Showing posts with label italo-calvino. Show all posts
Showing posts with label italo-calvino. Show all posts

May 16, 2023

Calvino, letters

trở lại với những bức thư


(một số người viết thư - thậm chí, viết vô cùng nhiều thư - là một chuyện dễ hiểu, nếu không muốn nói là đương nhiên; nhưng một số người khác, khi thấy là họ cũng viết thư, ta sẽ cảm thấy hơi hốt hoảng: họ cũng có viết thư?)



May 19, 2022

mê cung và Mê Cung


(tiếp tục một trong bốn và cũng tiếp tục một chữ ấy)

Cuối cùng thì tôi cũng tìm (lại) được nó: Mê cung và lại mê Cung.

Apr 5, 2022

tiếp, Jacques

tiếp tục Jacques của Diderot; tôi thấy là đã có thể hứa hẹn một chút: mùa thu năm nay in (thành sách) Jacques Người định mệnh cùng ông chủ


(tiếp tục: "no reply"; "ngoài hiệu sách (3) cứng"; "Các Thánh"; "bourgeois"; "Internet"; và đã có thể - finalement - bắt đầu Tú tài thủy tinh)


Jul 27, 2020

Cl. Simon


(hình như đã có) mấy chỗ nhắc đến Claude Simon, nhưng tạm thời lúc này chỉ mang máng nhớ ra một chỗ, ởkia (thì phải)

Oct 28, 2018

Italo Calvino ở Việt Nam

(đã tiếp tục bài "Nguyễn Triệu Luật": Nhượng Tống, cuối cùng, ở đâu, trên tờ Hải Phòng nhật báo vào cái giai đoạn hỗn loạn ấy?)

(xem các bài về Italo Calvino theo label "italo-calvino", nhiều phết đấy)

Mar 30, 2017

Đầu tiên và cuối cùng

Ấy đấy, cái ông Balzac có thể gây ra bao nhiêu điều và đồng thời có thể làm tắc nghẽn khối chuyện khác. Kể từ khi bắt đầu "tổng phổ" Balzac, vụ "Hà Nội từ 1947 đến 1954" ắc tắch quá :p

Giờ lại tiếp tục. Vả lại, nó sẽ là một "vệt" rất dài, rất rất dài. Thậm chí, nó sẽ không là "vệt" đâu. Và nó sẽ thực sự là "Hà Nội từ 1947 đến 1954".

Nov 18, 2016

[Tiện bút] Đồ vật

Dickens cùng một lúc viết hai hay ba cái phơi-ơ-tông là thường, chưa kể còn làm tổng biên tập một tờ báo nào đó, viết kịch và tổ chức diễn các vở kịch ở quy mô công chúng nhỏ (vở The Frozen Deep chẳng hạn, đã diễn xong rồi, nữ hoàng Victoria lại đòi xem, thế là lại dàn dựng diễn, trong đó Dickens có thủ vai - cô bé Victoria khi vua William Đệ tứ tức là người ông vừa qua đời, mới kế vị xong thì đọc Oliver Twist và thấy nó rất hay, tức là hơn chục năm trước vở kịch The Frozen Deep), lại còn phụ trách thực tế một "trại phục hồi nhân phẩm" cho gái điếm, đặt tên giản dị là "Home", ở Shepherd's Bush không xa London. Nhưng, trong riêng lĩnh vực phơi-ơ-tông, người ta nói từng có thời điểm Lê Xuyên (Chú Tư Cầu, Nguyệt Đồng Xoài, etc.) viết cùng một lúc mười một (11) cái. Thế nên, đang phơi-ơ-tông ở kiaở kia, tôi lại tiếp tục phơi-ơ-tông thêm một cái nữa.

Feb 9, 2016

Kundera và tôi

Giờ đây, khi Kundera đã quen thuộc, thậm chí quá quen thuộc ở đây (trong cuộc phổ biến hơi có chút tràn lan ấy, tất nhiên có phần đóng góp của tôi, một phần đóng góp không đáng kể), một vài điều nên được nói.

Sep 2, 2015

Sách mới (1)

Mục "sách hằng tháng" hay nôm na là "monthly books" được tôi duy trì (không hằng tháng cho lắm) được gần ba năm. Đã tới lúc tôi thấy cần thay đổi format. Giờ tôi sẽ không định kỳ lắm nữa.

Cách đây không lâu (xem ở đây) tôi nhận ra là mình nên viết về những cuốn sách gây ra sự thích thú đặc biệt cho riêng tôi, bỏ bớt cái trách nhiệm phải bao quát tình hình sách mới. Mình nhường cho các bạn cái việc ấy đấy.

