Tiếp tục câu chuyện "Hà Nội 47-54":
Cuộc 4754, như vậy, tôi đã nối được gần như liền mạch, qua hết các năm:
1947
1948
1949
1950 (nhớ xem phần comment, hết sức quan trọng)
(à vậy là vẫn còn thiếu 1951, nhưng 51 thì quá dễ, sẽ sớm bổ sung)
Showing posts with label vu-hoang-chuong. Show all posts
Showing posts with label vu-hoang-chuong. Show all posts
Jan 18, 2020
Dec 16, 2019
[tiện bút] Mây suối về đâu
"Có chàng hai mươi tuổi
Cùng cô bé trăng rằm
Thơ Mây dìu tóc rối
Trôi theo mười chín năm"
(Vũ Hoàng Chương)
Feb 6, 2019
Văn chương miền Nam: Hồ Hữu Tường (3): Phiếm luận về văn chương Việt Nam
(tiếp theo và hết "Sách mới đầu năm" và cũng tiếp tục "Tô kê")
Tiếp tục câu chuyện Hồ Hữu Tường cho đến giờ vẫn chưa đi được xa mấy.
Tiếp tục câu chuyện Hồ Hữu Tường cho đến giờ vẫn chưa đi được xa mấy.
Jun 14, 2018
Trần Vàng Sao từ trước Trần Vàng Sao
Tôi đọc Bài thơ của một người yêu nước mình lần đầu tiên năm mười chín, hai mươi tuổi. Người đưa nó cho tôi đọc (lúc nào cũng có sẵn mấy bản đánh máy in ra giấy để trong cặp - hồi ấy không dễ tìm thấy thơ của Trần Vàng Sao mà đọc) kể (kèm rất nhiều thở dài) hồi trẻ (cũng mười chín, hai mươi tuổi), đi bộ đội, tình cờ đọc bài thơ ấy, và đã xé hết thơ mình làm, suốt phần đời còn lại bỏ mộng trở thành nhà thơ.
Apr 26, 2018
Hà Nội từ 1947 đến 1954 (4) Hà Nội 1950
Như thế nào cơ, sử gia Philippe Papin? Chúng ta không thể biết - như ông ngậm ngùi - người Hà Nội thời 47-54 như thế nào thật á?
Nhưng chúng ta vẫn biết người thời ấy (à, người ta hay gọi "thời ấy" là "Hà Nội tạm chiếm" hay "trong thành", tôi đề nghị gọi tên là "thời Chiếm đóng", dùng đúng cái từ Occupation, thời mà một nhà văn của các ông, Patrick Modiano, đã dò tìm vào sâu sắc ở mức độ đáng ngưỡng mộ: Occupation ở Hà Nội của 1947-1954 tên là "Occupation française", tương ứng với "Occupation allemande" tại Paris đầu thập niên 40 của thế kỷ 20: đến là phải nghĩ rằng để che khuất nỗi nhục của Occupation này mà người Pháp đã tạo ra Occupation kia; đó chính là một mặc cảm; nhưng chủ nghĩa thực dân là gì? trước hết, đó chính là một mặc cảm - lộn ngược hoàn toàn so với cách nhìn thông thường) làm rất nhiều điều cơ mà.
Nhưng chúng ta vẫn biết người thời ấy (à, người ta hay gọi "thời ấy" là "Hà Nội tạm chiếm" hay "trong thành", tôi đề nghị gọi tên là "thời Chiếm đóng", dùng đúng cái từ Occupation, thời mà một nhà văn của các ông, Patrick Modiano, đã dò tìm vào sâu sắc ở mức độ đáng ngưỡng mộ: Occupation ở Hà Nội của 1947-1954 tên là "Occupation française", tương ứng với "Occupation allemande" tại Paris đầu thập niên 40 của thế kỷ 20: đến là phải nghĩ rằng để che khuất nỗi nhục của Occupation này mà người Pháp đã tạo ra Occupation kia; đó chính là một mặc cảm; nhưng chủ nghĩa thực dân là gì? trước hết, đó chính là một mặc cảm - lộn ngược hoàn toàn so với cách nhìn thông thường) làm rất nhiều điều cơ mà.
