Showing posts with label claude-levi-strauss. Show all posts
Showing posts with label claude-levi-strauss. Show all posts

Mar 7, 2022

33

một chữ (cái) rồi thì bây giờ - luôn - là đến một số: gimme a reason to love you and gimme a number (Gimme Gimme Gimme a man after midnight)

nhưng đã Montaigne & Cervantes (dẫu mọi sự trông có vẻ lạ như thế nào, Montaigne chỉ hơn Cervantes 14 tuổi) thì cũng phải Montaigne & Rabelais: Rabelais sống cùng thời với một nhân vật, Budé, thì Montaigne cùng thời với một nhân vật rất tương đương: Amyot; Amyot dịch Plutarque, yếu tố rất quan trọng cho cái nhìn của Montaigne

Nov 18, 2020

căn cước

trước tiên, xem ởkia (quan trọng đấy)

- để có tồn tại, nhất thiết cần một thứ: khác

(Kierkegaard)


- "Nhờ mi người ấy giống/Một chút với chính mình"

(Rilke)

Sep 16, 2018

(đọc lý thuyết) Claude Lévi-Strauss: Ouverture

Mục "đọc lý thuyết" - như đã vài lần nói - chưa hề kết thúc với loạt thuyết trình về "trường phái Genève", thậm chí đến bây giờ mới thực sự bắt đầu.

Thêm nữa, các nhân vật cho tới lúc này về cơ bản là các tinh thần mềm. Giờ, ta bắt đầu chủ yếu quan tâm đến phần cứng của lý thuyết, nhất là "nhị Jacques" tức là Jacques Lacan và Jacques Derrida, hay Paul de Man. Nhưng trước tiên, phải là Claude Lévi-Strauss đã.

Dec 12, 2017

Sociologie và socio-logique

Nhân một sự kiện nho nhỏ, chúng ta lại tiếp tục Roland Barthes.

Và đây sẽ là Roland Barthes ở tư cách độc giả của Claude Lévi-Strauss (điều này đã nói qua ở kia). Tất nhiên, phải là Lévi-Strauss: tinh thần của thế kỷ 20 có được hay không là nhờ vài người, trong số đó, Lévi-Strauss. Muốn hiểu bất kỳ điều gì, điều không thể khác là phải đọc Lévi-Strauss, và đọc tất tật, đọc cho đến cả những cuốn ít được biết đến như Histoire de Lynx, La Voie des masques, cả đến cuốn sách viết rất muộn, về mặt trăng, nhân dịp đi Nhật Bản, trong đó Lévi-Strauss kể hồi bé mình say mê sưu tầm những món đồ nhỏ bé của nước Nhật như thế nào.

Aug 12, 2017

Merleau-Ponty: Văn xuôi thế giới

Maurice Merleau-Ponty (xem thêm ở kia) là một tinh thần tuyệt đẹp mà tinh thần Pháp từng sản sinh được. Merleau-Ponty, chứ không phải Jean-Paul Sartre. Merleau-Ponty có một người bạn rất thân là Claude Lévi-Strauss: con đường của tinh thần Pháp có được tiếp nối hay không ở một thế hệ như thế hệ sinh ra trong thập niên đầu tiên của thế kỷ 20 là nhờ nhiều vào hai con người ấy, Merleau-Ponty và Lévi-Strauss (một nhân vật nữa, cũng thuộc thế hệ này: Emmanuel Levinas, mà chúng ta sẽ sớm động tới), chứ không phải Sartre. Ở đây chắc hẳn ít nhất vài người từng đọc La Pensée sauvage của Lévi-Strauss rồi chứ nhỉ.