Jun 3, 2015

Italo Calvino: Những thành phố vô hình

Trong số mới nhất của tờ Books (tuy bị mất một số nhân sự sang cho tờ tạp chí mới này, số vừa xong, tháng Năm 2015, của Magazine Littéraire tức ML vẫn đặc biệt hay, với chuyên đề về tụi pervers tức là perverse tức là "biến thái", tức là toàn bộ loài người, nhất là một bài trong chuyên đề ấy, về Georges Bataille và Jean Genet, cùng một bài ngoài chuyên đề, một bài báo hiếm hoi viết về Jean-Pierre Richard, một nhà phê bình văn học kiệt xuất), Kazuo Ishiguro khi trả lời phỏng vấn bỗng nói được một câu rất hay, về vai trò của các tiểu thuyết gia, đại ý nói rằng nhà văn là những người viết về những cảm xúc mà một số câu hỏi làm hiện ra, như là để bù lại cho việc họ không thể trả lời được những câu hỏi đó.

Văn chương không phải để đi trả lời các câu hỏi, mà nó toàn đặt thêm ra những câu hỏi mới - nhà văn càng lớn thì càng đặt ra những câu hỏi khó. Những câu trả lời thì đi qua, những câu hỏi thì còn lại. Trong Những thành phố vô hình (Le Città invisibili) đặt ra một câu hỏi kín đáo: trú sở của con người là ở đâu? Câu trả lời tương đối dễ: con người có hai trú sở quan trọng nhất, là thành phố và giấc mơ. Nhưng đọc hết Những thành phố vô hình thì một câu hỏi khác lại hiện ra và chắc chắn mắc lại không cách gì trả lời cho nổi: các thành phố, thật ra chúng có thực, hay chỉ là vô hình?

Mar 19, 2015

Không gì đẹp bằng một cái cây đẹp

Trong La Chartreuse de Parme (Tu viện thành Parme), kiệt tác vô song của Stendhal, có một chi tiết này, dường như chưa bao giờ được chú ý đến, mặc dù đã có vô vàn nhà phê bình, trong đó không ít đặc biệt xuất chúng, bàn về Stendhal và Chartreuse. Chi tiết ấy liên quan đến một cái cây.

Aug 29, 2014

[tiện bút] Những ngôi nhà ấy đã

Những ngôi nhà ấy đã còn, nhưng những ngôi nhà ấy cũng đã mất.

Năm lên năm tuổi, lúc nào tôi cũng thường trực nỗi thúc giục cấp kíp là nằm trên giường úp mặt vào vách; vách đất trộn trấu, dứt dứt đầu mẩu trấu và lấy đầu ngón tay miết rồi chọc vào đất, lẽ dĩ nhiên tôi chỉ mường tượng êm ả ngái ngủ về một cảm giác đê mê đần độn chứ không nuôi dưỡng chút khoái thú nào về phá hoại.

Dec 28, 2013

Người Pháp và Borges

Người Pháp ưa văn chương dài dòng và trước tác đồ sộ tìm được chính xác đối nghịch của mình ở Borges. Càng đối nghịch thì càng thu hút nhau, nên một mặt thì Borges (ít nhất thuở đầu đời) nhận tác động trực tiếp từ nước Pháp, mặt kia thì Borges nhanh chóng tác động vô cùng mạnh mẽ lên văn chương Pháp, từ rất sớm.

Câu chuyện Borges ở Pháp không hoàn toàn như nhiều người vẫn nghĩ: tất nhiên Roger Caillois đóng vai trò rất lớn và Borges rất nổi tiếng ở Pháp từ đầu thập kỷ 50, khi tủ sách "La Croix du Sud" do Roger Caillois phụ trách ở Gallimard giai đoạn đầu đã đưa tập Ficciones đến với độc giả Pháp.

Feb 5, 2013

Italo Calvino và niềm vui cuối năm

Dịp cuối năm này, dù đang say sưa Cô gái năm ấy chúng ta cùng theo đuổi hay bi thương Bí mật bị thời gian vùi lấp, dù phơi phới xen lẫn ngậm ngùi ngắm ảnh Maika Elan trong The Pink Choice hay đau đầu nhức óc một cách đê mê khoan khoái đọc Đám đông cô đơn, thì cũng không nên quên rằng năm vừa rồi, Italo Calvino đã làm (một bộ phận không nhỏ) độc giả Việt Nam sung sướng với chàng hiệp sĩ tuy không hiện hữu nhưng lại rất hiện diện, cuốn tiểu thuyết của năm 2012, theo tôi: Hiệp sĩ không hiện hữu, cái kết tuyệt đẹp cho bộ Tổ tiên của chúng ta.

Câu chuyện bộ ba tiểu thuyết ấy tôi từng kể sơ qua.

Và, cũng như mọi con người tuyệt diệu, Italo Calvino, đã qua đời từ lâu, vẫn có khả năng mang lại niềm vui bất tận cho hậu thế. Lần này Calvino chuyển tới một thông điệp cho riêng độc giả Việt Nam, qua một tín sứ bất ngờ.