May 22, 2017
Nguyễn Huy Thiệp: một lần nữa
Tôi đã chờ rất lâu (như đã nói ở kia) vì tôi muốn một ai đó khác chứ không phải tôi nói được chính xác về Nguyễn Huy Thiệp (cũng như văn chương cần đúng chứ không phải hay, phê bình trước hết phải chính xác, trong nhìn nhận, cũng như trong sắp xếp - đây là câu chuyện của giá trị, đây cũng là câu chuyện của ý nghĩa). Một số văn chương không thuộc về lối của tôi (Borges, Nabokov hay Nguyễn Huy Thiệp), tôi giữ khoảng cách với những văn chương ấy và không bao giờ thực sự muốn chạm đến những văn chương ấy.
Nhưng giờ ta sẽ nói đến Nguyễn Huy Thiệp, tôi sẽ chỉ lấy từ Nguyễn Huy Thiệp điều tối thiểu mà tôi cần. Sau khi viết về truyện Không có vua, tôi đã biết là không cần nói thêm nhiều lắm.
Nhưng giờ ta sẽ nói đến Nguyễn Huy Thiệp, tôi sẽ chỉ lấy từ Nguyễn Huy Thiệp điều tối thiểu mà tôi cần. Sau khi viết về truyện Không có vua, tôi đã biết là không cần nói thêm nhiều lắm.
Labels:
bao-ninh,
bui-giang,
dinh-hung,
duong-nghiem-mau,
huy-can,
khai-hung,
nguyen-bac-son,
nguyen-hong,
nguyen-huy-thiep,
nguyen-tuan,
nhat-linh,
nhuong-tong,
thanh-tam-tuyen,
tran-dan,
van-cao,
vu-hoang-chuong
Oct 31, 2015
Oct 26, 2015
Vũ Hoàng Chương: Vân Muội (3)
Hồi thứ hai của vở kịch thơ Vân Muội.
Ở hồi này, Liêu Trai chí dị đã được nhắc thẳng đến: "Như ở truyện Liêu Trai, nàng chợt hiện/Như một gái Hồ Ly, nàng chợt biến". Nhưng không chỉ có vậy, mở đầu ta thấy người bạn Vương Sinh của Hoàng Lang ngâm "Quế trạo hề lan tương/Kích không minh hề tố lưu quang", mấy câu trong Tiền Xích Bích phú của Tô Thức; một "quế trạo" khác nữa rất nổi tiếng là "Quế trạo hề lan duệ" của Khuất Nguyên.
Trong hồi này cũng có câu "Chút thiêng liêng di vật của người yêu" như là báo trước câu thơ nổi tiếng "Chút thiêng liêng sót lại của thiên đường/Gỡ dây trói sơ sinh cùng thể phách/Trên nẻo hư vô mơ hồ chiếc bách/Khói dìu đi men đẩy phía sau khoang" (trong bài "Đào nguyên lạc lối").
Ở hồi này, Liêu Trai chí dị đã được nhắc thẳng đến: "Như ở truyện Liêu Trai, nàng chợt hiện/Như một gái Hồ Ly, nàng chợt biến". Nhưng không chỉ có vậy, mở đầu ta thấy người bạn Vương Sinh của Hoàng Lang ngâm "Quế trạo hề lan tương/Kích không minh hề tố lưu quang", mấy câu trong Tiền Xích Bích phú của Tô Thức; một "quế trạo" khác nữa rất nổi tiếng là "Quế trạo hề lan duệ" của Khuất Nguyên.
Trong hồi này cũng có câu "Chút thiêng liêng di vật của người yêu" như là báo trước câu thơ nổi tiếng "Chút thiêng liêng sót lại của thiên đường/Gỡ dây trói sơ sinh cùng thể phách/Trên nẻo hư vô mơ hồ chiếc bách/Khói dìu đi men đẩy phía sau khoang" (trong bài "Đào nguyên lạc lối").
