không phải mái tóc bạc nào cũng đẹp
(E. K.)
tiếp tục Gombrowicz
vanity doesn't mean fair
nghl: "Cái thứ nhất, thứ hai là etc. etc."
transat: loại ghế dài ban đầu (trước khi trở nên phổ biến, nhất là ở bể bơi) xuất hiện trên những chuyến tàu băng qua Đại Tây Dương (trans-atlantique)
Trans-Atlantique là cuốn sách mở ra giai đoạn mới của Gombrowicz, sau Ferdydurke và vài tác phẩm khác. Sau khi sống ở Argentina một số năm, Gombrowicz viết cuốn sách ấy, cô đặc lại ở trong đó kinh nghiệm Mỹ Latin của mình. Cô đặc nhưng tất nhiên cũng kèm với nhiều chuyển dịch.
lo bò trắng răng = (hoặc gần =) lo gà mọc răng
Không còn nghe thấy tiếng gà gáy nữa.
Gà gáy - dường như giống dế kêu, hay ếch ộp oạp - thường chỉ được nhận ra vào lúc đã biến mất, trong sự vắng mặt của nó.
(sự vắng thì giúp nhận ra)
Gustaw Herling, khi còn rất trẻ, là một trong những người (rất hiếm hoi vào lúc đó) bình luận Gombrowicz.
Sau chiến tranh, Herling thuộc vào số những người xung quanh Jerzy Giedroyc để lập ra một nhà xuất bản, đi kèm với đó là một thứ vô cùng quan trọng: tạp chí Kultura (trụ sở ban đầu nằm ở Rome, rồi chuyển đến Paris).
Herling cùng David Rousset (L'Univers concentrationnaire) viết từ rất sớm kinh nghiệm về trại của họ (yếu tố sẽ trở thành dấu ấn không thể xóa của thế kỷ 20: đóng góp về phương diện tội ác của thế kỷ ấy, cho dù đấy là KL hay gulag). Trại tập trung là hình thức mới của pogrom trước đó.
đâu?
Một người lênh khênh trên giàn giáo. Thùng sơn để ở một góc tấm ván kê ngang, hai thanh sắt mảnh bắt chéo nhau tạo thành một dạng che chắn không mấy đảm bảo cho mỗi "tầng" - ngẩng đầu dướn người sơn phía trên cao một lúc, người kia lại cúi xuống nhúng đầu cây gậy gắn miếng lăn của mình vào cái thùng; nếu chuyển động nhịp nhàng, người thợ sơn có thể tự biến mình, cùng đống giàn giáo, thành một chi tiết của mặt tiền nhà.
từ đấy (để) đến (được) đây: cả một đường
(tiếp tục (ăn) tiramisu)
Gérard de Nerval rất bị các số ám lấy và chi phối, ở mức độ rất mạnh. Tất nhiên, đấy không phải là người duy nhất như vậy.