Oct 9, 2012

Rousseau ở Montmorency

Buồn cười, đến giờ mà vẫn có người nghĩ Les Confessions là biểu hiện tột cùng của sự ngây thơ ở Rousseau. Sự thành thực có thể đồng nghĩa với ngây thơ, nhưng thành thực đến mức ấy, như Rousseau thể hiện trong Les Confessions, thì chẳng còn tí chút ngây thơ ngẫn ngở nào cả, thậm chí còn đầy rẫy mưu mẹo, chiến lược, đúng kiểu "thật thà là cha tinh quái". Cứ vướng vào mấy thứ cliché suy nghĩ này, mấy cái bẫy đơn giản như thế, lại còn hỏi tại sao lại cứ như thế.

Lôi lại bài "Rousseau ở Montmorency" này, nó tương ứng với một phần quyển 9, gần như toàn bộ quyển 10, một ít quyển 11 ở Phần 2 của Những lời bộc bạch. Giờ đọc lại mới thấy từ năm 2005 đã loay hoay với I tá lồ rồi. (bài này cũng chưa bao giờ đăng ở đâu)

Trong Những lời bộc bạch, cái hồ Enghien nổi tiếng vào thời của Rousseau hình như tên chính thức là Montmorency.

(Sophie được nhắc tới ở đây là bà d'Houdetot, tình yêu duy nhất trong đời Rousseau, nhưng lại là người tình của Saint-Lambert bạn ông, và là nguyên mẫu của Julie trong Julie; Những lời bộc bạch dành rất nhiều trang viết về bà d'Houdetot, chắc phải ngang với về bà de Warens, mối tình đầu đời của Rousseau, đậm màu sắc loạn luân)


“Montmorency” là một từ thần kỳ hiện lên từ những trang sách thuở nhỏ của tôi. Montmorency, đó là mơ ước về một thiên đường giáo dục, một mô hình học tập mà Rousseau dựng lên trong Émile. Trong thế giới của Rousseau, con người có quan hệ chặt chẽ với thiên nhiên; ông đề xuất lối giáo dục tự do, chủ yếu dựa vào thiên nhiên. Chính vì thế cậu bé Émile sẽ được dạy địa lý không phải bằng những khái niệm nhồi nhét, những bài giảng khô cứng, mà qua việc tìm đường về khi bị lạc trong khu rừng Montmorency. Thành phố nhỏ xinh xắn Montmorency ở ngoại ô phía Bắc Paris cũng là nơi Rousseau sống liên tục trong sáu năm.

Công dân của thành phố tự do Genève, Rousseau đi khắp châu Âu, nhưng quãng thời gian ở Montmorency chắc chắn là quan trọng hơn cả trong sự nghiệp trước tác của ông, cả về văn chương lẫn triết học. Sáu năm ở ngôi nhà nhỏ Mont-Louis (từ 1756 đến 1762) Rousseau viết và xuất bản những tác phẩm quan trọng nhất: Julie hay nàng Héloïse mới, Émile hay về giáo dục, Khế ước xã hộiThư gửi d’Alembert. Nằm không xa hồ Enghien nổi tiếng dành cho nhu cầu bơi lội của người dân thủ đô vào mùa hè, ngôi nhà Mont-Louis trên ngọn đồi dốc nay trở thành bảo tàng, con đường chạy qua trước nhà giờ mang tên Jean-Jacques Rousseau. Một ngày trời nắng muộn cuối mùa thu, người đàn bà luống tuổi trông coi khu nhà dẫn tôi đi thăm nhà. Dừng lại ở phòng ngủ của nhà văn, ở tầng trên, một căn phòng được sửa sang nhờ sự giúp đỡ của một người bạn, theo lối “căn hộ” thế kỷ XVIII với phòng chờ, phòng ngủ, nơi để và thay quần áo. Trước khi rời khỏi phòng, người hướng dẫn chỉ vào cửa sổ nhỏ trổ trên tường, đối diện với giường ngủ, và nói ngày trước, những hôm trời quang như hôm nay, Rousseau có thể từ đây nhìn thấy Paris, “thành phố của tiếng ồn, bùn lầy và khói bụi”.