Oct 23, 2015
Vũ Hoàng Chương: Vân Muội (2)
Đoạn sau đây bắt đầu cho thấy tính chất Liêu Trai của Vũ Hoàng Chương thuở ấy.
Tập Vân Muội 1960 này, cũng như rất nhiều tập thơ khác của Vũ Hoàng Chương, có sự tham gia rất lớn của Đinh Hùng về mặt hình ảnh (trình bày, vẽ bìa vân vân và vân vân). Sự gần gũi giữa Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng không chỉ nằm ở tiểu sử, ở sự đồng điệu thơ ca, mà còn sâu thẳm hơn nhiều. Ta cũng thấy nhà văn Việt Nam một thuở vẽ rất đẹp. Không chỉ Nhất Linh từng theo học Mỹ thuật Đông Dương, mà cả Khái Hưng lẫn Thế Lữ đều thế. Dường như đây là truyền thống, giờ vẫn được tiếp nối, nhưng chỉ là tiếp nối ở vẻ bên ngoài mà thôi. Tôi thấy Nguyễn Quang Thiều vẽ tranh rất xấu, tệ hại, thế mà cứ vẽ suốt, mà lại còn trưng ra nữa.
Nhưng người đọc tinh tế sẽ còn nhận thấy một điều nữa ở Vân Muội, bên ngoài Liêu Trai chí dị và Đinh Hùng: Vũ Hoàng Chương thuở ấy lậm rất sâu vào Kiều. Nhà văn Việt Nam chân chính luôn luôn đi ra từ Kiều. Đời mưa gió là câu chuyện của Thúy Kiều kể lại theo cách khác; Nửa chừng xuân là ba phần tám một câu Kiều, đến cả Tắt lửa lòng của Nguyễn Công Hoan cũng lại là một nửa câu Kiều khác ("Sự đời đã tắt lửa lòng/Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi").
Quên mất còn chưa nói, Vân Muội là vở kịch có ba hồi. Dưới đây là kết thúc hồi thứ nhất.
Tập Vân Muội 1960 này, cũng như rất nhiều tập thơ khác của Vũ Hoàng Chương, có sự tham gia rất lớn của Đinh Hùng về mặt hình ảnh (trình bày, vẽ bìa vân vân và vân vân). Sự gần gũi giữa Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng không chỉ nằm ở tiểu sử, ở sự đồng điệu thơ ca, mà còn sâu thẳm hơn nhiều. Ta cũng thấy nhà văn Việt Nam một thuở vẽ rất đẹp. Không chỉ Nhất Linh từng theo học Mỹ thuật Đông Dương, mà cả Khái Hưng lẫn Thế Lữ đều thế. Dường như đây là truyền thống, giờ vẫn được tiếp nối, nhưng chỉ là tiếp nối ở vẻ bên ngoài mà thôi. Tôi thấy Nguyễn Quang Thiều vẽ tranh rất xấu, tệ hại, thế mà cứ vẽ suốt, mà lại còn trưng ra nữa.
Nhưng người đọc tinh tế sẽ còn nhận thấy một điều nữa ở Vân Muội, bên ngoài Liêu Trai chí dị và Đinh Hùng: Vũ Hoàng Chương thuở ấy lậm rất sâu vào Kiều. Nhà văn Việt Nam chân chính luôn luôn đi ra từ Kiều. Đời mưa gió là câu chuyện của Thúy Kiều kể lại theo cách khác; Nửa chừng xuân là ba phần tám một câu Kiều, đến cả Tắt lửa lòng của Nguyễn Công Hoan cũng lại là một nửa câu Kiều khác ("Sự đời đã tắt lửa lòng/Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi").
Quên mất còn chưa nói, Vân Muội là vở kịch có ba hồi. Dưới đây là kết thúc hồi thứ nhất.
Oct 22, 2015
Vũ Hoàng Chương: Vân Muội (1)
Vân Muội là một tác phẩm rất đặc biệt của Vũ Hoàng Chương.
