Showing posts with label truong-tuu. Show all posts
Showing posts with label truong-tuu. Show all posts

Jan 2, 2022

vẫn bẫy

cái bẫy ấy, bẫy của sự "trên trung bình", đã có thể thấy nó rõ hơn nhiều (sau những - người ta hay gọi là biến động - nhưng đó là chuyển động)

và có thể nhìn sâu hơn: một cái gì đó, cứ nhìn nó mãi, thì nó sẽ ngượng ngùng mà trút bỏ hết những thứ che chắn (có thể là quần áo trên người)

Jan 25, 2018

Một bài báo

Trước tiên, đã chỉnh sửa chút ít "kỳ 1968" mới nhất (đã đến rất sát Tết Mậu Thân) (khi post nhiều hình ảnh quá dường như rất dễ xảy ra một số lỗi quái dị).

Khi nhìn vào quá khứ, dĩ nhiên một cái nhìn toàn cảnh là rất quan trọng, nó giúp ta thấy được nhiều ý nghĩa cùng một lúc (nhất là những gì rất khác nhau, không mấy tương hợp, kể cả các mâu thuẫn và nghịch lý), nhưng lại cũng có nhiều khi một cú tóm bắt chi tiết cũng nói lên không ít điều (và thường là những điều khác). Một bài báo có thể giúp ta hiểu không ít (chẳng hạn ở kia hoặc ở kia), kể cả một bài trả lời phỏng vấn (chẳng hạn ở kia, ở kiaở kia).

Sep 18, 2015

Đinh Hùng và Nguyễn Du

Không chỉ Phạm Văn Diêu, như lần trước tôi đã nói, từng đặt trọng tâm vào Kim Trọng. Một giả thuyết tồn tại xưa nay là chữ Thanh+Tâm (Thanh Tâm Tài Nhân hay Thanh Tâm Tài Tử) thành chữ "tình", chữ Kim+Trọng thành "chung", cộng lại thành "chung tình", rồi thì Kim Trọng là hóa thân của Thanh Tâm Tài Nhân Từ Văn Trường, Từ Vị mạc khách Hồ Tôn Hiến từng là người tình của Vương Thúy Kiều khi Kiều còn là áp trại phu nhân của Từ Hải tức Từ Minh Sơn, vân vân và vân vân.

Aug 25, 2015

Vẫn là Kiều

Bài viết của anh Đinh Bá Anh, “Kim Trọng - nhân vật văn chương vĩ đại của Nguyễn Du”, muốn chứng minh rằng Kim Trọng (đại diện cho chữ Tâm, trong khi Kiều đại diện cho chữ Trinh) mới là hóa thân của Nguyễn Du (chứ không phải người khác, ví dụ như Từ Hải, và bản thân Thúy Kiều), và nhân vật ấy phải được hiểu là một nhân vật văn chương vĩ đại. Với tôi, bài viết này, mặc dù có những điểm hay, thể hiện một cách đọc Kiều còn tệ hại hơn là khiên cưỡng. Sự tệ hại này một phần lớn bắt nguồn từ một số lỗ thủng về hiểu biết mà tôi chỉ có thể gọi là trầm trọng, vì có những điều sai ở mức độ hết sức căn bản.

Aug 22, 2015

Không chỉ Kiều

Lịch sử Việt Nam từng có một nhân vật không khác gì Jesus đấy chứ, đó chính là Nguyễn Du.

May 25, 2015

Khái Hưng vs Nguyễn Tuân

Năm 1946

Một nhà văn học sử độc đáo cần lấy riêng năm 1946 làm đối tượng khảo sát: không bao giờ văn chương Việt Nam có một năm đặc biệt hơn thế, một năm vô cùng thiếu vắng, nhưng chính là năm đầy tràn nhất. Luôn luôn văn chương có một điểm mốc của đoạn tuyệt, đổi thay hơi lệch so với mốc chính trị-xã hội. Năm lịch sử 1954 tạo ra phản ứng trong văn chương vào năm 1956, cả ở miền Nam lẫn miền Bắc, điều đó đã quá rõ. Đối với năm lịch sử 1945, năm văn chương tương ứng là 1946.