Nov 18, 2016

[Tiện bút] Đồ vật

Dickens cùng một lúc viết hai hay ba cái phơi-ơ-tông là thường, chưa kể còn làm tổng biên tập một tờ báo nào đó, viết kịch và tổ chức diễn các vở kịch ở quy mô công chúng nhỏ (vở The Frozen Deep chẳng hạn, đã diễn xong rồi, nữ hoàng Victoria lại đòi xem, thế là lại dàn dựng diễn, trong đó Dickens có thủ vai - cô bé Victoria khi vua William Đệ tứ tức là người ông vừa qua đời, mới kế vị xong thì đọc Oliver Twist và thấy nó rất hay, tức là hơn chục năm trước vở kịch The Frozen Deep), lại còn phụ trách thực tế một "trại phục hồi nhân phẩm" cho gái điếm, đặt tên giản dị là "Home", ở Shepherd's Bush không xa London. Nhưng, trong riêng lĩnh vực phơi-ơ-tông, người ta nói từng có thời điểm Lê Xuyên (Chú Tư Cầu, Nguyệt Đồng Xoài, etc.) viết cùng một lúc mười một (11) cái. Thế nên, đang phơi-ơ-tông ở kiaở kia, tôi lại tiếp tục phơi-ơ-tông thêm một cái nữa.

Oct 6, 2016

Michel Foucault (ii)

Bốn khái niệm nằm ở trung tâm các suy nghĩ của Michel Foucault: discours tức định ngôn, énoncé, archive và archéologie. Tất nhiên, còn phải kể đến chẳng hạn phoọc-ma-xi-ông (formation), strate (vỉa, tầng), dispositif hay sujet, nhưng vào lúc này ta tạm chỉ khoanh vùng bốn thứ kể trên.

Sep 30, 2016

Đổi làn đường

Bỗng đến khi, một cuốn tiểu thuyết của Bret Easton Ellis xuất hiện ở Việt Nam, cuốn thứ hai, tôi nhớ ra cũng chính tôi là người đưa BEE đến đây. Rồi sẽ sớm đến lúc tôi không còn có thể nhớ được đầy đủ cái danh sách những trường hợp tương tự thôi.


Aug 7, 2016

Nhượng Tống, Phan Du, Trương Chính

cuối năm 2008, tôi bắt đầu thấy mình quan tâm đến nhân vật văn chương Việt Nam đầu tiên, Nguyễn Công Trứ; tất nhiên, sự đọc của tôi trước đó từng dẫn tôi tới nhiều nhà văn Việt Nam khác, nhưng tôi cũng không muốn lặp lại câu chuyện về cái sự đọc mọi thứ gì rơi vào tầm mắt mà không biết bao nhiêu người đã kể nữa

May 28, 2016

Foucault, Barthes, Genette - một câu chuyện Pháp

ba nhân vật này rất quen thuộc với tôi, từ rất nhiều năm, nhưng cũng phải mất rất nhiều năm tôi mới xếp được họ ở cạnh nhau

khó nhất chính là xếp những gì mà ta quá rành (hoặc tưởng là mình quá rành): Michel Foucault là con người của trật tự, Roland Barthes là con người của diễn ngôn, từ đó dẫn tới câu hỏi văn chương là gì?, còn Gérard Genette là con người của điều gì?

Dec 28, 2011

[VCLN] Nhìn lại lý thuyết


Lý thuyết văn học không phải là một chuyện đương nhiên. Ở rất nhiều thời kỳ, tác phẩm văn chương có thể tồn tại mà không cần đến lý thuyết (hiểu theo nghĩa một hệ thống nghiêm ngặt): tác giả không cần đến lý thuyết để viết, độc giả cũng không cần đến lý thuyết để đọc, đến phê bình gia hay bình luận gia cũng không nhất thiết cần đến lý thuyết trong công việc của mình. Nhưng trong vài thập niên giữa thế kỷ XX, lý thuyết văn học đã thực sự tồn tại, phát triển mạnh mẽ, vừa mang dáng dấp của một chủ nghĩa tiền phong vừa có nhiều khía cạnh của một định chế, không những thế lại còn đồng hành cùng nhiều huyền thoại: ngôn ngữ học, chủ nghĩa hình thức Nga, cấu trúc luận, Tiểu thuyết Mới, phong trào tháng Năm 1968 v.v… đến mức bản thân lý thuyết cũng như thể đã trở thành một huyền thoại: ở khối Anh-Mỹ người ta nhắc tới cụm từ French Theory[1] (Lý thuyết Pháp), và rồi, khi lý thuyết đã qua ngả quành nước Mỹ để quay trở lại Pháp, nhiều lúc người Pháp dùng cái tên Théorie américaine (Lý thuyết Mỹ) để trỏ hiện tượng này.