Tôi thấy rất ngạc nhiên vì tìm trên mạng không thấy có vở kịch thơ này. Thật ra, tôi thấy làm mừng vì thấy rõ ràng không phải trên mạng có mọi thứ. Thật là bổ ích và đầy an ủi vì Internet không có mọi thứ. Thời này, ai là người nhìn thấy rõ nhất địa ngục (giống Adolf Hitler trước đây)? Theo tôi, đó là Mark Zuckeberg. Việc nhìn thấy địa ngục đảm bảo cho một số nhân vật có sức thu hút khủng khiếp.
Tôi thấy rất ngạc nhiên vì tìm trên mạng không thấy có vở kịch thơ này. Thật ra, tôi thấy làm mừng vì thấy rõ ràng không phải trên mạng có mọi thứ. Thật là bổ ích và đầy an ủi vì Internet không có mọi thứ. Thời này, ai là người nhìn thấy rõ nhất địa ngục (giống Adolf Hitler trước đây)? Theo tôi, đó là Mark Zuckeberg. Việc nhìn thấy địa ngục đảm bảo cho một số nhân vật có sức thu hút khủng khiếp.
Oct 21, 2015
Rất nhiều thơ, quá nhiều thơ
Có thể có một thái độ nào đối với thơ, ở trong hoàn cảnh Việt Nam?
Kể từ ngày nhận ra là cần phải khinh bỉ thơ, cần phải nuôi dưỡng một niềm khinh bỉ đích thực về phía thơ, tuyệt giao với niềm hứng khởi ca hát nhảy múa của thơ, tôi mới bắt đầu thấy rõ thơ hơn. Ví dụ, Xuân Diệu không thể so nổi với Huy Cận. Có một cuốn sách rất nổi tiếng về Thơ Mới, nói đến các đỉnh cao của Thơ Mới, trong đó Xuân Diệu đứng đầu. Nhưng không thể coi Xuân Diệu là một nhà thơ rất lớn được.
Kể từ ngày nhận ra là cần phải khinh bỉ thơ, cần phải nuôi dưỡng một niềm khinh bỉ đích thực về phía thơ, tuyệt giao với niềm hứng khởi ca hát nhảy múa của thơ, tôi mới bắt đầu thấy rõ thơ hơn. Ví dụ, Xuân Diệu không thể so nổi với Huy Cận. Có một cuốn sách rất nổi tiếng về Thơ Mới, nói đến các đỉnh cao của Thơ Mới, trong đó Xuân Diệu đứng đầu. Nhưng không thể coi Xuân Diệu là một nhà thơ rất lớn được.
Oct 17, 2015
Sep 21, 2015
Sep 18, 2015
Đinh Hùng và Nguyễn Du
Không chỉ Phạm Văn Diêu, như lần trước tôi đã nói, từng đặt trọng tâm vào Kim Trọng. Một giả thuyết tồn tại xưa nay là chữ Thanh+Tâm (Thanh Tâm Tài Nhân hay Thanh Tâm Tài Tử) thành chữ "tình", chữ Kim+Trọng thành "chung", cộng lại thành "chung tình", rồi thì Kim Trọng là hóa thân của Thanh Tâm Tài Nhân Từ Văn Trường, Từ Vị mạc khách Hồ Tôn Hiến từng là người tình của Vương Thúy Kiều khi Kiều còn là áp trại phu nhân của Từ Hải tức Từ Minh Sơn, vân vân và vân vân.
Aug 15, 2015
Tô Hoài kể chuyện (3)
Giờ, giỗ lễ xong rồi, ta đã có thể nói sâu vào văn chương Tô
Hoài.
