Jun 9, 2017

XIII. Vĩnh biệt

Dịch Balzac, nhất là khi dịch nhiều tác phẩm của Balzac trong Vở kịch con người, nhanh chóng người ta nhận ra rằng, nếu không khéo, chẳng bao giờ xong nổi một cuốn nào. Balzac thì dài, laptop thì nhanh hết bin :p

Nhân tiện: mới thêm một đoạn dài Một vụ việc ám muội. Cuối cùng, Corentin và Peyrade, dẫn đầu một tập đoàn cảnh binh, đã ập vào lâu đài Cinq-Cygne ("Dưới hoa dậy lũ ác nhân/Ầm ầm khốc quỷ kinh thần mọc ra/Đầy sân gươm tuốt sáng lòa"). Nữ bá tước de Cinq-Cygne có bị tóm không?

Để chiến đấu một cách có hiệu quả chống lại điều vừa nói ở trên kia (sự quá dài, etc.), cần phải, đôi khi, đổi chiến thuật, hay nói đúng hơn, cần phải đổi nhịp.

Đấy là chọn lấy những tác phẩm không dài quá, đánh nhanh, tiêu diệt gọn; trong lúc chiến dịch lớn vẫn được tiến hành, thì làm vài cú đột kích nho nhỏ. Gia Cát Lượng lỡm Tào Tháo, "tạ ơn thừa tướng tặng tên" vào cái buổi tờ mờ sáng hôm ấy, một cú đánh nhỏ lọt thỏm trong lòng đại chiến dịch Xích Bích, chẳng hạn thế.

Trong tổng số những gì tôi đã sờ tới của Vở kịch con người, nhát thứ 8, Nàng tình nhân hờ, là một chiến thuật như vậy, hoàn chỉnh luôn một thứ tương đối ngắn.

Vĩnh biệt (Adieu) có dung lượng có thể coi là tương đương Nàng tình nhân hờ. Đây là một trong các tác phẩm thuộc phần "études philosophiques" (xem thêm về bố cục cả bộ sách ở kia).

Hai người bạn, de Sucy và d'Albon, trong một cuộc đi săn tại một vùng không xa Paris, bỗng phát hiện một ngôi nhà đổ nát, rệu rã, nằm ở giữa khu rừng; thật ra, nơi này xưa kia là một tu viện (Một vụ việc ám muội cũng có một đoạn dài miêu tả tu viện cũ nằm trong khu rừng Nodesme, địa điểm có vai trò hết sức quan trọng cho cốt truyện của cuốn tiểu thuyết). Một điều gì đó hết sức bí ẩn hiện ra trước mắt họ, nhất là đối với đại tá Philippe de Sucy.

Khi ấy, de Sucy mới trở về Pháp chưa lâu, sau nhiều năm lưu lạc Siberia. Vĩnh biệt là tác phẩm thuộc Vở kịch con người mà Balzac sử dụng để đi sâu nhất vào Chiến dịch Nga thảm khốc của Napoléon, nhất là trường đoạn địa ngục cây cầu trên sông Berezina (thuộc Belarus hiện nay). Stendhal, như ta đã biết (xem ở kia) mới là người thực sự đi lính trong đội quân Napoléon, có mặt ở Nga và thực sự đi qua Berezina, nhưng Stendhal, từ trong số các cuộc chiến tranh của Napoléon, lại chọn viết về trận Waterloo (Tu viện thành Parme huy hoàng). Balzac thì không chỉ một lần đưa Berezina vào tiểu thuyết của mình: ta từng biết đến Viên bác sĩ nông thôn ở trong chủ đề này; một nhân vật của Viên bác sĩ nông thôn cũng sẽ xuất hiện trong Vĩnh biệt.

Đây là một trong những câu chuyện cảm động hơn cả của Vở kịch con người; tôi rất ngạc nhiên vì những người từng dịch Balzac sang tiếng Việt không để ý đến tác phẩm này. Nó cực kỳ hấp dẫn, không những thế nó lại còn ngắn. Ai cũng chê thì tôi làm vậy.

Đọc xong Vĩnh biệt, chắc hẳn nhiều người sẽ hiểu tại sao Balzac, mặc cho cốt truyện của nó, lại xếp nó vào trong phần "triết học".



Vĩnh biệt


Tặng hoàng thân Frédéric Schwarzenberg


“Nào, dân biểu cánh trung, tiến lên! Phải rảo hẳn chân lên nếu chúng ta muốn ngồi vào bàn cùng lúc với những người khác. Nâng cái chân lên đi! Nhảy nào, hầu tước! thế! rồi. Anh đang vượt qua cánh đồng chẳng khác gì một con hoẵng đúng nghĩa!”

Những câu nói ấy được phát ra từ một thợ săn đang ngồi yên bình trên một đoạn rìa khu rừng L’Isle-Adam[1], và đang hút nốt một điếu xì gà La Havane để đợi người bạn đồng hành, hẳn bị lạc lối từ một lúc lâu trong các khóm bụi cây khu rừng. Bên cạnh ông, bốn con chó thở hào hển cũng nhìn giống như ông cái nhân vật kia. Để hiểu những lời hô hào chốc chốc lại vang lên ấy nhiều tính chất nhạo báng đến mức nào, cần phải nói rằng người thợ săn là một đàn ông to béo, thân hình ngắn ngủn, với cái bụng phưỡn ra cho thấy một hình ảnh bụng phệ thực sự thân thuộc với giới công chức bộ sở. Vậy nên ông khó nhọc bước qua những cái rãnh của một cánh đồng rộng mới gặt, nơi các đụn rơm gây trở ngại rất nhiều; rồi, càng tăng thêm nỗi đau đớn, các tia nắng chiếu xiên xiên vào khuôn mặt ông dồn tụ trên đó những giọt mồ hôi to tướng. Bận tâm lo sao để giữ thăng bằng, lúc thì ông chúi người về phía trước, khi lại ngả ra sau, bằng cách ấy bắt chước các cú nảy của một cỗ xe qua đoạn đường rất xóc. Ngày hôm ấy thuộc vào những ngày, trong tháng Chín, hoàn tất việc làm chín nho nhờ vào các luồng nóng dữ dội. Thời tiết thông báo một cơn giông xa. Dẫu cho nhiều khoảng thiên thanh lớn vẫn còn chia cách, về phía chân trời, các đám mây đen thù lù, người ta đã nhìn thấy những cụm mây vàng tiến lên mau chóng đến đáng sợ, vừa tiến lên vừa trải rộng, từ Tây sang Đông, một tấm màn nhẹ màu xám nhạt. Vì gió mới chỉ vần vũ tại vùng tít trên cao, không khí nén xuống phía dưới cùng những hơi nóng rực của mặt đất. Được vây quanh bởi những đám cây cao ngăn gió, cái thung mà người thợ săn đang băng qua có nhiệt độ của một cái lò. Rậm rì và im lìm, khu rừng như thể đang khát nước. Lũ chim cùng đám côn trùng câm lặng, và các ngọn cây chỉ hơi rung rinh. Những người còn lưu giữ được vài ký ức về mùa hè năm 1819[2] hẳn sẽ cảm thông với những nỗi khốn khổ của nhân vật sở bộ tội nghiệp, đang đầm đìa mồ hôi khổ sở nhằm tới được chỗ người đồng hành thích giễu cợt đang ngồi. Vừa hút xì gà, ông ta vừa tính toán, dựa vào vị trí của mặt trời, rằng chắc đã đến năm giờ chiều rồi.

“Chúng ta đang ở chỗ quỷ quái nào thế?” người thợ săn to béo hỏi, đưa tay chùi trán và dựa lưng vào một cái cây mọc trên cánh đồng, gần như đối diện với người đồng hành; bởi vì ông cảm thấy mình không còn đủ sức nhảy qua cái hố rộng ngăn cách giữa họ.

“Cậu lại hỏi tớ cơ đấy”, người kia phá lên cười, ông đang nằm lăn ra đám cỏ cao vàng ệch mọc trên ta luy. Ông ném mẩu xì gà xuống cái hố, và kêu lên: “Tớ xin đem thánh Hubert ra thề rằng sẽ không bao giờ có ai bắt được tớ đi phiêu lưu tại một vùng xa lạ cùng một ông quan tòa nữa, giống như cậu ấy, d’Albon thân mến ạ, một người bạn cũ từ thời còn đi học!

- Nhưng, Philippe, thế tức là cậu không còn hiểu tiếng Pháp nữa à? Chắc hẳn cậu đã để lại tâm trí bên Siberia, người to béo đáp, chĩa một ánh mắt hài hước đầy đau đớn về phía một cây cột cách đó một trăm bước.

- Tớ hiểu chứ! Philippe đáp, cầm khẩu súng trường lên, đột nhiên đứng dậy, chỉ bằng một bước nhảy phóng vọt xuống cánh đồng, và chạy về phía cây cột. Tới đây, d’Albon, tới đây đi! rẽ sang trái, ông hét lên với người bạn đồng hành, khoát rộng tay chỉ về phía một con đường rải nhựa. Đường từ Baillet đến L’Isle-Adam! ông kêu lên, như vậy cứ đi theo hướng này chúng ta sẽ đến được đường Cassan, chắc hẳn nó phải cắt đường L’Isle-Adam.

- Đúng đấy, thưa đại tá, d’Albon nói, đội lại lên đầu cái mũ cát két mà ông vừa dùng để quạt mát.

- Tiến lên thôi nào, ngài cố vấn đáng kính của tôi”, đại tá Philippe đáp, huýt sáo gọi lũ chó, dường như chúng nghe lời ông hơn là nghe lời vị quan tòa chủ của chúng.

“Ngài có biết không, thưa ngài hầu tước, nhân vật nhà binh lại nói, vẻ nhạo báng, rằng chúng ta còn hơn hai dặm nữa phải vượt qua? Ngôi làng mà chúng ta trông thấy đằng kia chắc là Baillet.

- Chúa ơi! hầu tước d’Albon kêu lên, cứ việc đi Cassan đi, nếu mà anh thích, nhưng một mình anh thôi nhé. Tôi thích ở lại đây hơn, mặc cho cơn giông, để đợi một con ngựa mà anh sẽ gửi đến cho tôi từ lâu đài. Anh đã chế giễu tôi, Sucy. Lẽ ra chúng ta đã phải có một cuộc săn nho nhỏ đẹp đẽ, không rời xa khỏi Cassan, rình rập trên các khu đất mà tôi quen thuộc. Chà! thay vì được vui thú, anh lại bắt tôi phải chạy như một con chó săn thỏ từ bốn giờ sáng, và tất tật bữa trưa của chúng ta là hai cốc sữa! A! nếu lúc nào anh gặp phải một vụ việc tại Tòa, tôi sẽ làm anh bị thua, dẫu anh trăm lần đúng.”

Người thợ săn nản chỉ ngồi trên một cái ụ thuộc số các ụ dưới chân cây cột, cởi bỏ khẩu súng, cái túi đựng đồ săn rỗng không, và thở ra một hơi dài.

“Nước Pháp! các dân biểu của ngươi là như vậy đấy, đại tá de Sucy vừa cười lớn vừa kêu lên. A! d’Albon khốn khổ ơi, nếu anh từng giống như tôi, trải qua sáu năm ở nơi hẻo lánh nhất của Siberia[3]…”

Ông không nói hết câu và đưa mắt lên nhìn trời, như thể những nỗi bất hạnh của ông là một điều bí mật giữa Chúa và ông.

“Nào! đi thôi! ông nói thêm. Nếu cứ ngồi lại đó, anh sẽ tiêu đời đấy.

- Anh muốn gì nào, Philippe? đây là một thói quen lâu đời đến thế của một quan tòa! Lấy danh dự mà nói đấy, tôi kiệt sức rồi! Giá kể như tôi giết được một con thỏ thì còn là chuyện khác!”

Hai thợ săn trưng bày một sự tương phản tương đối hiếm thấy. Nhân vật sở bộ bốn mươi hai tuổi nhưng vẻ như còn chưa đầy ba mươi, trong khi viên sĩ quan, ba mươi tuổi, lại như thể ít nhất đã tứ tuần[4]. Cả hai đều đeo huy chương hoa hồng đỏ, tước officier của Bắc đẩu bội tinh. Vài mảng tóc, trộn lẫn đen và trắng như trên cánh một con ác là, thò ra từ bên dưới cái mũ cát két của đại tá; những lọn tóc vàng đẹp đẽ điểm trang hai bên thái dương vị quan tòa. Một cao lớn, ngẳng, gầy, dáng điệu bồn chồn, và các nếp nhăn trên khuôn mặt trắng để lộ những dục vọng khủng khiếp hoặc những nỗi bất hạnh đáng kinh hãi; người kia có một khuôn mặt bừng sáng sức khỏe, vui tươi và xứng danh với một môn đệ của Épicure[5]. Cả hai đều bị mặt trời thiêu cháy, và những ghệt dài bằng da thú của họ mang các dấu vết của đủ mọi loại hố, đầm lầy mà họ đã băng qua.

“Nào, ông de Sucy kêu lớn, đi nào! Đi bộ chỉ non một tiếng nữa thôi, chúng ta sẽ tới Cassan, trước một bàn ăn thịnh soạn.

- Chắc là anh còn chưa yêu bao giờ, vị cố vấn đáp, với vẻ hài hước đáng thương hại, anh cũng nghiệt ngã giống y điều 304 của Bộ luật hình sự ấy[6]!”

Philippe de Sucy run rẩy dữ dội; vầng trán rộng của ông nhăn lại; khuôn mặt ông trở nên cũng u tối như bầu trời vào thời điểm ấy. Dẫu một kỷ niệm về một nỗi cay đắng gớm ghê làm mọi đường nét của ông nhăn rúm lại, ông cũng không khóc. Giống những người đàn ông mạnh mẽ, ông biết cách dồn nén các cảm xúc vào tận đáy trái tim, và có lẽ thấy, cũng như nhiều tính cách thuần khiết, một dạng thô bỉ khi để lộ ra các nỗi đau riêng chừng nào không một lời nói con người có thể diễn đạt cho đủ chiều sâu của chúng, và ngại ngần sự chế giễu từ những ai không muốn hiểu. Ông d’Albon sở hữu một tâm hồn tinh tế đoán biết được những đau đớn và cảm nhận một cách mạnh mẽ cú choáng váng mà, không hề chủ ý, chúng đã tạo ra vì một sự vụng về nào đó. Ông tôn trọng sự im lặng của bạn, đứng dậy, quên đi nỗi mệt, và lặng lẽ đi theo phía sau, hết sức buồn bã vì đã chạm phải một vết thương có lẽ còn chưa đóng sẹo.

“Rồi một ngày, bạn ạ, Philippe nói với ông, bắt tay ông để cảm ơn sự sám hối câm lặng, bởi một ánh mắt xé lòng, rồi một ngày tớ sẽ kể cho cậu nghe về cuộc đời tớ. Hôm nay, thì chưa thể.”

Họ tiếp tục bước đi trong im lìm. Khi nỗi đau của đại tá dường như đã tan đi, viên cố vấn lại cảm thấy mệt; và bằng bản năng hay nói đúng hơn là với lòng muốn của một con người kiệt quệ, con mắt ông thử do thám tất tật độ sâu của khu rừng; ông dò xét các ngọn cây, săm soi những con đường, hy vọng phát hiện ở đó một căn nhà nào đó nơi có thể vào nghỉ nhờ. Tới một ngã tư, ông nghĩ mình thoáng trông thấy một làn khói mỏng bay lên giữa đám cây. Ông dừng bước, nhìn thật chăm chú, và nhận ra, ở giữa một khối cây lớn, các cành màu lục và sẫm của vài cây thông.

“Một ngôi nhà! một ngôi nhà!” ông sung sướng kêu lên, với dáng vẻ mà hẳn một thủy thủ cũng sẽ có khi hét: “Đất liền! đất liền!”

Rồi ông hăng hái tiến lên, băng qua một bụi cây khá dày, và đại tá, vừa rơi vào một mơ mộng sâu thẳm, máy móc đi theo.

“Tôi thích tìm thấy ở đây đĩa trứng ốp lết, bánh mì và một cái ghế, hơn là đến Cassan với mấy cái đi văng, nấm truýp và rượu vang Bordeaux.”

Những lời ấy là một tiếng kêu cảm thán đầy hào hứng buột ra từ viên cố vấn lúc trông thấy dáng vẻ một bức tường mà màu trắng nhờ nhợ nổi bật lên, phía xa xa, trên đống rậm màu nâu các thân cây xiên xẹo của rừng.

“A! a! nơi này dường như xưa kia từng là tu viện”, hầu tước d’Albon lại kêu lên, khi tới chỗ một hàng rào lưới sắt cổ kính màu đen, từ đó ông có thể nhìn thấy, ngay giữa một khu vườn khá rộng, một tòa nhà xây theo phong cách trước đây từng được dùng cho các công trình tu viện. “Sao mà đám thầy tu đểu giả kia giỏi chọn địa điểm thế nhỉ!”