Nhà văn Ý Italo Calvino trong một bài giảng năm 1958 tên là “Thiên nhiên và lịch sử trong tiểu thuyết” chứng minh rằng thiên nhiên trong truyền thống văn học cổ kéo dài cho đến Rousseau luôn hàm chứa trong nó ý tưởng về một tính siêu nhiên, một đấng cứu thế mà tinh thần có thể giao hội. Chỉ khi “tiêu diệt” xong kiểu thiên nhiên đó, tiểu thuyết hiện đại mới thực sự ra đời. Thiên nhiên với Rousseau là nơi để trốn ra khỏi vùng “kinh đô cát bụi bay nhiều” (Nguyễn Bính). Ngồi trong khu vườn đầy nắng nhưng vẫn có phần cô quạnh của Rousseau, ngay ở chiếc bàn đá tròn giản dị, dường như một thiên nhiên đầy âm thanh và ý nghĩa bỗng trong phút chốc truyền đến với tôi, một người khách từ xa đến. Ngày nay khu đồi vẫn khá yên tĩnh. Mọi thứ không có vẻ thay đổi nhiều lắm, ngoại trừ một nửa ngôi nhà được xây thêm vào thế kỷ XIX, gá thẳng vào nhà cũ, thành ra từ cửa sổ phòng ngủ Rousseau không thể còn nhìn thấy Paris được nữa.

Giai đoạn Montmorency này Rousseau phải trải qua không ít những tổn thất về tình cảm. Với một người đa cảm như ông, những người bạn mất đi để lại những vết thương không nhỏ. Bà d’Epinay, rồi Grimm, những người bạn Montmorency, rồi những người bạn Paris như Saint-Lambert hay Sophie. Và đặc biệt là người bạn mà ông coi là thân thiết nhất, Diderot. Diderot khiến ông cảm thấy tổn thương nặng nề khi viết thư cho ông, nói rằng: “Chỉ người nào độc ác mới cô độc”, mà Rousseau là một người “cô độc bẩm sinh”, tác giả của một trong những cuốn sách đẹp nhất về sự cô đơn: Những mơ mộng của người đi dạo cô độc.

Trước khi chuyển sang ngôi nhà Mont-Louis, Rousseau ở sát gần đó, trong một ngôi nhà tuyệt đẹp tên là “Ermitage”. Trong vòng một năm rưỡi, ông ở ngôi nhà mới xây dành riêng cho ông, và bắt tay viết Nàng Héloïse mới. Đó chính là ngôi nhà mà bà d’Epinay, một trong số những người bạn gái thân thiết của Rousseau, dùng làm món quà tặng nhà văn. Trong tác phẩm Tự thú ông kể bà bạn nói với ông đầy thân tình: “Con gấu của tôi, đây là chỗ trú ẩn của anh; anh đã lựa chọn nó, tình bạn tặng nó cho anh”. Đó là một món quà bất ngờ, vì bà d’Epinay khi thấy Rousseau tỏ ra thích khoảnh đất, đã xây ngôi nhà một cách bí mật để tặng lại cho ông. Nhưng rồi Rousseau chỉ ở được chốn thiên đường trần thế đó trong vòng khoảng một năm rưỡi, ngay trước khi chuyển sang Mont-Louis cùng với Thérèse Levasseur và bà mẹ của Thérèse (chỉ sau đó một thời gian rất ngắn, vì thích Paris hơn nên bà mẹ không ở đó nữa, để lại ngôi nhà cho hai người). Một cuộc tình duyên với một người bà con của d’Epinay chính là nguyên do khiến ông nhận được một bức thư lịch sự nhưng cương quyết mời ra khỏi nhà, khi năm 1856 đã bước sang những ngày cuối cùng.

Nhưng cuộc sống ở Mont-Louis cũng mang lại cho ông những người bạn mới. Thuê được ngôi nhà từ Mathas, người quản lý thuế má cho hoàng thân Condé với giá rất rẻ, Rousseau và “cô thợ giặt” Thérèse Levasseur nhanh chóng có láng giềng. Trong khi những người bạn Paris như Diderot hay d’Alembert của nhóm “Bách khoa toàn thư” sửng sốt trước tin Rousseau thuê nhà ở xa Paris (“Sao anh lại đến đó ở, anh không còn yêu chúng tôi nữa hay sao?”), một vị thống chế nhà ở gần đó, de Luxembourg, sau một thời gian quen biết, tỏ ý muốn sửa chữa ngôi nhà giúp Rousseau và Thérèse. Lúc đầu Rousseau không muốn, cả đời Rousseau không muốn được ai giúp, nhất là từ một nhà quý tộc. Vị thống chế đã thuyết phục được ông Mathas chủ nhà của Rousseau. Và thế là ngôi nhà được sửa sang, trong thời gian thợ làm việc, Rousseau và Thérèse chuyển sang ở nhà của vị thống chế. Ngoài ra, cũng nhờ vợ chồng người láng giềng hào hiệp mà ở cuối khu vườn, “donjon” (tòa tháp canh) mới được xây lên. Trước đó nó chỉ là một cái bàn nhỏ đặt cuối vườn, thông thống gió. Rousseau hay ngồi đó để viết. Từ nay nó đã trở thành một căn phòng nhỏ biệt lập và ấm áp. Ngoài việc giữ gìn sức khỏe, những bức tường mới xây còn giúp Rousseau một việc nữa: trước đó nhiều lần giấy tờ ông để lại trên bàn bị hai “kẻ tọc mạch” (cách gọi của chính Rousseau) láng giềng đọc trộm. Hai người đàn ông tò mò đó sống ở ngôi nhà hiện nay là nhà nghiên cứu Rousseau ở phố Mont-Louis.