Trong những năm 1960, rất nhiều tác phẩm lý thuyết đã đồng loạt ra đời, với những cái tên nổi bật: Roland Barthes, Gérard Genette, Tzvetan Todorov, Julia Kristeva… Cũng trong những năm này, cuộc tranh luận gay gắt giữa Roland Barthes và giáo sư Raymond Picard của Đại học Sorbonne xung quanh Racine đã báo hiệu cho một thay đổi rất lớn trong nghiên cứu văn học Pháp. Các lý thuyết gia phản đối đường lối cũ của nghiên cứu (mà đại diện là giới giáo sư đại học) đặt trọng tâm vào lịch sử, tiểu sử, giai thoại và muốn bước sang một con đường mới với phương pháp lấy cảm hứng từ ngôn ngữ học (Ferdinand de Saussure, Roman Jakobson) và cấu trúc luận (Claude Lévi-Strauss), coi văn học như một hệ thống văn bản tự trị với những đặc điểm, quy luật riêng. Năm 1966, số 8 của tờ tạp chí Communications quy tụ đầy đủ những nhân vật của “trường phái mới” này[2]. Số tạp chí này nổi tiếng đến mức sau đó còn được tái bản nguyên trạng, như một chứng tích cho thành công của nghiên cứu văn học theo hướng lý thuyết một thời. Trong những năm 1960, vai trò phát ngôn quan trọng nằm ở tạp chí Tel Quel (hạt nhân là Philippe Sollers) và tủ sách cùng tên. Bắt đầu từ năm 1970, tờ tạp chí Poétique (Thi pháp) và tủ sách cùng tên (dưới sự chủ trì của Genette và Todorov) trở thành cơ quan ngôn luận chính. Từ 1970 đến 1980, tủ sách “Poétique” ấn hành được khoảng 30 tác phẩm (ngày nay cả tờ tạp chí lẫn tủ sách đều vẫn tồn tại; tính đến năm 2000, số lượng tác phẩm của tủ sách “Poétique” là khoảng 80 cuốn).

Jun 14, 2010

Imitatio Dei

Nhận được mấy quyển sách mới, có quyển của Sellier tập essai mấy chục bài, trong đó có bài về mythe (huyền thoại), cố gắng trả lời câu hỏi "Huyền thoại văn chương là gì?".

Ba bậc thầy trong lĩnh vực huyền thoại học là Claude Lévi-Strauss, Georges Dumézil và Mircea Eliade. Tiếp nối các nhà dân tộc học, "huyền thoại văn chương" cũng nhanh chóng trở thành một đối tượng nghiên cứu rộng khắp, trong đó có các đỉnh cao chẳng hạn như tác phẩm của Denis de Rougemont và nhất là loạt sách về nhân vật don Juan của ông thầy Pierre Brunel của tôi (don Juan là một trong những huyền thoại lớn của Tây phương rất hiếm hoi không xuất phát từ Hy Lạp).

Mircea Eliade đã từng e ấp xuất hiện ở Việt Nam trên hai số tạp chí Văn học nước ngoài cách đây đã lâu, nhưng chắc ít người biết. Đó mới là một nửa bản dịch Cái thiêng và cái phàm (Le Sacré et le Profane) của nhà bác học gốc Rumani, một trong ba nhân vật Rumani nổi tiếng nhất thế kỷ XX, bên cạnh Eugène Ionesco và Emil Cioran (tất nhiên là phải kể cái bác gì độc tài cái gì cu cu quên béng mất rồi).

Dec 24, 2009

Tại sao nhiệt đới lại buồn?

