoặc thợ săn chưa từng bao giờ ghé chân, lục tìm hay thăm dò cái góc này, nó thuộc về khoảng cổ xưa nhất của khu rừng, được Michu nhắm làm nơi trồng các loại cây lớn, khi đến lượt nó được khai thác. Ở cuối cái hang có một căn hầm trần vòm, sạch sẽ và thoáng mát, hoàn toàn bằng đá tảng, thuộc dạng người ta hay gọi là in-pace, hầm ngầm của các tu viện. Sự thông thoáng của căn hầm, việc cầu thang và khoảng hổng vẫn còn lại có thể được giải thích là bởi dòng suối mà những người đập phá đã không động vào và bởi một bức tường dường như rất dày, xây bằng gạch và xi măng giống tường thời La Mã, để chịu lực khối nước bên trên. Michu dùng các tảng đá lớn lấp lối vào hang; rồi, nhằm giữ thật kín điều bí mật và biến nó trở nên bất khả xâm nhập, ông tự đặt cho mình quy định chỉ được leo lên gò đất phủ cây, rồi xuống cái hang theo cái dốc, thay vì vào đó từ phía cái đầm. Đúng vào lúc hai người chạy trốn tới đó, mặt trăng rắc ánh sáng bạc đẹp đẽ lên các chỏm cây cổ thụ của gò đất, ánh sáng đùa nghịch trong những túm lá tuyệt diệu của các mảnh rừng bị chia cắt bởi các con đường chạy đến chỗ đó, một số tròn trịa, một số khác lại nhọn hoắt, cái thì kết thúc bằng một cây duy nhất, cái lại bằng một khóm cây.

Từ đó, con mắt bị lôi kéo khôn cưỡng hướng về phía các phối cảnh mờ ảo nơi những ánh mắt dõi theo hoặc sự tròn trịa một con đường, hoặc vẻ trác tuyệt của một lối đi dài trong rừng, hoặc một bức tường cây lá gần như đen thẫm. Ánh sáng được lọc qua các tầng lá của ngã tư này làm ánh lên, giữa các khoảng trống tạo ra bởi cải xoong và súng, vài viên kim cương của thứ nước lặng lờ và không được ai biết đến ấy. Tiếng ếch kêu khua động sự im lặng thẳm sâu nơi góc rừng đẹp đẽ này, mà hương hoang dã đánh thức trong tâm hồn những ý nghĩ về tự do.

“Chúng ta đã thoát chưa? nữ bá tước hỏi Michu.

- Rồi, thưa cô. Nhưng chúng ta mỗi người có một việc. Ta hãy buộc ngựa của chúng ta chỗ mấy cái cây phía trên ngọn đồi nhỏ kia, rồi bịt vào mõm chúng một cái khăn, ông nói, chìa cà vạt của mình cho cô; ngựa của tôi và ngựa của cô đều rất khôn, chúng sẽ biết là phải trật tự. Chừng nào đã xong việc, thì cô đi thẳng xuống phía nước qua cái dốc kia, đừng để quần áo bị vướng vào đâu, cô sẽ thấy tôi ở đó.”

Trong khi nữ bá tước đi giấu ngựa, buộc chúng lại và thắt khăn quanh mõm chúng, Michu vần các tảng đá, làm lộ ra miệng cái hang. Nữ bá tước, cứ nghĩ nàng rành khu rừng, kinh ngạc đến tột độ khi thấy mình ở dưới một khoảng hang. Michu đặt lại các tảng đá chồng lên nhau phía trên lối vào với một sự khéo léo của thợ nề. Khi ông làm xong, tiếng động của lũ ngựa và giọng nói các cảnh binh vang lên trong màn đêm im ắng; nhưng không vì thế mà ông kém bình thản trong khi đánh lửa, châm một cành thông nhỏ, và dẫn nữ bá tước vào in-pace nơi vẫn còn lại một mẩu nến mà ông từng dùng để thám thính căn hầm này. Cánh cửa bằng sắt và gắn nhiều thanh gia cố dày cộp, nhưng đôi chỗ bị thủng vì gỉ, đã được người gác sửa lại, và đóng vào từ bên ngoài với các then ngang bắt vào mấy cái lỗ. Nữ bá tước, đã mệt rũ, ngồi xuống một ghế băng bằng đá, phía trên đó vẫn còn một cái vòng sắt gắn vào bức tường.

“Chúng ta có một phòng khách để nói chuyện, Michu nói. Giờ thì lũ cảnh binh cứ việc quay vòng vòng đến chừng nào mà chúng muốn, điều tệ hại nhất có thể xảy đến với chúng ta là chúng bắt mất mấy con ngựa.

- Bắt ngựa của chúng ta, Laurence nói, cũng chính là giết chết hai người anh họ của tôi và anh em d’Hauteserre! Xem nào, anh biết gì?”

Michu kể lại chút ít ỏi mà ông bắt chợt được từ cuộc trò chuyện giữa Malin và Grévin.

“Họ đang trên đường tới Paris, sáng mai họ sẽ vào đó, nữ bá tước nói khi ông đã kể xong.

- Tiêu rồi! Michu kêu lên. Cô cũng hiểu là tại Barrières người ta sẽ giám sát những người ra vào. Malin hết sức mong muốn để cho các cậu chủ của tôi tự sơ xuất rồi sau đó giết họ.

- Còn tôi thì chẳng hề biết gì về kế hoạch chung của vụ việc! Laurence kêu lên. Làm thế nào để báo tin cho Georges, Rivière và Moreau đây? họ đang ở đâu? Mà thôi, ta hãy chỉ nghĩ đến hai người anh họ của tôi và anh em d’Hauteserre, bằng mọi giá hãy đi tìm họ.

- Điện tín đi nhanh hơn những con ngựa hay nhất, Michu đáp, và trong số tất tật các nhà quý tộc dính vào âm mưu ấy, hai anh họ của cô sẽ bị truy tìm gắt gao nhất; nếu tôi tìm được họ, sẽ phải cho họ ở đây, chúng ta sẽ trông giữ họ tới khi vụ việc kết thúc; có lẽ ông bố của họ đã tiên đoán được hết khi đặt tôi vào dấu vết để tìm ra chỗ trú ẩn này, ông ấy đã cảm thấy hai người con sẽ thoát được nhờ nơi đây!

- Con ngựa của tôi có xuất xứ từ chuồng ngựa của bá tước d’Artois đấy, nó sinh ra từ con ngựa Anh đẹp nhất của ông ấy, nhưng nó đã chạy ba mươi sáu dặm rồi, nó sẽ chết trước khi đưa được anh đến đích.

- Con của tôi tốt, Michu nói, và nếu cô đã đi ba mươi sáu dặm, thì chẳng phải tôi sẽ chỉ phải đi mười tám dặm thôi hay sao?

- Hăm ba, nàng đáp, vì từ năm tiếng nay họ vẫn đi! Anh sẽ tìm được họ ở quá Lagny, tại Coupvrai, từ đó lúc tảng sáng họ sẽ đóng giả làm những người chèo thuyền để đi, họ định dùng thuyền để vào Paris. Đây, nàng nói tiếp, rút từ ngón tay nửa chiếc nhẫn của mẹ nàng, vật duy nhất khiến họ tin tưởng, tôi đã đưa cho họ nửa kia. Người gác Coupvrai, bố của một trong số những người lính của họ, đêm nay giấu họ tại một căn lán bỏ hoang bởi đám thợ than, ở giữa rừng. Họ có tổng cộng tám người. Các ông d’Hauteserre cùng bốn người, cộng thêm hai anh họ của tôi.

- Thưa cô, ta sẽ không chạy theo đám lính, hãy chỉ chăm lo cho các ông de Simeuse, và để những người còn lại trốn thoát theo cách riêng của họ. Chẳng phải sẽ là đủ nếu hét lên với họ: Trốn đi?

- Bỏ mặc anh em d’Hauteserre ư? không bao giờ! nàng đáp. Họ sẽ cùng chết hoặc cùng được cứu sống!

- Mấy nhà quyền quý cấp thấp? Michu hỏi.

- Họ chỉ là hiệp sĩ, nàng đáp, điều đó thì tôi biết; nhưng họ đã liên minh với nhà de Cinq-Cygne và với nhà de Simeuse. Cho nên hãy dẫn hai người anh họ của tôi cùng anh em d’Hauteserre về đây, bàn bạc với họ xem làm cách nào tốt nhất để về tới khu rừng này.

- Cảnh binh đang ở đây! cô có nghe thấy tiếng chúng không? chúng đang nói chuyện với nhau.

- Xét cho cùng tối hôm nay anh đã hai lần gặp may mắn rồi, đi đi! và đưa họ về đây, giấu họ vào cái hang này, họ sẽ tránh được mọi sự tìm kiếm! Tôi không giúp gì được cho anh, nàng giận dữ nói, tôi sẽ trở thành một ngọn đèn pha rọi sáng cho kẻ thù. Cảnh sát sẽ không bao giờ hình dung nổi là những người họ hàng của tôi lại quay lại trong rừng, khi thấy tôi ung dung tự tại. Cho nên, toàn bộ vấn đề nằm ở chỗ tìm ra năm con ngựa tốt để tới đây, trong vòng sáu tiếng đồng hồ, từ Lagny về đến khu rừng của chúng ta, sau đó vứt năm con ngựa chết vào một cái hố.

- Thế còn tiền? Michu đáp, ông suy nghĩ một cách sâu sắc trong lúc nghe nữ bá tước trẻ tuổi nói.

- Tôi đã đưa cho hai anh họ của tôi một trăm louis đêm nay.

- Tôi đảm bảo cho họ, Michu kêu lên. Một khi họ đã trốn rồi, cô sẽ không được gặp họ; vợ tôi hoặc thằng bé con tôi sẽ mang đồ ăn tới cho họ hai lần mỗi tuần. Nhưng, vì tôi không tự đảm bảo được cho tôi, cô hãy biết, nếu xảy ra bất hạnh, thưa Cô, rằng thanh xà chính tầng áp mái căn chòi của tôi đã được khoan ra. Trong cái lỗ được bịt lại bằng một cái chốt gỗ to, có bản đồ một góc khu rừng. Những cái cây nào mà cô thấy có đánh dấu mực đỏ trên bản đồ đều có dấu màu đen dưới gốc ngoài hiện trường. Mỗi cây là một bảng chỉ đường. Chỗ cây sồi già thứ ba nằm bên trái mỗi cây được đánh dấu có, cách hai bước chân về phía trước gốc cây, các ống sắt tây chôn sâu bảy bộ, mỗi cái đựng một trăm nghìn franc bằng vàng. Mười một cái cây ấy, chỉ có mười một thôi, là toàn bộ gia sản của gia đình Simeuse, giờ đây khi Gondreville đã mất rồi.