Với gia đình Rousseau cũng như ở đại đa số gia đình thời đó, nước là cả một vấn đề nan giải. Nước nhà Rousseau dùng phải đi lấy ở tận chân đồi. Và dĩ nhiên phải dùng cực kỳ tiết kiệm. Thế nên trong nhà ông có thứ dụng cụ lạ mắt, chậu đựng nước vách rất dày, với một chiếc gáo đục thủng ở cán để lấy nước ra từ chậu theo từng giọt một. Trong phòng Thérèse cũng có một chậu nhỏ hình chữ nhật với các dụng cụ làm vệ sinh cơ thể. Nước cũng được tính bằng giọt. Cả trong phòng hai vợ chồng (phòng Rousseau nằm trên tầng) đều có chiếc kéo màu vàng cắt tim nến. Ngoài nước, nến cũng là thứ không thể phí phạm. Trên chiếc bàn nhỏ hơi võng xuống đặt giữa phòng đặt một mảnh giấy đang viết dở. Trên bàn này Rousseau đã viết những trang của Thư gửi d’Alembert trong đó ông phản đối việc xây dựng nhà hát ở Genève, bởi vì ông e dân thành phố quê hương ông sẽ ưa chuộng các thứ giả tạo bôi lên người, các thứ hóa trang sân khấu, để mà quên đi con người thật của mình. D’Alembert không giận ông vì chuyện này, nhưng nhóm “Bách khoa toàn thư” sẽ không tha thứ cho Rousseau vì đã động đến vị giám đốc đầy uy tín của họ.

Trong ngôi nhà đã trở thành bảo tàng khi đó đang có trưng bày về bộ sưu tập cây cỏ (herbier) mà Rousseau gửi tặng cho Madeleine, “cô bé Madelon”, con gái người bạn của ông, bà de Lessers. Nhưng khi còn sống ở Montmorency, thực vật học còn chưa trở thành niềm say mê của ông. Khi đó con người ông vẫn bị niềm say mê thứ nhất của cuộc đời chiếm trọn vẹn: âm nhạc. Cuộc trưng bày cũng bày những bản nhạc mà Rousseau viết theo lối ký âm của riêng ông, bởi vì ông nghĩ cần phải có một ngôn ngữ mới cho âm nhạc. Viện hàn lâm âm nhạc từ chối sáng tạo này.

Khi viết xong Émile với những ý kiến phàm tục, phạm thánh động chạm đến Nhà thờ, cuốn sách bị cấm và có lệnh bắt luôn tác giả. Trong Émile, Rousseau khẳng định: “Chúng ta không biết chút nào tuổi thơ: với những tư tưởng sai lầm mà chúng ta có sẵn về nó, càng làm thêm nữa chúng ta sẽ càng sai lầm.”. Nhưng vị thống chế de Luxembourg đã kịp thời cấp báo, và khi triết gia tỏ ra do dự, nài xin ông đi trốn. Ngay trong đêm ông ra đi trên một chiếc xe ngựa, hướng về vùng Jura, Thụy Sỹ. Trên đường chạy trốn xe ông gặp xe của những viên mõ tòa thừa lệnh đến bắt ông. Hai bên chào nhau thân ái, và những người mõ tòa sau đó báo cáo lại với cấp trên là Ông Rousseau không có nhà, nơi họ có lệnh phải bắt ông. Và thế là đường lưu lạc của Rousseau lại tiếp tục, sau những vinh quang và những khó nhọc, ông đến Thụy Sỹ, và rồi không hiểu nghe ai xui khôn xui dại, sang London. Thành phố khổng lồ nuốt chửng ông (tương tự như nó sẽ làm với Zola sau này), nước Anh với ông không hề thân thiện, bởi nếu ông nắm vững tiếng Pháp và tiếng Ý, thì tiếng Anh với ông là cả một gánh nặng, lúc nào ông cũng ngờ người ta đang âm mưu làm hại ông. Nước Anh còn khiến ông mang nhục, vì đã phải ngửa tay lấy tiến trợ cấp của vua George III, trong khi Rousseau kiêu hãnh đã từng từ chối tiền trợ cấp của Louis XV nước Pháp. Rồi Paris lại mở cửa cho ông, với điều kiện ông không được viết về chính trị nữa. Lệnh cấm đó giúp ích rất nhiều cho văn học Pháp: ông viết các tác phẩm tự truyện, và thể loại tiểu thuyết tự thuật đã được khai sinh với Confessions (Tự thú), viết từ năm 1764. Cuốn sách được in ở Genève thành hai phần, năm 1782 và năm 1789 (sau khi Rousseau đã qua đời).