Câu cảm thán mới này là biểu hiện của niềm kinh ngạc gây ra cho vị quan tòa bởi tòa nhà đơn côi đầy thi vị đang hiện ra trước mắt ông. Ngôi nhà nằm ở lưng chừng trên sườn ngọn núi, với trên đỉnh là ngôi làng Nerville. Những cây sồi lớn cổ thụ của khu rừng, vẽ nên một vòng cung mênh mông quanh nơi này, biến nó thành một sự cô độc đích thực. Khối nhà trước đây dành cho các ông thầy tu quay mặt về phía Nam. Khu vườn rộng chừng bốn mươi arpent. Ngay gần nhà, là một đồng cỏ màu lục, thật may mắn được cắt ngang bởi nhiều dòng suối lấp lánh, bởi những làn nước được xếp đặt một cách duyên dáng, và không mang chút vẻ nhân tạo bên ngoài nào. Đây đó vươn lên những cây màu lục hình dáng thanh nhã, tán lá to nhỏ khác nhau. Rồi, các hang được dựng khéo léo, những hàng hiên đồ sộ với các giàn cây xiêu đổ và lan can hoen gỉ in dấu một vẻ bề ngoài đặc biệt cho Thébaïde[7] hoang dã ấy. Nơi đây, nghệ thuật cũng đã kết hợp những công trình của nó với các hiệu ứng đẹp đẽ nhất của tự nhiên. Các dục vọng con người hồ như phải chết dưới gốc những cây lớn này, chúng bảo vệ lối vào khu trại kín khỏi tiếng ồn của thế giới, cũng như điều hòa sức nóng của mặt trời.

“Lộn xộn hết cả rồi!” ông d’Albon tự nhủ sau khi chiêm ngưỡng biểu hiện u tối mà đống đổ nát bày ra trên phong cảnh ấy, nó như thể đang phải gánh chịu sự trừng phạt. Trông thật giống một chốn dính lời rủa bị con người bỏ không. Thường xuân đã lan rộng khắp mọi nơi các dây ngoằn ngoèo và những tấm ào choàng rậm rì của nó. Những đám rêu màu nâu, lục nhạt, vàng hoặc đỏ phủ những sắc màu lãng mạn của chúng lên đám cây, trên các ghế băng, mái nhà, trên các tảng đá. Các cửa sổ mọt ruỗng xập xệ vì mưa gió, bị thời gian bào rỗng; các bao lơn gãy đổ, các hàng hiên bị tàn phá. Vài chớp cửa sổ chỉ còn dính vào khung bằng độc một bản lề. Những cánh cửa cong vênh dường như sẽ không kháng cự nổi trước một kẻ xâm nhập. Phủ đầy những bụi tầm gửi sáng lấp lánh, các cành cây ăn quả bị bỏ bẵng vươn ra xa không có gì để thu hoạch. Cỏ mọc cao vút trên các lối đi. Những phế tích ấy tung vào bức tranh các hiệu ứng của một thứ thơ ca rạng ngời, và những ý nghĩ mơ màng vào tâm hồn người ngắm cảnh. Một nhà thơ hẳn sẽ ở lại đó chìm đắm vào trong một nỗi sầu muộn dài, ngưỡng mộ sự lộn xộn đầy những hài hòa này, sự phá hủy chẳng phải không mang nét duyên dáng này. Đúng lúc đó, vài tia nắng hiện ra xuyên qua các kẽ mây, làm bừng sáng mọi thứ bằng các chùm chứa đến cả nghìn thứ màu, cái khung cảnh nửa man dã ấy. Ngói nâu trên mái sáng ánh lên, những đám rêu bừng tỏ, những cái bóng huyền hoặc chuyển động trên các bãi cỏ, bên dưới đám cây; các màu chết tỉnh dậy, những đối lập chọi nhau chiến đấu với nhau, những tán lá hiện lên trong luồng sáng. Bỗng nhiên, ánh sáng vụt tắt. Phong cảnh ấy như thể đã cất lời, rồi im bặt, và trở lại u tối, hay nói đúng hơn là êm dịu giống như sắc dịu nhất của một buổi hoàng hôn mùa thu.

“Đây là lâu đài của Giai Nhân trong Khu Rừng Ngủ, viên cố vấn tự nhủ, ông đã chỉ còn nhìn ngôi nhà này bằng cặp mắt của một ông chủ. Nó có thể thuộc về ai nhỉ? Phải ngốc lắm thì mới không sống tại một khu đất đẹp như thế này.”

Ngay lập tức, một phụ nữ lao ra từ bên dưới một cây óc chó trồng phía bên phải hàng rào, và không gây chút tiếng động nào đi lướt qua viên cố vấn, nhanh như một bóng mây trôi; ảo ảnh đó khiến ông trở nên câm lặng vì sững sờ.

“Này, d’Albon, anh sao thế? đại tá hỏi.

- Tôi đang dụi mắt để xem tôi đang ngủ hay thức, vị quan tòa đáp, dán người vào sát hàng rào để tìm cách nhìn thấy lại bóng ma.

- Có khả năng cô ta ở dưới cây sung kia, ông nói, chỉ cho Philippe tán một cái cây mọc vươn lên vượt bức tường, bên trái hàng lưới.

- Ai, cô ta?

- Này! tôi biết được à? ông d’Albon đáp. Vừa mới đứng dậy ngay đây, trước mặt tôi, ông hạ giọng, một phụ nữ kỳ lạ; tôi thấy dường như cô ta thuộc về cõi của các bóng ma thì đúng hơn là thế giới của người sống. Cô ta rất mảnh dẻ, rất nhẹ, mơ hồ lắm, đến mức trông như là trong suốt. Khuôn mặt cô ta trắng như sữa. Quần áo của cô ta, cặp mắt của cô ta, tóc của ta đều màu đen. Cô ta đã nhìn tôi lúc đi ngang qua, và dẫu tôi không hề nhát chết, ánh mắt bất động và lạnh lẽo của cô ta đã làm máu trên người tôi đông cứng hết cả lại.

- Cô ta có xinh không? Philippe hỏi.

- Tôi không biết. Trên khuôn mặt tôi chỉ nhìn thấy mỗi đôi mắt.

- Quỷ tha ma bắt cái bữa tối tại Cassan đi, đại tá kêu lên, ta hãy ở lại đây. Tôi bỗng nảy ra ham muốn giống trẻ con là đi vào khu nhà kỳ khôi này. Anh có nhìn thấy các sa xi cửa sổ sơn màu đỏ kia không, cả những nét đỏ vẽ trên đường chỉ các cửa và cửa sổ? Chẳng phải trông thật giống nhà của quỷ à? có lẽ thừa hưởng từ các ông thầy tu. Nào, ta hãy chạy đuổi theo quý bà trắng và đen! Tiến lên!” Philippe kêu lên với một vẻ vui tươi giả tạo.

Đúng lúc đó, hai người thợ săn nghe thấy một tiếng hét khá giống tiếng một con chuột mắc bẫy. Họ lắng nghe. Tán vài cây nhỏ sột soạt trong im ắng, giống như lời thì thầm của một đợt sóng lay động; nhưng dẫu có dỏng tai lên cố nắm bắt vài âm thanh mới, thì mặt đất vẫn im lìm và giữ bí mật về các bước chân của người phụ nữ lạ mặt, nếu như mà cô ta có bước đi.

“Lạ quá nhỉ”, Philippe kêu lên, dõi theo các công tua mà những bức tường của khu vườn vẽ nên.

Hai người bạn mau chóng đi tới một lối đi trong rừng dẫn tới làng Chauvry. Sau khi ngược con đường này về phía lối Paris, họ thấy mình đứng trước một hàng rào lưới sắt lớn, và nhìn thấy mặt tiền chính của ngôi nhà bí hiểm. Từ phía này, sự lộn xộn mới lên tới cực điểm. Những kẽ nứt rất lớn loang lổ trên các bức tường của ba khối nhà dựng theo hình ê-ke. Các đống gạch ngói vỡ chồng chất trên mặt đất và các mái xập xệ thông báo một sự bỏ mặc hoàn toàn. Vài thứ quả rụng dưới gốc cây thối rữa đi mà không ai nhặt. Một con bò cái đi ngang qua các bồn cỏ, và giẫm lên đám hoa trong các bồn, trong khi một con dê nhai những quả nho xanh và lá nho trên giàn.

“Ở đây, mọi thứ đều hài hòa, và sự lộn xộn theo cách nào đó được sắp xếp”, đại tá nói, kéo dây một cái chuông; nhưng chuông không còn hoạt động.

Hai người thợ săn chỉ nghe thấy tiếng ken két đặc biệt của một cái lò xo gỉ sét. Dẫu đổ nát hết mức, cánh cổng nhỏ trổ trên bức tường ngay cạnh hàng rào vẫn kháng cự lại trước mọi nỗ lực.

“Ồ! ồ! chuyện trở nên rất kỳ lạ rồi đấy, ông nói với người bạn đồng hành.

- Nếu không phải là quan tòa, ông d’Albon đáp, thì hẳn tôi đã tin người phụ nữ vận đồ đen là một nữ phù thủy.”

Ông vừa nói xong câu ấy thì con bò cái tiến lại gần hàng rào và hướng về phía họ cái mõm nóng hổi của nó, như thể nó có nhu cầu được nhìn những con người. Vào lúc ấy một phụ nữ, nếu như mà danh hiệu này có thể thuộc về cái sinh thể không thể định nghĩa kia, đứng dậy từ bên dưới một bụi cây thấp, kéo sợi dây buộc cổ con bò. Người phụ nữ này buộc trên đầu một cái khăn mùi soa đỏ từ đó vung vãi các lọn tóc vàng khá giống mụn xơ trên cọc sợi. Bà ta không quàng khăn. Một cái váy len thô sọc đen lẫn ghi, quá ngắn mất vài tấc, cho phép người ta nhìn thấy hai cẳng chân. Người ta có thể nghĩ bà ta là thành viên một bộ lạc Da Đỏ từng được Cooper vinh danh; bởi vì hai chân bà ta, thêm cái cổ và hai cánh tay để trần như thể được vẽ bằng màu gạch. Không có lấy một tia sáng trí tuệ nào gây sống động cho khuôn mặt phẳng dẹt của bà ta. Cặp mắt xanh nhạt không chút nồng ấm, hết sức tối tăm. Vài sợi lông trắng điểm xuyết ở vị trí hàng lông mày. Rồi thì, cái miệng bà ta có công tua sao đó mà hàm răng lổn nhổn thò hết ra ngoài, nhưng chúng cũng trắng như răng chó.

“Ơ này! bà kia!” ông de Sucy kêu lên.

Bà ta chậm rãi bước đến chỗ hàng rào, vẻ ngây độn nhìn hai người thợ săn, trước họ bà ta nở một nụ cười nặng nhọc và gượng gạo.

“Chúng tôi đang ở đâu thế? Ngôi nhà này là như thế nào? Nó là của ai? Bà là ai? Bà sống ở đây à?”

Trước những câu hỏi ấy và cả một dòng thác lũ những câu hỏi khác mà hai người bạn thay nhau đặt cho bà ta, bà ta chỉ trả lời bằng những tiếng làu nhàu trong cổ họng như thể thuộc về loài vật thì đúng hơn là về loài người.

“Anh không thấy bà ta bị câm và điếc à, viên quan tòa nói.

- Bons-Hommes! bà nông dân kêu lên.

- A! bà ta có lý trí. Nơi này có thể là tu viện Bons-Hommes xưa kia”, ông d’Albon nói.

Những câu hỏi lại bắt đầu đổ xuống. Nhưng, giống như một đứa trẻ đỏng đảnh, bà nông dân đỏ mặt, cúi xuống nghịch cái guốc, vặn xoắn sợi dây buộc con bò đã lại khởi sự gặm cỏ, nhìn hai thợ săn, săm soi mọi chi tiết trên quần áo của họ; bà ta the thé, gầm gừ, lầm bầm, nhưng không nói.

“Tên của bà? Philippe hỏi bà ta, chăm chăm nhìn bà ta như thể muốn bỏ bùa.

- Geneviève, bà đáp, cười một cách ngu ngốc.

- Cho đến lúc này con bò là động vật thông minh nhất mà chúng ta gặp được, viên quan tòa kêu lên. Tôi sẽ bắn một phát súng để gọi người khác đến.”

Đúng lúc d’Albon cầm lấy khẩu súng, đại tá đưa tay ngăn ông lại, và lấy ngón tay chỉ cho ông người phụ nữ lạ mặt lúc trước đã khiến ông tò mò đến thế. Người phụ nữ ấy như thể đang tự chôn vùi trong một suy tưởng sâu thẳm, và chậm rãi bước tới trên một lối đi khá xa, thành thử hai người bạn có đủ thời gian để nhìn cho kỹ. Cô ta vận một cái rốp xa tanh đen đã rất cũ. Mái tóc dài buông thành rất nhiều lọn xuống trán, quanh hai vai, tới tận đáy lưng, thay cho khăn san. Hẳn đã quá quen với sự hỗn độn này, chỉ thảng hoặc lắm cô ta mới hất tóc về hai bên thái dương; nhưng khi ấy, cô ta lắc mạnh đầu, chỉ một phát là khiến vầng trán hay cặp mắt thoát khỏi tấm voan dày ấy. Vả lại động tác của cô ta, giống ở một con thú, có cái vẻ an toàn đáng ngưỡng mộ của cơ chế mà sự lanh lẹ có thể tương tự một phép mầu nơi một phụ nữ. Hai người thợ săn kinh ngạc thấy cô ta nhảy vọt lên một cành táo và vắt vẻo trên đó với sự nhẹ nhõm của một con chim. Cô ta hái quả trên đó, ăn chúng, rồi thả mình rơi xuống đất với vẻ mềm mại duyên dáng mà người ta hay thấy ở loài sóc. Tay và chân của cô ta sở hữu một độ dẻo giúp các cử động thoát khỏi đến tận vẻ bên ngoài sự lướng vướng hoặc nỗ lực. Cô ta chơi nghịch trên bãi cỏ, lăn lộn ở đó không khác một đứa trẻ con; rồi, đột nhiên, cô ta vung hai bàn chân và hai bàn tay về phía trước, và nằm thõng thượt trên cỏ với vẻ buông thả, sự duyên dáng, nét tự nhiên của một con mèo con nằm ngủ dưới ánh mặt trời. Sấm rền vang ở xa xa, cô ta bỗng ngoái đầu lại, và chạy bằng bốn chân với sự khéo léo mầu nhiệm của một con chó nghe thấy tiếng một người lạ đang đi tới. Do cái tư thế kỳ cục đó, mái tóc đen của cô ta đột nhiên tự phân chia thành hai dải băng đô lớn rơi sang hai bên đầu, và cho phép hai khán giả của cái cảnh tượng lạ thường này chiêm ngưỡng hai bờ vai với làn da trắng ánh ỏi giống như hoa cúc trên cánh đồng, một cái cổ với vẻ hoàn hảo cho phép đánh giá về sự hoàn hảo của mọi tỉ lệ trên cơ thể.

Cô ta buột ra một tiếng hét đau đớn, và đứng thẳng người lên. Các động tác của cô ta cứ thế nối tiếp nhau theo đường lối duyên dáng, được thực hiện gọn lẹ đến mức hồ như cô ta không phải một con người mà là một người con gái của không khí từng được ngợi ca trong các bài thơ của Ossian[8]. Cô ta đi về phía một khoảnh nước, lắc nhẹ một chân để cởi chiếc giày, và tỏ vẻ sung sướng vì được nhúng bàn chân trắng như sáp xuống suối, chắc hẳn vừa làm thế vừa ngắm những gợn sóng mà cô ta tạo ra, trông chúng giống như các viên đá quý dùng làm đồ trang sức. Rồi cô ta quỳ gối xuống bên bờ nước, vui thú, như một đứa trẻ con, với việc nhúng các mớ tóc dài của mình vào rồi lại đột nhiên rút chúng lên nhằm làm cho nước đọng trên đó nhỏ giọt xuống, và mặt nước, với những tia nắng chiếu qua, như thể tạo thành các chuỗi hạt ngọt trai.

“Người phụ nữ đó bị điên”, viên cố vấn kêu lên.

Một tiếng hét khàn đục, phát ra từ Geneviève, vang lên và dường như hướng tới người phụ nữ lạ mặt, cô ta vội đứng dậy, hất tóc về hai bên khuôn mặt. Đúng lúc đó, đại tá và d’Albon có thể nhìn rất rõ các đường nét của người phụ nữ, cô ta, nhìn thấy hai người bạn, bằng vài bước nhảy đã vọt tới chỗ hàng rào với sự nhẹ nhõm của một con nai.

Vĩnh biệt!” cô ta nói, giọng dịu dàng và ngân nga, nhưng cái giai điệu ấy, mà hai thợ săn sốt ruột chờ đợi đến vậy, vẻ như không hề để lộ ra chút tình cảm hay ý nghĩ nào.

Ông d’Albon chiêm ngưỡng làn mi rợp của cặp mắt cô ta, hàng lông mày đen rậm, một nước da trắng đến choáng váng và không kèm chút sắc thái nhỏ nhất nào của tàn nhang. Chỉ những sợi gân xanh bé nhỏ hiện lên trên nước da trắng. Khi viên cố vấn quay sang người bạn để nói về nỗi kinh ngạc của ông khi nhìn thấy người phụ nữ kỳ lạ kia, ông thấy bạn đang nằm thẳng cẳng trên cỏ, như thể đã chết. Ông d’Albon vội lấy súng của mình bắn lên trời để gọi người, hét lên: Cứu với! và cố sức nâng đại tá dậy. Nghe tiếng đạn nổ, người phụ nữ lạ mặt, trước đó đang bất động, chạy trốn với sự mau lẹ của một mũi tên, hét lên những tiếng kinh hoảng giống như một con thú bị thương, và quay vòng vòng trên bãi cỏ, bày ra các dấu hiệu của một nỗi hoảng hốt sâu sắc. Ông d’Albon nghe thấy tiếng bánh lăn của một cỗ xe ngựa trên con đường L’Isle-Adam, và gọi những người đi dạo đến cứu bằng cách giơ khăn mùi soa lên vẫy. Ngay lập tức, cỗ xe tiến về phía Bons-Hommes, và ông d’Albon nhận ra trên đó ông bà de Grandville, hàng xóm của ông, họ mau mắn xuống xe, đề nghị viên quan tòa dùng nó. Bà de Grandville, vì tình cờ, có một lọ muối, họ bèn dùng nó cho ông de Sucy ngửi. Khi đại tá mở mắt, ông ngoái ngay đầu nhìn về phía bãi cỏ nơi người phụ nữ lạ mặt vẫn không ngừng vừa chạy vừa hét, và để bật ra một lời cảm thán không rõ nghĩa, nhưng để lộ một cảm giác kinh hoàng; rồi ông lại nhắm mắt, phác một cử chỉ như để đề nghị bạn mình đưa mình thoát ra khỏi cảnh tượng này. Ông bà de Grandville để cho viên cố vấn tha hồ dùng xe của họ, hết sức tốt bụng nói với ông rằng họ sẽ đi bộ để tiếp tục cuộc dạo chơi.

“Người phụ nữ kia là ai thế? viên quan tòa hỏi, chỉ tay về phía người phụ nữ xa lạ.

- Người ta cho rằng cô ta từ Moulins[9] đến, ông de Grandville đáp. Cô ta tên là nữ bá tước de Vandières, người ta nói cô ta bị điên; nhưng vì cô ta mới ở đây từ hai tháng nay, tôi cũng không thể đảm bảo với anh về mức độ chân xác của những lời đồn thổi đó.”

Ông d’Albon cảm ơn ông bà de Grandville và lên đường đi Cassan.

“Cô ấy đấy, Philippe kêu lên khi tỉnh lại.

- Ai? cô ấy! d’Albon hỏi.

- Stéphanie. A! chết và sống, sống và điên, tôi đã tưởng là tôi chết mất rồi.”

Vị quan tòa thận trọng, trân trọng cơn kịch phát mà bạn ông vừa phải trải qua, tránh hỏi bạn hoặc khiến bạn rối trí, ông sốt ruột mong về tới lâu đài; bởi vì sự thay đổi diễn ra trong các đường nét và toàn bộ con người của đại tá khiến ông sợ rằng nữ bá tước đã truyền sang cho Philippe căn bệnh khủng khiếp kia. Cỗ xe vừa đi vào con đường L’Isle-Adam, tức thì d’Albon sai người hầu chạy đi tìm bác sĩ của trấn; thành thử vào thời điểm đại tá đi nằm, bác sĩ đã có mặt ở đầu giường của ông.

“Nếu ngài đại tá không gần như rỗng dạ dày, viên bác sĩ nói, thì hẳn ông ấy đã chết. Sự mệt mỏi đã cứu ông ấy[10].”

Sau khi chỉ định những phòng xa đầu tiên phải theo, bác sĩ đi ra để tự tay chuẩn bị một liều thuốc an thần. Sáng hôm sau ông de Sucy đã cảm thấy khá hơn; nhưng bác sĩ vẫn muốn đích thân theo dõi ông.

“Tôi sẽ thú nhận với ông, thưa ông hầu tước, viên bác sĩ nói với ông d’Albon, rằng tôi đã e xảy ra tổn thương não. Ông de Sucy đã có một chấn động quá mức dữ dội, các dục vọng của ông ấy trở nên quá mạnh; nhưng, ở ông ấy, cú đánh đầu tiên quyết định cho mọi thứ. Chỉ mai thôi có lẽ ông ấy đã thoát khỏi vòng nguy hiểm rồi.”

Bác sĩ đã không nhầm, và hôm sau ông cho phép vị quan tòa gặp lại bạn.

“D’Albon thân mến của tớ, Philippe nói, bắt tay ông, tớ muốn nhờ cậu một việc! Cậu hãy mau chóng chạy đến Bons-Hommes! tìm hiểu mọi điều liên quan đến người phụ nữ mà chúng ta đã nhìn thấy ở đó, và về đây thật nhanh; bởi vì mình sẽ tính từng phút đấy.”

Ông d’Albon nhảy lên một con ngựa, và phi nước đại đến chỗ tu viện cũ. Tới đó, ông trông thấy trước hàng rào một người đàn ông gầy guộc cao lớn với khuôn mặt từ ái, và đáp là đúng thế khi viên quan tòa hỏi có phải ông sống tại ngôi nhà đổ nát này hay không. Ông d’Albon kể lại các mục đích của chuyến thăm.

“Ra là vậy, thưa ông, người lạ mặt kêu lên, chẳng phải chính ông là người đã bắn phát súng định mệnh đó? Thiếu điều ông đã giết chết người bệnh khốn khổ của tôi rồi.

- Ơ! thưa ông, tôi đã bắn chỉ thiên cơ mà.

- Hẳn ông đã gây ít điều hại cho bà nữ bá tước hơn nếu bắn trúng bà ấy.

- Thôi được rồi, chúng ta không có gì để trách cứ lẫn nhau, bởi vì nhìn thấy nữ bá tước của ông, bạn tôi thiếu điều đã chết, ông de Sucy ấy.

- Đó có phải nam tước Philippe de Sucy? ông bác sĩ kêu lên, hai tay chắp lại với nhau. Ông ấy đã sang Nga, rồi qua Berezina?

- Vâng, d’Albon đáp, cậu ấy đã bị đám Cosaque bắt và đưa đến Siberia, cậu ấy mới về đây được mười một tháng thôi.

- Vào đi, thưa ông”, người lạ mặt nói, dẫn viên quan tòa vào một phòng khách dưới tầng trệt tòa nhà nơi mọi thứ đều mang các dấu vết của một sự tàn phá thất thường.

Các bình sứ quý bị đập vỡ bên cạnh một đồng hồ treo tường với cái khung chưa bị động vào. Những tấm rèm lụa xếp nếp treo trước các cửa sổ đã rách, trong khi tấm rèm hai lớp bằng mút-xơ-lin vẫn còn nguyên.

“Anh cũng thấy, ông bước vào, nói với ông d’Albon, những tàn phá gây ra bởi con người quyến rũ mà tôi đang hết lòng chăm lo. Đó là cháu gái tôi; dẫu nghệ thuật của tôi bất lực, tôi vẫn hy vọng rồi một ngày sẽ trả lý trí về cho nó, bằng cách thử nghiệm một phương pháp, thật không may nó chỉ cho phép những người giàu theo được.”

Rồi, cũng giống mọi con người sống trong cảnh cô độc, đắm chìm trong một nỗi đau đớn đang nảy sinh, ông kể thật lâu cho viên quan tòa cuộc phiêu lưu sau đây, mà câu chuyện đã được chỉnh đốn và lược bớt rất nhiều đoạn trữ tình ngoại đề của người thuật truyện cũng như của viên cố vấn.

-----------

Khi, quãng chín giờ tối, rời vùng cao nguyên Studzianka, mà thống chế Victor đã phòng ngự suốt cả ngày hôm 28 tháng Mười một năm 1812, ông để lại đó khoảng một nghìn người chịu trách nhiệm bảo vệ cho tới thời khắc cuối cùng một trong hai cây cầu dựng trên sông Berezina[11] vẫn còn sử dụng được. Đội đoạn hậu này được giao nhiệm vụ cứu sống một đám đông khủng khiếp những người chậm chân bị tê liệt bởi cái lạnh, những người nhất quyết từ chối rời đống khí tài quân đội. Sự anh hùng của đội quân nhân hậu này hẳn sẽ vô ích. Thật bất hạnh, lính tráng ùa tới bờ sông Berezina thành từng đám lớn tìm thấy ở đây vô số xe cộ, thùng đoạn và đồ đạc đủ mọi loại mà quân đội buộc lòng phải vứt bỏ với mục đích vượt sông trong ngày 27 và 28 tháng Mười một. Được thừa hưởng các thứ của cải không ngờ, những con người bất hạnh này, ù lì vì cái lạnh, trú lại trong các doanh trại trống hoác, đập vỡ vật dụng của quân đội lấy đồ để dựng lán, đốt lửa bằng mọi thứ gì rơi vào tay họ, giết ngựa làm lương thực, giật chăn dạ hoặc vải bạt những cỗ xe làm chăn đắp, và ngủ thay vì tiếp tục con đường và trong đêm yên bình vượt con sông Berezina, mà một định mệnh khó tin đã biến trở nên gớm ghê tới vậy đối với quân đội. Sự chây ì của những người lính khốn khổ kia chỉ có thể được hiểu bởi những ai còn nhớ mình từng băng ngang các sa mạc tuyết mênh mông ấy, không có đồ uống nào khác ngoài tuyết, không có cái giường nào khác ngoài tuyết, không một viễn tượng nào khác ngoài đường chân trời tuyết, không thứ đồ ăn nào khác ngoài tuyết hoặc lèo tèo vải củ cải đóng giá, vài nhúm bột hoặc thịt ngựa. Chết vì đói, vì khát, vì mệt và vì buồn ngủ, những con người xấu số đó đến được một bãi sông nơi họ trông thấy gỗ, lửa, lương thực, vô số cỗ xe bị bỏ lại, các doanh trại, nói tóm lại là cả một thành phố được ứng biến. Ngôi làng Studzianka đã bị băm vằm, bị chia chác, bị chuyển từ cao nguyên xuống đồng bằng. Dẫu cái đô thị ấy có thể não nề và nguy ngập đến thế nào, thì những nỗi khốn cùng và hiểm nguy của nó vẫn nở nụ cười với những ai chỉ nhìn thấy ở trước mặt các sa mạc kinh khiếp của nước Nga. Rốt cuộc đó là một bệnh viện khổng lồ không có tới hai mươi tiếng đồng hồ để tồn tại. Nỗi mệt vì phải sống hoặc giả cảm giác về một niềm êm ái bất ngờ biến đám đông kia trở nên ì trệ trước mọi ý nghĩ, ngoài nỗi thèm nghỉ ngơi. Dẫu cho pháo binh bên cánh trái của quân Nga không thôi nã đạn vài cái đám đông hiện lên như một đốm lớn kia, lúc thì màu đen, khi lại bừng sáng lên, ở giữa tuyết, những quả đạn pháo không biết mệt mỏi đó đối với đám đông lãnh đạm dường như chỉ là thêm một nỗi thiếu tiện nghi nữa mà thôi. Giống như một cơn giông mà lưỡi tầm sét bị tất cả mọi người khinh thị, bởi vì chắc nó chỉ có thể giáng xuống, đây đó, những kẻ hấp hối, bệnh tật, hoặc cũng có thể những người đã chết. Chốc chốc, các nhóm chậm chân lại tới nơi. Các thể loại xác chết lưu động này mau chóng được phân chia, và đi ăn mày một chỗ trú từ đống lửa này sang đống lửa khác; rồi thì, về cơ bản sẽ bị đuổi đi, bọn họ lại túm tụm vào với nhau nhằm dùng sức đoạt lấy sự ẩn trú từng bị từ chối. Lờ tịt đi những quát tháo của vài sĩ quan dự báo cái chết cho họ ngay ngày hôm sau, bọn họ tiêu tốn tổng lượng can đảm cần thiết để vượt sông vào việc dựng chỗ trú cho một đêm, chén một bữa thường là độc địa; cái chết đang đợi sẵn họ kia đối với họ như thể không còn là một điều gì xấu xa nữa, bởi vì nó vẫn để lại cho họ một tiếng đồng hồ để ngủ. Họ chỉ đặt tên xấu cho cái đói, cái khát, cái lạnh. Khi đã hết nhẵn gỗ, lửa, vải, chỗ trú, những cuộc tranh đấu khủng khiếp nổ ra giữa những người vừa tới không có một thứ gì và những kẻ giàu có sở hữu một nơi ở. Những người yếu nhất quỵ ngã. Rốt cuộc, tới một thời điểm, vài người bị quân Nga đánh đuổi chỉ còn lại tuyết làm doanh trại, và nằm xuống đó ngủ để rồi không bao giờ trở dậy nữa. Dần dà, cái khối người gần như bị hư vô hóa kia trở nên rắn đặc, điếc, ngu xuẩn, hoặc giả cũng có thể là hạnh phúc, đến nỗi thống chế Victor, người từng bảo vệ bọn họ một cách anh hùng, kháng cự lại hai mươi nghìn quân Nga dưới sự chỉ huy của Wittgenstein, buộc lòng phải quyết liệt mở một đường máu, băng qua khu rừng người kia, nhằm giúp năm nghìn con người can đảm vượt sông Berezina, rồi dẫn họ về với Hoàng Đế. Những kẻ xấu số kia thà để cho mình bị giẫm nát còn hơn là chịu nhúc nhích, và chết rũ trong im lìm, mỉm cười với các đốm lửa tàn dần của họ, và chẳng hề nghĩ đến nước Pháp[12].

Mười giờ tối, công tước de Bellune[13] đã ở bờ sông bên kia. Trước khi đi qua các cây cầu dẫn về Zembin, ông giao số phận đội đoạn hậu Studzianka cho Éblé[14], vị cứu tinh của tất cả những ai sống sót sau các thảm họa sông Berezina. Vào quãng nửa đêm, vị tướng vĩ đại ấy, theo chân là một sĩ quan hào sảng, rời căn lán nhỏ mà ông chiếm giữ ở gần cây cầu, và bắt đầu quan sát cảnh tượng bày ra bởi trại lính nằm giữa bờ sông Berezina và con đường đi từ Borizof tới Studzianka. Đại bác của quân Nga đã ngừng bắn; vô số đốm lửa, chúng, ở giữa khối tuyết rộng lớn, nhợt nhạt đi và như thể không chiếu ra ánh sáng, rọi đây đó lên các khuôn mặt chẳng còn vẻ gì của con người. Những người bất hạnh, với tổng số khoảng ba mươi nghìn, thuộc mọi quốc gia mà Napoléon đã ném vào Nga, ở đó, đùa nghịch mạng sống của mình với một sự vô tư lự tàn bạo.

“Chúng ta hãy cứu tất tật cái đống kia, tướng quân nói với viên sĩ quan. Sáng mai quân Nga sẽ làm chủ Studzianka. Thế nên sẽ phải đốt cầu đúng vào lúc chúng xuất hiện; do đó, anh bạn ạ, can đảm lên! Đi lên phía trên kia đi. Nói với tướng Fournier rằng ông ấy chỉ còn kịp thời gian để sơ tán vị trí của ông ấy, xuyên qua tất tật những người kia, và đi qua cầu. Chừng nào thấy ông ấy bắt đầu hành quân, thì anh cũng đi theo họ luôn. Thêm vài người còn lành lặn giúp đỡ, anh sẽ không xót thương mà đốt hết các doanh trại, xe cộ, hòm đạn, xe, tất tật! Đuổi hết đám kia lên trên cầu! Bắt tất cả những thứ gì có hai chân phải chạy sang bờ bên kia mà ẩn nấp. Giờ đây hỏa công là phương tiện cuối cùng của chúng ta. Giá kể từ trước Berthier để cho tôi phá hủy hết mọi khí tài bị nguyền rủa kia, thì hẳn dòng sông này sẽ chẳng nuốt được một ai ngoài những người lính bắc cầu khốn khổ của tôi, năm mươi anh hùng đã cứu sống cả đội quân và sẽ bị người ta lãng quên!”

Viên tướng đặt tay lên trán và đứng đó im lặng. Ông cảm thấy Ba Lan sẽ là mồ chôn ông[15], và chẳng giọng nói nào sẽ cất lên vì những con người trác tuyệt đang ngâm mình dưới nước kia, nước của sông Berezina! để đóng cọc. Trong số họ chỉ duy nhất một người còn sống, hay, để cho chuẩn xác hơn, chịu đau đớn tại một ngôi làng nọ, chẳng ai biết đến[16]! Viên sĩ quan tùy tùng lên đường. Viên sĩ quan hào sảng đó vừa đi được chừng trăm bước về phía Studzianka thì tướng quân Éblé đã đánh thức nhiều lính bắc cầu khổ nhục của ông, và bắt đầu công trình nhân đạo của mình, đó là đốt các doanh trại dựng quanh cầu, bằng cách đó mà buộc những người đang ngủ quẩn quanh phải vượt sông Berezina. Trong lúc ấy viên sĩ quan tùy tùng trẻ tuổi đã tới, chẳng phải là không khó nhọc, ngôi nhà gỗ duy nhất vẫn còn đứng vững tại Studzianka.

“Cái nhà này có phải đông đặc người không, anh bạn? anh hỏi một người mà anh nhìn thấy ở bên ngoài.

- Anh phải là lính bợm lắm thì mới vào nổi trong đó, viên sĩ quan đáp, chẳng buồn quay đầu lại và không ngừng vung gươm chém để lấy các mảnh gỗ cột nhà.

- Có phải anh đấy không, Philippe, viên sĩ quan tùy tùng hỏi, vì nhờ giọng nói vừa nhận ra một người bạn.

- Phải. A! a! anh đấy à, bạn ơi, ông de Sucy đáp, nhìn viên sĩ quan tùy tùng, cũng giống anh, anh ta mới hăm ba tuổi. Tôi cứ tưởng anh đã sang bờ bên kia con sông khốn kiếp rồi. Anh đến để mang cho chúng tôi bánh ngọt và mứt tráng miệng đấy hả? Anh sẽ được tiếp đón trọng thể, anh nói thêm, đã gỡ xong chỗ vỏ cây rồi đưa cho con ngựa của anh ăn, coi như là một thứ lót lòng.

- Tôi tìm chỉ huy của anh để chuyển lời từ tướng Éblé báo cho ông ấy là phải lao tới Zembin ngay! Các anh chỉ còn kịp thời gian xuyên qua đống xác chết mà tôi sắp đốt hết ngay bây giờ, để bắt họ phải đứng dậy mà đi.

- Anh gần như khiến tôi thấy ấm lên đấy! tin của anh khiến tôi toát cả mồ hôi. Tôi có hai người bạn cần cứu sống! A! nếu không có hai chú sóc con ấy, bạn ạ, chắc tôi đã chết rồi! Vì họ cho nên tôi mới chăm bẵm con ngựa của tôi đấy, nên tôi mới không ăn thịt nó. Làm ơn, anh có mẩu bánh nào không? Ba mươi tiếng nay tôi chưa có gì bỏ bụng rồi, và tôi đã đánh nhau như một thằng điên, nhằm lưu giữ chút ít hơi ấm và lòng can đảm còn lại.

- Philippe khốn khổ! không có gì, không có gì. Nhưng tướng quân của anh có ở đây chứ?

- Đừng cố vào! Cái vựa này dùng để chứa các thương binh của chúng tôi đấy. Lên cao hơn nữa đi! anh sẽ gặp, bên tay phải, một cái thứ giống như chuồng lợn, tướng quân ở đó! Vĩnh biệt, bạn thân mến. Nếu có bao giờ chúng ta nhảy điệu trénis[17] tại một sàn nhảy Paris…”

Anh không nói hết câu, vào lúc ấy gió thổi độc địa đến mức viên sĩ quan tùy tùng bước đi để khỏi chết cóng, và cặp môi của thiếu tá Philippe[18] đông cứng lại. Sự im lặng lại mau chóng ngự trị. Nó chỉ bị cắt ngang bởi những tiếng rên rỉ phát ra từ bên trong ngôi nhà, và bởi tiếng động sượng đục do con ngựa của ông de Sucy gây ra, trong lúc, vì đói và giận dữ, nhằn thứ vỏ cây giá lạnh được dùng để dựng ngôi nhà. Thiếu tá xỏ lại thanh gươm vào trong bao, đột nhiên tóm lấy dây cương con ngựa quý giá mà anh còn giữ được, và lôi nó, mặc cho sự kháng cự, đi về phía cánh đồng thảm đạm mà dường như nó đang thèm thuồng.

“Lên đường thôi, Bichette! lên đường. Chỉ còn độc một mình mày, con ngựa đẹp đẽ của tao, có thể cứu mạng Stéphanie nữa thôi. Nào, rồi chúng ta sẽ được phép nghỉ ngơi, được chết, chắc thế.”

Philippe, choàng một chiếc áo lông dài nhờ đó anh còn sống sót và giữ được năng lượng, bắt đầu chạy, hai bàn chân giáng mạnh xuống nền tuyết cứng cho ấm. Thiếu tá vừa đi được năm trăm bước thì nhìn thấy ngay một đống lửa lớn tại cái nơi, từ sáng, anh đã để lại cỗ xe, giao cho một người lính già trông coi. Một nỗi lo lắng khủng khiếp ập xuống anh. Cũng như tất cả những ai, trong cuộc tháo chạy tán loạn đó, bị chế ngự dưới một tình cảm mãnh liệt, anh tìm ra, nhằm cứu bạn bè, những sức lực mà hẳn anh sẽ chẳng có nổi để tự cứu lấy thân. Anh chóng vánh đến gần một hõm đất, tận sâu trong đó anh đã để lại cho trú ẩn tránh được các viên đạn pháo một phụ nữ trẻ, người bạn tuổi thơ của anh và cũng là tài sản quý nhất của anh!

Cách cỗ xe vài bước chân, chừng ba chục kẻ chậm chân tập hợp lại trước một lò lửa cực lớn, bọn họ ném vào đó các thanh ván, nắp hòm đạn, bánh xe và thành xe, để nuôi lửa. Chắc hẳn đám lính mới đến này thuộc vào những người, kể từ khoảng trũng rộng lớn do địa hình vẽ nên bên dưới Studzianka cho tới con sông định mệnh, tạo thành cả một đại dương đầu người, lửa, lán, một biển sống động hung dữ bởi các chuyển động gần như vô tình, và từ đó vang lên tiếng rì rào sường sượng, đôi khi trộn lẫn với những tiếng hét khủng khiếp. Bị thúc đẩy bởi cái đói và nỗi tuyệt vọng, những con người bất hạnh này có khả năng đã dùng vũ lực cướp lấy cỗ xe. Ông tướng già và cô gái trẻ mà bọn họ bắt gặp ở đó, nằm trên đống dây nhợ, quấn người trong áo măng tô và áo choàng lông, lúc này đang ngồi thu lu trước đống lửa. Một trong mấy cánh cửa của cỗ xe đã bị đập gãy. Ngay khi những người ngồi quanh đống lửa nghe thấy tiếng con ngựa và thiếu tá, từ giữa bọn họ cất lên một tiếng hét giận dữ bắt nguồn từ cơn đói:

“Một con ngựa! một con ngựa!”

Mọi giọng nói hợp thành một giọng nói duy nhất.

“Lui ra! coi chừng” dăm người lính kêu lên, áp sát con ngựa.

Philippe đứng chặn trước con ngựa, nói: “Lũ khốn! tao ném hết chúng mày vào lửa bây giờ. Trên kia có nhiều ngựa chết lắm! Lên đó mà tìm.

- Thằng cha sĩ quan này cứ thích đùa! Một, hai, có biến ra không? một người lính bộ binh tinh nhuệ[19] khổng lồ đáp. Không! Thôi được rồi, như mày muốn, nhé.”

Một tiếng phụ nữ hét át tiếng đạn nổ. Rất may mắn, Philippe không bị trúng đạn; nhưng Bichette thì quỵ xuống, quẫy đạp trước cái chết; ba người lao tới và kết liễu nó bằng những nhát lưỡi lê.

“Bọn ăn thịt người! để tôi lấy lại cái chăn và mấy khẩu súng, Philippe nói trong cơn tuyệt vọng.

- Súng thì được, tên lính bộ đáp. Còn cái chăn, ở đây có một người bên bộ binh từ hai hôm nay bụng nhẵn thín, và đang rét run, áo xống thì mỏng tang. Đó là tướng quân của chúng tôi…”

Philippe im lặng nhìn một người đàn ông đi đôi giày nát tươm, quần thủng lỗ chỗ, trên đầu chỉ có một cái mũ bonnê cảnh sát thảm hại phủ đầy giá. Anh vội vã quơ mấy khẩu súng. Năm người lôi con ngựa đến trước đống lửa, và bắt đầu xẻ thịt nó, cũng khéo léo ngang với lũ hàng thịt Paris. Các miếng thịt được thái ra một cách mầu nhiệm và ném vào than. Thiếu tá đi tới gần chỗ người phụ nữ, nàng đã cất tiếng hét hãi hùng khi nhận ra anh, anh thấy nàng bất động, ngồi trên một cái ghế dựa của cỗ xe và đang sưởi ấm; nàng lặng lẽ nhìn anh, không mỉm cười. Lúc đó Philippe thoáng thấy ở cạnh anh người lính mà anh đã giao nhiệm vụ trông giữ cỗ xe; người đàn ông khốn khổ đã bị thương. Bị đám đông dồn ép, ông ta vừa phải thúc thủ trước những kẻ chậm chân tấn công ông; nhưng, giống như con chó bảo vệ cho tới thời khắc cuối cùng bữa tối của chủ, ông ta đã lấy phần từ món chiến lợi phẩm, và đã biến một tấm dạ trắng thành một dạng áo choàng. Vào lúc ấy, ông ta đang lật đi lật lại một miếng thịt ngựa, và thiếu tá trông thấy trên khuôn mặt ông ta niềm vui mà công việc sửa soạn cho bữa tiệc mang lại. Bá tước de Vandières, từ ba hôm nay như thể đã quay trở lại tuổi ấu thơ, tựa người trên một cái gối, gần vợ ông, và chăm chăm nhìn những ngọn lửa mà hơi nóng bắt đầu làm tan biến sự trơ ì ở nơi ông. Ông đã không thấy xúc động về mối nguy và việc Philippe xuất hiện hơn so với trận đánh dẫn đến chuyện cỗ xe của ông bị tàn phá. Trước hết Sucy nắm lấy tay nữ bá tước trẻ tuổi, như để nàng cảm nhận tình trìu mến và cho nàng thấy nỗi đau đớn của anh khi chứng kiến nàng rơi vào tình cảnh khốn cùng thảm hại; nhưng anh chỉ im lặng ngồi bên nàng, trên một đống tuyết rỏ nước tong tỏng, và cũng buông thả vào niềm hạnh phúc được hưởng hơi ấm, quên đi nỗi nguy ngập, quên đi mọi thứ. Dẫu không muốn, khuôn mặt anh để lộ một biểu hiện vui tươi gần như ngu xuẩn, và anh sốt ruột đợi mẩu thịt chia cho người lính của anh chín vàng. Mùi thịt nướng làm cơn đói của anh trở nên cồn cào, và cơn đói của anh khiến câm bặt trái tim anh, cũng như lòng can đảm và tình yêu. Anh ngắm nhìn không chút giận dữ các kết quả cuộc tàn phá cỗ xe của anh. Tất cả những người đang ngồi quanh đống lửa đã chia nhau đống chăn, gối, áo choàng, váy, quần áo đàn ông và phụ nữ thuộc về bá tước, nữ bá tước và viên thiếu tá. Philippe ngoái đầu nhìn xem còn có thể thu hoạch gì từ thùng xe hay không. Anh thoáng thấy, trong ánh lửa, vàng, những viên kim cương, đồ bạc, vương vãi đó mà chẳng ai nghĩ đến chuyện cướp lấy, dù chỉ một mảnh nhỏ. Tất tật các cá nhân do tình cờ mà tụ họp quanh đống lửa kia đều giữ một sự im lặng chứa đựng một cái gì đó thật hãi hùng, và chỉ làm những gì họ coi là cấp thiết cho nỗi khoái sảng của riêng mình. Cảnh khốn cùng này thật thô lậu. Các khuôn mặt, bị cái lạnh tàn hại, phủ một lớp bùn trên đó những giọt nước mắt để lại vệt, kể từ cặp mắt xuống tới phía dưới má, một đường rạch chứng nhận độ dày của tấm mặt nạ ấy. Sự bẩn thỉu của những bộ râu dài khiến những người lính này trông càng gớm ghiếc hơn. Một số người quấn mình trong khăn san phụ nữ; những người khác lại mang khăn phủ lưng ngựa, những cái chăn lấm bẩn, những vụn quần áo rách rưới đẫm giá đang tan chảy; vài người xỏ một chân bốt một chân giày; tóm lại chẳng một ai mà trang phục không trưng bày một nét dị thường nực cười nào đó. Trước sự hiện diện của những điều buồn cười đến thế, những con người kia vẫn nghiêm nghị và u tối. Sự im lặng chỉ bị cắt ngang bởi tiếng rạn nứt của củi, tiếng lửa cháy lách tách, tiếng thì thầm xa xa của trại, và những tiếng gươm chém mà những người đói nhất giáng xuống con Bichette nhằm đoạt lấy những miếng thịt ngon nhất. Vài con người bất hạnh, mệt mỏi hơn những người khác, thì ngủ, và nếu ai đó lăn vào trong lửa, thì cũng chẳng người nào lôi ra. Các nhà logic nghiêm khắc ấy nghĩ rằng, nếu anh ta không chết, thì vết bỏng cũng sẽ cảnh báo để anh ta tìm một chỗ an toàn hơn mà nằm. Nếu người bất hạnh tỉnh dậy giữa đống lửa rồi chết đi, thì cũng chẳng một ai động lòng thương. Vài người lính nhìn nhau, như để biện minh cho sự hờ hững ở họ bằng vẻ thờ ơ nơi người khác. Nữ bá tước trẻ tuổi hai lần quay ra nhìn cảnh tượng, rồi tiếp tục câm lặng. Khi các miếng thịt ném lên than đã chín, mỗi người thỏa mãn cơn đói của mình với sự háu đói mà, nếu thấy ở các con vật, chúng ta sẽ coi là đáng ghê tởm.

“Đây là lần đầu tiên người ta chứng kiến cảnh ba mươi lính bộ binh trên một con ngựa”, viên lính bộ đã hạ con ngựa kêu lên.

Đó là câu nói đùa duy nhất, nó chứng thực cho tinh thần của quốc gia.

Rất mau chóng, phần lớn trong số những người lính khốn khổ lăn ra trong những gì họ quấn quanh người, trên các tấm ván, trên mọi thứ gì có thể giúp họ khỏi tiếp xúc với tuyết, và ngủ, chẳng buồn bận tâm đến ngày mai. Khi thiếu tá đã được sưởi ấm và cơn đói dịu đi, một cơn buồn ngủ khôn cưỡng làm mi mắt anh trĩu xuống. Trong khoảng thời gian tương đối ngắn anh dùng để tranh đấu với cơn ngủ, anh ngắm người phụ nữ trẻ kia, đã quay mặt về phía lửa để ngủ, để lộ cặp mắt nhắm nghiền và một phần vầng trán; nàng quấn mình trong một cái áo choàng lông và một cái áo khoác to tướng của lính rồng; đầu nàng đặt lên một cái gối loang máu; mũ bonnê astrakan của nàng, được giữ bằng một cái khăn mùi soa buộc dưới cằm, bảo vệ mặt nàng khỏi cái lạnh hết mức có thể; nàng đã rụt chân vào bên trong cái áo. Nằm thu lu như vậy, thực sự trông nàng chẳng giống cái gì. Đây có phải cô nàng bán căng tin cho quân đội cuối cùng? đây có phải người phụ nữ quyến rũ đó, vinh quang cho một người tình, bà hoàng của các vũ hội Paridiêng? Hỡi ôi! ngay ánh mắt người bạn tận tụy nhất của nàng cũng không còn thấy có chút gì nữ tính trong cái đống thù lù vải, dạ và rách rưới ấy. Tình yêu đã khuỵu gối dưới cái lạnh, trong trái tim một người phụ nữ. Qua những tấm voan dày mà cơn buồn ngủ khó cưỡng nhất trong số mọi cơn buồn ngủ đang phủ lên cặp mắt viên thiếu tá, anh chỉ còn trông thấy người chồng và người vợ giống như hai cái chấm. Những ngọn lửa nơi đây, những khuôn mặt nằm đó, cái lạnh khủng khiếp đang gầm rú cách ba bước chân một sự ấm áp thoáng qua, tất tật chỉ là một giấc mơ. Một ý nghĩ phiền toái khiến Philippe thấy hoảng sợ. “Tất cả chúng ta đều sẽ chết, nếu mình ngủ; mình không muốn ngủ”, anh tự nhủ. Anh ngủ. Một tiếng hét khủng khiếp cùng một tiếng nổ đánh thức ông de Sucy sau đó một tiếng. Cảm giác về nghĩa vụ, mối nguy mà người bạn gái lâm vào, đột nhiên rơi ào xuống trái tim anh. Anh cất một tiếng hét giống tiếng gầm. Chỉ anh và người lính của anh đứng dậy. Họ nhìn thấy một biển lửa chia cắt, trước mặt họ, trong bóng đêm, một đám đông người hỗn độn, nuốt lấy doanh trại và những cái lán; họ nghe thấy những tiếng hét tuyệt vọng, những tiếng hú; họ trông thấy hàng nghìn khuôn mặt thiểu não và những bộ mặt tức tối. Ở chính giữa địa ngục ấy, một đội lính đang rẽ một con đường tiến về phía cây cầu, giữa hai hàng xác chết.

“Đội đoạn hậu của chúng ta đang rút lui đấy, viên thiếu tá kêu lên. Không còn hy vọng nữa rồi.

- Tôi đã không đốt xe của anh, Philippe ạ”, một giọng nói thân mật cất lên.

Ngoái đầu lại, Philippe nhận ra viên sĩ quan tùy tùng trẻ tuổi, nhờ ánh sáng các ngọn lửa.

“A! mọi chuyện tiêu rồi, thiếu tá đáp. Bọn họ đã ăn thịt mất con ngựa của tôi. Vả lại, làm thế nào mà tôi bắt được cái ông tướng đần độn kia cùng vợ ông ấy bước đi đây?

- Cầm lấy một thanh củi cháy, Philippe, và đe dọa họ!

- Đe dọa nữ bá tước!

- Vĩnh biệt! viên sĩ quan tùy tùng kêu lên. Tôi chỉ còn kịp thời gian đi qua dòng sông định mệnh này nữa mà thôi, và cần phải làm thế! Tôi còn mẹ tôi ở Pháp! Đêm nay thật kinh khủng! Đám người kia thà ở lại trên tuyết còn hơn, và phần lớn những con người bất hạnh đó để mặc bị thiêu cháy chứ nhất định không chịu đứng dậy. Bốn giờ rồi, Philippe ạ! Hai tiếng nữa thôi, bọn Nga sẽ bắt đầu di chuyển. Tôi đảm bảo với anh rằng anh sẽ lại thấy sông Berezina thêm lần nữa nghẽn đặc xác người. Philippe, hãy nghĩ đến anh! Anh không có ngựa, anh không thể vác nữ bá tước; vậy nên, đi thôi, đến đây với tôi, anh nói và túm lấy cánh tay thiếu tá.

- Bạn ơi, bỏ Stéphanie!”

Viên thiếu tá ôm lấy nữ bá tước, nhấc nàng đứng dậy, lay nàng thật mạnh, với động tác của một người trong cơn tuyệt vọng, và bắt nàng phải tỉnh lại; nàng nhìn anh, ánh mắt đăm đăm, vô hồn.

“Phải đi thôi, Stéphanie, nếu không chúng ta sẽ chết ở đây.”

Toàn bộ câu trả lời của nữ bá tước là hành động cố sức ngã trở lại xuống đất để ngủ. Viên sĩ quan tùy tùng vớ lấy một thanh củi cháy, huơ huơ trước mặt Stéphanie.

“Kệ thôi, ta cứ cứu lấy nàng!” Philippe kêu lên, nâng bổng nữ bá tước và bế nàng đặt lên trên cỗ xe.

Anh quay lại nhờ người bạn giúp. Họ nhấc viên tướng già lên, chẳng hề biết ông đã chết hay còn sống, và đặt ông lên gần vợ. Thiếu tá lấy chân hất những người nằm la liệt trên mặt đất, lấy lại những gì bọn họ đã cướp, dồn tật tật đống dây nhợ lại trên người hai vợ chồng, rồi ném vào góc xe vài miếng thịt nướng từ con ngựa của anh.

“Anh định làm gì thế? sĩ quan tùy tùng hỏi anh.

- Kéo nó đi, thiếu ta đáp.

- Anh điên rồi!

- Đúng vậy đấy!” Philippe kêu lên, khoanh hai tay lại trước ngực.

Đột nhiên như thể anh nảy ra một ý nghĩ tuyệt vọng.

“Ông, anh nói, túm lấy cánh tay còn lành lặn của người lính của anh, tôi giao cô ấy lại cho ông trong vòng một tiếng! Hãy nghĩ rằng ông phải thà chết còn hơn là để cho bất kỳ ai tiến lại gần cỗ xe này.”

Thiếu tá vơ lấy đống kim cương của nữ bá tước, một tay cầm chúng, tay kia rút kiếm, bắt đầu điên cuồng đánh đập trong số người đang ngủ những ai mà anh cho là gan dạ hơn cả, và đánh thức được người lính bộ binh khổng lồ cùng hai người khác, không thể xác định quân hàm.

“Chúng ta đang bị thui, anh nói với họ.

- Tôi biết chứ, người lính đáp, nhưng tôi mặc kệ.

- Này này, mạng đổi mạng, chẳng phải tốt hơn hết là bán tính mạng vì một phụ nữ xinh đẹp, và đánh liều mọi thứ để nhìn lại nước Pháp à?

- Tôi thích ngủ hơn, một người nói và lăn ra tuyết. Và nếu mày còn quấy tao, thiếu tá ạ, tao sẽ tương lưỡi kiếm của tao vào bụng mày đấy!

- Chuyện gì nào, thưa sĩ quan? người lính hỏi lại. Tay kia say rượu đấy! Đó là một Paridiêng; cái ngữ ấy thì chỉ thích ăn trắng mặc trơn thôi.

- Cái này sẽ là của anh, anh lính can đảm! thiếu tá kêu lên, chìa cho anh ta một chuỗi kim cương, nếu anh đi theo tôi và đánh đấm thật hăng. Bọn Nga đang ở cách đây mười phút hành quân; chúng có ngựa; chúng ta sẽ lẻn vào ụ pháo đầu tiên của chúng và dắt về hai chú thỏ.

- Nhưng còn đám lính gác, thưa thiếu tá?

- Một trong số ba chúng ta”, anh nói với người lính. Rồi anh ngừng lời, nhìn viên sĩ quan tùy tùng: “Anh đi cùng chứ, Hippolyte?”

Hippolyte gật đầu nhất trí.

“Một trong số chúng ta, thiếu tá nói tiếp, sẽ phụ trách lính gác. Mà có thể chúng cũng đang ngủ, bọn Nga khốn kiếp kia.

- Rồi, thưa thiếu tá, anh ngon đấy! Nhưng anh sẽ cho tôi lên cỗ xe của anh nhé? người lính hỏi.

- Được, nếu anh không bỏ mạng ở trên kia. Nếu tôi tiêu, Hippolyte, và anh, anh lính, thiếu tá quay sang hai người bạn đồng hành, hãy hứa với tôi là các anh sẽ hết lòng lo cho nữ bá tước.

- Nhất trí”, người lính kêu lên.

Họ tiến về phía phòng tuyến của quân Nga, các ụ pháo đã dội đạn dữ dội đến vậy vào đám đông những con người bất hạnh nằm lổn nhổn trên bờ sông. Một lúc sau đó, tiếng phi nước đại của hai con ngựa vang lên trên nền tuyết, và ụ pháo bị đánh thức bắn đạn như mưa xuống đầu những người đang ngủ; tiếng ngựa phi gấp gáp đến nỗi người ta sẵn sàng nói người thợ đóng móng ngựa đang quai búa. Viên sĩ quan tùy tùng hào sảng đã quỵ ngã. Người lính lực lưỡng thì lành lặn. Philippe, trong lúc bảo vệ bạn, đã lĩnh một cú xiên lưỡi lê vào vai; tuy nhiên anh ghì chặt lấy bờm con ngựa, và dùng hai chân ép vào nó vững đến nỗi con vật như thể bị siết trong gọng ê-tô.

“Chúa lòng lành! viên thiếu tá kêu lên khi gặp lại người lính của anh, đứng bất động ở đó, cùng cỗ xe vẫn ở nguyên chỗ cũ.

- Nếu anh là người công bằng, thưa sĩ quan, anh phải làm cho tôi được nhận huy chương đấy nhé. Chúng ta đã nghịch súng và gươm ổn đấy chứ, nhể?

- Chúng ta vẫn còn chưa làm gì! Thắng ngựa đi. Cầm lấy mấy sợi dây này.

- Không đủ rồi.

- Ừ thì, anh lính, sục hộ tôi vào cái đám đang ngủ kia, giật lấy khăn san, quần áo của họ…

- Kìa, anh ta chết rồi, cái tay hay đùa này! người lính kêu lên trong lúc lục lọi người đầu tiên. A! đùa hay sao, chết ráo cả rồi!

- Tất cả?

- Đúng, tất cả! Cứ như thịt ngựa gây ngộ độc khi ăn trên tuyết ấy.”

Câu nói khiến Philippe run lên. Cái lạnh đã tăng cường độ lên gấp đôi.

“Chúa ơi! mất đi một phụ nữ mà mình đã cứu sống cả hai mươi lần.”

Thiếu tá lay nữ bá tước, hét lên: “Stéphanie, Stéphanie!”

Người phụ nữ trẻ tuổi mở mắt ra.

“Thưa bà! chúng ta được cứu rồi.

- Cứu! nàng nhắc lại, rồi lại ngã vật xuống.”

Hai con ngựa được thắng quấy quá vào cỗ xe. Thiếu tá, thanh kiếm cầm trên bàn tay còn cử động tốt, tay kia cầm dây cương, lên đạn mấy khẩu súng, cưỡi lên một con ngựa, và người lính cưỡi con thứ hai. Người lính già, với hai bàn chân đã bị đóng băng cứng lại, được nhấc lên nằm vắt ngang xe, trên ông tướng và nữ bá tước. Bị thanh kiếm đập vào người, lũ ngựa lồng lên điên loạn kéo theo cỗ xe chạy trên cánh đồng, nơi vô số khó khăn đang đợi sẵn viên thiếu tá. Rất chóng vánh, không thể tiến được nếu không liều cán lên những đàn ông, đàn bà, kể cả trẻ con đang nằm đó ngủ, tất tật đều cự tuyệt không chịu nhúc nhích khi anh lính đánh thức họ. Ông de Sucy tìm trong vô vọng con đường mà đội đoạn hậu trước đó đã vạch ở giữa đống người kia, nó đã bị xóa đi giống như vạch nước con tàu trên biển bị xóa đi; anh chỉ có thể đi nước kiệu, thường xuyên bị chặn lại bởi những người lính đe dọa giết ngựa của anh.

“Anh có muốn tới nơi không? người lính hỏi.

- Với cái giá tất tật máu trên người tôi, với cái giá toàn bộ thế giới này, thiếu tá đáp.

- Vậy thì nào! Ta đâu có thể làm món ốp lết nếu không đập vỡ trứng.”

Và người lính bộ của đội vệ binh cho ngựa giẫm đạp lên đám người, làm nhuộm đỏ máu các bánh xe, hất sập các doanh trại, tạo ra hai đường rạch xác chết ngang qua cánh đồng đầu người ấy. Nhưng ta hãy công bằng với anh ta, lần nào anh ta cũng không quên hét toáng lên: “Cẩn thận, lũ xác chết!

- Tội nghiệp! viên thiếu tá kêu lên.

- Chà! hoặc cái đó hoặc cái lạnh, hoặc cái đó hoặc đạn pháo thôi mà!” anh lính đáp, vừa nói vừa lấy mũi thanh gươm xiên lên người con ngựa.

Một thảm họa lẽ ra đã phải xảy đến với họ sớm hơn nhiều, mà một sự tình cờ huyền hoặc đã giúp họ tránh cho tới khi ấy, đột nhiên ập đến chặn đứng họ lại. Cỗ xe bị đổ.

“Tôi đã chờ đợi điều này mà, anh lính có tính cách trơ trơ kêu lên. Ô! ô! anh bạn chết rồi.

- Laurent tội nghiệp, thiếu tá nói.

- Laurent! Có phải ông ấy ở bên trung đoàn bộ binh số 5 không?

- Đúng.

- Anh họ tôi đấy. Chà! cuộc đời chó má này đâu có sung sướng gì để mà đi nuối tiếc vào lúc này.”

Cỗ xe không được dựng lên, không thể gỡ mấy con ngựa ra mà không gây mất quá nhiều thời gian, điều không thể sửa chữa. Cú sốc mạnh đến nỗi nữ bá tước trẻ tuổi, thức dậy và bị lôi tuột ra khỏi cơn ngơ ngẩn bởi cơn choáng, hất đống quần áo phủ trên người và đứng dậy.

“Philippe, ta đang ở đâu? nàng kêu lên, giọng dịu dàng, nhìn ra xung quanh.

- Cách cây cầu năm trăm mét. Chúng ta sẽ qua sông Berezina. Sang tới bờ bên kia, Stéphanie ạ, tôi sẽ không hành hạ em nữa đâu, tôi sẽ để cho em ngủ, chúng ta sẽ được an toàn, chúng ta sẽ yên bình mà đi tới Wilna[20]. Cầu Chúa để đừng bao giờ em biết cuộc đời em đã phải trả giá như thế nào!

- Anh bị thương?

- Không sao đâu.”

Giờ của thảm họa đã đến. Pháo của quân Nga thông báo ngày mới đã bắt đầu. Làm chủ Studzianka, bọn họ truy quét cánh đồng; và trong buổi rạng sáng, thiếu tá trông thấy các đội ngũ của bọn họ dịch chuyển, tụ lại phía trên đồi cao. Một tiếng hét hãi hùng cất lên từ đám người, đứng dậy được một lúc. Theo bản năng ai cũng hiểu mối nguy ngập, và tất cả chạy ùa về phía cây cầu, giống một đợt sóng. Quân Nga lao xuống với tốc độ mau lẹ của đám cháy. Đàn ông, đàn bà, trẻ con, ngựa, tất tật lao lên cầu. Thật may mắn vì viên thiếu tá cùng nữ bá tước vẫn còn ở cách xa bờ sông. Tướng Éblé vừa châm lửa vào các cột trụ từ bờ bên kia. Mặc cho các cảnh báo, không ai trong số những người đang ào lên những tấm ván cứu mạng chịu lùi bước. Cây cầu không chỉ gãy sập vì quá nặng người bu lên; mà sức mãnh liệt của đợt sóng người lao về phía cái bờ định mệnh kia hung dữ đến nỗi một đám người lao xuống nước như một đợt tuyết lở. Không nghe thấy tiếng hét nào, mà chỉ có âm thanh sượng đục của một tảng đá rơi xuống nước; rồi dòng Berezina ngập xác chết. Chuyển động thụt lùi của những ai bước lui về cánh đồng để tránh cái chết kia thật dữ dội, và cú va chạm với những người đang tiến lên mạnh tới mức rất nhiều người bị ép chết ngạt. Bá tước và nữ bá tước de Vandières sống sót là nhờ cỗ xe của họ. Lũ ngựa, sau khi đè nát, ập lên một đám người hấp hối, cũng chết vì bị giẫm đạp dưới chân khối người đang ào ra chỗ bờ sông. Thiếu tá và anh lính tìm được sự cứu rỗi trong sức mạnh của họ. Họ giết người khác để khỏi bị giết. Cơn lốc mặt người kia, đợt sóng ào lên và sóng dồi các cơ thể được thúc đẩy bởi cùng một chuyển động gây ra kết quả là trong một lúc bờ sông Berezina trở nên hoang vắng. Đám đông đã bật ngược trở lại bình nguyên. Một số người từ bờ cao nhảy xuống nước, ít với hy vọng sang được bờ bên kia, nghĩa là, đối với họ, nước Pháp, hơn là để tránh các sa mạc Siberia. Nỗi tuyệt vọng trở thành một động lực cho vài con người quả cảm. Một sĩ quan nhảy từ mảng băng này sang mảng băng khác cho tới bờ bên kia; một người lính, như có phép mầu, trườn trên đống xác người và các tảng băng. Đám đông to lớn kia rốt cuộc cũng hiểu ra rằng quân Nga sẽ không giết hai mươi nghìn con người không vũ khí, đần độn, ngu xuẩn, chẳng hề tự vệ, và tất tật đợi số phận của mình với một sự nhẫn nhịn khủng khiếp. Khi ấy, chỉ còn lại thiếu tá, người lính của anh, ông tướng già và vợ ông, cách vài bước nơi từng có cây cầu. Họ ở đó, cả bốn đều đứng, mắt ráo hoảnh, im lìm, xung quanh là đống xác chết. Vài người lính còn lành lặn, vài sĩ quan thu nhặt được tàn hơi nhờ tình cảnh, cũng ở đó với họ. Cái nhóm khá lớn này gồm tổng cộng khoảng năm mươi người. Thiếu tá nhìn thấy cách đó hai trăm mét đống đổ nát của cây cầu dựng cho xe qua, và đã bị sập hôm trước đó.

“Ta hãy kết một cái bè”, anh kêu lên.

Anh vừa nói câu ấy khỏi miệng thì cả nhóm người đã chạy ngay về phía các phế tích. Một đám đông bắt tay thu nhặt những móc sắt, tìm các mảnh gỗ, dây, nói tóm lại là tất tật vật dụng cần thiết để kết một cái bè. Chừng hai mươi người lính cùng sĩ quan có vũ trang lập thành một đội gác do thiếu tá chỉ huy nhằm bảo vệ những người đang làm việc chống lại các cuộc tấn công tuyệt vọng mà đám đông có thể sẽ tổ chức khi đoán ra ý đồ của họ. Cảm giác về tự do khiến các tù nhân trở nên hoạt bát và truyền cho họ những phép mầu cũng không thể so sánh được với cảm giác đang làm những người Pháp bất hạnh kia năng nổ tay chân.

“Quân Nga! quân Nga!” những người đứng gác hét lên với những người đang làm việc.

Và các thanh gỗ hét lên, mặt sàn rộng ra, cao lên, sâu thêm. Tướng, lính, đại tá, tất tật, đều oằn mình dưới sức nặng của những bánh xe, thanh sắt, dây nhợ, tấm ván: cả một hình ảnh thực tế của việc dựng con thuyền của Noé. Nữ bá tước trẻ tuổi, ngồi cạnh chồng, quan sát cảnh tượng, hối tiếc vì không thể đóng góp gì cho công việc; tuy nhiên nàng cũng giúp buộc các nút dây. Cuối cùng, cái bè đã hoàn thành. Bốn mươi người hè nhau đẩy nó xuống nước, trong khi chừng một chục người lính giữ các sợi dây dùng để buộc nó gần bờ. Ngay khi những người làm bè thấy thành quả của mình nổi trên sông Berezina, họ lao ngay xuống đó từ trên bờ với một sự ích kỷ khủng khiếp. Thiếu tá, vốn đã e ngại sự náo loạn của đợt chuyển động đầu tiên này, cầm tay giữ chặt lấy Stéphanie và ông tướng; nhưng anh run lên khi thấy cái bè đông đặc người và người ta chen nhau trên đó giống như đám khán giả khu trước sân khấu một nhà hát.

“Lũ mọi rợ! anh kêu lên, tôi là người nghĩ ra việc kết bè cơ mà; tôi là người cứu mạng các anh, thế mà các anh từ chối cho tôi một chỗ.”

Một tiếng ồn ào náo loạn vang lên thay cho câu trả lời. Những người ở ngoài rìa cái bè, cầm gậy, họ chống gậy lên bờ, đẩy thật mạnh để hướng cái bè lao sang bờ bên kia, cũng như gạt các tảng băng và xác người.

“Chúa lòng lành! tao quẳng chúng mày xuống nước bây giờ, nếu chúng mày không nhận xuống đây thiếu tá và hai người cùng đi, anh lính kêu lên, anh ta vung kiếm, chặn không cho bè khởi hành, và bắt mọi người ép sát vào nhau, mặc cho những tiếng hét hãi hùng.

- Tôi ngã mất! tôi ngã! những người trên bè kêu lên. Đi thôi! tiến lên!”

Viên thiếu tá nhìn tình nhân bằng con mắt ráo hoảnh, nàng đang ngẩng đầu nhìn trời với một cảm giác nhẫn nhịn trác tuyệt.

“Chết cùng anh!” nàng nói.

Có cái gì đó thật hài hước trong hoàn cảnh của những người đã ở trên bè. Dẫu cho bọn họ gầm thét ầm ĩ, không ai dám cưỡng lại anh lính; vì quá đông, chỉ cần thêm một người nữa thôi là bè sẽ lật nhào. Trong cơn nguy khốn này, một viên đại úy tìm cách giũ khỏi người lính, nhưng anh ta nhận ra ý đồ của sĩ quan, liền tóm lấy anh ta và vứt xuống nước, vừa làm vậy vừa nói: “A! a! đồ con vịt, mày muốn uống nước phải không! Thế thì xuống đi!

- Có hai chỗ! anh ta kêu lên. Nào, thiếu tá, quẳng cô gái nhỏ bé của anh cho chúng tôi rồi xuống đi! Để anh già ngớ ngẩn kia lại, chỉ mai thôi là ông ta sẽ lăn ra chết.

- Nhanh lên! một giọng nói tổng hợp của cả trăm giọng nói vang lên.

- Nào, thiếu tá. Những người khác đang kêu ca đấy, và họ có lý.”

Bá tước de Vandières cởi bỏ quần áo, đứng đó trong quân phục tướng quân.

“Ta hãy cứu bá tước”, Philippe nói.

Stéphanie nắm chặt lấy bàn tay người bạn, lao vào anh và ôm lấy anh bằng một cú siết hãi hùng.

“Vĩnh biệt!” nàng nói.

Họ đã hiểu. Bá tước de Vandières dồn hết sức lực và tinh thần để nhảy xuống cái bè, rồi Stéphanie theo bước ông sau khi đưa ánh mắt cuối cùng nhìn về phía Philippe.

“Thiếu tá, anh có muốn chỗ của tôi không? Tôi chả thiết sống đâu, người lính bộ kêu lên. Tôi không vợ không con, mẹ cũng không nốt.

- Tôi giao họ cho anh, thiếu tá hét, chỉ tay vào bá tước và vợ.

- Cứ yên tâm, tôi sẽ hết lòng chăm sóc.”

Cái bè vội vã lao về phía bờ bên kia so với nơi Philippe đứng bất động, đến nỗi khi chạm đất cú đâm làm tất cả nháo nhào. Bá tước, đang đứng ở rìa, rơi xuống sông. Đúng lúc ông ngã, một tảng băng chặt đứt đầu ông, ném nó văng ra xa, như một viên đạn pháo.

“Hử! thiếu tá! anh lính hét lên.

- Vĩnh biệt!” một phụ nữ hét.

Philippe de Sucy ngã gục, đông cứng người vì hãi hùng, quỵ vì cái lạnh, vì nỗi hối tiếc và vì cơn mệt.

-----------

“Cô cháu gái[21] tội nghiệp của tôi đã phát điên, ông bác sĩ nói thêm sau một quãng im lặng. A! thưa ông, ông nói tiếp, cầm lấy tay ông d’Albon, cuộc đời đã thật tàn hại với con bé con ấy, trẻ đến thế, tinh tế đến thế! Sau khi, do một nỗi bất hạnh to lớn, bị tách khỏi anh lính bộ thuộc đội vệ binh, tên là Fleuriot, nó đã, trong vòng hai năm, bị lôi theo quân đội, trở thành món đồ chơi cho cả một đống bọn giẻ rách. Người ta kể với tôi là nó đi chân trần, quần áo rách rưới, hàng tháng trời không được ai chăm sóc, không được ăn gì; lúc thì được cho vào các bệnh viện, khi bị đuổi đi như một con vật. Chỉ Chúa mới biết cô gái xấu số ấy đã phải trải qua những nỗi bất hạnh nào, thế nhưng nó vẫn sống sót. Nó từng ở một thành phố nhỏ bên Đức, bị nhốt chung với những người điên, trong khi bố mẹ nó ở đây, cứ tưởng nó đã chết, chia nhau tiền thừa kế của nó. Năm 1816, anh lính Fleuriot nhận ra nó tại một quán trọ Strasbourg, nó vừa đến được đó sau khi trốn thoát khỏi nhà tù. Vài người nông dân kể cho anh lính rằng nữ bá tước đã sống một tháng tròn trong rừng, họ đã đuổi theo để bắt nó mà không nổi. Lúc đó tôi đang ở cách Strasbourg chỉ vài dặm. Nghe nói đến một cô bé man rợ, tôi nảy ra ham muốn kiểm tra các điều lạ thường từng cung cấp chất liệu cho những câu chuyện lố bịch. Tôi đã choáng váng đến mức nào khi nhận ra nữ bá tước? Fleuriot kể cho tôi tất tật những gì anh ta biết về câu chuyện tàn khốc đó. Tôi đưa người đàn ông khốn khổ ấy và cháu gái tôi về Auvergne, tại đó tôi không may mất anh ta. Anh ta có có một chút ảnh hưởng lên cô de Vandières. Chỉ anh ta bắt được con bé mặc quần áo. Vĩnh biệt! cái từ ấy đối với nó là toàn bộ ngôn ngữ, trước đây hiếm khi nó nói lắm. Fleuriot đã thử đánh thức ở trong nó vài ý nghĩ; nhưng anh ta đã thất bại, anh ta chỉ làm được độc một việc là khiến nó nói cái từ đáng buồn đó thường xuyên hơn mà thôi. Anh lính biết cách giải trí cho nó và khiến nó phải bận tâm bằng cách chơi đùa với nó; và nhờ anh ta, tôi từng hy vọng, nhưng…”

Ông bác của Stéphanie ngừng lời trong giây lát.

“Ở đây, ông nói tiếp, nó đã tìm được một người khác mà có vẻ nó rất hòa hợp. Đó là một bà nông dân ngu ngốc, người, mặc dù xấu xí và ngớ ngẩn, từng yêu một thợ nề. Tay thợ nề đó muốn lấy cô ta, bởi vì cô ta sở hữu một ít đất. Geneviève khốn khổ trong vòng một năm từng là con người hạnh phúc nhất trần đời. Cô ta trang điểm, Chủ nhật cô ta đi nhảy với Dallot; cô ta hiểu được tình yêu; có một chỗ trong trái tim và tinh thần cô ta dành cho một thứ tình cảm[22]. Nhưng Dallot đã suy đi tính lại. Anh ta tìm được một cô gái trẻ, chất phác lành lặn, lại còn có nhiều đất hơn so với Geneviève. Thế nên Dallot đã bỏ Geneviève. Con người khốn khổ ấy đánh mất đi chút trí óc mà tình yêu đã thúc đẩy phát triển ở cô ta, và chỉ còn biết làm độc một việc là chăn bò hoặc cắt cỏ. Cháu tôi cùng cô gái khốn khổ ấy theo cách nào đó kết hợp lại với nhau nhờ sợi dây vô hình của số phận chung giữa họ, và bởi thứ tình cảm nằm ở nguồn gốc chứng điên của họ. Này, nhìn này”, ông bác của Stéphanie nói, dẫn hầu tước d’Albon ra chỗ cửa sổ.

Viên quan tòa nhìn thấy nữ bá tước xinh đẹp ngồi dưới đất, giữa hai chân Geneviève. Bà nông dân, cầm một cái lược to tướng làm bằng xương, dồn hết sự chú tâm vào việc chải làn tóc dài màu đen của Stéphanie, còn nàng thì để mặc cho bà làm, thốt ra những tiếng hét nghèn nghẹt mà âm điệu để lộ một khoái cảm nắm bắt được nhờ trực giác. Ông d’Albon run lên khi chứng kiến sự buông thả của cơ thể và nỗi hờ hững như thú vật hé ra nơi nữ bá tước một sự vắng mặt hoàn toàn của tâm hồn.

“Philippe! Philippe! ông kêu lên, những nỗi bất hạnh đã qua còn chưa là gì. Tức là không còn hy vọng nào nữa?” ông hỏi.

Ông bác sĩ già ngẩng đầu lên nhìn trời.

“Tạm biệt, thưa ông, ông d’Albon nói, bắt tay ông già. Bạn tôi đang đợi, ông sẽ sớm gặp anh ấy thôi.”

“Đúng là nàng, Sucy kêu lên sau khi nghe những lời đầu tiên của hầu tước d’Albon. A! tôi vẫn còn nghi ngờ điều đó! ông nói thêm, vài giọt nước rơi xuống từ cặp mắt đen, mà biểu hiện vốn thường trực rất nghiêm khắc.

- Phải, đó chính là nữ bá tước de Vandières”, vị quan tòa đáp.

Đại tá đứng phắt dậy, vội vã mặc quần áo.

“Này này, Philippe, ông quan tòa sửng sốt nói, anh điên đấy à?

- Nhưng tôi đâu có còn đau yếu nữa, đại tá đáp, hết sức giản dị. Cái tin này đã chữa khỏi mọi đau đớn của tôi. Và đâu thể có nỗi đau nào nữa khi tôi nghĩ tới Stéphanie? Tôi đến Bons-Hommes đây, gặp cô ấy, nói chuyện với cô ấy, chữa cho cô ấy khỏi bệnh. Cô ấy tự do. Mà này, hạnh phúc sẽ mỉm cười với chúng tôi, bằng không thì chắc hẳn là chẳng hề có Thiên Hựu. Anh có tin rằng người phụ nữ khốn khổ ấy có thể nghe tôi nói mà không lấy lại lý trí không?

- Cô ấy đã nhìn thấy anh mà không nhận ra”, viên quan tòa dịu dàng trả lời, nhận thấy niềm hy vọng đầy phấn khích của bạn, ông tìm cách truyền sang những mối nghi ngờ nhiều tính chất cứu rỗi.

Đại tá run lên; nhưng rồi ông lại mỉm cười, để buột ra chút hồ nghi nho nhỏ. Chẳng ai cả gan ngăn cản dự đồ của đại tá. Chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ, ông đã chuyển tới sống hẳn tại khu tu viện cũ, bên cạnh ông bác sĩ và nữ bá tước de Vandières.

“Cô ấy đâu? anh kêu lên ngay khi đến nơi.

- Suỵt! ông bác của Stéphanie đáp. Nó đang ngủ. Đây, nó đây.”

Philippe nhìn thấy người phụ nữ điên khốn khổ nằm thu lu dưới mặt trời, trên một cái ghế băng. Đầu nàng được bảo vệ khỏi không khí nóng nực bởi một rừng tóc lòa xòa trên mặt; hai cánh tay duyên dáng thả xuống đất; nàng nằm đó, đầy duyên dáng, giống như một con nai; hai bàn chân nàng gập lại đặt dưới thân hình, không chút nỗ lực; ngực nàng phập phồng lên xuống đều đặn; làn da nàng, sắc độ, có cái màu trắng của sứ ấy, thứ khiến chúng ta ngưỡng mộ đến vậy khuôn mặt trong ngần của bọn trẻ con. Bất động bên cạnh nàng, Geneviève cầm trên tay một cành cây mà chắc hẳn Stéphanie đã bẻ từ ngọn một cây dương, và người phụ nữ ngu độn nhẹ nhàng phe phẩy cái cành nhiều lá ấy phía trên người bạn đang say ngủ, để xua ruồi và quạt mát. Bà nông dân nhìn ông Fanjat và đại tá; rồi, như một con thú vừa nhận ra chủ, bà ta chầm chậm quay mặt về phía nữ bá tước, và tiếp tục chăm lo cho nàng, không thể hiện dấu hiệu nhỏ nhất nào của ngạc nhiên hay trí tuệ. Trời nóng khủng khiếp. Cái ghế băng bằng đá như thể ánh ỏi lên, và đồng cỏ tuôn lên trời cao những luồng hơi tinh quái bay lơ lửng và sáng rực phía bên trên đám cỏ giống như một thứ bụi vàng; nhưng Geneviève như thể không cảm thấy cái nóng hầm hập đó. Đại tá dùng hai bàn tay siết thật mạnh tay ông bác sĩ. Hai hàng nước mắt tuôn ra trên mặt người quân nhân và chảy dọc xuống gò má cương nghị, rồi nhỏ xuống cỏ, dưới chân Stéphanie.

“Thưa ông, ông bác nói, đã hai năm nay ngày nào trái tim của tôi cũng tan nát. Rồi anh cũng sẽ sớm giống như tôi thôi. Có không khóc thì anh cũng sẽ chẳng thấy các đau đớn giảm mức độ đâu.

- Ông đã chữa trị cho cô ấy”, đại tá nói, ánh mắt vừa diễn đạt lòng biết ơn lại vừa cả sự ghen tuông[23].

Hai người đàn ông hiểu nhau; và, thêm lần nữa, siết chặt lấy tay nhau, họ đứng đó bất động chiêm ngưỡng sự yên bình đáng ngưỡng mộ mà giấc ngủ rải lên con người quyến rũ kia. Thỉnh thoảng, Stéphanie khẽ thở dài, và tiếng thở dài ấy, mang tất tật các dáng vẻ của năng lực cảm nhận, dễ dàng khiến viên đại tá khốn khổ run lên.

“Hỡi ôi, ông Fanjat dịu dàng nói, đừng ảo tưởng, thưa ông, vào lúc này chúng ta đang thấy nó như thể vẫn còn đầy đủ lý trí.”

Những ai từng bỏ hàng giờ sung sướng ngắm nhìn một người mà họ yêu đắm đuối nằm ngủ, mà cặp mắt sẽ mỉm cười với họ khi tỉnh dậy, hẳn sẽ hiểu cái tình cảm êm ái và khủng khiếp đang khuấy động đại tá. Đối với ông, giấc ngủ này là một ảo tưởng; sự thức dậy sẽ là một cái chết, và là cái chết kinh hãi nhất trong số mọi cái chết. Đột nhiên một chú dê con bằng ba bước nhảy lao về phía cái ghế băng, hít ngửi Stéphanie, đã bị đánh thức bởi tiếng động; nàng nhẹ nhõm đứng dậy, không làm cho con thú thất thường hoảng sợ; nhưng khi trông thấy Philippe, nàng liền bỏ trốn, theo sau là người bạn đồng hành bốn chân, đến chỗ một hàng rào cây cơm cháy; rồi, nàng thốt ra cái tiếng kêu nho nhỏ của con chim sợ hãi ấy, mà đại tá từng nghe ở gần hàng rào sắt nơi nữ bá tước xuất hiện trước ông d’Albon lần đầu tiên. Rốt cuộc, nàng trèo lên một cây giả lớn, ẩn mình vào trong màu lục của cái cây, và khởi sự nhìn người lạ với vẻ chú ý của con họa mi hiếu kỳ nhất trong khu rừng.

“Vĩnh biệt, vĩnh biệt, vĩnh biệt!” nàng nói, mà tâm hồn không truyền đi một chút cảm giác nào vào cái từ ấy.

Đó là vẻ thản nhiên của con chim đang hót líu lo.

“Cô ấy không nhận ra tôi, đại tá tuyệt vọng kêu lên. Stéphanie! Philippe đây, Philippe của em đây, Philippe.”

Và người quân nhân khốn khổ tiến về phía cái cây giả; nhưng khi anh còn cách đó ba bước chân, nữ bá tước nhìn anh, như để thách thức, dẫu cho một biểu hiện sợ hãi thoáng lướt qua mắt nàng; rồi, chỉ dùng một bước nhảy, nàng chuyền từ đó sang một cây keo và, từ cây keo, sang một cây thông Bắc, nơi nàng thoăn thoắt chuyền cành với một sự nhẹ nhõm tột cùng.

“Đừng đuổi theo nó, ông Fanjat nói với đại tá. Anh sẽ tạo ra giữa nó và anh một mối ác cảm rất có thể không sao vượt qua nổi; tôi sẽ giúp anh làm quen với nó và thuần hóa nó. Tới đây, chỗ cái ghế này. Nếu không để ý chút nào đến người điên tội nghiệp, thì anh sẽ sớm thấy nó dần dần sáp lại gần để săm soi anh.

- Nàng! không nhận ra tôi, và chạy trốn tôi”, viên đại tá nhắc đi nhắc lại, ngồi tụt xuống, lưng dựa vào một gốc cây có tán lá phủ bóng xuống một cái ghế băng thô mộc; và đầu anh gục xuống trước ngực. Bác sĩ im lặng. Rất mau chóng, nữ bá tước nhẹ nhàng tụt xuống từ trên cây thông, chập chờn lả lướt như một con đom đóm, đôi khi buông mình theo những gợn sóng mà gió tạo ra trên đám cây. Nàng dừng lại ở mỗi cành cây để rình người lạ; nhưng, thấy anh bất động, rốt cuộc nàng cũng nhảy xuống bãi cỏ, đứng thẳng dậy, và chầm chậm tiến về phía anh, băng qua bãi cỏ. Khi nàng đứng dựa vào một gốc cây cách cái ghế chừng mười bước chân, ông Fanjat thì thào nói với đại tá: “Anh hãy thật khéo léo lấy từ túi áo bên phải của tôi vài mẩu đường, và chìa cho nó thấy, nó sẽ đi đến; tôi sẵn lòng từ bỏ, nhường cho anh, niềm sung sướng cho nó ăn. Nhờ có đường, mà nó rất mê, anh sẽ làm cho nó quen với việc lại gần anh và nhận ra anh.

- Hồi còn là phụ nữ, Philippe buồn thảm đáp, cô ấy không hề thích ăn các món ngọt.”

Khi viên đại tá ve vẩy về phía Stéphanie mẩu đường mà ông kẹp vào giữa ngón cái và ngón trỏ tay phải, nàng lại thốt ra tiếng hét man rợ, và vội lao về phía Philippe; rồi nàng dừng khựng, bị hành hạ bởi nỗi sợ bản năng mà anh gây ra với nàng; nàng hết nhìn mẩu đường lại quay mặt đi, giống những con chó khốn khổ bị chủ của chúng cấm động vào một món ăn trước khi nghe xong vài chữ cái được đánh vần thật chậm. Rốt cuộc dục vọng thú vật chiến thắng nỗi sợ; Stéphanie lao bổ vào Philippe, rụt rè chìa bàn tay nâu nâu xinh đẹp ra để cầm lấy món mồi, chạm vào các ngón tay người tình của nàng, chộp lấy miếng đường rồi biết mất vào trong một bụi cây. Cái cảnh khủng khiếp ấy gây bức bối khủng khiếp cho viên đại tá, ông òa lên khóc và chạy trốn vào phòng khách.

“Như vậy tình yêu ít can đảm hơn tình bạn? ông Fanjat nói với ông. Tôi vẫn còn hy vọng, thưa ông nam tước. Đứa cháu gái tội nghiệp của tôi từng ở trong tình trạng tàn hại hơn nhiều so với những gì mà anh vừa chứng kiến.

- Có thể thế được chăng? Philippe kêu lên.

- Nó còn trần truồng cơ”, ông bác sĩ đáp.

Đại tá phác một cử chỉ chất chứa kinh hoàng, mặt tái nhợt đi; ông bác sĩ nghĩ mình nhận ra trong cú tái mặt kia vài triệu chứng nguy hiểm, ông bèn bắt mạch, và thấy Philippe đang lên một cơn sốt dữ dội; nằn nì mãi, ông cũng bắt được Philippe đi nằm, và cho dùng một liều thuốc phiện nhỏ, nhằm khiến bệnh nhân ngủ được yên bình.

Chừng tám ngày đã trôi qua, trong quãng thời gian ấy nam tước de Sucy thường trực phải đối diện với những cơn hoảng sợ chết người; vậy nên rất mau chóng ông không còn khóc được nữa. Tâm hồn ông, liên tục tan vỡ, không sao quen nổi với cảnh tượng chứng điên của nữ bá tước, nhưng, có thể nói vậy, ông ký thỏa thuận với cái hoàn cảnh tàn nhẫn này, và tìm được những giảm dịu ngay bên trong nỗi đau đớn. Sự anh hùng của ông không biết đến giới hạn. Ông có đủ can đảm để thuần hóa Stéphanie, chọn cho nàng mấy món ăn ngọt; ông đặt biết bao chăm chút vào việc mang đồ ăn tới cho nàng, ông rành vô cùng cách thức leo dần lên, qua những cuộc chinh phục nho nhỏ mà ông muốn thực hiện đối với bản năng của người tình, cái mảnh cuối cùng đó của trí tuệ nơi nàng, thành thử ông biến được nàng trở nên thân thiết hơn bất kỳ lúc nào khác. Sáng nào đại tá cũng đi xuống khu vườn; và nếu, sau khi tìm kiếm rất lâu nữ bá tước, mà không đoán được nàng đang đu đưa mềm oặt trên cái cây nào, hay đang thu lu trong góc nào để chơi đùa với một chú chim, cũng như đã leo lên mái nhà nào, thì ông huýt sáo theo điệu bài hát nổi tiếng: Partant pour la Syrie[24], vốn dĩ gắn liền với kỷ niệm về một xen trong cuộc tình giữa họ. Ngay tức khắc Stéphanie lao tới với vẻ nhẹ nhõm của một con hoẵng. Nàng đã quá quen với việc gặp đại tá, thành ra ông không còn khiến nàng sợ hãi nữa; nàng mau chóng có thói quen ngồi lên lòng ông, quàng cánh tay gầy và hoạt bát của mình quanh người ông. Trong dáng điệu ấy, thân thuộc đến thế với những người tình, Philippe chậm rãi đưa vài miếng đường cho nữ bá tước háu ăn. Sau khi đã chén sạch, thường Stéphanie sẽ kiểm tra các túi áo của người bạn với những cử chỉ chứa đựng tốc lực máy móc trong động tác loài khỉ. Chừng nào đã chắc chắn không còn lại gì, nàng nhìn Philippe bằng ánh mắt sáng, không chút suy nghĩ, không chút nhận ra; khi ấy nàng bắt đầu chơi đùa với ông; nàng tìm cách giật đôi bốt ra để xem chân ông, nàng xé găng tay của ông, đội mũ của ông; nhưng nàng để cho ông luồn tay vào mái tóc của nàng, cho phép ông ôm lấy mình, và đón nhận không chút khoái cảm những nụ hôn nồng nhiệt; rốt cuộc, nàng lặng lẽ nhìn ông khi ông rơi lệ; nàng hiểu rõ tiếng huýt sáo của Partant pour la Syrie, nhưng ông không sao dạy được cho nàng phát âm tên của chính nàng, Stéphanie! Philippe được nâng đỡ trong công trình khủng khiếp của mình bởi một niềm hy vọng không bao giờ rời bỏ ông. Nếu, một sáng đẹp trời mùa thu, ông chứng kiến nữ bá tước yên bình ngồi trên một cái ghế băng, dưới tán một cây dương lá đã nhuốm vàng, thì người tình khốn khổ sẽ nằm xuống dưới chân nàng, và nhìn vào mắt nàng cho tới khi nào nàng còn chịu để cho ông nhìn, hy vọng rằng ánh sáng tỏa ra từ đó sẽ quay trở lại có chứa đựng trí tuệ; đôi khi, ông tự gây ảo tưởng, ông nghĩ mình thoáng trông thấy những tia nhìn cứng rắn và bất động kia, đã lại rung lên, mềm đi, sống động, và ông kêu lên: “Stéphanie! Stéphanie! em có nghe thấy anh! em có nhìn thấy anh!” Nhưng nàng nghe âm thanh giọng nói này như thể đó là một tiếng ồn, như một nỗ lực của cơn gió đang lay động các tán cây, như tiếng kêu của con bò cái mà nàng đang cưỡi trên lưng; và thế là đại tá vặn vẹo hai bàn tay trong cơn tuyệt vọng, nỗi tuyệt vọng lúc nào cũng mới nguyên. Thời gian và những thử thách vô vọng đó chỉ càng làm tăng thêm nỗi đau đớn nơi ông. Một tối nọ, bầu trời êm ả, ngay chính giữa sự im lặng và bình yên của cái chốn trú ẩn đồng quê ấy, bác sĩ nhìn thấy từ xa nam tước đang nạp đạn cho một khẩu súng ngắn. Ông bác sĩ già hiểu rằng Philippe đã hết hy vọng; ông cảm thấy toàn bộ máu trong người dồn lên, và ông cố cưỡng lại trước cơn chóng mặt đang xâm chiếm lấy ông là bởi ông muốn chứng kiến cô cháu gái sống và điên còn hơn là chết. Ông chạy bổ tới.

“Anh làm gì thế hả! ông hỏi.

- Cái này là để cho tôi, đại tá đáp, đưa tay chỉ một khẩu súng đã nạp đạn đặt trên ghế băng, còn đây là cho cô ấy!” anh nói thêm, nhồi nốt cho xong thuốc vào khẩu súng mà ông đang cầm trên tay.

Nữ bá tước đang nằm trên mặt đất, nghịch mấy viên đạn.

“Tức là anh không biết, ông bác sĩ lạnh lùng nói, che giấu nỗi hãi hùng của mình đi, rằng đêm hôm qua, trong lúc ngủ, nó đã nói: “Philippe!”

- Cô ấy đã gọi tên tôi!” nam tước kêu lên, để rơi khẩu súng, Stéphanie bèn nhặt lấy nó; nhưng ông giật nó khỏi tay nàng, nhặt luôn khẩu đang nằm trên ghế băng, và chạy đi.

“Con bé khốn khổ”, ông bác sĩ kêu lên, sung sướng vì trò lừa của mình đã phát huy tác dụng. Ông ông chầm lấy cô gái điên vào lòng, và nói tiếp: “Anh ta thiếu điều đã giết cháu mất rồi, cái đồ ích kỷ đó! anh ta muốn khiến cháu chết, bởi vì anh ta đau đớn. Anh ta không biết cách yêu cháu vì bản thân cháu, con gái ạ! Chúng ta sẽ tha thứ cho anh ta, có phải không nào? anh ta ngu lắm, còn cháu? cháu thì chỉ điên thôi. Nào! Chỉ Chúa mới có quyền gọi cháu về bên Người. Chúng ta cứ tưởng cháu bất hạnh, bởi vì cháu không còn tham gia cùng chúng ta trong những nỗi khốn cùng, chúng ta nghếch thật! Nhưng, ông nói, đặt nàng ngồi lên đầu gối, cháu sung sướng, chẳng gì có thể gây phiền cho cháu; cháu sống như một con chim, như con hoẵng.”

Nàng lao về phía một con chim hét còn non đang nhảy choi choi, tóm lấy nó, hét lên một tiếng nho nhỏ đầy khoái trá, bóp nghẹt nó, chứng kiến nó chết, rồi thả xuống một gốc cây, không nghĩ gì đến nữa.

Hôm sau, ngay lúc tảng sáng, đại tá xuống dưới vườn, tìm Stéphanie, ông tin tưởng vào hạnh phúc; không tìm thấy nàng, ông bèn huýt sáo gọi. Khi người tình đã tới, ông ôm nàng vào lòng; và, lần đầu tiên cùng bước đi, họ tới bên dưới một tán lá kết bện bên trên với các tán rủ xuống trong làn gió ban mai. Đại tá ngồi xuống, còn Stéphanie tự dựa vào ông. Philippe run lên vì khoái cảm.

“Tình yêu của anh, ông nói, nồng nhiệt hôn lên tay nữ bá tước, anh là Philippe đây.”

Nàng nhìn ông, vẻ tò mò.

“Tới đây, ông nói thêm, siết lấy người nàng. Em có thấy tim anh đập không? Nó từng chỉ đập vì em. Anh vẫn yêu em. Philippe chưa chết, hắn đang ở đây, em đang dựa vào hắn. Em là Stéphanie của anh, còn anh là Philippe của em.

- Vĩnh biệt, nàng đáp, vĩnh biệt.”

Đại tá run lên, vì ông tưởng đâu mình vừa thoáng thấy nỗi phấn khích của mình truyền sang được cho người tình. Tiếng hét xé ruột của ông, bị kích động bởi niềm hy vọng, cái nỗ lực cuối cùng ấy của một tình yêu vĩnh cửu, của một niềm đam mê điên rồ, đánh thức được lý trí nơi người bạn gái của ông.

“A! Stéphanie, chúng ta sẽ được hạnh phúc.”

Nàng buột ra một tiếng hét đắc thắng, và mắt nàng thoáng hiện một tia chớp trí tuệ mơ hồ.

“Cô ấy nhận ra tôi! Stéphanie!”

Đại tá cảm thấy trái tim ông phồng lên, mí mắt ông ướt đẫm. Nhưng đột nhiên ông thấy nữ bá tước chìa cho ông xem chút đường mà nàng vừa tìm thấy trong lúc lục túi ông, khi ông còn đang nói. Vậy là, ông đã nhầm tưởng đó là một suy nghĩ con người, cái mức độ lý trí kia, mà sự ma mãnh của loài khỉ có thể có. Philippe ngất xỉu. Ông Fanjat thấy nữ bá tước ngồi lên người viên đại tá. Nàng nhấm nháp miếng đường, bày tỏ khoái thú của mình bằng các những uốn éo mà hẳn người ta sẽ ngưỡng mộ nếu, hồi vẫn còn lý trí, nàng định bắt chước để đùa chơi con vẹt hoặc con mèo của nàng.

“A! ông bạn, Philippe kêu lên khi tỉnh dậy, ngày nào tôi cũng chết đi sống lại, vào mọi khoảnh khắc! Tôi yêu quá đắm say! Hẳn tôi sẽ chịu được mọi điều nếu, trong cơn điên, cô ấy còn giữ được một chút nữ tính. Nhưng chứng kiến cô ấy lúc nào cũng mọi rợ và thậm chí chẳng có chút thẹn thùng nào, chứng kiến cô ấy…

- Vậy chắc cái anh cần là một chứng điên của nhà hát opera, ông bác sĩ đáp, cay độc. Và tức là những tận tâm tình yêu của anh được đặt dưới các định kiến có phải không? Sao nào! thưa ông, tôi đã né ra để nhường cho anh niềm hạnh phúc đáng buồn là được cho cháu gái tôi ăn, tôi đã để lại cho anh nỗi khoái trá chơi đùa với nó, tôi chỉ giữ về phần mình các trách nhiệm nặng nề nhất. Trong khi anh ngủ, thì tôi trông coi nó, tôi… Nào, thưa ông, bỏ nó đi. Hãy rời khỏi chốn trú ngụ này. Tôi biết cách sống cùng tạo vật nhỏ bé yêu quý kia; tôi hiểu chứng điên của nó, tôi rình các cử chỉ của nó, tôi chia sớt các bí mật với nó. Rồi một ngày anh sẽ phải cảm ơn tôi.”

Đại tá rời Bons-Hommes, chỉ quay lại đó đúng một lần. Ông bác sĩ kinh hoảng trước hiệu ứng mà ông đã gây ra lên người khách, ông bắt đầu đem lòng yêu đại tá, thay cho cô cháu gái[25]. Nếu trong hai người tình có một người xứng đáng được thương hại, thì chắc chắn đó là Philippe: chẳng phải một mình ông gánh lấy khối nặng của một nỗi đau đớn kinh khiếp đấy ư! Ông bác sĩ tìm hiểu thông tin về đại tá, và biết được rằng con người bất hạnh đã ẩn thân vào một mảnh đất mà ông sở hữu gần Saint-Germain. Nam tước đã, do một giấc mơ dẫn lối, lên một dự định nhằm trả lại lý trí cho nữ bá tước. Giấu biệt ông bác sĩ, ông sử dụng phần mùa thu còn lại cho những công việc chuẩn bị cái công trình khổng lồ kia. Một dòng sông nhỏ chảy trong khu vườn lớn của ông, nơi nó làm ngập nước vào mùa đông một đầm lấy lớn trông hơi giống đầm lầy nằm dọc theo hữu ngạn con sông Berezina. Ngôi làng Satout, nằm trên một ngọn đồi, đủ dùng để lộng khung quang cảnh hãi hùng này, giống như Studzianka bao bọc lấy bình nguyên Berezina. Đại tá tập hợp công nhân để đào một con kênh tái hiện dòng sông ăn thịt người nơi các báu vật của nước Pháp, Napoléon và đội quân của ông, đã chìm nghỉm. Được các kỷ niệm trợ sức, Philippe sao chép lại trong khu vườn cái bờ sông nơi tướng Éblé đã dựng mấy cây cầu. Ông cắm các cọc rồi đốt chúng đi nhằm sao trông cho giống đống dầm đen thui cháy dở, chúng, ở cả hai bên bờ, chứng nhận cho những người chậm chân rằng con đường quay về Pháp đã khép lại. Đại tá cho mang đến những đống đổ nát tương tự những gì mà các bạn đồng hành trong khốn khó của ông từng sử dụng để kết bè. Ông tàn phá khu vườn, với mục đích hoàn chỉnh ảo tưởng trên đó ông xây dựng niềm hy vọng cuối cùng của mình. Ông đặt mua các bộ quân phục và quần áo rách nát, để mặc lên người vài trăm nông dân. Ông dựng những cái lán, doanh trại, các ụ pháo rồi đốt chúng. Nói tóm lại, ông chẳng quên một điều gì trong số những thứ có thể tái tạo cái cảnh ghê gớm nhất trong số mọi cảnh, và ông đi được tới mục đích của mình. Quãng những ngày đầu tháng Chạp, khi tuyết đã phủ lên mặt đất một lớp trắng dày, ông nhận ra Berezina. Cái nước Nga giả này trông thật đến đáng sợ, tới mức nhiều bạn đồng đội của ông nhận ra cảnh tượng những khốn cùng cũ của họ. Ông de Sucy giữ bí mật về màn tái hiện bi thảm này, về nó, thời ấy, nhiều xã hội Paris coi là một cơn điên.

Đầu tháng Giêng năm 1820, đại tá lên một cỗ xe trông giống cỗ xe mà ông đã dùng để đưa ông bà de Vandières từ Matxcơva đến Studzianka, và đánh về phía khu rừng L’Isle-Adam. Nó được kéo bởi hai con ngựa hao hao hai con mà ông đã liều mạng sống đi cướp về từ hàng ngũ quân Nga. Ông mặc trên người những quần áo bẩn thỉu và kỳ cục, mang vũ khí, đầu tóc giống y như cái ngày 29 tháng Mười một năm 1812. Thậm chí ông còn để cho râu tóc mọc dài, và không chăm lo tỉa tót khuôn mặt, sao cho không gì bị thiếu hụt ở trong cái sự thật gớm ghê ấy.

“Tôi đoán được ý định của anh rồi, ông Fanjat kêu lên khi thấy đại tá từ cỗ xe bước xuống. Nếu anh muốn thành công, thì đừng có dùng cỗ xe đó. Tối nay, tôi sẽ cho cháu tôi uống một chút thuốc phiện. Trong lúc nó ngủ, chúng ta sẽ ăn mặc cho nó giống như hồi Studzianka, rồi chúng ta cho nó lên cỗ xe này. Tôi sẽ đi theo trên một xe khác.”

Quãng hai giờ sáng, nữ bá tước được đưa lên xe, đặt lên mấy cái gối, người quấn trong một tấm chăn thô kệch. Vài người nông dân soi đèn rọi cho cuộc bắt cóc kỳ dị. Đột nhiên, một tiếng hét lanh lảnh vang lên trong màn đêm im lìm. Philippe và ông bác sĩ ngoái đầu lại và nhìn thấy Geneviève, trần như nhộng, đi ra từ căn phòng thấp nơi bà ta ngủ.

“Vĩnh biệt, vĩnh biệt, hết rồi, vĩnh biệt, bà ta hét lên, khóc nức nở.

- Ơ này, Geneviève, cô làm sao thế?” ông Fanjat hỏi bà ta.

Geneviève lắc lắc đầu tỏ vẻ tuyệt vọng, giơ tay lên cao, nhìn cỗ xe, làu nhàu một hồi dài, bày tỏ những dấu hiệu hiển nhiên của một nỗi hãi hùng sâu sắc, rồi im lặng quay trở vào.

“Điềm tốt đấy, đại tá kêu lên. Người phụ nữ kia tiếc nuối vì mất bạn đồng hành. Có lẽ bà ta nhìn thấy Stéphanie sẽ khôi phục được trí óc.

- Cầu Chúa cho được như vậy”, ông Fanjat đáp, ông tỏ ra bị chấn động mạnh trước sự cố này.

Kể từ khi bắt đầu quan tâm đến chứng điên, ông từng gặp nhiều ví dụ về tinh thần tiên tri và năng lực sở hữu cái nhìn thứ hai, mà bằng chứng được cung cấp bởi những người bệnh, và cũng có thể thấy, nếu căn cứ vào nhiều người du hành, ở các bộ lạc dã man.

Đúng như đại tá đã tính toán, Stéphanie băng qua cánh đồng Berezina hư cấu vào khoảng chín giờ sáng, nàng tỉnh dậy vì một phát đạn moóc-chê bắn cách nơi cảnh tượng diễn ra chừng trăm bước. Đó là một dấu hiệu. Một nghìn nông dân la hét inh ỏi, giống tiếng reo hò tuyệt vọng sẽ gây chấn động mạnh nơi người Nga, lúc mà hai mươi nghìn người chậm chân chứng kiến mình, do lỗi của chính họ, bị dồn tới chỗ chết hoặc làm nô lệ. Nghe tiếng hét đó, phát đạn pháo đó, nữ bá tước nhảy vọt ra khỏi cỗ xe, vẻ hoảng sợ điên rồ chạy trên khoảng tuyết, nhìn thấy các doanh trại bị đốt cháy, và cái bè định mệnh mà người ta đang đẩy xuống một con sông Berezina đông giá. Thiếu tá Philippe đang ở đó, huơ thanh kiếm trước đám đông. Bà de Vandières hét lên với anh một tiếng làm đông cứng mọi trái tim lại, và đứng sững trước mặt đại tá, đang thở hổn hển. Nàng hồi tâm, trước hết mơ hồ nhìn quang cảnh lạ thường kia. Trong một khoảnh khắc cũng chóng vánh như tia chớp, cặp mắt nàng lại có dáng vẻ sáng suốt không gợn chút trí tuệ nào mà chúng ta chiêm ngưỡng trong con mắt ngời sáng của lũ chim; rồi nàng đưa tay lên trán với biểu hiện sống động của một người đang suy tưởng, nàng nhìn cái kỷ niệm đang sống kia, cái cuộc đời đã qua được dịch chuyển ra trước nàng, vội vã ngoái đầu nhìn sang Philippe, và nhìn thấy ông. Một sự im lặng kinh khiếp ngự trị đám đông. Đại tá thở khò khè, không dám cất lời, ông bác sĩ thì khóc. Khuôn mặt đẹp của Stéphanie yếu ớt ửng hồng lên; rồi, từ sắc độ này qua sắc độ khác, rốt cuộc nàng đã lấy lại vẻ rạng rỡ của một thiếu nữ lấp lánh vẻ tươi tắn. Khuôn mặt nàng trở nên có màu tía thật đẹp. Cuộc sống và hạnh phúc, được thúc đẩy bởi một trí tuệ rực cháy, dần dà lan rộng giống như một đám cháy. Một cơn run rẩy mãnh liệt chạy từ chân lên đầu. Rồi các hiện tượng đó, bừng lên trong một khoảnh khắc, như thể có một dây liên hệ chung vào lúc đôi mắt Stéphanie bắn ra một tia nhìn của trời cao, một ngọn lửa rừng rực. Nàng đang sống, nàng đang nghĩ! Nàng run lên, có lẽ vì kinh hoàng! Đích thân Chúa thêm một lần nữa tháo gỡ cho cái lưỡi đã chết kia, và lại tung lửa của mình vào trong cái tâm hồn tắt ngấm ấy. Ý chí con người ào tới theo những dòng thác điện và gây sống động cho cái cơ thể kia, nơi nó đã vắng mặt từ biết bao lâu rồi.

“Stéphanie, đại tá hét lên.

- Ôi! Philippe kìa”, nữ bá tước khốn khổ nói.

Nàng lao vào vòng tay run rẩy mà đại tá chìa ra, và cái ôm siết của cặp tình nhân làm các khán giả phải hoảng sợ. Stéphanie òa lên khóc. Đột nhiên những giọt nước mắt của nàng khô đi, elle người nàng trở nên khô héo như thể vừa bị sét đánh trúng, và thì thào nói: “Vĩnh biệt, Philippe. Em yêu anh, vĩnh biệt!

- Ôi! cô ấy chết rồi”, đại tá kêu lên, nới lỏng vòng tay.

Ông bác sĩ già đón lấy cơ thể cạn sức sống của cô cháu gái, hôn nàng như thể ông là một chàng thanh niên, bế nàng lên rồi ngồi xuống cùng nàng trên một đống gỗ. Ông ngắm nhìn nữ bá tước, đặt lên trái tim nàng một bàn tay già nua và run rẩy dữ dội. Tim không còn đập nữa.

“Như vậy tức là đúng, ông nói, hết nhìn viên đại tá đứng bất động lại nhìn sang khuôn mặt Stéphanie trên đó cái chết đang tỏa rộng vẻ đẹp rực rỡ ấy, vòng hào quang thoáng qua, có lẽ là điều đảm bảo cho một tương lai sáng ngời. Phải, nó chết rồi.

- A! nụ cười ấy, Philippe kêu lên, ông có thấy cô ấy cười không! Có thể thế được chăng?

- Người nó lạnh rồi”, ông Fanjat đáp.

Ông de Sucy đi vài bước để bứt ra khỏi cảnh tượng này; nhưng ông dừng lại, huýt sáo giai điệu mà người phụ nữ điên hiểu được và, không thấy người tình chạy bổ tới, lảo đảo đi ra xa, giống như một người say rượu, vẫn tiếp tục huýt sáo, nhưng không ngoái đầu lại nữa.

Trong xã hội, tướng Philippe de Sucy bị xem là một người rất khả ái và nhất là rất vui tươi. Cách đây vài hôm một quý bà khen ngợi ông về tâm trạng phơi phới và sự cân bằng trong tính cách nơi ông.

“A! thưa bà, ông đáp, tôi trả giá rất đắt cho những câu nói đùa của tôi đấy, vào buổi tối, chừng nào chỉ còn lại một mình.

- Tức là không bao giờ ông ở một mình?

- Không”, ông mỉm cười đáp.

Nếu một người quan sát lành nghề bản tính con người vào lúc đó có thể chứng kiến biểu hiện của bá tước de Sucy, hẳn có lẽ người ấy sẽ phát run.

“Tại sao ông không lấy vợ? quý bà kia lại hỏi, bà có nhiều con gái đang gửi tại một ký túc xá. Ông giàu, tước vị cao, dòng dõi quý tộc lâu đời; ông lại có tài, có tương lai, mọi điều đều mỉm cười với ông.

- Vâng, ông đáp, nhưng có một nụ cười giết chết tôi.”

Ngày hôm sau quý bà kinh ngạc biết tin ông de Sucy đã dùng súng bắn tung đầu trong đêm. Xã hội thượng lưu bình luận hết sức đa dạng về sự kiện lạ thường này, và ai ai cũng cố công tìm hiểu nguyên nhân. Tùy theo gu của mỗi nhà lập luận, bài bạc, tình yêu, tham vọng, các lộn xộn bị che giấu, là nguyên do cho thảm họa ấy, đằng sau cảnh một tấn kịch đã khởi sự vào năm 1812. Chỉ hai người, một vị quan tòa và một ông bác sĩ già, biết rằng ông bá tước de Sucy thuộc về số những người đàn ông mạnh mẽ mà Chúa đã trao cho cái sức mạnh bất hạnh là có thể ngày ngày chiến thắng thoát ra khỏi một trận đánh khủng khiếp, trước một con quái vật lạ mặt nào đó. Rằng, trong một khoảnh khắc, Chúa rụt bàn tay quyền lực của mình lại, và thế là họ quỵ ngã.

Paris, tháng Ba năm 1830

-----------

[1] Chú thích này hoàn toàn không để nói đến địa danh: bản thân địa danh ấy sẽ được giải thích kỹ lưỡng trong câu chuyện; nhưng, “L’Isle-Adam” ngay lập tức khiến bất kỳ ai có chút hiểu biết về văn chương nghĩ đến Villiers de L’Isle-Adam, nhà văn lớn của giai đoạn cuối thế kỷ 19 (sinh sau Balzac khoảng bốn mươi năm); một nhà văn rất lớn nhưng hiện nay bị lãng quên quá nhiều; Villiers de L’Isle-Adam đặc biệt hâm mộ Balzac và đến lượt mình, Villiers de L’Isle-Adam lại rất được hâm mộ bởi một nhà văn thuộc một giai đoạn ngay tiếp sau đó: Joris-Karl Huysmans.
[2] Mốc thời gian (1819) của câu chuyện rất quan trọng để hiểu các tình tiết về sau.
[3] Đại tá Philippe de Sucy tham gia Chiến dịch Nga của Napoléon, sau khi Đội quân Vĩ Đại thua trận, de Sucy bị lính Nga bắt, giam ở Siberia, từ 1812 đến 1818.
[4] Đọc Balzac thường xuyên ta rơi vào những pha phải nói là vô cùng ngớ ngẩn như thế này; hết sức cụ thể và chuẩn xác trong hầu hết các chi tiết, nhưng nhiều khi Balzac nói ngược chính mình chỉ sau vài dòng: ở trên vừa nói de Sucy và d’Albon từng là bạn học cũ, ở đây thì họ đã hơn kém nhau đến mười tuổi.
[5] Trong một thời gian dài nhiều thế kỷ, trong truyền thống phương Tây, người ta xếp Épicure vào “Khoái lạc chủ nghĩa”, một điều hoàn toàn sai; dường như điều này bắt nguồn từ một câu thơ của nhà thơ La Mã Horace.
[6] Đây là điều luật quy định án tử hình.
[7] Nên dùng google thần diệu.
[8] Đã chú thích về nhân vật này ở đâu đó, giờ chưa nhớ ra ngay.
[9] Thủ phủ của Bourbonnais, vùng Auvergne.
[10] Balzac, ở đây, lấy cảm hứng từ một lý thuyết y học cho rằng sự đói ngăn cản quá trình đông và nghẽn mạch máu; trong Viên bác sĩ nông thôn cũng xuất hiện cùng ý tưởng này.
[11] Napoléon cho dựng trên sông Berezina hai cây cầu, một cho pháo binh, một cho bộ binh; cầu thứ nhất bị sập.
[12] Dường như Balzac thu thập các chi tiết ở đây nhờ đọc Ségur (nhân vật có tên được dùng để đặt cho một bến tàu điện ngầm Paris hiện nay).
[13] Tức là thống chế Victor.
[14] Các câu chuyện còn lại chỉ cho thấy rằng Éblé nhận lệnh đốt cây cầu trên sông Berezina.
[15] Quả thật, Éblé sẽ bỏ mạng không lâu sau đó, nhưng là tại Koenigsberg (thuộc Phổ).
[16] Cây cầu bắc qua sông Berezina phục vụ cho cuộc tháo chạy của đội quân Napoléon đứng vững nhờ một nhóm lính ngâm mình dưới nước; Balzac xây dựng một nhân vật của mình từ đó: người duy nhất còn sống sót trong số toán lính ngâm nước; đó là một nhân vật phụ của Viên bác sĩ nông thôn; ở đây Balzac đang ám chỉ đến nhân vật ấy.
[17] Đại khái là một điệu nhảy hồi ấy.
[18] Ta đã gặp cấp bậc “thiếu tá” (major) này vài lần, rải rác trong các tiểu thuyết thuộc Vở kịch con người; cần hiểu rõ là thời Napoléon, thiếu tá là sĩ quan tại trung đoàn phụ việc cho đại tá, chủ yếu lo về trang thiết bị, khí tài.
[19] Đây là một “grenadier”; grenadier là lính chuyên phóng lựu, phóng bom, chiến đấu bằng cách gây cháy nổ; tuy nhiên, thời Napoléon, những người lính được gọi như thế này lại thuộc hàng tinh binh, được phân bổ vào các đơn vị bộ binh; họ được dùng kiếm, tức là khác với bộ binh bình thường chỉ có lưỡi lê; xem thêm về tổ chức quân đội, nhất là hàng ngũ quân tinh nhuệ, của Napoléon ở đoạn đầu Người phụ nữ tuổi ba mươi.
[20] Lúc này, quân đội của Napoléon vẫn còn căn cứ vững chãi tại Wilna (thuộc đất Nga).
[21] Mối quan hệ giữa nữ bá tước và ông bác sĩ Fanjat là cháu gọi là chú/bác/cậu.
[22] Y học thời đó sẵn sàng tin vào tác động của tình yêu lên một số chứng bệnh tâm lý và tâm thần.
[23] Rất phức tạp.
[24] “Khởi hành đi Syria”: một bài hát rất thịnh hành thời ấy.
[25] Lại càng phức tạp hơn nữa.




XII. Một người con gái của Eva
XI. Rực rỡ và khốn cùng của kỹ nữ
X. Ursule Mirouët
Balzac và Flaubert
IX. Louis Lambert
VIII. Nàng tình nhân hờ (đầy đủ)
[tiện bút] Đọc Balzac ở Hà Nội
VII. Người phụ nữ tuổi ba mươi (phần 1)
(phần 2)
VI. Viên bác sĩ nông thôn
Trở về cổ điển: Balzac - Vở kịch con người
V. Một vụ việc ám muội (phần 1)
(phần 2)

(phần 3)
IV. Albert Savarus (phần 1)
(phần 2)
III. Séraphîta
II. Ferragus (phần 1)
(phần 2)
(phần 3)
I. Mặt bên kia của lịch sử hiện thời
Vinh quang và một cốc nước cho Honoré de Balzac

8 comments:

  1. Chị ơi, chị sẽ xoay mấy vòng Balzac?

    ReplyDelete
  2. Đa tạ Đại Nhân ;)

    ReplyDelete
  3. quay thì chủ yếu phải tùy thuộc vào chất lượng compas

    ReplyDelete
  4. Balzac miêu tả nhân dáng->biểu lộ nội tâm nhân vật thật là thần sầu. Cả những đoạn tả cảnh nữa, đọc tới đâu thấy run rẩy tới đó, cứ như bức tường đầy rêu loang lổ kẽ nứt đang chắn trước mặt...

    ReplyDelete
  5. Đọc đi đọc lại thật chậm rãi vẫn thấy hay. Bên cạnh đó, nhờ cái note số 7 em tìm ra cái villa Thébaïde, 250 rue Albert Camus (thần diệu chưa:p) Cho em bá cổ anh xuống áp má cám ơn nhé!

    ReplyDelete
  6. không không, vớ vẩn, áp áp cái gì

    ReplyDelete
    Replies
    1. hihi sao cấm người ta tưởng tượng được, kệ kệ không không kệ kệ vớ vẩn, cứ níu cổ xuống thôi :P

      Delete
  7. nhân cái "ngắn ngắn" này dịp cám ơn người dịch mà qua đây rõ là cũng suýt chết ở trận Berezina lượt về (- nói chung là đều suýt chết qua các chiến dịch, vì hình như sự nghiệp Balzac cũng trải dài qua 21 năm như sự nghiệp của Napoleon?) nhịp điệu và âm hưởng của một người trong cuộc!
    khi "Chúa rụt bàn tay quyền lực của mình lại" thì con người ta "hết ảo tưởng" và sự sống của con người ta bèn chấm dứt vì nó chỉ bao gồm có ảo tưởng cộng với mấy viên đường thôi, nhỉ?

    ReplyDelete