- Giới quý tộc sẽ phải mất đến cả trăm năm thì mới có thể gượng dậy sau những đòn đánh mà nó đã phải chịu! cô de Cinq-Cygne chậm rãi nói.

- Có mật khẩu không? Michu hỏi.

- France và Charles! đối với đám lính. Laurence và Louis! đối với các ông d’Hauteserre và de Simeuse. Chúa ơi! hôm qua vừa mới gặp lại họ sau mười một năm đằng đẵng, hôm nay đã chứng kiến họ gặp phải nguy hiểm chết người, và là cái chết mới ghê rợn làm sao! Michu, nàng nói, vẻ sầu muộn, hãy thận trọng trong vòng mười lăm tiếng đồng hồ sắp tới giống như anh đã hết sức lớn lao suốt mười hai năm vừa qua. Nếu xảy đến chuyện bất hạnh cho các anh họ của tôi, tôi sẽ chết. Không, nàng nói, tôi sẽ sống đủ lâu để giết Bonaparte!

- Chúng ta sẽ cùng nhau làm việc đó, vào cái ngày mọi thứ đã mất đi.”

Laurence cầm lấy bàn tay cục mịch của Michu và siết chặt nó theo kiểu Anh. Michu rút cái đồng hồ đeo tay ra, đã nửa đêm.

“Ta hãy đi ra bằng mọi giá, ông nói. Tên cảnh binh nào chặn đường tôi cứ liệu hồn. Còn cô, dẫu không dám ra lệnh cho cô, thưa nữ bá tước, hãy phi hết tốc lực về Cinq-Cygne, chúng đang ở đó, cô hãy mua vui cho chúng.”

Cái lỗ được mở ra, Michu không nghe thấy gì; ông áp tai xuống đất, rồi đứng phắt dậy: “Chúng đang ở rìa khu rừng về phía Troyes! ông nói, tôi sẽ qua mặt được chúng!”

Ông đỡ nữ bá tước đi ra, rồi vần đống đá lại. Vừa xong việc, ông nghe thấy Laurence dịu dàng gọi ông, nàng muốn thấy ông lên ngựa trước khi cưỡi lên con ngựa của nàng. Người đàn ông cục mịch nước mắt lưng tròng khi lần cuối nhìn cô chủ trẻ tuổi, còn nàng thì mắt khô ráo.

“Chúng ta hãy mua vui cho chúng, ông ấy nói đúng!” nàng tự nhủ khi không còn nghe thấy gì nữa. Và nàng phi nước đại về phía Cinq-Cygne.

Khi biết các con đang gặp nguy hiểm chết người, bà d’Hauteserre, vốn dĩ không tin Cách Mạng đã kết thúc và biết rõ cơ chế chóng vánh của tòa án thời ấy, hồi lại ngũ quan cùng sức lực nhờ chính sự dữ dội của nỗi đau đớn đã khiến bà đánh mất chúng. Bị thúc đẩy bởi một nỗi hiếu kỳ hãi hùng, bà xuống phòng khách, mà quang cảnh lúc đó bày ra một bức tranh thực sự xứng đáng với cây cọ của các họa sĩ trong thể loại này. Vẫn ngồi chỗ cái bàn chơi bài, cha xứ máy móc nghịch các tấm phiếu, lén nhìn Peyrade và Corentin, đang đứng tại một góc lò sưởi, thì thầm nói chuyện với nhau. Nhiều lần ánh mắt tinh tường của Corentin bắt gặp cái nhìn không kém phần tinh ranh của cha xứ; nhưng, cũng giống hai đối thủ ngang sức ngang tài và lui về thủ thế sau khi chạm kiếm, cả hai mau chóng đưa ánh mắt đi chỗ khác. Ông già trung hậu d’Hauteserre, đứng như trời trồng, giống một con diệc, ở ngay gần Goulard to béo, cao lớn và hà tiện, trong dáng vẻ mà nỗi hoảng hốt đã đặt ông ta vào. Mặc dù ăn vận theo lối tư sản, ông thị trưởng vẫn mang dáng dấp của một gia nhân. Cả hai ngây độn nhìn đám cảnh binh, giữa chúng Gothard vẫn khóc i ỉ, hai tay thì bị trói chặt đến nỗi bầm tím và phồng rộp. Catherine không rời khỏi tư thế chất chứa vẻ giản dị và ngây thơ, nhưng bất khả xâm nhập. Viên đội trưởng, mà theo Corentin, vừa phạm sự ngu xuẩn là bắt giữ mấy đứa trẻ này, không còn biết là nên đi hay ở lại. Anh ta tư lự đứng đó giữa phòng khách, tay đặt lên đốc thanh kiếm, mắt thì chĩa vào hai tay Paridiêng. Vợ chồng Durieu, kinh hãi, và tất tật người làm trong lâu đài tạo thành một nhóm người lo âu đáng ngưỡng mộ. Nếu không có tiếng khóc lóc ỉ ôi của Gothard, hẳn người ta có thể nghe thấy tiếng ruồi vo ve.

Khi bà mẹ, sợ hãi và nhợt nhạt, mở cửa và xuất hiện, gần như phải được cô Goujet dìu đi, với đôi mắt đỏ quạch vừa khóc, tất tật các khuôn mặt kia quay về phía hai người phụ nữ. Hai nhân viên hy vọng ngang với mức độ run rẩy của các cư dân tòa lâu đài, được thấy Laurence bước vào. Cử động bộc phát của đám người làm cùng những người chủ như thể được tạo ra bởi một cơ chế điều khiển các hình nhân bằng gỗ kia theo một động tác duy nhất hoặc một cái nháy mắt.

Bà d’Hauteserre tiến lên bằng ba bước dài về phía Corentin, và nói với hắn, giọng ngắt quãng nhưng dữ dội: “Xin ông thương tình, thưa ông, các con tôi bị buộc tội gì? Ông có nghĩ là chúng đã đến đây không?”

Cha xứ, như thể đã tự nhủ khi nhìn thấy bà già: “Bà ấy sẽ làm một trò xuẩn ngốc!” cụp mắt xuống.

“Các bổn phận và nhiệm vụ mà tôi đang tiến hành không cho phép tôi nói cho bà biết điều đó”, Corentin đáp, vẻ vừa duyên dáng vừa nhạo báng.

Lời từ chối này, mà vẻ lịch thiệp đáng ghét của kẻ đỏm dáng càng khiến cho càng trở nên nghiệt ngã hơn, làm bà mẹ già như hóa đá, bà ngồi phịch xuống một cái phô tơi gần trưởng tu Goujet, chắp hai tay vào với nhau và cầu xin.

“Các anh đã bắt được cái thằng bé khóc lóc này ở đâu thế? Corentin hỏi viên đội trưởng, chỉ tay vào thằng bé coi ngựa của Laurence.

- Trên con đường dẫn tới trang trại, dọc theo các bức tường khu vườn, thằng này đang định chạy đến khu rừng Closeaux.

- Còn con bé này?

- Nó hả? Olivier túm được nó.

- Nó đang đi đâu?

- Về phía Gondreville.

- Chúng quay lưng vào nhau có phải không? Corentin hỏi.

- Đúng, viên cảnh binh đáp.

- Đây có phải thằng hầu nhỏ và con bé hầu phòng của nữ công dân Cinq-Cygne không? Corentin hỏi ông thị trưởng.

- Đúng đấy”, Goulard đáp.

Sau khi trao đổi vài câu với Corentin theo hình thức rỉ tai, Peyrade đi luôn ra ngoài, dẫn theo viên đội trưởng.

Đúng lúc đó viên đội trưởng của Arcis bước vào, tới chỗ Corentin và hạ giọng nói: “Tôi biết rõ địa hình khu vực, tôi đã lùng sục mọi nơi; trừ phi mấy tên kia được chôn xuống đất, nếu không thì chẳng có ai đâu. Chúng tôi đang dùng báng súng nện xuống sàn nhà và vào tường để nghe thử.”

Peyrade, đã quay trở vào, ra hiệu bảo Corentin ra, và dẫn hắn đến xem ngách hào nước, chỉ cho hắn con đường thụt xuống nối vào đó.

“Chúng tôi đã đoán ra được ma nớp, Peyrade nói.

- Và tôi! tôi sẽ nói luôn cho anh, Corentin đốp lại. Thằng nhóc con và đứa con gái đã chơi xỏ đám cảnh binh ngu độn kia nhằm giúp con mồi chạy thoát.

- Lúc nào trời sáng thì chúng ta mới có thể biết sự thật, Peyrade đáp. Con đường này ướt, tôi vừa cho hai cảnh binh chặn phía trên và phía dưới lại; chừng nào nhìn rõ, chúng ta sẽ nhận ra, căn cứ vào dấu chân, xem những ai đã đi qua đó.

- Ở đây có dấu chân ngựa này, Corentin nói, ta ra chỗ chuồng ngựa đi.”

“Ở đây có bao nhiêu ngựa? Peyrade hỏi ông d’Hauteserre và Goulard vào lúc cùng Corentin quay trở lại phòng khách.

- Nào, ông thị trưởng, ông có biết, trả lời đi chứ? Corentin hét lên, khi thấy viên công chức ngập ngừng.

- Nhưng có con ngựa cái của nữ bá tước, ngựa của Gothard và ngựa của ông d’Hauteserre.

- Chúng tôi đã chỉ thấy một con trong chuồng ngựa, Peyrade nói.

- Cô đang đi dạo, Durieu lên tiếng.

- Cô ta vẫn hay đi dạo buổi đêm như thế à, cô bé mà ông giám hộ? tay Peyrade trụy lạc hỏi ông d’Hauteserre.

- Rất hay đi, ông già trung hậu đáp hết sức giản dị, ông thị trưởng có thể chứng nhận điều đó.

- Ai cũng biết là cô ấy có các thú vui riêng, Catherine đáp. Cô ấy nhìn trời trước khi đi ngủ, và tôi nghĩ rằng đống lưỡi lê của các ông lấp lánh từ xa hẳn đã làm cô ấy rối trí. Cô ấy đã muốn biết, cô ấy nói với tôi như vậy khi đi ra, có phải lại có thêm một cuộc cách mạng hay không.

- Cô ta đi lúc nào? Peyrade hỏi.

- Khi cô ấy nhìn thấy những khẩu súng của các ông.

- Thế cô ta đi đâu?

- Tôi không biết.

- Còn con ngựa kia? Corentin hỏi.

- Cá…c ô..ng c..a..ảnh bi…nh đã cư…ớp m…ất củ…a t..ô…i rồ…i.”

Viên cảnh binh ngẩng đầu lên nhìn Corentin đợi lệnh; nhưng thứ ngôn ngữ vừa quá giả dối vừa hết sức chân thật này, ngây thơ một cách sâu sắc đến thế và cũng mưu mẹo đến thế, khiến hai tay Paridiêng nhìn nhau như để cùng nhau nhắc lại câu nói của Peyrade: “Chúng không khoai lắm!”

Ông quyền quý có vẻ không đủ tĩnh trí để hiểu một câu nói xỏ. Ông thị trưởng thì ngu ngốc. Bà mẹ, đần ra vì tình mẫu tử, đặt cho hai nhân viên những câu hỏi ngây thơ ngốc nghếch. Tất cả gia nhân đều thực sự bị bắt chợt trong lúc đang ngủ. Trước các chi tiết nhỏ này, đánh giá những tính cách đa dạng này, Corentin hiểu ngay rằng địch thủ duy nhất của hắn là cô de Cinq-Cygne. Dẫu có khôn khéo đến mức nào, Cảnh Sát cũng có vô vàn bất lợi. Nó không chỉ buộc phải biết tất tật những gì mà kẻ âm mưu biết, mà còn phải đặt giả định cả nghìn thứ trước khi tới được thứ duy nhất đúng. Kẻ âm mưu không ngừng nghĩ đến sự an toàn của hắn, trong khi Cảnh Sát chỉ làm việc theo giờ. Nếu không có những sự phản bội, sẽ chẳng có gì dễ dàng hơn là trò âm mưu. Một kẻ âm mưu, một mình hắn thôi cũng có nhiều trí tuệ hơn Cảnh Sát với vô số phương cách hoạt động của nó. Cảm thấy trong tâm trí rằng mình đang bị chặn lại như thể một cách hữu hình bởi một cánh cửa mà bọn họ cứ tưởng đâu đã mở, rằng bọn họ đã dùng thủ thuật mở khóa và đằng sau đó nhiều người im lặng mà suy tính, Corentin và Peyrade thấy mình đã bị đoán ra và bị chơi xấu nhưng không rõ là bởi kẻ nào.

“Tôi khẳng định, viên đội trưởng Arcis đến nói thầm vào tai họ, rằng nếu các ông de Simeuse và d’Hauteserre đã qua đêm ở đây, thì người ta đã cho họ nằm trên giường của ông bố, bà mẹ, cô de Cinq-Cygne, cô hầu, các gia nhân, hoặc giả họ đã đi dạo trong vườn, bởi vì không có dấu vết nào về việc họ đã qua đây.

- Kẻ nào có thể báo tin cho họ nhỉ? Corentin hỏi Peyrade. Mới chỉ có Đệ nhất Tổng tài, Fouché, các bộ trưởng, cảnh sát trưởng và Malin biết điều gì đó.

- Chúng ta sẽ để mặc lũ cừu tại vùng đất của chúng, Peyrade nói thầm vào tai Corentin.

- Ở Champagne mà làm vậy thì lại càng hay”, cha xứ cất tiếng, ông không thể tự ngăn mình mỉm cười khi nghe thấy từ “cừu” và đoán ra mọi điều dựa trên cái từ duy nhất nghe trộm được này.

“Chúa ơi! Corentin nghĩ, hắn đáp lại cha xứ cũng bằng một nụ cười, ở đây chỉ độc một người có trí não, mình chỉ có thể thương thảo với ông ta, mình sẽ xử lý ông ta vậy.”

“Thưa các ông… ông thị trưởng nói, ông ta những muốn trưng bày bằng chứng cho lòng tận tâm đối với Đệ nhất Tổng tài, và thế nên ông nói với hai nhân viên.

- Hãy nói là công dân, nền Cộng Hòa vẫn đang tồn tại, Corentin đáp, nhìn sang cha xứ với ánh mắt nhạo báng.

- Thưa các công dân, ông thị trưởng nói tiếp, đúng lúc tôi bước vào phòng khách này và trước khi kịp mở miệng nói, Catherine đã lao vào đây để lấy roi ngựa, găng tay và cái mũ của cô chủ.”

Một tiếng rì rầm hãi hùng u tối phát ra từ đáy sâu của mọi bộ ngực, ngoại trừ ngực Gothard. Mọi ánh mắt, ngoại trừ đám cảnh binh và hai nhân viên, chĩa vào Goulard đầy đe dọa, phóng ra các tia lửa, ông ta là kẻ chỉ điểm.

“Tốt lắm, công dân thị trưởng, Peyrade nói với ông ta. Chúng tôi thấy rõ được rồi. Đã có người báo trước cho nữ công dân Cinq-Cygne vừa kịp lúc”, hắn nói thêm, nhìn sang Corentin với một vẻ thách thức lồ lộ.

“Đội trưởng, mạnh tay với thằng nhóc này đi, Corentin nói với viên cảnh binh, và dẫn nó vào một phòng riêng. Cũng nhốt luôn con bé này lại”, hắn nói thêm, chỉ tay vào Catherine. “Anh sẽ phụ trách việc khám xét giấy tờ, hắn nói tiếp, quay sang Peyrade, nói thầm vào tai hắn. Lục hết nhé, đừng bỏ sót thứ gì.” “Thưa ông trưởng tu, hắn thân mật nói với cha xứ, tôi có các thông tin quan trọng muốn bàn riêng với ông.” Rồi hắn dẫn ông ra ngoài vườn.

“Nghe này, thưa trưởng tu, tôi thấy ông có đầy đủ trí tuệ của một giám mục đấy, và (không ai nghe thấy chúng ta đâu) ông hiểu tôi; tôi chỉ còn có thể đặt hy vọng vào một mình ông để cứu hai gia đình, vì xuẩn ngốc mà sắp rơi vào một vực thẳm không đáy. Các ông de Simeuse và d’Hauteserre đã bị phản bội bởi một trong số các gián điệp nhơ nhớp mà các chính quyền tuồn vào trong mọi âm mưu nhằm nắm được mục đích của chúng, cũng như phương cách và con người. Xin đừng nghĩ tôi cũng giống cái tên thảm hại đi cùng tôi, hắn thì thuộc bên Cảnh Sát; còn tôi, tôi là phái viên một cách đàng hoàng tại nội các tổng tài và tôi là người quyết định mọi chuyện. Chúng tôi không hề muốn các ông de Simeuse tiêu tùng; Malin thì muốn thấy họ bị xử bắn, nhưng Đệ nhất Tổng tài, nếu họ có ở đây, nếu họ không có ý đồ gì xấu, muốn chặn họ lại ngay bên bờ miệng vực, bởi vì ngài yêu quý các quân nhân giỏi. Nhân viên đi cùng tôi có đủ mọi quyền lực, tôi thì bề ngoài chẳng là gì đâu, nhưng tôi biết âm mưu nằm chỗ nào. Nhân viên kia nhận lệnh của Malin, hẳn ông ta đã hứa với hắn sự bảo trợ riêng, một vị trí và có lẽ cả tiền nữa, nếu hắn có thể bắt được anh em Simeuse và giao nộp họ. Đệ nhất Tổng tài, thực sự là một con người vĩ đại, hoàn toàn không ủng hộ những suy nghĩ tham lam. Tôi không hề muốn biết hai thanh niên có ở đây hay không, hắn nói khi liếc thấy một cử động ở ông cha xứ; nhưng họ chỉ có thể được cứu thoát nhờ một cách mà thôi. Ông có biết luật 6 floréal năm X[93], nó tha bổng cho những người lưu vong vẫn còn ở nước ngoài, với điều kiện trở về trước ngày đầu tiên vendémiaire năm XI, nghĩa là tháng Chín năm ngoái; nhưng các ông de Simeuse, cũng như các ông d’Hauteserre, vì đã lĩnh các chức vụ chỉ huy trong đội quân của Condé, nằm vào trường hợp ngoại lệ của điều luật này; như vậy sự có mặt của họ tại Pháp là một tội ác, và đủ, trong hoàn cảnh của chúng ta đây, để biến họ trở thành những kẻ đồng lõa của một âm mưu ghê gớm. Đệ nhất Tổng tài đã cảm thấy điểm tai hại của ngoại lệ này, nó tạo ra cho chính quyền của ngài những kẻ thù bất cộng đái thiên; ngài những muốn làm cho các ông de Simeuse hiểu rằng họ sẽ không bị truy đuổi nếu gửi cho ngài một đơn thỉnh nguyện trong đó nói rõ họ quay về Pháp với ý định tuân phục pháp luật, và hứa lập thệ trước Hiến Pháp. Ông cũng hiểu rằng tờ đơn này phải nằm trong tay ngài trước khi họ bị bắt và phải ghi ngày trước đây mấy hôm, tôi có thể mang nó đi đưa được. Tôi không hỏi ông các thanh niên ở đâu, hắn nói khi thấy cha xứ lại phác một cử chỉ phản đối, thật không may là chúng tôi chắc chắn sẽ tìm ra họ; khu rừng được canh gác, các ngả đường về Paris được kiểm soát, cả biên giới cũng vậy. Nghe rõ tôi nói nhé! nếu các ông ấy đang ở giữa khu rừng này và Paris, họ sẽ bị tóm; nếu họ đã ở Paris, người ta sẽ tìm ra họ; nếu họ thoái lui, những người bất hạnh ấy sẽ bị bắt. Đệ nhất Tổng tài yêu quý các ci-devant[94] và không thể chịu đựng đám cộng hòa, và điều này hết sức giản dị: nếu muốn một ngai vàng, ngài sẽ buộc phải cắt cổ Tự Do. Đây là bí mật chúng ta biết với nhau thôi đấy nhé. Ông cũng thấy đấy! tôi sẽ đợi cho đến mai, tôi sẽ như người mù; nhưng ông hãy đề phòng nhân viên kia; cái tay người Provence đó là tên hầu của quỷ đấy, hắn nhận lệnh của Fouché, còn tôi nhận lệnh của Đệ nhất Tổng tài.