Hầu tước de Girardin mở tiếp cho ông một chốn thần tiên nữa, sau Montmorency, sau Chamberry: Ermenonville. Ngày 20 tháng Năm năm 1778, ông đến nơi ở mới, được xây theo kiểu Clarens của Nàng Heloïse mới, bởi de Girardin là người tôn thờ Rousseau, thậm chí còn nuôi con mình theo những gì tác phẩm Émile “chỉ dẫn”. Sống được ở đó vài tuần thì Rousseau mất, nhưng ông còn được nằm lại mảnh đất đẹp đẽ đó đến năm 1794, khi Cách mạng Pháp cả quyết ông là thiên tài, vĩ nhân nước Pháp và đưa ông đến Panthéon, đặt nằm đối diện với Voltaire.

Ngày nay, Montmorency không còn tên là Émile như hồi cách mạng. Nó trở lại mang tên Montmorency (sau rất nhiều lần đổi đi thay lại) một cách nhất quán từ thời Louis-Philippe. Tuy thế Émile và Montmorency vẫn là hai từ không thể tách rời nhau, vẫn là một hình ảnh đẹp về một thiên đường giáo dục xa vời nhưng cũng vô cùng gần gũi.

Oct 7, 2012

Từ tổ tiên đến chúng ta

Sáu, bảy năm trời cho một bộ sách, giờ nhìn thấy nó được tạo hình hoàn chỉnh, thấy vui thì ít hơn là thấy oải. I nostri antenati (Tổ tiên của chúng ta) gồm Nam tước trên cây, Tử tước chẻ đôiHiệp sĩ không hiện hữu (thứ tự hơi lệch so với nguyên tác, ở đó Tử tước là tập trước của Nam tước). Quá trình hoàn thành bộ sách này trong tiếng Việt cũng đi cùng với một giai đoạn cực kỳ phức tạp của xuất bản và dịch thuật Việt Nam.

Tôi gặp anh Vũ Ngọc Thăng lần đầu vào năm 2006, tầm tháng Chín tháng Mười gì đó, tại Hà Nội. Trước đó đã có viết email trao đổi, hình như qua giới thiệu của Phạm Thị Hoài, nhưng gặp nhau cũng chẳng nói mấy chuyện; đi theo Italo Calvino hình như toàn những người không nói lắm. Anh Vũ Ngọc Thăng là một trong vài người đang sống ở Canada đóng góp cho dịch thuật tiếng Việt, thuần túy vì văn chương. Hai người nữa là Nguyễn Khánh Long (Vu khốngLại chơi với lửa) và Nguyễn Quốc Trụ (Istanbul); hình như ba người không ai quen biết ai, và cả ba đều có những trang dịch thần sầu từ mấy tác giả cũng thần sầu, và cũng thuần túy văn chương.

Giữa chừng cuộc thực hiện I nostri antenati xảy ra rõ lắm chuyện, nhất là chuyện thường gặp nhất trong dịch thuật: chậm trễ. Chậm trễ trong thời đại này phải trả giá bằng không biết bao nhiêu lần xin gia hạn bản quyền, muối mặt với người đại diện tác quyền của Italo Calvino. Nhiều khi tưởng chừng như không sao mà hoàn thành cho nổi. Nhưng đã có Nam tước rồi thì nhất định phải có Tử tước, và nếu không có Hiệp sĩ thì cầm chắc những ý đồ to lớn của Calvino sẽ bị thất thoát đi phần nhiều. Hiệp sĩ giống như một ý niệm siêu hình mà nếu không có thì đừng hòng nắm bắt được các tập trước; những tập trước vẫn có thể tồn tại độc lập, nhưng khi ấy chúng sẽ chỉ giống như vài bài tập vui vẻ thông thường, vài ý tưởng lóe sáng thiên tài nhưng chẳng đi đến đâu. Mấy đoạn đầu chương của Hiệp sĩ đã giải thích tất cả: Calvino đã đặt ở đó nhiều hơn cả quan niệm của ông về tiểu thuyết.

Vì Italo Calvino đích thực là một nhà siêu hình học cô độc, cực kỳ hiếm hoi vào thời hiện đại. Người ta hay kể tên các nhà văn Ý danh tiếng gộp Calvino bên cạnh Umberto Eco, nhưng hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Umberto Eco là pop, tuy rằng trong pop cũng lắm thứ đáng ngưỡng mộ, nhưng Eco không có gì chung với một truyền thống Ý siêu hình trầm trọng trong văn chương, kể từ Dante, Boccaccio cho tới Leopardi rồi Sciascia, cộng thêm một Malaparte quái đản.