Đọc đi đọc lại Cát bụi
chân ai, chẳng biết đến lần thứ mấy, tôi bỗng nhận ra, mình đúng là có mắt
như mù, Cát bụi chân ai hấp dẫn một
cách lạ thường như vậy chính là vì ở nó, lần duy nhất, Tô Hoài để lộ một số
chìa khóa ngõ hầu giúp người ta bước vào một thế giới kín bưng. Một lần, chắc
là vì hoảng hốt thế nào đó, hoặc có một tâm trạng hơi đặc biệt, Tô Hoài đã đi
chệch một chút khỏi con đường quen, thành ra đã xuất hiện những thứ bình thường
không bao giờ người ngoài mong thấy được. Về cơ bản, chẳng ai hiểu Tô Hoài hết,
kể cả những người từng ở rất sát Tô Hoài, rất quan tâm đến Tô Hoài, nói chuyện
rất nhiều với Tô Hoài. Một khi Tô Hoài đã không muốn, thì chẳng ai có thể nhìn
thấy gì, mọi thứ cứ lờ mờ. Ấy là vì chủ đích của Tô Hoài chính là tạo ra một sự
lờ mờ gầy gùa bao lấy xung quanh. Với văn chương tỉ mỉ ấy, chỉ có thể dùng một
sự tỉ mỉ còn lớn hơn, đừng để xao động bởi bất kỳ cảm xúc gì, thì mới may ra
nhìn nhận được.
Giờ đây, với Tô Hoài, tầm vóc ấy, danh tiếng ấy, sự lịch duyệt
ấy, chỉ còn duy nhất một câu hỏi có nghĩa: văn chương Tô Hoài có lớn không?
May 25, 2015
Khái Hưng vs Nguyễn Tuân
Năm 1946
Một nhà văn học sử độc đáo cần lấy riêng năm 1946 làm đối tượng khảo sát: không bao giờ văn chương Việt Nam có một năm đặc biệt hơn thế, một năm vô cùng thiếu vắng, nhưng chính là năm đầy tràn nhất. Luôn luôn văn chương có một điểm mốc của đoạn tuyệt, đổi thay hơi lệch so với mốc chính trị-xã hội. Năm lịch sử 1954 tạo ra phản ứng trong văn chương vào năm 1956, cả ở miền Nam lẫn miền Bắc, điều đó đã quá rõ. Đối với năm lịch sử 1945, năm văn chương tương ứng là 1946.
Đây là thời điểm để ta bắt đầu nhận ra một cú khủng khiếp như 1945 có thể tác động như thế nào tới văn chương. 1) Một số nhân vật vì thế mà không thể hồi lại được nữa, mà Xuân Diệu là rõ nhất; nhưng ở mức độ kín đáo hơn, còn phải kể đến những trường hợp như Nguyên Hồng: như thể cuộc đổi thay lớn đã tạo ra cơn gió quá mạnh thổi tắt mất một ngọn đèn (đúng hơn là ngọn nến) rất đẹp bên trong Nguyên Hồng 2) Những nhân vật nếu không có biến cố 1945 thì sẽ chẳng có lấy một vị trí đáng kể: Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nam Cao, v.v... 3) Nhưng cũng chính năm 1945 lại khiến ta nhìn thấy được vài sự nghiệp văn chương trọn vẹn; không có nhiều những sự nghiệp như thế, và đáng kể là Nguyễn Tuân và Khái Hưng cùng lên đến đỉnh cao vào chính năm 1946, như thể năm 1945 thúc đẩy họ đi nốt chặng đường cuối.
Thơ, văn xuôi và phê bình có những con đường riêng. Văn xuôi cần đến một dung lượng lớn tác phẩm, thơ lại cần tới một cái gì đó bí ẩn không thể giải thích. Nhà thơ lớn của thời tiền chiến là Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng. Còn phê bình: chỉ có nhà phê bình lớn mới nhận ra rằng nửa thế kỷ sau 1945 ở Việt Nam không thể có phê bình văn học. Ở phương diện này, hai nhà phê bình từ bỏ phê bình từ rất sớm là đáng nói nhất: Trương Tửu và Trương Chính.
Quay trở lại năm 1946 và cặp Khái Hưng-Nguyễn Tuân: năm 1946 là năm có đặc biệt ít tác phẩm văn chương. Ta chỉ có thể kể đến Cười của Nam Cao, Khao của Đồ Phồn và Chùa Đàn của Nguyễn Tuân. Trong đó Chùa Đàn dĩ nhiên là tác phẩm quan trọng hơn cả. Chỉ trong vòng 5-6 năm, Nguyễn Tuân hoàn thành một sự nghiệp văn chương khủng khiếp, chưa từng có, mà Chùa Đàn là kết tinh của mọi thứ, nhưng là một sự kết tinh rất không trọn vẹn. Còn Khái Hưng cần nhiều thời gian hơn, ung dung hơn cho sự nghiệp của mình, nhưng cũng đi đến năm 1946 một cách bùng nổ.
Bởi vì, sự kiện văn chương quan trọng nhất của năm 1946 là Chùa Đàn của Nguyễn Tuân, nhưng không chỉ có thế, vì song song với nó còn có một sự kiện nữa: trong năm 1946 này, Khái Hưng là nhà văn duy nhất, ngoài Nguyễn Tuân, có tác phẩm lớn, nhưng đã bị chìm khuất. Những truyện ngắn như "Lời nguyền", "Khói hương" hay "Hổ" của Khái Hưng xuất hiện vào năm 1946 này đã không mấy ai còn nhớ. Tôi tin là cho tới giờ cũng mới chỉ có rất ít người biết đến tập Lời nguyền in những tác phẩm ngắn hồi 1946 này (một cách không đầy đủ) của Khái Hưng (Phượng Hoàng xuất bản, Sài Gòn, 1966), và càng ít người hiểu được tầm vóc của những tác phẩm ấy.
Cả Khái Hưng và Nguyễn Tuân vào năm 1946 đều chung một cảm thức, thế nên cả hai, một cách độc lập, đều quay trở lại quá vãng tù tội trên miền thượng du: trong Chùa Đàn thì ta đã rõ, còn trong các truyện ngắn của Khái Hưng, đó là giai đoạn đi tù ở Vụ Bản, người Mường, thuốc phiện và hổ.
Đặc biệt hơn cả, Khái Hưng hết sức để ý đến Nguyễn Tuân. Dưới đây là một bài điểm sách, có lẽ sớm nhất, về Chùa Đàn, đăng trên một tờ báo ra năm 1946, bài báo không đề tên người viết nhưng theo nhiều tìm hiểu thì đó chính là Khái Hưng. Khái Hưng là người hiểu Nguyễn Tuân nhất, đặc biệt khi cho rằng phần "Dựng" và "Mưỡu cuối" của Chùa Đàn làm hỏng đi cả tác phẩm. Lời nhận xét này tất nhiên dựa rất nhiều trên "lập trường tư tưởng", nhưng cùng lúc, thật ra nó hết sức chính xác, như một lời tiên tri: Nguyễn Tuân đạt tới đỉnh cao của mình ở "Tâm sự của nước độc", ngay sau đó, trong cùng tác phẩm, "Mưỡu cuối" đã là sự suy đồi. Và sau đó chỉ thuần túy là suy đồi, con chim phượng hoàng đã thôi bay, hạ cánh xuống sân chơi với đàn gà, trong đó có những phần tử hết sức tinh quái, như Tô Hoài. Còn Khái Hưng, chim thiêng nói lời mệnh bạc, sẽ bỏ mạng ngay năm sau đó, 1947.
Một nhà văn học sử độc đáo cần lấy riêng năm 1946 làm đối tượng khảo sát: không bao giờ văn chương Việt Nam có một năm đặc biệt hơn thế, một năm vô cùng thiếu vắng, nhưng chính là năm đầy tràn nhất. Luôn luôn văn chương có một điểm mốc của đoạn tuyệt, đổi thay hơi lệch so với mốc chính trị-xã hội. Năm lịch sử 1954 tạo ra phản ứng trong văn chương vào năm 1956, cả ở miền Nam lẫn miền Bắc, điều đó đã quá rõ. Đối với năm lịch sử 1945, năm văn chương tương ứng là 1946.
Đây là thời điểm để ta bắt đầu nhận ra một cú khủng khiếp như 1945 có thể tác động như thế nào tới văn chương. 1) Một số nhân vật vì thế mà không thể hồi lại được nữa, mà Xuân Diệu là rõ nhất; nhưng ở mức độ kín đáo hơn, còn phải kể đến những trường hợp như Nguyên Hồng: như thể cuộc đổi thay lớn đã tạo ra cơn gió quá mạnh thổi tắt mất một ngọn đèn (đúng hơn là ngọn nến) rất đẹp bên trong Nguyên Hồng 2) Những nhân vật nếu không có biến cố 1945 thì sẽ chẳng có lấy một vị trí đáng kể: Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nam Cao, v.v... 3) Nhưng cũng chính năm 1945 lại khiến ta nhìn thấy được vài sự nghiệp văn chương trọn vẹn; không có nhiều những sự nghiệp như thế, và đáng kể là Nguyễn Tuân và Khái Hưng cùng lên đến đỉnh cao vào chính năm 1946, như thể năm 1945 thúc đẩy họ đi nốt chặng đường cuối.
Thơ, văn xuôi và phê bình có những con đường riêng. Văn xuôi cần đến một dung lượng lớn tác phẩm, thơ lại cần tới một cái gì đó bí ẩn không thể giải thích. Nhà thơ lớn của thời tiền chiến là Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng. Còn phê bình: chỉ có nhà phê bình lớn mới nhận ra rằng nửa thế kỷ sau 1945 ở Việt Nam không thể có phê bình văn học. Ở phương diện này, hai nhà phê bình từ bỏ phê bình từ rất sớm là đáng nói nhất: Trương Tửu và Trương Chính.
Quay trở lại năm 1946 và cặp Khái Hưng-Nguyễn Tuân: năm 1946 là năm có đặc biệt ít tác phẩm văn chương. Ta chỉ có thể kể đến Cười của Nam Cao, Khao của Đồ Phồn và Chùa Đàn của Nguyễn Tuân. Trong đó Chùa Đàn dĩ nhiên là tác phẩm quan trọng hơn cả. Chỉ trong vòng 5-6 năm, Nguyễn Tuân hoàn thành một sự nghiệp văn chương khủng khiếp, chưa từng có, mà Chùa Đàn là kết tinh của mọi thứ, nhưng là một sự kết tinh rất không trọn vẹn. Còn Khái Hưng cần nhiều thời gian hơn, ung dung hơn cho sự nghiệp của mình, nhưng cũng đi đến năm 1946 một cách bùng nổ.
Bởi vì, sự kiện văn chương quan trọng nhất của năm 1946 là Chùa Đàn của Nguyễn Tuân, nhưng không chỉ có thế, vì song song với nó còn có một sự kiện nữa: trong năm 1946 này, Khái Hưng là nhà văn duy nhất, ngoài Nguyễn Tuân, có tác phẩm lớn, nhưng đã bị chìm khuất. Những truyện ngắn như "Lời nguyền", "Khói hương" hay "Hổ" của Khái Hưng xuất hiện vào năm 1946 này đã không mấy ai còn nhớ. Tôi tin là cho tới giờ cũng mới chỉ có rất ít người biết đến tập Lời nguyền in những tác phẩm ngắn hồi 1946 này (một cách không đầy đủ) của Khái Hưng (Phượng Hoàng xuất bản, Sài Gòn, 1966), và càng ít người hiểu được tầm vóc của những tác phẩm ấy.
Cả Khái Hưng và Nguyễn Tuân vào năm 1946 đều chung một cảm thức, thế nên cả hai, một cách độc lập, đều quay trở lại quá vãng tù tội trên miền thượng du: trong Chùa Đàn thì ta đã rõ, còn trong các truyện ngắn của Khái Hưng, đó là giai đoạn đi tù ở Vụ Bản, người Mường, thuốc phiện và hổ.