Đây là thời điểm để ta bắt đầu nhận ra một cú khủng khiếp như 1945 có thể tác động như thế nào tới văn chương. 1) Một số nhân vật vì thế mà không thể hồi lại được nữa, mà Xuân Diệu là rõ nhất; nhưng ở mức độ kín đáo hơn, còn phải kể đến những trường hợp như Nguyên Hồng: như thể cuộc đổi thay lớn đã tạo ra cơn gió quá mạnh thổi tắt mất một ngọn đèn (đúng hơn là ngọn nến) rất đẹp bên trong Nguyên Hồng 2) Những nhân vật nếu không có biến cố 1945 thì sẽ chẳng có lấy một vị trí đáng kể: Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nam Cao, v.v... 3) Nhưng cũng chính năm 1945 lại khiến ta nhìn thấy được vài sự nghiệp văn chương trọn vẹn; không có nhiều những sự nghiệp như thế, và đáng kể là Nguyễn Tuân và Khái Hưng cùng lên đến đỉnh cao vào chính năm 1946, như thể năm 1945 thúc đẩy họ đi nốt chặng đường cuối.

Thơ, văn xuôi và phê bình có những con đường riêng. Văn xuôi cần đến một dung lượng lớn tác phẩm, thơ lại cần tới một cái gì đó bí ẩn không thể giải thích. Nhà thơ lớn của thời tiền chiến là Vũ Hoàng ChươngĐinh Hùng. Còn phê bình: chỉ có nhà phê bình lớn mới nhận ra rằng nửa thế kỷ sau 1945 ở Việt Nam không thể có phê bình văn học. Ở phương diện này, hai nhà phê bình từ bỏ phê bình từ rất sớm là đáng nói nhất: Trương Tửu và Trương Chính.

Quay trở lại năm 1946 và cặp Khái Hưng-Nguyễn Tuân: năm 1946 là năm có đặc biệt ít tác phẩm văn chương. Ta chỉ có thể kể đến Cười của Nam Cao, Khao của Đồ Phồn và Chùa Đàn của Nguyễn Tuân. Trong đó Chùa Đàn dĩ nhiên là tác phẩm quan trọng hơn cả. Chỉ trong vòng 5-6 năm, Nguyễn Tuân hoàn thành một sự nghiệp văn chương khủng khiếp, chưa từng có, mà Chùa Đàn là kết tinh của mọi thứ, nhưng là một sự kết tinh rất không trọn vẹn. Còn Khái Hưng cần nhiều thời gian hơn, ung dung hơn cho sự nghiệp của mình, nhưng cũng đi đến năm 1946 một cách bùng nổ.

Bởi vì, sự kiện văn chương quan trọng nhất của năm 1946 là Chùa Đàn của Nguyễn Tuân, nhưng không chỉ có thế, vì song song với nó còn có một sự kiện nữa: trong năm 1946 này, Khái Hưng là nhà văn duy nhất, ngoài Nguyễn Tuân, có tác phẩm lớn, nhưng đã bị chìm khuất. Những truyện ngắn như "Lời nguyền", "Khói hương" hay "Hổ" của Khái Hưng xuất hiện vào năm 1946 này đã không mấy ai còn nhớ. Tôi tin là cho tới giờ cũng mới chỉ có rất ít người biết đến tập Lời nguyền in những tác phẩm ngắn hồi 1946 này (một cách không đầy đủ) của Khái Hưng (Phượng Hoàng xuất bản, Sài Gòn, 1966), và càng ít người hiểu được tầm vóc của những tác phẩm ấy.

Cả Khái Hưng và Nguyễn Tuân vào năm 1946 đều chung một cảm thức, thế nên cả hai, một cách độc lập, đều quay trở lại quá vãng tù tội trên miền thượng du: trong Chùa Đàn thì ta đã rõ, còn trong các truyện ngắn của Khái Hưng, đó là giai đoạn đi tù ở Vụ Bản, người Mường, thuốc phiện và hổ.

Đặc biệt hơn cả, Khái Hưng hết sức để ý đến Nguyễn Tuân. Dưới đây là một bài điểm sách, có lẽ sớm nhất, về Chùa Đàn, đăng trên một tờ báo ra năm 1946, bài báo không đề tên người viết nhưng theo nhiều tìm hiểu thì đó chính là Khái Hưng. Khái Hưng là người hiểu Nguyễn Tuân nhất, đặc biệt khi cho rằng phần "Dựng" và "Mưỡu cuối" của Chùa Đàn làm hỏng đi cả tác phẩm. Lời nhận xét này tất nhiên dựa rất nhiều trên "lập trường tư tưởng", nhưng cùng lúc, thật ra nó hết sức chính xác, như một lời tiên tri: Nguyễn Tuân đạt tới đỉnh cao của mình ở "Tâm sự của nước độc", ngay sau đó, trong cùng tác phẩm, "Mưỡu cuối" đã là sự suy đồi. Và sau đó chỉ thuần túy là suy đồi, con chim phượng hoàng đã thôi bay, hạ cánh xuống sân chơi với đàn gà, trong đó có những phần tử hết sức tinh quái, như Tô Hoài. Còn Khái Hưng, chim thiêng nói lời mệnh bạc, sẽ bỏ mạng ngay năm sau đó, 1947.


Sep 1, 2014

Những câu chuyện rất là khác


Không chỉ văn chương thường xuyên phải nằm ở những đoạn khác, đến cả lịch sử, cái thứ tưởng chừng đâu "khách quan" và "công bằng", lại cũng như vậy luôn.

Lịch sử nên là một chốn "thanh hoa" (xem thêm ở đây và ở đây :p), nhưng tôi thấy lịch sử giống một cái bể phốt hơn

.

Jul 3, 2014

Phê bình văn học Việt Nam trước 1945: lãng quên và tàn dư

Thời "tiền chiến" của văn chương Việt Nam, người ta thường cho đó là một giai đoạn rực rỡ, là cách mạng, là đỉnh cao. Nhưng với tôi, thời tiền chiến ấy là ngọn nguồn cho rất nhiều lãng quên, hiểu nhầm, và người ta luôn luôn có xu hướng nhìn nó rất méo mó.

Như trong lĩnh vực phê bình văn học: ngày nay Hoài Thanh cứ trở thành một khuôn mặt độc tôn một cách hết sức đáng ngờ. Rồi người hiểu biết hơn sẽ nói còn có Vũ Ngọc Phan, rồi Thiếu Sơn, vân vân.

Nhưng đâu phải là như vậy.

Ví dụ, Hoàng Ngọc Phách có thể như thế này, những thứ sau này rất ít người còn nhớ:


Thế cho nên, trong bài này, tôi sẽ "kể lại câu chuyện phê bình văn học Việt Nam trước 1945" thông qua một số nhân vật. Chỉ cần xem qua một cách thực sự nghiêm túc là biết, Hoài Thanh không thể là khuôn mặt độc tôn. Thậm chí, Hoài Thanh còn là một nhà phê bình thuộc "chiếu dưới", nếu như trong văn chương nói chung và phê bình văn học nói riêng có chiếu cói hay chiếu tatami.

Jun 28, 2014

Trương Tửu

Dần dà, Trương Tửu đã "lộ diện" trở lại.

Thời kỳ đầu của Trương Tửu, trong tư cách tiểu thuyết gia:


- Khi chiếc yếm rơi xuống, Minh Phương, 1939
- Trái tim nổi loạn, Văn Thanh, 1940
- Một chiến sĩ, Minh Phương, 1938

Jun 23, 2014

Vũ Trọng Phụng trong lịch sử văn chương Việt Nam: một số nhìn nhận mới

“… trong văn chương tiền chiến khuôn mặt thời đại không phải chỉ có trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, nó có mặt trong rất nhiều tác phẩm của nhiều tác giả, nhưng nó kết tinh, nó điển hình nhất trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, nó điển hình đến độ vượt thoát ra khỏi chính thời đại nó…”
(Dương Nghiễm Mậu)



Người ta hay nghĩ, theo định kiến, rằng khi đã có nhiều thời gian, có “độ lùi thích hợp”, mọi thứ sẽ được nhìn nhận chính xác và thấu đáo hơn, ta có thể hiểu sâu sắc hơn nhiều đối tượng; nhưng điều đó sai, hay ít nhất là không luôn luôn đúng. Kể từ “cột mốc” bài viết của Lê Tràng Kiều, “Vũ Trọng Phụng, một trong những người mở đầu cho nghề phóng sự ở nước ta”[1], gần 80 năm qua những công trình nghiên cứu, bình luận về Vũ Trọng Phụng và tác phẩm của ông đã tích tụ lại khổng lồ, trong đó ta đếm được tên tuổi của hầu như mọi nhà phê bình tên tuổi đã làm nên lịch sử phê bình văn học Việt Nam. Khối công trình ấy, rất nghịch lý, càng làm nổi lên một vấn đề: Vũ Trọng Phụng và tác phẩm của ông rất khó nắm bắt, càng đọc thêm những bình luận về ông càng như thể thấy mông lung hơn một hiện tượng văn học. Kiều là “đá thử vàng phê bình” của rất nhiều thế hệ thì Vũ Trọng Phụng và tác phẩm của ông cũng là một đá thử vàng khác của những thế hệ hoặc tiếp sau hoặc đồng thời, nơi giới thiệu, trình bày và triển khai của rất nhiều ý tưởng, cách tiếp cận, bút pháp và lý thuyết. Càng chất thêm sự diễn giải vào giữa, càng tăng độ mờ giữa đôi mắt chúng ta và đối tượng cần khảo sát.

Dec 8, 2013

Sách tháng Mười một 2013

- Patrick Deville: Peste & Choléra


Một thành tựu của tiểu thuyết

Vượt qua được một cái bìa đặc biệt xấu, một nhan đề rất kỳ khôi (Yersin: Dịch hạch và thổ tả; ai bị dịch hạch và ai bị thổ tả?) và một cái giá cao đến lố bịch (120.000đ. cho chưa đầy 300 trang sách khổ không lớn), nếu còn đủ sức lực, ta sẽ được khám phá một thành tựu của tiểu thuyết. Alexandre Yersin là một nhà thám hiểm, một người khám phá, cũng là một con người của những thành tựu, trong đó có những thành tựu khoa học mà tác giả, Patrick Deville, hẳn muốn chúng ta nghĩ là không xa với thơ ca.

Nov 23, 2013

Trưng bày sách (10): Trương Tửu

Đến giờ, ta đã có gần như đầy đủ những trước tác chính của Trương Tửu Nguyễn Bách Khoa:


Nhà phê bình lớn, nhà phê bình vô cùng độc đáo, cũng là nhà phê bình vứt bỏ phê bình.

Mar 10, 2010

02. Có mấy loại phê bình?

Phàm đã viết phê bình văn học, người ta không tránh được xu hướng, thậm chí là ham muốn, xếp loại các tác phẩm. Phê bình văn học gần như đồng nghĩa với sắp xếp, định giá, nhưng cũng có người nói rằng xét về từ nguyên, từ “phê bình” (critique) có chung gốc Latinh với từ “tội ác” (crime).

Albert Thibaudet (1874-1936), nhà phê bình Pháp nổi tiếng đầu thế kỷ 20, từng dùng từ “sinh lý học” khi phân loại phê bình văn học. Theo Thibaudet có tổng cộng ba loại: phê bình của nhà báo, phê bình chuyên nghiệp (hay phê bình của các giáo sư) và phê bình của nghệ sĩ (tức bản thân nhà văn viết phê bình văn học). Ngoài sự phân loại đã trở thành kinh điển (và rất thành công) này, trong lĩnh vực văn học sử Thibaudet còn có ý tưởng (không mấy thành công) là chia lịch sử văn học thành các giai đoạn theo thế hệ nhà văn, rất giống với cách làm của linh mục giáo sư Thanh Lãng (1924-1978), tác giả bộ Phê bình văn học thế hệ 1932 (1972) và có dự định viết cả một bộ sách đồ sộ trên chục cuốn về lịch sử văn học Việt Nam theo thế hệ, trong đó đã in được cuốn Văn học Việt Nam: thế hệ dấn thân yêu đời (1969).

Dec 31, 2009

Mấy cuộc trở lại

+ Cuối năm, thêm một bài bị out báo không cho đăng.

Năm 2009, văn học Việt Nam nếu có sôi động thì cũng chủ yếu là vì một số vụ việc mang lại buồn nhiều hơn vui. Trong một năm có rất ít tác phẩm mới đáng chú ý, thì sự trở lại của những gương mặt thời trước cũng như việc tái bản sách của vài nhà văn trước đây ít được phổ biến tác phẩm thực sự góp phần rất quan trọng cho một đời sống văn chương lành mạnh.

Trước hết là Trần Dần. Trường ca (mà Trần Dần gọi là “hùng ca-lụa”) Đi! Đây Việt Bắc có một hành trình gian khổ đúng như hành trình sáng tạo của tác giả. Sau hơn năm mươi năm, Đi! Đây Việt Bắc mới lần đầu tiên xuất hiện ở dạng nguyên vẹn (Nhã Nam và NXB Hội Nhà văn). Mặc dù đã từng được xuất bản một cách chính thống vào năm 1990 dưới nhan đề Bài thơ Việt Bắc, chương II và chương cuối bài thơ hùng tráng này đến nay mới được trả về chỗ của chúng.

Con đường đi của Đi! Đây Việt Bắc đã được nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân vạch lại kỹ lưỡng ở lời bạt cho cuốn sách. Trích đoạn “Hãy đi mãi” (tức chương cuối) đã in trên báo Văn năm 1957 và nhiều trích đoạn khác in trên một số ấn phẩm sau này, nhưng rõ ràng là với một tác phẩm có tầm vóc như thế này, nếu không có toàn bộ văn bản thì ý nghĩa nghiên cứu sẽ mất đi rất nhiều.

Apr 22, 2009

Cụ Trứ, once for all

* Thỉnh thoảng cũng phải khủng bố các bạn một chút chứ nhỉ. Đợt vừa rồi có vẻ như là tôi hơi bị hiền, và hiền thì lại hay bị bắt nạt.

* Bài dưới đây là một dạng ý tưởng, còn rất nhiều điểm có thể/cần phải triển khai và đào sâu (post lên đây bị mất những chỗ in nghiêng, thật là mất đi bao nhiêu phần thi vị hehe).

Nguyễn Công Trứ là một nhân vật đặc biệt trong lịch sử Việt Nam, ở hơn một phương diện. Điều này đã được Trần Đình Hượu khẳng định ngay từ đầu bài viết của mình về Nguyễn Công Trứ: “Trong các danh nhân Việt Nam, không có ai giống Nguyễn Công Trứ. Ông là một nhân vật đặc biệt[1]”. Vấn đề của các nhà nghiên cứu (ở trường hợp Nguyễn Công Trứ là ở nhiều chuyên ngành, trong đó quan trọng hơn cả là sử học và văn học) là chỉ ra và lý giải những đặc biệt ấy. Đây là một vấn đề rất không dễ dàng, bởi cũng chính Trần Đình Hượu viết ngay sau nhận định nói trên rằng: “Đặc biệt vì ông đã lập nên một sự nghiệp lừng lẫy nhiều mặt, mặt nào cũng độc đáo. Và có lẽ đặc biệt hơn là con người, cách làm người của ông được nhiều người ngưỡng mộ nhưng ít khi được hiểu thật đúng[2]”. Những chỗ “ít khi được hiểu thật đúng” ở Nguyễn Công Trứ khiến cho tám mươi năm nghiên cứu Nguyễn Công Trứ ở Việt Nam[3] vẫn chưa đi sâu được vào nhiều khía cạnh của ông, nhất là những gì liên quan đến đặc sắc văn chương và những khác biệt về thái độ ở nhà nho Nguyễn Công Trứ so với trước đó cũng như so với đương thời.

Có thể nhanh chóng lược qua những điều đặc biệt hết sức nổi bật ở Nguyễn Công Trứ, nhân vật mà cuốn sách đầu tiên về ông, Sự nghiệp và thi văn của Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ của Lê Thước, đã trân trọng gọi là “một bậc tiền bối đáng hâm mộ, đáng tôn sùng”[4].