- Nếu các ông de Simeuse đang ở đây, cha xứ nói, tôi sẵn sàng cho đi mấy lít máu trên người tôi cùng một cánh tay để cứu họ; nhưng nếu cô de Cinq-Cygne là người tâm phúc của họ, thì cô ấy đã không hề, tôi xin thề điều này trên sự cứu rỗi muôn đời của tôi, để lộ bất kỳ điều gì và đã không hề trao tôi vinh hạnh là hỏi ý kiến tôi. Giờ đây thì tôi hết sức sung sướng vì sự kín đáo của cô ấy, nếu như mà có sự kín đáo thật. Tối hôm qua ở đây chúng tôi đã, cũng như mọi hôm, chơi boston, trong sự im lặng sâu thẳm nhất cho đến mười giờ rưỡi, và chúng tôi đã không nhìn thấy hay nghe thấy gì hết cả. Không có chuyện một đứa trẻ đi qua thung lũng này mà tất cả mọi người không nhìn thấy và biết nó đâu, và kể từ hai tuần nay không hề xuất hiện một người lạ nào. Thế nhưng, các ông d’Hauteserre và de Simeuse thì đã là tận bốn người rồi. Ông già và vợ ông ấy tuân phục chính phủ, và họ đã thực hiện mọi nỗ lực có thể hình dung nhằm đưa các con họ về với họ; hôm kia họ vẫn còn viết thư cho chúng. Vậy nên, trong tâm hồn cũng như trong lương tâm tôi, đã phải cần đến sự xuất hiện của anh tại đây thì mới có thể lay chuyển được niềm tin đinh ninh rằng họ đang ở bên Đức. Nói riêng giữa chúng ta thôi nhé, ở đây độc chỉ có nữ bá tước trẻ tuổi là không nhìn nhận cho công bằng các phẩm chất cao vời của ngài Đệ nhất Tổng tài.”

“Lão già cáo thật!” Corentin nghĩ. “Nếu các thanh niên bị xử bắn, thì là bởi có người muốn vậy đấy nhé! hắn cao giọng đáp, giờ thì tôi phủi tay khỏi chuyện này.”

Hắn dẫn trưởng tu Goujet tới một chỗ được ánh trăng chiếu sáng, và đột nhiên nhìn sang ông, vừa nhìn vừa nói những lời khủng khiếp kia. Vị linh mục vô cùng sầu thảm, nhưng đó là với tư cách một người kinh ngạc và hoàn toàn không biết gì.

“Xin hãy hiểu, thưa trưởng tu, Corentin nói tiếp, rằng quyền của họ đối với khu đất Gondreville khiến họ trở nên hai lần tội phạm trong mắt những người đang nắm giữ nó! Rốt cuộc, điều mà tôi muốn là đưa họ đối đầu với Chúa, chứ không phải với các ông thánh.

- Tức là có một âm mưu? cha xứ ngây thơ hỏi.

- Đáng ghê tởm, đồi bại, hèn hạ, và trái ngược với tin thần độ lượng của quốc gia, Corentin đáp, đến mức nó sẽ bị tất cả mọi người khinh bỉ.

- Thế nhưng, cô de Cinq-Cygne không thể nào hèn hạ được, cha xứ kêu lên.

- Thưa ông trưởng tu, Corentin lại nói, kìa, đối với chúng tôi (vẫn là nói riêng giữa chúng ta thôi đấy nhé) có các bằng chứng hiển nhiên về sự đồng lõa của cô ta; nhưng vẫn còn chưa đủ đối với tòa án. Cô ta đã bỏ trốn khi chúng tôi tiến lại… Và thế nhưng tôi đã gửi đến cho các vị ông thị trưởng.

- Đúng, nhưng đối với một người nhất quyết muốn cứu họ, thì anh đã đến hơi quá sát gót ông thị trưởng đấy”, trưởng tu nói.

Ở câu này, hai người nhìn nhau, và mọi điều đã được nói giữa họ: họ thuộc vào số các nhà giải phẫu suy nghĩ rất sâu sắc, những người chỉ cần một rung động trong giọng nói, một ánh mắt, một từ thôi là đủ để đoán định cả một tâm hồn, cũng như người Mọi Rợ đoán ra kẻ thù của mình thông qua các dấu vết vô hình trong mắt một người châu Âu.

“Mình cứ tưởng có thể khai thác được gì đó từ lão, nhưng hỏng bét mất rồi”, Corentin nghĩ.

“A! cái thằng cu này!” cha xứ tự nhủ.

Nửa đêm điểm chuông nơi cái đồng hồ cũ của nhà thờ đúng lúc Corentin và cha xứ quay trở lại phòng khách. Người ta nghe tiếng mở đóng cửa các phòng và tủ đồ. Đám cảnh binh xới tung những cái giường. Peyrade, với trí tuệ sắc sảo của gián điệp, lục soát và dò xét khắp mọi nơi. Cuộc khám xét này gieo rắc cả nỗi kinh hoàng lẫn sự phẫn nộ nơi các gia nhân trung thành, vẫn đứng bất động. Ông d’Hauteserre trao đổi với vợ và cô Goujet những ánh mắt cảm thông. Một nỗi hiếu kỳ rùng rợn khiến không ai thấy buồn ngủ. Peyrade đi xuống và bước vào phòng khách, cầm trên tay một cái hộp bằng gỗ đàn hương, hẳn xưa kia từng được mang từ Trung Quốc về bởi tay đô đốc de Simeuse. Cái hộp xinh xắn này dẹt và có kích cỡ của một quyển sách khổ quarto[95].

Peyrade ra dấu cho Corentin, và dẫn hắn ra đứng trước cửa sổ: “Tôi hiểu ra rồi! hắn nói. Cái tay Michu kia, kẻ có thể trả tám trăm nghìn franc bằng vàng để mua Gondreville từ tay Marion, và mới ban nãy vừa định giết Malin, hẳn phải là người của đám Simeuse; lợi ích từng khiến hắn đe dọa Marion chắc cũng giống hệt như lợi ích khiến hắn nhắm bắn Malin. Tôi thấy hắn có năng lực suy nghĩ đấy, hắn biết tin tức, và đã đến đây để báo tin.

- Chắc Malin đã bàn bạc về âm mưu với ông bạn chưởng khế của ông ta, Corentin nói, triển khai các suy luận của đồng nghiệp, và Michu, đang rình ở đó, hẳn đã nghe thấy ông ta nhắc đến anh em nhà Simeuse. Quả thật, hắn chỉ có thể rút khẩu cạc bin về để chạy đi thông báo một nỗi bất hạnh mà hắn thấy là lớn hơn việc mất Gondreville.

- Hắn đã nhận rõ chúng ta là ai, Peyrade nói. Vậy nên, vào lúc đó, trí não của tay nông dân đó khiến tôi thấy đúng là chuyện thần kỳ.

- Ồ! điều đó cho thấy hắn đề phòng sẵn, Corentin đáp. Nhưng, xét cho cùng, bạn ạ, ta đừng nhầm lẫn: sự phản bội thì bốc mùi kinh lắm, và lũ người nguyên thủy ngửi thấy được từ rất xa.

- Chúng ta sẽ chỉ vì thế mà trở nên mạnh hơn thôi”, tay người Provence nói.

“Gọi đội trưởng Arcis đến đây”, Corentin hét lên với một viên cảnh binh. “Ta sai anh ta đến chỗ căn chòi, hắn nói với Peyrade.

- Violette, tai mắt của chúng ta, đang ở đó, tay người Provence đáp.

- Chúng ta đã đi mà không có tin tức gì từ ông ta, Corentin nói. Lẽ ra chúng ta phải dẫn theo Sabatier mới phải. Chỉ có hai người thì không đủ.” “Đội trưởng, hắn nói khi thấy viên cảnh binh bước vào, lôi anh ta đứng vào giữa Peyrade và hắn, anh đừng có để bị phỉnh giống viên đội trưởng Troyes lúc nãy đấy nhé. Chúng tôi nghĩ có vẻ Michu có vai trò trong vụ việc; đến chỗ chòi của hắn đi, chú ý quan sát mọi thứ, rồi về báo cho chúng tôi.

- Một người của chúng tôi đã nghe thấy có tiếng ngựa trong rừng vào thời điểm chúng tôi bắt mấy đứa hầu nhỏ, và tôi đã phái bốn anh chàng đuổi theo những kẻ muốn bỏ trốn”, viên cảnh binh đáp.

Anh ta đi ra, và tiếng con ngựa của anh ta phi nước đại, vang lên trên bãi cỏ, rồi nhanh chóng chìm đi.

“Nào! chúng đang tiến đến Paris hoặc rút về phía Đức”, Corentin tự nhủ. Hắn ngồi xuống, rút từ túi áo spencer ra một quyển sổ, viết hai mệnh lệnh bằng bút chì, niêm lại và ra hiệu cho một viên cảnh binh: “Phi đến Troyes, đánh thức ông tỉnh trưởng, và bảo ông ta sáng ra thì gửi bức điện đi ngay.”

Viên cảnh binh lao đi. Ý nghĩa của hành động này và dự đồ của Corentin rõ đến nỗi trái tim mọi cư dân của lâu đài đều thắt lại; nhưng nỗi lo lắng này, cách nào đó, là thêm một đòn nữa trong cuộc chịu nạn của họ, bởi vì vào thời điểm này ánh mắt họ đổ dồn vào cái hộp quý giá. Vừa nói chuyện với nhau, hai tay nhân viên vừa rình mò thứ ngôn ngữ của các ánh mắt rực lửa kia. Một dạng điên giận lạnh lẽo khuấy động trái tim thờ ơ của hai cái kẻ đang nhấm nháp nỗi kinh hoàng chung. Con người của bên cảnh sát có đầy đủ mọi mối xúc cảm của thợ săn; nhưng bằng cách trưng bày các sức lực của cơ thể và trí tuệ, ở nơi mà một kẻ tìm cách giết một con thỏ, một con gà lôi hay một con hoẵng, thì đối với kẻ kia vấn đề là cứu Nhà Nước hay vị quân vương, chiếm lấy một niềm biết ơn to lớn. Vậy nên sự săn đuổi con người thì cao hơn cuộc săn kia, với toàn bộ khoảng cách án ngữ giữa người và thú vật. Vả lại, tên gián điệp cần nâng vai trò của mình lên mức kỳ vĩ tối đa và lên tầm quan trọng của các lợi ích mà hắn phụng sự hết lòng. Dẫu không nhúng chân vào cái nghề này, hẳn bất kỳ ai cũng có thể hình dung được rằng tâm hồn tiêu tốn vào đó mức dục vọng cũng lớn ngang với mức mà người thợ săn dùng đến trong lúc săn đuổi con mồi. Thành thử, càng tiến thêm về phía ánh sáng, hai kẻ này càng trở nên hào hứng hơn; nhưng dáng dấp, ánh mắt bọn họ vẫn bình thản và lạnh lùng, cũng như các mối nghi ngờ, các ý nghĩ, kế hoạch của bọn họ vẫn là bất khả xâm nhập. Nhưng, đối với người nào từng dõi theo các hiệu ứng của sự thính nhạy tinh thần của hai con chó săn theo dấu các sự việc còn chưa biết và bị che giấu này, đối với ai hiểu được các chuyển động thoăn thoắt như của loài chó dẫn dắt bọn họ đến chỗ tìm ra cái đúng nhờ vào sự xem xét nhanh chóng các khả năng, thật có nhiều điều để phát run vì sợ! Làm thế nào và tại sao những con người thiên tài này lại xuống thấp đến vậy khi mà bọn họ có thể lên rất cao? Sự thiếu hoàn hảo nào, tật lỗi nào, dục vọng nào gặm nhấm bọn họ như thế? Người ta có thể nào là người của cảnh sát cũng giống như là nhà tư tưởng, nhà văn, chính trị gia, họa sĩ, tướng, với điều kiện chỉ biết đi do thám, cũng giống như những người kia nói, viết, cai trị, vẽ hay đánh nhau? Các cư dân của lâu đài trong lòng chỉ có độc một mong muốn giống hệt nhau: sấm chớp sẽ giáng xuống đầu lũ người nhơ nhớp chứ? Tất tật họ đều khát khao trả thù. Vậy nên, nếu không có mặt đám cảnh binh, chắc hẳn đã nổ ra một cuộc nổi loạn.