Đặc biệt hơn cả, Khái Hưng hết sức để ý đến Nguyễn Tuân. Dưới đây là một bài điểm sách, có lẽ sớm nhất, về Chùa Đàn, đăng trên một tờ báo ra năm 1946, bài báo không đề tên người viết nhưng theo nhiều tìm hiểu thì đó chính là Khái Hưng. Khái Hưng là người hiểu Nguyễn Tuân nhất, đặc biệt khi cho rằng phần "Dựng" và "Mưỡu cuối" của Chùa Đàn làm hỏng đi cả tác phẩm. Lời nhận xét này tất nhiên dựa rất nhiều trên "lập trường tư tưởng", nhưng cùng lúc, thật ra nó hết sức chính xác, như một lời tiên tri: Nguyễn Tuân đạt tới đỉnh cao của mình ở "Tâm sự của nước độc", ngay sau đó, trong cùng tác phẩm, "Mưỡu cuối" đã là sự suy đồi. Và sau đó chỉ thuần túy là suy đồi, con chim phượng hoàng đã thôi bay, hạ cánh xuống sân chơi với đàn gà, trong đó có những phần tử hết sức tinh quái, như Tô Hoài. Còn Khái Hưng, chim thiêng nói lời mệnh bạc, sẽ bỏ mạng ngay năm sau đó, 1947.
Mar 3, 2015
Thơ Đinh Hùng: Hai thế giới
Ta sẽ khởi đầu bằng những gì xưa nay vẫn là nổi tiếng nhất của
thơ Đinh Hùng, gần như đương nhiên được coi là đặc trưng Đinh Hùng nhất. Để từ
đó thấy được nét độc đáo đầu tiên, cũng đồng thời là sự trớ trêu đầu tiên (cạm
bẫy đầu tiên; bởi vì thơ Đinh Hùng là thơ của cạm bẫy trùng trùng tiếp nối; thơ
ấy rất đáng sợ): nổi bật không hề là đặc trưng.
Feb 26, 2015
[tiện bút] Trời nồm lắm em ơi
Em đến hôm nào như hoa bay
Tình không độc dược mà đắng cay
Mùa thu tàn nhẫn từ đôi mắt
Mùi hương sát nhân những ngón tay
Em đến hôm nào như mây bay
Gió mưa triền miên từ nét mày
Đường vào lòng nhau toàn sạn đạo
Bước chân tha hương từ dấu giày
Tình không độc dược mà đắng cay
Mùa thu tàn nhẫn từ đôi mắt
Mùi hương sát nhân những ngón tay
Em đến hôm nào như mây bay
Gió mưa triền miên từ nét mày
Đường vào lòng nhau toàn sạn đạo
Bước chân tha hương từ dấu giày
Aug 29, 2014
Huy Cận: Lửa Thiêng
Huy Cận: Lửa thiêng 1940 và Kinh cầu tự 1942:
Trước 1945, tiểu thuyết gia lớn là ai? là Khái Hưng (chứ không phải Vũ Trọng Phụng).
Còn nhà thơ lớn là ai? là Huy Cận.
Trước 1945, tiểu thuyết gia lớn là ai? là Khái Hưng (chứ không phải Vũ Trọng Phụng).
Còn nhà thơ lớn là ai? là Huy Cận.
Nov 17, 2013
Sách tháng Mười 2013
- Nguyễn Hoài Nam, Mùi
chữ, NXB Phụ nữ, 315tr., 80.000đ.
Trong lời bạt “Những cái không
ở Hoài Nam”, nhà văn Hồ Anh Thái chỉ ra những cái không trong phê bình của Nguyễn Hoài Nam, như “không áp đặt ý kiến
của mình lên tác phẩm”, “không tỏ thái độ cao ngạo và hách dịch”, v.v…, nhưng Hồ
Anh Thái đã không chỉ ra được một cái không
lớn nhất: Phê bình của Nguyễn Hoài Nam không có gì đáng nói.
Và chính từ đây, cái đáng nói bắt đầu.
Subscribe to:
Posts (Atom)