“Nhiệt đới buồn” (Claude Lévi-Strauss, Ngô Bình Lâm dịch, Nguyên Ngọc hiệu đính, NXB Tri Thức, 2009), nếu coi là một hồi ký, thì nó đúng là một hồi ký rất dở và rất gở: chẳng có cuốn hồi ký nào lại được viết ra để rồi tác giả mãi hơn nửa thế kỷ sau mới qua đời. Nếu coi là một cuốn tiểu thuyết, thì tác phẩm in lần đầu năm 1955 này (về phần mình, tác giả mới mất cách đây vài tháng) vẫn quá cỡ kể cả so với một trường giang tiểu thuyết; nó có quá nhiều câu chuyện, quá nhiều cảm giác, và quá nhiều miêu tả tinh tế, tới mức người ta đâm ra ngờ vực ngay chính bản thân khái niệm tiểu thuyết, và Viện Hàn lâm Goncourt năm ấy đã có lý khi ngậm ngùi mà thôi không trao giải cho cuốn sách. Còn nếu coi “Nhiệt đới buồn” là một chuyên khảo khoa học, thì biết lý giải sao đây sự xuất hiện của câu mở đầu: “Tôi ghét du hành và các nhà thám hiểm” và hình ảnh kết thúc: “một con mèo”?

Hẳn ý thức được tính chất “không thể xếp hạng” tuyệt đối của của cuốn sách này, nên mặc dù nó được đọc rất nhiều trong hơn năm chục năm qua bởi vô số người thuộc đủ mọi giới, bài báo chính của chuyên đề Claude Lévi-Strauss của “Magazine Littéraire” (tháng Năm 2008) đã tìm cách né tránh vấn đề bằng cách đặt tít “Cuộc phiêu lưu vĩ đại của trí tuệ” và chú trọng miêu tả một nhà khoa học khi tuổi trẻ thực sự không biết phải làm gì với cuộc đời mình. Khi là một cuộc phiêu lưu, thì tập tục hôn nhân ở các xã hội “nguyên thủy”, đời sống trí thức Paris, các dải núi non Nam Mỹ, tất tật đều có thể là những điều bất ngờ vĩnh viễn, làm người ta quên đi, hay lờ đi, những câu hỏi gây bực mình về thể loại hay là gì gì nữa.

Nov 11, 2009

Chủng tộc?

Cách mở đầu một quyển sách của Claude Lévi-Strauss luôn để lại dư vị. Câu nổi tiếng của Nhiệt đới buồn đã vậy, câu đầu tiên của Race et Culture cũng không kém cạnh: "Một nhà dân tộc học không có trách nhiệm tìm cách nói chủng tộc là gì hay không là gì" (cần phải phân biệt Race et Culture sau này và "Race et Culture" chương đầu tiên của Race et Histoire; quyển Race et Histoire thì đã có bản dịch tiếng Việt của Huyền Giang, Hội Khoa học Lịch sử ấn hành - Huyền Giang là một trong các yếu nhân của công việc dịch các sách thuộc bộ Que sais-je? của NXB PUF sang tiếng Việt).

Lévi-Strauss chống lại quan niệm của nhánh nhân học mà ông gọi là "anthropologie physique" (chẳng biết dịch là gì, "nhân học thô thiển" à?), coi chủng tộc như là một thực tế (réalité). Có lẽ Lévi-Strauss muốn bày tỏ sự phản đối với các nhà nhân chủng học theo lối Quốc xã, đo sọ người để xếp loại chủng tộc.

Quan điểm của Lévi-Strauss về chủng tộc phức tạp, nhưng có thể hiểu cái đích mà ông hướng tới chủ yếu là dung hòa khái niệm "tiến bộ" (progrès) với một chủ nghĩa tương đối về văn hóa.

Nảy sinh một điểm nữa: Lévi-Strauss có cổ súy cho "đa dạng văn hóa" không? Theo tôi biết là hoàn toàn không. Quan điểm của Lévi-Strauss còn có chỗ đặc biệt, và điều này gây tranh cãi nảy lửa, khi ông đề nghị cần phân biệt chủ nghĩa phân biệt chủng tộc theo nghĩa đen với các thái độ bình thường, hợp thức và thậm chí không tránh khỏi. Cách nhìn này là một cách nhìn phản lý tưởng về phân biệt chủng tộc, và tất nhiên gây ra nhiều thắc mắc.

Thôi, viết mãi về Lévi-Strauss cũng mỏi tay rồi. Chỉ nói thêm là sẽ rất chi thú vị nếu đọc Nhiệt đới buồn song song với quyển tiểu thuyết Là où les tigres sont chez eux của Jean-Marie Blas de Roblès, giải thưởng Médicis năm 2008.

Đây là trích vài câu từ Lời hứa lúc bình minh của Romain Gary (Nguyễn Duy Bình dịch) vừa in xong, chương đầu, đoạn nói về các vị thần xấu xa đối thủ của chúng ta trong cuộc đời (cũng có tí chút chủng tộc hehe):

"Còn có Filoche, thần ti tiện, thần định kiến, khinh bỉ và hận thù - thường từ nhà gác cổng thế giới loài người ló đầu ra mà kêu "Tên Mỹ bẩn thỉu, tên Ả-rập bẩn thỉu, tên Do Thái bẩn thỉu, tên Nga bẩn thỉu, tên Trung Quốc bẩn thỉu, tên Da Đen bẩn thỉu...""

Nov 7, 2009

Lévi-Strauss và các mối quan hệ

Người ta hay coi Anthropologie structurale (1958) của Claude Lévi-Strauss là giấy khai sinh của cấu trúc luận. Cái này tôi không tin lắm nhưng cũng không có gì quá sai trái. Quyển Nhân học cấu trúc này tập hợp một số tiểu luận của Lévi-Strauss, trong đó có Race et Histoire (Chủng tộc và lịch sử, một trong hai công trình "theo đơn đặt hàng của UNESCO", cái thứ hai sau này là Race et Culture, Chủng tộc và văn hóa, sẽ gây xì căng đan hồi đầu những năm 1970, cụ thể thế nào thì sẽ nói sau). Theo cách nhìn của tôi thì vai trò cổ thụ trong cấu trúc luận của Lévi-Strauss còn thể hiện ở các mối quan hệ cá nhân.

Trên con tàu biển được miêu tả ở đoạn đầu Nhiệt đới buồn, Lévi-Strauss ngoài gặp Victor Serge còn gặp André Breton, và hai người sẽ còn giao thiệp thư từ trong nhiều năm. Nhưng sang đến New York mới là cuộc gặp "định mệnh": gặp Roman Jakobson khi ấy đang làm người lưu vong. Đó là năm 1946, New York đang trở thành thủ đô lưu vong thế giới. London cũng là một thủ đô của người Pháp lưu vong, nhưng chủ yếu là của lực lượng de Gaulle, còn New York thì đông đặc trí thức châu Âu. Jakobson và Lévi-Strauss gặp nhau, cuộc gặp hơi giống như khi Freud gặp Jung lần đầu, tức là kéo rất dài, rất khuya. Không biết Lévi-Strauss có hài lòng không, nhưng Jakobson thì bực mình lắm, vì hóa ra tay người Pháp không biết uống rượu, không hiểu vodka là cái gì. Jakobson là con người nồng nhiệt (nhưng có nồng nhiệt mấy thì cũng không gặp được Bakhtine, vì Bakhtine không muốn gặp, như Todorov từng viết trong một bài trên tạp chí Esprit).

Nov 4, 2009

Những người đi

Vào mạng hôm nay thấy thật nặng nề. Bác Văn Ngọc (Phạm Ngọc Tới) đã qua đời. Tôi gặp bác Văn Ngọc đúng một lần, nhưng rất quý mến phong cách nhẹ nhàng cả trong cử chỉ lẫn tiếng nói. Xin được gửi lời chia buồn từ xa tới gia đình và nhóm bạn thân của bác.

Một người nữa cũng vừa mất là Claude Lévi-Strauss. Tôi không làm về dân tộc học hay nhân học, nhưng Lévi-Strauss là một trong những người đầu tiên khơi gợi ý muốn nghiên cứu ở tôi. Hồi đó, khi còn khá nhỏ, tôi đọc được một tập tài liệu do mấy nhà nghiên cứu người Pháp sang Việt Nam giảng cho giới nghiên cứu ở đây, trong đó tập trung vào các nhân vật Émile Durkheim, Marcel Mauss và Claude Lévi-Strauss (có thêm cả Louis Dumont). Tôi vẫn còn nhớ những cái tên này được gắn vào dòng chính, dòng quan trọng nhất, xuất chúng nhất của dân tộc học Pháp. Từ Émile Durkheim tôi học được về sự ra đời của ngành dân tộc học, sau này là thêm lý thuyết về tự tử. Từ Marcel Mauss tôi biết được người ta đã từng nghiên cứu sâu sắc như thế nào về potlatch, voodoo, nhất là "le don" (sự trao tặng) ở các tộc người.

Nhưng từ Lévi-Strauss tôi mới học được nhiều thứ, từ cách tổ chức hôn nhân ở các tộc người sao cho tránh được loạn luân (công trình đầu tay của Lévi-Strauss đã lái ngược chiều dân tộc học cho đến khi ấy vẫn có quan niệm rất khác về hôn nhân ở người man dã). Phần hai của La Pensée sauvage nghe nói chính là một tranh luận của Lévi-Strauss phản đối lý thuyết của Jean-Paul Sartre, nhưng không nói rõ ra. Cái lớn nhất tôi học được từ Lévi-Strauss, tuy vậy, lại là một điều khá vô hình, không phải kiến thức. Tôi vẫn còn rất nhớ một lời miêu tả Lévi-Strauss: ngay từ khi còn nhỏ, đứng trước mọi sự hỗn loạn của cuộc sống tự nhiên hay xã hội lúc nào ông cũng hình dung ra, cũng tin rằng có một cấu trúc bề sâu nào đó, vấn đề là phải nắm được nó.

Nhiệt đới buồn như vậy là đã được in ở Việt Nam. Bản dịch của Ngô Bình Lâm, Nguyên Ngọc hiệu đính, Olivier Tessier viết lời giới thiệu, NXB Tri Thức in. Hôm trước ở buổi ra mắt sách gần như các diễn giả không trả lời được tại sao nhiệt đới thì lại buồn. Cái buồn này, biết đâu, lại là cấu trúc tầng sâu mà Lévi-Strauss suốt đời tìm kiếm. Trước đây quyển sách này hay được nhắc tới trong các văn bản tiếng Việt, hoặc dưới cái tên "Nhiệt đới buồn", hoặc dưới cái tên "Chí tuyến buồn".

Ngô Bình Lâm, như hôm ở buổi ra mắt sách Đỗ Lai Thúy có nói, chính là dịch giả quyển sách Hungary nổi tiếng nhất ở Việt Nam: Những ngôi sao Ê-ghe, cuốn sách một thời tôi say mê đọc đi đọc lại, cùng Tô-mếch và thủ lĩnh Tia Chớp Đen, và nữa là Oskeola thủ lĩnh da đỏ.

Ở ngay đoạn đầu Nhiệt đới buồn có nhắc tới Victor Serge. Muốn hiểu tâm trạng của các trí thức châu Âu những năm 1950 thì cần phải nắm được dù chút ít lịch sử hai cuộc thế chiến trước đó, những cuộc chạy trốn của trí thức Nga sang Pháp, những cuộc du hành của trí thức Pháp sang Nga, rồi cái ham muốn thoát khỏi, trước tiên thể hiện ở sự du hành, từ Nerval, Gautier hay Flaubert, sau đó là ở sự thám hiểm vì mục đích nghiên cứu, mà Lévi-Strauss là một đại diện. Victor Serge là một trong các nhân tố đặc biệt của giai đoạn ấy. Một người vô chính phủ, một người thuộc Comintern, từng bị bắt giam ở Pháp nhưng rồi được thả qua trao đổi tù binh (với một nhân vật rất đặc biệt khác là Bruce Lockhart, khi ấy đang bị giam ở Liên Xô vì là nghi can trong một vụ ám sát Lenin, cũng như bị nghi làm gián điệp). Sau này Victor Serge lại bị chính quyền Liên Xô giam, phải nhờ Hội nghị Nhà văn Quốc tế Bảo vệ Văn hóa tại Paris (1935) can thiệp mới được thả. Sự xuất hiện của Victor Serge hay Ilya Ehrenburg ở Paris là một phần quan trọng tạo nên không khí trí thức hồi đó, cái không khí làm nên những con người như Lévi-Strauss.