“Ai có chìa khóa cái hộp không?” Peyrade vô sỉ hỏi, hướng về đám người, cả bằng cử động cái mũi to đỏ lựng của hắn, lẫn bằng giọng nói.

Tay người Provence nhận ra, chẳng phải là không thoáng lo ngại, là không còn cảnh binh nào nữa. Chỉ còn lại hắn và Corentin. Corentin rút từ túi áo một con dao găm nhỏ và chuẩn bị dùng nó luồn vào khe của cái hộp. Đúng lúc đó, trước tiên người ta nghe thấy trên con đường, rồi trên bãi cỏ nhỏ, âm thanh hãi hùng của ngựa phi tuyệt vọng; nhưng điều gây ra còn nhiều hoảng sợ hơn là cú ngã và tiếng thở phì phò của con ngựa dưới chân ngọn tháp nhỏ nằm chính giữa. Một cơn choáng váng giống khi bị sét đánh trúng làm chao đảo mọi người chứng kiến, khi họ nhìn thấy Laurence, mà tiếng sột soạt bộ trang phục kỵ sĩ thông báo; người của nàng vội lập thành một hàng rào nhằm để nàng đi qua. Mặc dù đã cưỡi ngựa phóng rất gấp, nàng đã cảm nhận được nỗi đau sẽ gây ra cho nàng khi âm mưu bị phát hiện: tất tật hy vọng của nàng sụp đổ! nàng đã phi ngựa giữa đống đổ nát, vừa đi vừa nghĩ đến sự tất yếu phải quy phục chính quyền tổng tài. Do đó, nếu không có mối nguy mà bốn nhà quyền quý đang vấp phải và cũng chính là cái giúp cho nàng chế ngự nỗi mệt mỏi và tuyệt vọng, hẳn nàng đã lăn ra ngủ. Nàng đã gần như giết chết con ngựa của mình nhằm lao tới đứng chắn vào giữa cái chết và hai người anh họ. Nhìn thấy nhân vật anh thư ấy, nhợt nhạt và hốc hác, tấm voan xiên xẹo, roi ngựa cầm trên tay, trên ngưỡng cửa từ đó ánh mắt cháy bỏng của nàng bao quát toàn bộ cảnh tượng và xuyên thấu nó, ai cũng hiểu, dựa vào chuyển động khó đoán định đang khuấy động khuôn mặt hiểm độc và bối rối của Corentin, rằng hai đối thủ đích thực đã đối mặt nhau. Một cuộc đấu tay đôi khủng khiếp sắp bắt đầu. Nhìn thấy cái hộp gỗ trên tay Corentin, nữ bá tước trẻ tuổi giơ cây roi lên và nhảy vọt về phía hắn, vụt vào tay hắn một cú mạnh đến nỗi cái hộp rơi xuống đất; nàng nhặt lấy nó, ném nó vào giữa đống than lò sưởi và đứng chặn phía trước ngọn lửa trong một dáng điệu đầy đe dọa, trước khi hai tên nhân viên kịp hoàn hồn. Nỗi khinh bỉ bừng bừng trong ánh mắt của Laurence, vầng trán nhợt nhạt và cặp môi cao ngạo của nàng sỉ nhục hai kẻ kia còn nhiều hơn so với cái động tác ngạo nghễ mà nàng vừa sử dụng với Corentin, như với một con vật độc địa. Ông già trung hậu d’Hauteserre cảm thấy mình vụt trở thành hiệp sĩ, máu dồn lên mặt ông, và ông thấy tiếc vì không có thanh kiếm nào. Các gia nhân trước tiên run rẩy vì vui mừng. Sự trả thù mà họ thầm hết lòng kêu gọi vừa giáng xuống một trong hai kẻ kia. Nhưng niềm vui sướng của họ bị dồn xuống đáy sâu tâm hồn bởi một nỗi sợ ghê rợn: họ vẫn nghe thấy tiếng các cảnh binh đi lại trên tầng. Viên gián điệp, cái từ ghê gớm mà ở bên dưới mọi nét nghĩa trộn lẫn vào với nhau, khiến những người của cảnh sát trở nên nổi bật, bởi vì công chúng chưa bao giờ muốn chỉ rõ trong ngôn ngữ các nét tính cách đa dạng của những kẻ có dính dáng vào cái trò này, cần thiết đối với các chính phủ, gián điệp thì có một điều tuyệt diệu và lạ kỳ, đó là không bao giờ hắn nổi giận; hắn sở hữu sự nhẫn nhịn Ki-tô giáo của các linh mục, hắn có cặp mắt rắn đanh trước nỗi khinh bỉ và đặt hắn sang một bên thanh barie đối lập với đám dân chúng ngu xuẩn không sao hiểu nổi hắn; hắn có vầng trán bằng đồng thau trước những lời chửi rủa, hắn tiến về phía đích giống như một con thú với bộ mai vững chắc chỉ có thể dùng đại bác thì mới mong làm suy suyển; nhưng nữa, cũng giống con vật, hắn lại càng điên giận khi bị xâm phạm, bởi vì hắn cứ tưởng bộ giáp của mình là bất khả xâm nhập. Cú vụt roi lên các ngón tay đối với Corentin, trừ phần đau đớn, chính là phát đạn đại bác làm thủng mai của hắn; xuất phát từ cô gái trác tuyệt và cao quý ấy, hành động tràn ngập nỗi chán ngán đó làm nhục hắn, không chỉ là trước đám người kia, mà còn trong mắt chính hắn. Peyrade, tay người Provence, lao bổ về phía lò sưởi, hắn phải lĩnh một cú đạp của Laurence; nhưng hắn túm lấy chân cô, nhấc lên cao và buộc cô, vì thẹn thùng, phải ngã người xuống cái ghế bergère nơi trước đó cô đã nằm ngủ. Đó là màn vui nhộn ngay giữa nỗi kinh hoàng, sự tương phản thường thấy trong các sự vụ con người. Peyrade chấp nhận bị bỏng tay để nhặt lấy cái hộp từ trong đống lửa; nhưng hắn đã lấy được, hắn đặt nó xuống đất và ngồi luôn lên trên. Các sự kiện nhỏ đó xảy ra rất nhanh, không ai phát ra lấy một lời. Corentin, đã hồi lại sau sự đau đớn gây ra bởi cây roi, giữ lấy hai tay cô de Cinq-Cygne.

“Đừng buộc tôi, nữ công dân xinh đẹp, phải dùng đến vũ lực để chống lại cô”, hắn nói, với vẻ lịch thiệp gây ngao ngán.

Hành động của Peyrade dẫn đến kết quả là dập tắt được lửa, nhờ chặn đường không cho không khí lưu thông.

“Cảnh binh đâu, tới đây!” hắn hét lên, vẫn giữ nguyên tư thế kỳ cục.

“Cô có hứa với tôi là sẽ ngoan ngoãn không? Corentin láo xược hỏi Laurence, nhặt lấy con dao găm nhưng không phạm phải lỗi lầm là dùng nó đe dọa nàng.

- Các bí mật nằm trong cái hộp này không liên quan gì đến chính phủ, nàng đáp, lời nói trộn lẫn sầu muộn trong dáng vẻ cũng như âm điệu. Chừng nào các ông đã đọc những bức thư nằm trong đó, các ông sẽ, mặc dù sự nhơ bẩn của các ông, thấy xấu hổ vì đã đọc chúng; nhưng các ông có còn thấy xấu hổ vì điều gì nữa hay không?” hàng hỏi, sau một quãng ngừng.

Cha xứ ném lên Laurence một ánh mắt như để nói với nàng: “Nhân danh Chúa! bình tĩnh lại đi.”

Peyrade đứng dậy. Đáy của cái hộp, do tiếp xúc với than và gần như cháy hết cả, để lại trên thảm một vết sạm. Nắp trên đã cháy đen, hai bên thì long ra. Scaevola thô lậu này[96], kẻ vừa hiến tế cho thần linh của Cảnh Sát, cho Nỗi Sợ, đũng cái quần màu mơ của hắn, mở hai bên thành hộp ra như thể đó là một quyển sách, và dốc xuống mặt thảm bàn chơi bài ba bức thư cùng hai lọn tóc. Hắn định mỉm cười nhìn sang Corentin thì thấy tóc là tóc bạc, của hai người khác nhau. Corentin rời khỏi chỗ cô de Cinq-Cygne, bước tới đọc bức thư chứa các sợi tóc.

Laurence cũng đứng dậy, tiến lại gần hai tên gián điệp và nói: “Ồ! cứ đọc to lên đi, đó sẽ là sự trừng phạt đối với các ông.”

Vì chúng chỉ đọc lướt bằng mắt, đích thân cô đọc bức thư tiếp theo:


“Laurence yêu quý,

“Chúng ta đã biết về hành xử đẹp đẽ của cháu vào cái ngày buồn bã khi chúng ta bị bắt giữ, chồng ta và ta. Chúng ta biết rằng cháu yêu hai đứa con sinh đôi thương quý của chúng ta cũng nhiều và hoàn toàn ngang bằng với chính chúng ta yêu chúng; vậy nên chúng ta giao cho cháu trọng trách giữ một thứ vừa quý giá vừa đáng buồn đối với chúng. Ông đao phủ vừa cắt tóc cho chúng ta, vì chúng ta sẽ chết trong chốc lát, và ông ấy đã hứa với chúng ta là sẽ đưa cho cháu giữ hai kỷ vật duy nhất của chúng ta mà chúng ta có thể chuyển lại cho hai đứa con mồ côi yêu quý. Vậy nên hãy giữ lấy những gì còn lại từ chúng ta đây, cháu sẽ đưa cho chúng chừng nào mọi chuyện đã tốt đẹp hơn. Chúng ta đã đặt lên đó nụ hôn cuối cùng của chúng ta dành cho chúng, với lời chúc phúc của chúng ta. Ý nghĩ cuối cùng của chúng ta trước tiên dành cho các con trai của chúng ta, tiếp đến là cho cháu, sau rốt là cho Chúa! Hãy yêu quý chúng thật nhiều.

“BERTHE DE CINQ-CYGNE.
JEAN DE SIMEUSE.”


Ai ai cũng nước mắt lưng tròng khi nghe đọc bức thư.

Laurence nói với hai tay nhân viên, giọng vững vàng, ném về phía bọn họ một ánh mắt có năng lực gây hóa đá: “Các ông còn có ít lòng thương hại hơn ông đao phủ đấy.”

Corentin bình thản nhét hai mớ tóc trở lại trong bức thư, và bức thư xuống mặt bàn, đặt lên đó một cái giỏ đựng đầy phiếu chơi bài để chặn không để chúng bay mất. Sự lạnh lùng ngay giữa cơn xúc cảm chung này thật rùng rợn. Peyrade mở hai bức thư còn lại ra.

“Ồ! mấy bức đó, Laurence nói tiếp, cũng gần như tương tự thôi. Các ông đã nghe di chúc, còn đây là bằng chứng cho thấy nó được hoàn thành. Kể từ nay trái tim tôi sẽ không còn bí mật nào đối với bất kỳ ai nữa, vậy thôi.”


1794, Andernach, trước trận đánh.

“Laurence yêu quý của anh, anh yêu em suốt đời và anh muốn em biết rõ điều đó; nhưng, trong trường hợp anh chết, hãy biết rằng anh trai anh, Paul-Marie, cũng yêu em nhiều như anh yêu em. Sự an ủi duy nhất của anh khi chết đi là biết chắc rồi một ngày em sẽ lấy anh trai của anh làm chồng, mà khỏi phải chứng kiến anh tàn lụi vì ghen tuông như chắc chắn chuyện sẽ xảy ra nếu, cả hai còn sống, em thích anh ấy hơn anh. Xét cho cùng, việc em thích anh ấy hơn là hoàn toàn hợp lẽ, bởi vì có thể anh ấy đáng giá hơn anh, v.v…

“MARIE-PAUL.”


“Đây là bức thư còn lại”, nàng nói, trên trán xuất hiện một quầng màu đỏ quyến rũ.


Andernach, trước trận đánh.

“Laurence tốt bụng của anh, anh thấy hơi buồn khổ trong lòng; nhưng Marie-Paul có một tính cách hết sức vui tươi, không thể không làm cho em thích nhiều hơn so với anh. Một ngày nào đó em sẽ phải chọn giữa hai anh, vậy thì, dẫu cho anh yêu em với một niềm đam mê…”


“Cô thư từ với những người lưu vong, Peyrade nói, ngắt ngang lời Laurence và cẩn thận đưa mấy bức thư soi lên trước ánh sáng để kiểm tra xem chúng có chứa giữa các dòng chữ một nét bút vô hình nào không.

- Đúng, Laurence đáp, gấp mấy lá thư quý giá lại, giấy của chúng đã ngả vàng. Nhưng nhân danh điều luật nào mà các ông xâm phạm nhà tôi, tự do cá nhân của tôi và mọi danh dự thuộc về chỗ ở?

- A! phải đấy, Peyrade nói. Vì quyền gì? phải nói rõ cho cô biết, thưa cô quý tộc xinh đẹp, hắn nói tiếp, rút từ trong túi ra một tờ lệnh của bộ Tư Pháp, có thêm chữ ký của bộ trưởng Nội Vụ. Xem này, nữ công dân, các bộ trưởng đích thân quan tâm…

- Chúng tôi hẳn có thể hỏi cô, Corentin thì thầm vào tai nàng, vì quyền gì mà cô lại cho bọn sát nhân mưu sát Đệ nhất Tổng tài ở nhà cô, được không? Cô đã vụt lên các ngón tay tôi một cú roi hẳn khiến tôi được phép, một ngày kia, giúp một tay vào việc thanh trừng mấy ông anh họ của cô, thế mà tôi tới đây để cứu họ kia đấy.”

Chỉ cần căn cứ vào cử động của cặp môi và ánh mắt mà Laurence hướng về phía Corentin, cha xứ đã hiểu được tay nghệ sĩ vĩ đại không được ai biết đến kia vừa nói gì, và ra hiệu với nữ bá tước là phải cẩn thận, cử chỉ mà một mình Goulard có thể trông thấy. Peyrade khe khẽ gõ lên cái hộp để tìm hiểu nó có đáy giả hay không.

“Ôi! Chúa ơi, nàng nói với Peyrade, giật lấy hộp, đừng làm vỡ nó chứ, kìa.”

Nàng lấy một cái đinh ghim, ấn vào đầu một hình tượng, hai cái đáy được giữ bằng cơ chế lò xo rời nhau ra, và cái đáy dưới trưng bày hai bức chân dung các ông de Simeuse vận quân phục của quân đội Condé, đó là hai bức chân dung trên ngà voi làm bên Đức. Corentin, đang có trước mặt một đối thủ xứng đáng với toàn bộ cơn giận dữ của hắn, ra hiệu cho Peyrade đi ra một góc với mình và bí mật nói chuyện với hắn.

“Cô đã vứt những cái đó vào lửa”, trưởng tu Goujet nói với Laurence, đưa mắt nhìn bức thư của nữ hầu tước cùng mấy lọn tóc.

Cô thiếu nữ chỉ nhún vai đầy ẩn ý để trả lời. Cha xứ hiểu là nàng sẵn sàng hy sinh mọi thứ để mua vui cho đám gián điệp nhằm câu thời gian, và ông ngẩng đầu lên nhìn trời, một động tác chất chứa niềm ngưỡng mộ.

“Người ta bắt Gothard đi đâu rồi, tôi đang nghe thấy tiếng nó khóc? nàng hỏi, giọng khá lớn để được nghe thấy rõ.

- Tôi không biết, cha xứ đáp.

- Nó đã đến trang trại?

- Trang trại! Peyrade nói với Corentin. Ta sai người đến đó nhé.

- Không, Corentin đáp, cô gái này hẳn sẽ không giao phó tính mạng mấy người anh họ vào tay một chủ trang trại đâu. Cô ta đang mua vui cho chúng ta. Hãy làm điều mà tôi sắp nói với anh, để mà, sau khi đã phạm phải lầm lỗi là tới đây, ít nhất thì chúng ta cũng sẽ kiếm được một chút thông tin.”

Corentin đến đứng trước lò sưởi, nhấc mấy cái vạt nhọn áo của hắn lên để sưởi ấm, và lấy dáng vẻ, giọng điệu, cung cách của một người ghé qua chơi.

“Thưa các bà, các bà có thể đi ngủ được rồi, các gia nhân cũng vậy. Ông thị trưởng, sự phục vụ của ông cho chúng tôi lúc này là vô ích. Sự nghiêm khắc trong các mệnh lệnh mà chúng tôi nhận được không cho phép chúng tôi hành động khác so với những gì chúng tôi vừa làm; nhưng chừng nào tất cả các bức tường, mà tôi thấy là rất dày, đã được kiểm tra xong, chúng tôi sẽ đi.”

Ông thị trưởng chào mọi người và đi ra. Cả cha xứ lẫn cô Goujet đều không nhúc nhích. Các gia nhân thì quá lo lắng, không thể không dõi theo số phận cô chủ của họ. Bà d’Hauteserre, kể từ lúc Laurence tới, tò mò săm soi nàng như một bà mẹ đang trong cơn tuyệt vọng, đứng dậy, nắm lấy cánh tay nàng, dẫn nàng ra một góc và nhỏ giọng hỏi: “Cô có gặp chúng không?

- Làm sao tôi lại có thể để các con của bà đến ở dưới mái nhà của chúng ta mà không nói gì với bà?” Laurence đáp. “Durieu, nàng nói, xem thử là có thể cứu con Stella tội nghiệp của tôi hay không, nó vẫn còn thở đấy.

- Nó đã đi rất nhiều đường đất, Corentin nói.

- Mười lăm dặm trong vòng ba tiếng, nàng đáp, hướng về phía cha xứ, ông đang nhìn nàng với vẻ sững sờ. Tôi ra ngoài lúc chín giờ rưỡi, tôi về thì đã quá một giờ.”

Nàng nhìn cái đồng hồ treo tường đang báo hiệu hai giờ rưỡi.

“Vậy, Corentin nói tiếp, cô không chối là đã đi một quãng đường dài mười lăm dặm?

- Không, nàng nói. Tôi thú nhận rằng các anh họ của tôi và các ông d’Hauteserre, vốn dĩ hoàn toàn vô tội, tính đến chuyện nộp đơn kiến nghị nhằm không bị loại khỏi lệnh ân xá, và quay trở về Cinq-Cygne. Bởi thế, khi đã có thể tin rằng sieur Malin muốn làm hại họ bằng một sự phản bội nào đó, tôi đã chạy đi báo để họ quay về Đức, họ sẽ đến được đó trước bức điện gửi đi từ Troyes thông báo về họ cho biên giới. Nếu tôi đã phạm một tội lỗi, thì cứ việc trừng phạt tôi.”

Câu trả lời này, đã được Laurence nghiền ngẫm một cách sâu sắc, nghe thật đáng tin trong mọi chi tiết, làm lay chuyển các lòng tin của Corentin, mà nữ bá tước trẻ tuổi quan sát bằng đuôi mắt. Vào đúng cái thời điểm quyết định đó, và khi mọi tâm hồn theo cách nào đó đang treo lơ lửng phía bên trên hai khuôn mặt ấy, mọi ánh mắt hết chuyển từ Corentin sang Laurence lại từ Laurence sang Corentin, tiếng chân ngựa phi nước đại từ phía rừng vang lên trên đường, và từ hàng rào tới chỗ bãi cỏ. Một nỗi lo ngại rùng rợn hiện lên trên mọi khuôn mặt.

Peyrade bước vào, mắt lấp lánh vì niềm vui, hắn vội vã đi tới chỗ đồng nghiệp, nói khá to để nữ bá tước cũng nghe thấy: “Chúng ta bắt được Michu rồi.”

Laurence, người mà nỗi hoảng sợ, nỗi mệt và sự căng thẳng trong mọi năng lực trí tuệ khiến hai má hồng rực lên, thoắt lại tái nhợt và ngã xuống gần như ngất xỉu, choáng váng, vào một cái phô tơi. Durieu vợ, cô Goujet và bà d’Hauteserre vội lao tới chỗ nàng, vì nàng ngạt thở; nàng đưa tay ra hiệu bảo cắt các tua rua trên áo kỵ sĩ của mình.

“Cô ta đã chơi xỏ chúng ta, chúng đang đi Paris, Corentin nói với Peyrade, đổi các mệnh lệnh thôi.”

Bọn họ đi ra, cắt cử một viên cảnh binh ở lại gác cửa phòng khách. Sự khéo léo quái quỷ của hai tên đàn ông này vừa chiếm được một lợi thế khủng khiếp trong cuộc đấu tay đôi, đưa Laurence vào bẫy nhờ một trong những mưu mẹo quen thuộc của bọn họ.

Sáu giờ, mới tờ mờ sáng, hai tay nhân viên quay trở lại. Sau khi tra xét con đường thụt xuống, bọn họ biết chắc rằng lũ ngựa đã qua đây để đi về phía khu rừng. Bọn họ đợi các báo cáo của viên chỉ huy cảnh binh phụ trách do thám trong vùng. Vẫn cho duy trì việc bao vây lâu đài dưới sự trông coi của một đội trưởng, bọn họ đi ăn trưa tại một quán rượu ở Cinq-Cygne, tuy nhiên đó là sau khi đã hạ lệnh thả Gothard, nó cứ không ngừng đáp lại mọi câu hỏi bằng những dòng thác lũ nước mắt, và Catherine, không thôi bất động im lìm. Catherine và Gothard vào phòng khách, và hôn tay Laurence đang nằm trên cái ghế rộng. Durieu tới thông báo Stella sẽ không chết; nhưng nó cần được chăm sóc cẩn thận.

Ông thị trưởng, lo lắng và hiếu kỳ, đến gặp Peyrade và Corentin trong làng. Ông ta không muốn chịu cảnh các nhân viên cao cấp phải ăn trưa tại một cái quán xập xệ, nên dẫn họ về nhà mình. Tu viện nằm cách đó một phần tư dặm. Trên đường đi, Peyrade nêu nhận xét rằng viên đội trưởng Arcis đã không mang về thông tin nào liên quan tới Michu hay Violette.

“Chúng ta đang vấp phải những kẻ ngon cơm đấy, Corentin nói, bọn họ giỏi hơn chúng ta. Tay linh mục chắc là cũng có dự phần.”

Đúng vào lúc bà Goulard mời hai nhân viên vào một phòng ăn rộng, không lò sưởi, thì phó cảnh binh tới, vẻ khá hoảng hốt.

“Chúng tôi đã bắt gặp con ngựa của đội trưởng Arcis trong rừng, không thấy chủ của nó đâu, anh ta nói với Peyrade.

- Anh, Corentin kêu lên, chạy đến chỗ chòi của Michu đi, tìm hiểu xem chuyện gì xảy ra ở đó! Có thể chúng đã giết đội trưởng rồi.”

Cái tin này gây tác hại lên bữa trưa của ông thị trưởng. Hai tay Paridiêng nuốt tất tật với sự chóng vánh của thợ săn dùng bữa trong một quãng nghỉ, rồi quay trở lại lâu đài trên cỗ xe ngựa bằng gỗ liễu đào thắng vào con ngựa trạm, để có thể nhanh chóng đến các điểm nơi sự hiện diện của bọn họ là cần thiết. Khi hai người này lại xuất hiện ở phòng khách, nơi bọn họ đã gieo rắc cơn hỗn loạn, sự sợ hãi, nỗi đau và những lo âu tàn nhẫn nhất, bọn họ gặp tại đó Laurence trong chiếc váy mặc ở nhà, ông quyền quý và vợ ông, trưởng tu Goujet cùng em gái ông ngồi quanh lò sưởi, vẻ ngoài hết sức bình thản.

“Nếu chúng bắt được Michu, Laurence kêu lên, thì chúng đã dẫn anh ta tới đây rồi. Tôi rất bực vì đã không làm chủ được bản thân, vì đã soi sáng cho vài mối nghi của hai kẻ nhơ bẩn kia; nhưng mọi thứ đều có thể sửa chữa.” “Chúng tôi có phải làm tù binh của các ông lâu nữa không?” nàng hỏi hai tay nhân viên, vẻ nhạo báng và thoải mái.

“Làm thế nào mà cô ta biết được điều gì đó về mối lo của chúng ta đối với Michu nhỉ? không ai bên ngoài vào lâu đài, cô ta đang chơi xỏ chúng ta”, hai gián điệp nói với nhau bằng một ánh mắt.

“Chúng tôi sẽ không làm phiền các vị lâu nữa đâu, Corentin đáp; ba tiếng nữa kể từ giờ chúng tôi sẽ trình bày những hối tiếc của chúng tôi vì đã quấy rầy sự yên bình của các vị.”

Không ai đáp. Sự im lặng chất chứa khinh bỉ này càng làm tăng thêm nỗi căm hận trong lòng Corentin, dựa trên đó Laurence và cha xứ, hai trí tuệ của nhóm người nhỏ này, đã biết cách vượt lên. Gothard và Catherine bày đồ ăn gần lò sưởi cho bữa trưa, mà cha xứ cùng em gái dự cùng. Cả những người chủ lẫn các gia nhân chẳng hề để ý gì tới hai tay gián điệp đi đi lại lại ngoài vườn, trên sân, trên con đường, và thỉnh thoảng quay trở lại phòng khách.

Hai giờ rưỡi, phó cảnh binh quay lại.

“Tôi đã tìm được đội trưởng, anh ta nói với Corentin, nằm sóng soài trên con đường dẫn từ cái chòi mang tên Cinq-Cygne đến trang trại Bellache, không có vết thương nào khác ngoài một khối u khủng khiếp trên đầu, dường như nguyên nhân là do cú ngã. Anh ta đã, anh ta kể như vậy, bị hất nhào từ trên lưng ngựa rất nhanh, và bổ chửng ra sau mạnh đến mức không thể giải thích bằng cách nào mà chuyện lại xảy ra; hai chân anh ta bật rời khỏi bàn đạp, nếu không vậy anh ta đã chết, con ngựa của anh ta vì hoảng hốt hẳn đã lôi anh ta chạy qua cánh đồng; chúng tôi đã giao anh ta cho Michu và Violette…

- Thế nào cơ! Michu đang ở chòi?” Corentin hỏi, nhìn sang Laurence.

Nữ bá tước mỉm cười, ánh mắt láu lỉnh, giống một phụ nữ đang được trả thù.

“Tôi vừa gặp hắn, đang ngã giá với Violette về một cuộc mặc cả mà bọn họ đã bắt đầu từ tối hôm qua, tên phó nói tiếp. Tôi nghĩ Violette và Michu đều say rượu; nhưng chẳng có gì đáng ngạc nhiên, bọn họ đã uống suốt đêm, và vẫn chưa nhất trí được với nhau.

- Violette đã nói với anh như thế? Corentin kêu lên.

- Vâng, tay phó đáp.

- A! lẽ ra phải tự tay làm mọi việc”, Peyrade kêu lên, nhìn sang Corentin, hắn, cũng giống Peyrade, hết sức nghi ngại về trí tuệ của tay phó.

Tay trẻ hơn đáp lại tên già bằng một cái gật đầu.

“Anh đến chòi của Michu lúc mấy giờ? Corentin hỏi, liếc thấy cô de Cinq-Cygne đã nhìn cái đồng hồ treo phía trên lò sưởi.

- Khoảng hai giờ”, tên phó đáp.

Laurence nhìn một lượt ông bà d’Hauteserre, trưởng tu Goujet và em gái ông, tất cả đều nghĩ họ đang ở dưới một tấm áo choàng thanh thiên; niềm vui chiến thắng lấp lánh trong mắt nàng, nàng đỏ mặt, và những giọt nước mắt trào ra giữa hai bờ mi. Mạnh mẽ trước những nỗi bất hạnh lớn nhất, cô thiếu nữ này chỉ có thể khóc vì sung sướng. Vào giây phúc ấy nàng thật trác tuyệt, nhất là đối với cha xứ, người, gần như buồn bã vì quá nhiều nam tính nơi Laurence, thoáng thấy ở đó sự dịu dàng vô bờ của phụ nữ; nhưng sự nhạy cảm này, nơi nàng, nằm đó giống như một kho báu chôn giấu ở một độ sâu bất tận bên dưới một khối đá granit. Đúng lúc ấy một cảnh binh tới hỏi có được phép để cho đứa con trai của Michu vào không, nó thay mặt bố đến nói chuyện với các ông Paris. Corentin đáp bằng một cái gật đầu. François Michu, con chó nhỏ mưu trí có trong dòng máu năng lực đi săn, đang ở ngoài sân nơi Gothard, đã được thả, có thể nói chuyện với nó một lúc dưới ánh mắt của viên cảnh binh. Thằng bé Michu hoàn thành một công việc bằng cách tuồn cái gì đó vào tay Gothard mà viên cảnh binh không hề nhìn thấy. Gothard lẩn ra sau lưng François và đi tới chỗ cô de Cinq-Cygne để, một cách ngây thơ, đưa lại cho nàng cái nhẫn lành lặn, nàng nồng nhiệt hôn nó, bởi vì nàng hiểu Michu nói với nàng, khi gửi nó đến cho nàng bằng cách này, rằng bốn nhà quyền quý đã được an toàn.

Pố cháo (bố cháu) muốn hỏi phải để eng kảnh bin ở đâu, ông ấy không khỉu một chút nào?

- Anh ta bị làm sao? Peyrade hỏi.

- U ổi xưn đầu, ông ấy ngá pịc suốn đất ghê lắm. Đối với một kảnh bin, kưới ngửa giỏi như thế, sao mà rơi được, nhưng ông ấy bị vấp! Có một cái lỗ, ôi! to như lắm đếm đằng sau đầu. Hình như ông ấy pị ngá chúng một hòn đá, cái ông khốn khổ! Có nà kảnh bin thì ông ấy cũng đao ném, dất nà đán thương.”

Viên chỉ huy cảnh binh Troyes bước vào sân, giậm chân xuống đất, ra hiệu cho Corentin, hắn nhìn thấy nên vội đi tới chỗ cửa sổ, mở nó ra để không bị mất thời gian.

“Có chuyện gì?

- Chúng ta đã bị xỏ mũi như một đám Hà Lan khờ khạo! Chúng tôi đã tìm thấy năm con ngựa chết vì kiệt sức, lông đẫm mồ hôi, ở chính giữa con đường lớn của khu rừng, tôi cho canh gác chúng để tìm hiểu xem chúng từ đâu đến và ai đã cung cấp chúng. Khu rừng đã bị vây, những ai đang ở trong đó sẽ không thể ra ngoài được.

- Anh nghĩ các kỵ sĩ đó đã vào rừng lúc mấy giờ?

- Mười hai giờ rưỡi.