Lẽ ra nếu mọi chuyện thuận lợi, cách đây hai năm đã có một kỳ hội thảo dài chuyên vào Italo Calvino tại Hà Nội, trong đó có cả kế hoạch mời Pietro Citaci sang nói về Calvino. Nhưng cũng như mọi thứ thuần túy văn chương, ý tưởng thì nhiều, thực hiện được thì ít.

Italo Calvino kế tiếp sẽ là Le città invisibili. Nhưng phải nói rằng các tiểu luận phê bình của Calvino cũng là cả một dòng sông siêu hình thâm trầm kỳ lạ.

Sep 2, 2012

10 sách tháng Chín


1. Trò chuyện triết học, Bùi Văn Nam Sơn, Thời Đại, Sài Gòn Tiếp Thị & NXB Tri thức, 447 tr., 108.000 đ.
2. Quán rượu phố Huế, Hồng Phi, Phương Nam & NXB Hội Nhà văn, 231 tr., 59.000 đ.
3. Dĩ vãng phía trước. Tư liệu chuyện đời-chuyện văn một thuở, Ngô Thảo, Phương Nam & NXB Hội Nhà văn, 480 tr., 105.000 đ.
4. Quê hương tôi, Tràng Thiên, Nhã Nam & NXB Thời đại, 350 tr., 70.000 đ.
5. Hồi ký, Phạm Cao Củng, Nhã Nam & NXB Hội Nhà văn, 420 tr., 76.000 đ.
6. Thị trường và đạo đức, Tom G. Palmer (chủ biên), Phạm Nguyên Trường dịch, Đinh Tuấn Minh hiệu đính, NXB Tri Thức, 230 tr., 36.000 đ.
7. Thánh địa tội ác, tiểu thuyết, William Faulkner, Trần Nghi Hoàng dịch, Bách Việt & NXB Văn học, 408 tr., 85.000 đ.
8. Hiệp sĩ không hiện hữu, tiểu thuyết, Italo Calvino, Vũ Ngọc Thăng dịch, Nhã Nam & NXB Văn học, 218 tr., 56.000 đ.
9. Tà dương, tiểu thuyết, Dazai Osamu, Hoàng Long dịch, Phương Nam & NXB Hội Nhà văn, “Tủ sách Tinh hoa văn học”, 189 tr., 55.000 đ.
10. Con cú mù, tiểu thuyết, Sadegh Hedayat, Hà Vũ Trọng dịch, Phương Nam & NXB Hội Nhà văn, “Tủ sách Tinh hoa văn học”, 142 tr., 39.000 đ.

Aug 7, 2012

Roland Barthes về Italo Calvino

Cơ chế của mê hoặc

Ở một nhà văn, có cái gì đó luôn luôn bướng bỉnh, luôn luôn cứng đầu, cuối cùng là luôn luôn bất khả quy giản - và cũng bởi vậy mà rất khó nói về nó - và ta hãy nói rằng đó chính là cái người ta vẫn còn gọi là văn chương… hoặc có thể là cái viết, nhưng ta đừng quá sa đà vào sự biện biệt. Thế nhưng, việc Calvino là một giọng nói của văn chương có thể thấy ngay lập tức ở điểm cái viết của ông chỉ thuộc về mình ông. Ông có một cái viết tuyệt đối đặc thù: cũng như mọi nhà văn lớn. Ta nhận ra nó. Và đó là cái, trong biệt ngữ khoa học, người ta gọi là một đặc ngữ [idiolecte], một lối viết riêng có. Đặc ngữ của một nhà văn luôn luôn là một dạng định lượng, một sự pha trộn được lượng định rất tinh tế của một số vẻ mê hoặc - dùng theo nghĩa mạnh mà từ này từng có hồi thế kỷ mười bảy [Barthes dùng từ “charme” nhưng theo nghĩa “enchantement”; “charme” ngày nay hay được hiểu theo nghĩa “duyên dáng”]; một sự định lượng những vẻ mê hoặc, những nét quyến rũ, những nét thỏa mãn với bản thân ngôn ngữ hay bản thân truyện kể - điều này rất khó nói. Và ta có thể thử xem lại vài vẻ mê hoặc trong cái viết của Calvino.

Với tôi, trước hết tôi thấy rằng ông có một trí tưởng tượng rất đặc biệt và ông rèn giũa nó: về thực chất hẳn nó chính là trí tưởng tượng từng được Edgar Poe phô diễn, cái mà ta có thể gọi là trí tưởng tượng của một thứ cơ học nào đó hoặc việc đặt ra tương quan giữa trí tưởng tượng và cơ học. Đó là một mệnh đề có chút dáng vẻ nghịch lý vì, trái ngược hẳn, từ quan điểm lãng mạn, ta có thể nghĩ trí tưởng tượng là một thứ lực hoàn toàn không có tính chất cơ học mà vô cùng “bộc phát”. Thế nhưng, hoàn toàn không phải vậy. Trí tưởng tượng, có thể là trí tưởng tượng lớn, luôn luôn là sự khai triển của một cơ chế nào đó. Và ở trong đó, tuy có những khác biệt về phong cách rất lớn, có một khía cạnh Edgar Poe ở trong Calvino, vì ông đặt ra một tình huống nhìn chung là, ta hãy nói vậy, phi hiện thực nếu xét theo quan điểm giống như thật của thế giới, nhưng chỉ là trong dữ liệu xuất phát mà thôi, và rồi tiếp theo đó, tình huống phi hiện thực này được triển khai theo một cách thức hoàn toàn hiện thực và theo một logic không thể bác bỏ. Ở Calvino, đó chính là vẻ mê hoặc thứ nhất, một vẻ mê hoặc của sự khai triển; ta có thể nói điều này theo nghĩa toán học, theo nghĩa logic của từ - như một phương trình cứ khai triển mãi không ngừng, vô cùng thanh nhã - nhưng cũng có thể là theo một cách thức bất ngờ hơn và vụn vặt hơn, theo nghĩa dùng trong bộ môn đua xe đạp, giống như khi ta nói về khoảng khai triển của một chiếc xe đạp: có một chế độ làm việc của bánh xe, một chế độ làm việc của bàn đạp, cảm giác vô cùng êm dịu, theo nghĩa tốt đẹp của từ này.

Vẻ mê hoặc thứ hai mà tôi nhìn thấy ở Calvino nằm ở chỗ trên thực tế, ông là một nhà tư tưởng hay thực hành truyện kể - điều rốt cuộc không còn hay thấy lắm ngày hôm nay. Và ở đây ông mang tới một dạng tinh tế ngoạn mục. Những truyện kể của ông, cách thức ông dựng chúng lên, triển khai chúng, hẳn khá gần với cấu trúc của trò cưỡi ngựa đấu thương, của trò chơi chiến trận, của chiến lược. Vả lại, điều này cũng gần gũi với sở thích thời Trung cổ nơi ông. Thực chất, những gì ông bày ra là những cuộc đấu vô cùng phức tạp, chắc hẳn là ít đơn giản hơn nhiều so với những cuộc đấu từng thực sự diễn ra vào thời ấy. Ở ông có một dạng khai triển và lóe sáng của chiến lược, một dạng tổ hợp không giới hạn các khả năng, các thao tác, các thao túng, khiến cho tôi sẵn sàng nhìn thấy trong tác phẩm của ông, với tư cách tác phẩm tự sự, sức mạnh của một thứ chủ nghĩa Machiavel nào đó. Và, mặc dù nội dung những cuốn sách của ông không có tính chất chính trị một cách trực tiếp, chúng vẫn khiến tôi nghĩ đến một kiểu truyện kể chính trị, chính trị-hình thức. Tôi không biết rõ phải giải thích điều đó như thế nào. Truyện kể được dẫn dắt theo một dạng kết cấu hình ngôi sao. Có rất nhiều đợt tấn công, có rất nhiều lối vào. Và tất cả những đợt tấn công ấy, tôi sẽ nói chúng không được sắp xếp theo cách một truyện kể truyền thống vẫn được xây dựng. (Nhờ tự sự học, ngày nay ta bắt đầu đoán biết được một truyện kể truyền thống được xây dựng như thế nào.) Ở ông, điều này đi xa hơn rất nhiều. Đó không phải một truyện kể được sắp xếp, mà là - để chơi chữ một chút - được phối kết: một kiểu truyện kể đã thay thế khái niệm sự phối kết này vào chỗ khái niệm trật tự. Ông xây dựng các hệ thống có rất nhiều lối vào. Điều đó thật là đẹp. Và nó cũng khiến cho ta có thể xếp tác phẩm của ông ở gần với một dòng picaresque [một dạng truyện hài] trong chừng mực picaresque một cách cụ thể là câu chuyện kể một câu chuyện kể một câu chuyện khác; những câu chuyện trong các ngăn kéo, kiểu như vậy. Vẻ mê hoặc thứ hai mà tôi nhìn thấy ở tác phẩm ấy, chính là vậy: kết cấu dạng mạng của logic tự sự.

Còn có một vẻ mê hoặc khác nữa, và cũng rất gần mấy vẻ mê hoặc trên đây, mà ta có thể chỉ cần gọi một cách giản dị là sự mê hoặc. Độc giả thích thú vì những lý do đơn giản: cái nghịch lý tiếp diễn này khiến ta luôn luôn có một tình huống phi hiện thực hay mang tính chất hình thức, sự trống rