Showing posts with label woolf. Show all posts
Showing posts with label woolf. Show all posts

Feb 18, 2011

Cô đơn như ngọn hải đăng

Virginia Woolf tạo ra cho hậu thế cả một “folklore” vây quanh mình. Các đạo diễn phải làm phim về cuộc đời bà và chuyển thể tiểu thuyết của bà lên màn ảnh, không chỉ một lần. Mrs Dalloway trở thành hình tượng về người phụ nữ ở tầng lớp cao trong xã hội, thanh lịch, trau chuốt và cao quý cả trong cái chết. “Dòng ý thức” rồi mối tình đồng tính được thuật lại trong “Orlando”, hình ảnh “tự đi mua hoa cho mình” và câu nói bất hủ “để viết văn, một người phụ nữ cần có tiền và một căn phòng”… Edward Albee từng viết vở kịch danh tiếng “Who’s Afraid of Virginia Woolf”. Người ta cũng nói rằng Woolf chính là một đối cực của James Joyce, rằng chắc hẳn bà sẽ nhăn mặt ghê tởm khi đọc đến đoạn Bloom rán món thận cho bữa sáng, nhưng lại gần gũi với Marcel Proust. Các vĩ nhân của giai đoạn đầu thế kỷ XX dường như yêu ghét thật rạch ròi và khẳng định chỗ đứng trong lịch sử của mình không chỉ bằng tài năng mà còn bằng trang phục và ý kiến.

Virginia Woolf, đại diện nổi bật cho nữ quyền luận giai đoạn đầu tiên, đại diện cho chủ nghĩa hiện đại trong văn chương, cũng lại là một nhân vật không thể bỏ qua khi bàn về dòng văn chương nữ của nước Anh, những Jane Austen, George Eliot, Katherine Mansfield…, sau tập tiểu luận “Căn phòng riêng” đã có thêm một bản dịch tiếng Việt mang tên “Tới ngọn hải đăng”, Nguyễn Thành Nhân dịch, Hà Thế & NXB Hội Nhà văn. Cuốn tiểu thuyết này là một đặc trưng cho phong cách viết văn của Woolf và là một khởi đầu rất tốt cho những ai muốn đi vào thế giới riêng của Virginia Woolf.

Cũng như văn chương Anh truyền thống, câu chuyện của Woolf mở ra bằng thời tiết: “Ừ, dĩ nhiên, nếu ngày mai trời đẹp” - câu nói của bà Ramsay, một “Mrs” nữa trong tập hợp các quý bà tinh tế rợn người mà Woolf từng tạo ra trong các tác phẩm của mình, Woolf, quý bà của nhóm Bloomsbury danh tiếng quy tụ những người như Lytton Strachey, Clive Bell, Leonard Woolf chồng Virginia, và có cả sự giao du của nhà kinh tế học vĩ đại John Maynard Keynes. Ba phần của cuốn tiểu thuyết, “Khung cửa sổ”, “Thời gian qua” và “Ngọn hải đăng” gồm vô số những cảnh nhỏ của đi dạo, chuyện trò, bữa ăn và đặc biệt là suy nghĩ. Woolf nhích mình khỏi Jane Austen của thế kỷ XIX (mà bà từng viết tiểu luận phê bình - các tiểu luận của Woolf có tầm quan trọng không thua kém tiểu thuyết của bà) chính ở điểm này: những “tea party” liên tu bất tận của Austen tập hợp các miêu tả nhân vật gọn gàng, chính xác ở hình dung bên ngoài và động tác cử chỉ, với tầm quan trọng đặc biệt lớn của những câu nói, còn ở Woolf, điều đáng chú ý nhất nằm trong đầu các nhân vật: mọi thứ đã nằm ở đó, chờ đợi nhà văn kéo chúng ra, nhưng điều này cần đến rất nhiều tỉ mỉ và can đảm. Con người theo kiểu Austen có thể hiểu nhầm về nhau nhưng rồi sẽ nhìn ra bản chất đích thực sau khi vượt được những thử thách cuộc sống, còn con người kiểu của Woolf nghĩ nhiều về người khác nhưng ý thức được rằng mình chẳng hiểu được ai cả.

Woolf cũng không hẳn xa lạ với dòng văn chương gô-tích đậm đà dấu ấn trong lịch sử văn chương Anh, nhất là ở miêu tả những gì tối tăm, âm u: “Dường như không có gì có thể thoát khỏi cơn lũ bóng tối tràn trề đang luồn vào những lỗ khóa và khe hở” (tr. 177) hay “… đêm vẫn tiếp nối đêm. Mùa đông gom cất chúng và phân phát chúng đồng đều, với những ngón tay không mệt mỏi” (tr. 179). Nhưng cuốn tiểu thuyết của Woolf, dù kín đáo, vẫn liên hệ trực tiếp với thời cuộc, nhất là với cuộc chiến tranh. Trong “Mrs Dalloway” đã có ánh mắt kinh hoàng của người lính trẻ trở về từ mặt trận, còn ở đây mọi thứ đều tan nát vì chiến tranh, cả ngôi nhà, cả những mối liên hệ giữa một nhóm nhỏ thành viên trong một gia đình và một cộng đồng người khiêm tốn. Người đọc cũng tìm ra được dấu vết của một hiện tượng rất đặc trưng của thời ấy: hiện tượng các họa sĩ (trường phái ấn tượng) đổ xô về những chốn bờ biển để vẽ, qua câu chuyện của cô họa sĩ Lily Briscoe và hình ảnh họa sĩ Paunceforte khai mở một cái “mốt” mà ta thấy mơ hồ tương đồng với Gauguin và địa danh Pont-Aven.

Nhưng con người của Woolf cứ cô đơn như thế, mối cô đơn gọn gàng tinh tế giữa thời đại giết chóc và giữa những mối quan hệ thân thiết nhưng không mấy thân mật, như “ngọn hải đăng cổ kính mộc mạc” mà Mrs Ramsay cùng Tansley nhìn thấy khi ra tới bờ biển (tr. 41). Hình ảnh ngọn hải đăng hẳn không phải một điều ngẫu nhiên, và nhiều nhà văn cũng chọn nó để miêu tả sự cô đơn của con người, như gần đây là Roberto Bolaño, người đã để nhân vật Buba trong một truyện ngắn của mình cảm thán trong tâm tưởng: “Tôi thấy mình cô đơn như một ngọn hải đăng”.

Nhị Linh

+ bản dịch tiếng Việt sa vào một thói thường gặp khi dịch giả Việt Nam đối mặt với một dạng văn có quá nhiều câu dài: cắt ngắn bớt câu, và các trạng từ thường được dịch rất máy móc thành "một cách+xxx"

Jan 11, 2011

Sách (XXV) Đã có hoa

Hà Nội đang lạnh kiểu như thế này này: có hai người đi bộ gặp nhau ngoài đường, một người hỏi: "Dạo này khỏe không bác?" Người kia lúi húi tháo găng tay len mua ở chợ Đông Kinh thọc vào túi áo ba đờ xuy một lúc rồi mới nói: "Bác nói gì? Rét quá tôi tháo tai cất vào túi, nếu cứ để đó thế nào cũng rụng vì lạnh". Sợ chưa? Có thơm quắt tai (bún chả) thì cũng có lạnh rụng tai.

Hôm qua bad mood cho đến lúc cà phê về đến phòng, thấy ngay trên bàn làm việc đã để sẵn cái này:


Đùa chứ chỉ mất công than phiền một câu trên blog mà đã được ngay quả này, đúng là mình ở hiền gặp lành nhiều người thương miến (câu này là irony đấy) :p Sau rồi mình cũng biết thủ phạm í lộn hung thủ í vẫn lộn tác giả hành động thiện tâm này là ai, thank you nhá. Thế là đỡ bad mood hẳn, từ quả irony của Lennon đã chuyển sang cái khác liền: "Nhưng thôi em ơi đấy chỉ là lời ru trong giấc ngủ/Anh thương em đây anh lại êm đềm/Làm con ong vàng đến ngủ giữa tóc em/Con ong xanh có đôi mắt đen/Con ong trắng là con ong thương nhớ/Con ong đỏ chính niềm tin ấp ủ/Còn hạnh phúc cuối cùng là tiếng hát chú ong nâu".

Chi tiết duy nhất hơi ấy ấy là quyển Mrs Dalloway tôi bị mất là bản tiếng Pháp, nay quá lãi, thu ngay được bản tiếng Anh há há, ở trong tủ sách "Film Classics" tức là những quyển tiểu thuyết được chuyển thể thành phim (nhân tiện, ở đây đã có bác nào xem hết cả The Hour lẫn hai phim Mrs Dalloway chưa nhể?), trong tủ sách này cũng có A Clockwork Orange của Anthony Burgess.

Hôm qua lại thêm một ngày được mùa sách vở, tối đến vợt ngay thêm được Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam (1857-1914), thuộc loại sách không hiếm lắm nhưng chẳng hiểu sao bao nhiêu lần tôi nhìn thấy đều vợt trượt hết cả. Rồi lại có một bạn gọi điện, thế là nhiều khả năng lại có thêm một Ba Tê nữa :)

Còn sách mới hẳn vừa thổi vừa xoa (mùa đông rất cần mấy cái này, cũng như cần ngoài phố mùa đông đôi m. em là đốm lửa hồng hehe): Lịch sử tôn giáo Nhật Bản, Sueki Fumihiko, Phạm Thu Giang dịch, Phạm Hồng Thái hiệu đính, Alphabooks & NXB Thế giới.

Một đoạn Todorov viết về trinh thám nhá:

"Kiệt tác văn chương thường lệ, theo một nghĩa nào đó, không nằm trong bất kỳ thể loại nào nếu không phải là thể loại của chính nó; nhưng kiệt tác của văn học quần chúng lại chính là cuốn sách phù hợp nhất với thể loại mình. Tiểu thuyết trinh thám có những chuẩn mực của nó; làm "tốt hơn" những gì mà các chuẩn mực ấy đòi hỏi, là đồng thời làm "kém đi": người nào muốn làm cho tiểu thuyết trinh thám "hay hơn", là người đó đang làm "văn chương", chứ không phải tiểu thuyết trinh thám. Tiểu thuyết trinh thám tuyệt nhất không phải là cuốn tiểu thuyết vi phạm các quy tắc của thể loại, mà là cuốn tiểu thuyết tuân theo những quy tắc này"

("Loại hình của tiểu thuyết trinh thám" trong Thi pháp văn xuôi, Đặng Anh Đào và Lê Hồng Sâm dịch, NXB Đại học Sư phạm, 2004)

Ý Todorov là đánh giá văn học thông thường và văn học bình dân phải khác nhau: kiệt tác văn học nói chung vừa vi phạm thể loại của nó vừa lập ra một thể loại mới, trong khi trinh thám muốn là kiệt tác thì điều tiên quyết là không được phép vi phạm thể loại.

Jan 8, 2011

Lo-Lee-Ta

Hồi ký của Nabokov, bản tiếng Pháp (Yvonne Davet, Mirèse Akar và Maurice Couturier) và nguyên bản tiếng Anh:


Quyển Autres rivages (Những bến bờ khác) vẫn ghi rõ ngày mua: 10 tháng Chín 2002, tại boulevard de l'Hôpital, còn Speak, Memory (Ký ức, nói đi; ban đầu Nabokov định đặt tên sách là Speak, Mnemosyne theo tên nữ thần Hy Lạp, nhưng nhà xuất bản ở Anh can, vì các "little lady" chắc chắn sẽ không mua sách có nhan đề không thể đánh vần được :p) thì mua ở... Hà Nội :)

Ada or Ardor và Sebastian Knight lại là những sự vụ kiểu khác:


Và đây, Lolita, bản tiếng Pháp của Kahane:


"Lolita, ánh sáng của đời tôi, ngọn lửa nơi hạ bộ của tôi. Tội lỗi của tôi, tâm hồn của tôi. Lo-lee-ta: đầu lưỡi lướt xuống ba bước nhỏ dọc vòm miệng, khẽ đập vào răng ba tiếng, Lo, Li, Ta.

Buổi sáng, em là Lo, ngắn gọn là Lo thôi, đứng thẳng cao một mét bốn mươi sáu, chân đi độc một chiếc tất. Mặc quần thụng trong nhà, em là Lola. Ở trường học, em là Dolly. Trên dòng kẻ bằng những dấu chấm, em là Dolores. Nhưng trong vòng tay tôi, bao giờ em cũng là Lolita."

Thêm Woolf này, hai bản dịch tiếng Pháp:


Orlando có vị trí trong chuyên ngành lesbian tương đương với Corydon của Gide bên chuyên ngành gay :d

Mất Mrs. Dalloway tự đi mua hoa cho mình rồi :(

To the Lighthouse

Jan 6, 2011

Ouf Woolf

Làm tí minh họa nhỉ :)


Nhìn chung nghiên cứu tiểu sử Woolf thì quyển của Quentin Bell (con trai Clive Bell và Vanessa Bell, tức gọi Virginia Woolf là dì ruột) là đầy đủ. Quentin Bell được coi là người chép biên niên về "Bloomsbury" (trong Tới ngọn hải đăng ở "Giới thiệu" của dịch giả cứ một mực ghi thành "Bloomsburry", quái thế).

Moments of Being là các tác phẩm tự thuật. The Waves thì là tiểu thuyết. The Essays of Virginia Woolf thì là các essay ;p Hai quyển tiếng Việt thì nhiều người biết rồi.

Bonus ảnh nhá:


Có đề tặng, chữ ký của dịch giả nhá :d

Hic thông cảm ảnh xấu quá, Hà Nội đợt này thời tiết không thuận lợi cho bộ môn nhiếp ảnh, lạnh khắm khú.