- Lo sao để không một con thỏ nào có thể thoát ra khỏi rừng, Corentin nói thầm vào tai anh ta. Tôi để Peyrade lại đây với các anh, tôi sẽ đến gặp đội trưởng tội nghiệp.” “Ở lại chỗ thị trưởng nhé, tôi sẽ sai đến cho anh một người khéo léo để thay chỗ cho anh, hắn nói thầm vào tai tay Provence. Chúng ta sẽ phải dùng đến người trong vùng, xem xét kỹ từng kẻ một đấy nhé.” Hắn quay đầu về phía mọi người và nói: “Tạm biệt!” bằng một giọng nói đáng sợ.

Không ai chào hai tay nhân viên đang đi ra.

“Fouché sẽ nói gì đây về một cuộc khám nhà không mang lại kết quả nào? Peyrade kêu lên vào lúc giúp Corentin leo lên cỗ xe ngựa liễu gai.

- Ồ! chuyện còn chưa kết thúc đâu, Corentin nói vào tai Peyrade, đám quyền quý chắc vẫn ở trong rừng thôi.” Hắn chỉ Laurence, nàng đang nhìn bọn họ qua các ô vuông nhỏ các cửa sổ lớn của phòng khách: “Tôi từng cho tiêu đời một đứa giống như thế, vì nó làm tôi nổi tức! Nếu con bé kia rơi vào tay tôi, tôi sẽ trả lại cho cô ta cú vụt roi.

- Người kia chỉ là một con bé con, Peyrade nói, còn đây là một kẻ có địa vị[97]

- Tôi phân biệt để làm gì? dưới biển, cá nào mà chẳng là cá!” Corentin nói, ra dấu cho viên cảnh binh để anh ta bắt đầu quật roi xuống con ngựa trạm.

Mười phút sau, lâu đài Cinq-Cygne đã tuyệt đối và hoàn toàn được giải vây.

-----------

[81] Từ điển Émile Littré giải thích trò boston như sau: “Trò boston được đặt tên như vậy theo thành phố Boston, bị người Anh vây hãm trong cuộc chiến tranh Độc lập của nước Mỹ. Misère, indépendance, các thuật ngữ của trò chơi, ám chỉ các giai đoạn của cuộc bao vây này”. Như vậy, trò boston lấy cảm hứng từ một đoạn trong cuộc chiến tranh giành độc lập của Mỹ, “misère” nghĩa là “khốn cùng”, “indépendance” nghĩa là “độc lập”.
[82] Một dân biểu nổi tiếng của giai đoạn Quốc ước, ủng hộ quân chủ hết sức nhiệt thành.
[83] Ở đoạn “Đốc chính”, một cách chính thức nước Pháp có năm nhân vật đứng đầu, được coi là một liên minh (đoạn “Tổng tài” cũng sẽ là một liên minh, một “tam đầu chế”).
[84] Bộ Cảnh sát được lập ra đầu năm 1795, dưới tên gọi chính thức “Police générale de la République”; Fouché được bổ nhiệm bộ trưởng ở đoạn Đốc chính, cụ thể là 20 tháng Bảy 1799; trước Fouché đã có các bộ trưởng: Sotin, Cochon, Dondeau, Le Carlier, Bourguignon; Lucien, người anh em của Napoléon, có hiềm khích lớn với Fouché, dưới ảnh hưởng quan trọng của Lucien, Napoléon cho Fouché thôi chức bộ trưởng (15 tháng Chín 1802) nhưng vẫn trọng dụng, cho làm nghị sĩ; Napoléon sẽ nhanh chóng hiểu ra tài năng của Fouché, nên tái lập Bộ Cảnh sát và giao Fouché trở lại chức vụ bộ trưởng, ngày 11 tháng Sáu 1804, Fouché sẽ giữ chức này cho tới tháng Sáu năm 1810; cf. chú thích số 22; vào lúc câu chuyện này diễn ra, có một cơ quan nữa, tên là “Sở Cảnh sát”, mà ta sẽ thấy rõ hơn ở các đoạn sau.
[85] Cf. chú thích số 52.
[86] Chuyện xảy ra vào thời điểm tháng Bảy năm 1809: Napoléon đang bị giữ chân trong chiến dịch Wagram thì xảy ra vụ việc hạm đội Anh chiếm hòn đảo Walcheren thuộc Hà Lan; Fouché, lúc này nắm quyền lực rất lớn, đã xử lý hết sức tài tình, nhưng lại dẫn tới hậu quả là bị Napoléon nghi ngờ; khi quay về Pháp, Napoléon trở nên hết sức nghi kỵ Fouché.
[87] Để giải quyết sự việc xảy ra năm 1809 (cf. chú thích số 86), Fouché đã có liên lạc mật thiết với người Anh; đối với Napoléon, điều này là không thể chấp nhận được, kể cả khi đó là Fouché trá ngụy để phụng sự cho nước Pháp.
[88] Xin mời google nếu muốn biết rõ hơn.
[89] Cũng nên google tiếp.
[90] Lại càng nên goolge.
[91] Chắc hẳn có liên quan đến trò boston mà các nhân vật đang chơi dở.
[92] Thêm một lần nữa, dấu ấn của Cooper.
[93] Nên tập luyện google một thứ tương đối phức tạp.
[94] Ý nói những người trước đây là quý tộc (bởi vì Cách mạng 1789, ít nhất theo lý thuyết, xóa bỏ chế độ quý tộc tại Pháp).
[95] Một cơ hội tuyệt vời để google tìm hiểu về các khổ sách.
[96] Nhân vật rất nổi tiếng trong bộ sách của Plutarque về những người Hy Lạp và La Mã xuất chúng; Rousseau khi viết hồi ký cũng nhanh chóng nhắc đến nhân vật này.
[97] Hai tay gián điệp đang nhắc lại một chuyện cũ; ai muốn tìm hiểu kỹ hơn thì cứ tự tiện.    



(còn nữa)



XII. Một người con gái của Eva
XI. Rực rỡ và khốn cùng của kỹ nữ
X. Ursule Mirouët
Balzac và Flaubert
IX. Louis Lambert
VIII. Nàng tình nhân hờ (đầy đủ)
[tiện bút] Đọc Balzac ở Hà Nội
VII. Người phụ nữ tuổi ba mươi (phần 1)
(phần 2)
VI. Viên bác sĩ nông thôn
Trở về cổ điển: Balzac - Vở kịch con người
V. Một vụ việc ám muội (phần 1)
(phần 2)
IV. Albert Savarus (phần 1)
(phần 2)
III. Séraphîta
II. Ferragus (phần 1)
(phần 2)
(phần 3)
I. Mặt bên kia của lịch sử hiện thời
Vinh quang và một cốc nước cho Honoré de Balzac

13 comments:

  1. tuyệt vời, mùi mồ hôi ngựa! Michu. từ lúc ngồi lau tỉ mẩn khẩu cạc-bin đến lúc này đích phải gọi là "lột xác" hehe cái "ma nớp" này của Balzac trước đây chưa từng được biết. mk các Gs. tài thế chứ

    ReplyDelete
  2. ngay tiếp theo, đoạn sau, lũ ngựa sẽ có vai trò cốt yếu, còn hơn cả người; "Một vụ việc ám muội" ngoài những điều khác còn là bản trường ca về ngựa, cũng từ đây hình ảnh "năm con ngựa chết" sẽ rất nổi tiếng (tương ứng với năm nữ lưu nhà Cinq-Cygne đời xưa) :p

    ReplyDelete
  3. Hình như mấy cái này bác dịch từ lâu rồi hả? Sao không pót một lần tất cả lên luôn?

    ReplyDelete
  4. sao không kiếm sách tiếng Pháp mà đọc đi và đừng có hỏi lung tung?

    anw, Balzac rất hay viết phơi-ơ-tông, một phần là để kiếm sống

    hy vọng đã trả lời xong câu hỏi

    ReplyDelete
  5. gò đất với cái hầm tu viện hẳn đã là một archetype.
    bề dày của nó quá là oách: cả một lịch sử nhúc nhích và đổ dồn vào cái đêm này.

    ReplyDelete
  6. điều này rất đúng: trong "cơ chế" của Balzac luôn luôn có sự "đổ đầy, đầy thêm mãi" vào, mà muốn chứa thì phải có hốc, hang etc., như có thể thấy ở đây hoặc "Kiệt tác chẳng ai biết" hoặc một truyện rất hay về một người vợ chứng kiến tình nhân chui trong hốc và bên ngoài người chồng xây tường bịt kín - một "leitmotiv", có thể nói vậy

    ReplyDelete
  7. không thể nghĩ ra được cảnh Laurence vụt tới (như thế nào đây?) cùng ngọn roi trúng ngay cổ tay gã thiên tài hạ đẳng kia ... phải hỏi bác Kim Dung xem chiêu đó tên chi.
    Nữ Bá tước thật đúng là mẫu cho "007"
    pha "Action" này hẳn đã là "overtime"
    nhìn lại trong truyện thì tất cả thân thế hành tung của Laurence dẫn một cách nhất quán đến cảnh này.
    hehe xem mà giật mình thon thót

    ReplyDelete
  8. à hình như đoạn Corentin với cha xứ sau này có nhiều phiên bản nên đọc cứ thấy quen quen.
    mà tất nhiên, chỉ là quen quen thôi, mô thức thôi.

    ReplyDelete
  9. cú vụt roi ngựa chắc tương đương được với khoảnh khắc hé lộ Kim Hoa bà bà chính là mang thân phận Tử Sam Long Vương hàng tứ đại hộ giáo pháp vương Minh giáo Quang Minh Đỉnh, không những thế lại còn là Đại Ỷ Ty thánh nữ Ba Tư, cũng đi vào tác phẩm của Montesquieu, "Lettres persanes" :p

    ReplyDelete
  10. ko lẽ là do ngựa? thử nghĩ theo cách của Michu. nhưng "sự tương phản thường thấy trong các sự vụ của con người" có lẽ thật khắc nghiệt nhỉ.

    ReplyDelete
  11. haha, Balzac quả không dễ đoán, đúng là một tác giả trinh thám đáng gờm, nếu sống thời này chắc chắn là tác giả best-seller

    đoạn tiếp sau (sẽ rất sớm) cho thấy ma nớp của Balzac, chứ không chỉ của Michu, Corentin, Goujet hay Laurence cho tới lúc này

    nhưng quả thật, ngựa rất quan trọng đối với câu chuyện

    ReplyDelete
  12. hehe liệu "vụ ám muội" có hoàn hảo quá ko

    ReplyDelete
  13. đấy, cái hay nằm chính ở chỗ ma nớp của Balzac có rất nhiều tầng, không xa Kim Dung đâu

    bởi vì cho đến lúc này " vụ việc ám muội" vẫn chưa thực sự bắt đầu haha

    đợi thêm chút, perspective của câu chuyện sẽ bất ngờ mở ra, sắp rồi, hồi sau sẽ rõ :p

    ReplyDelete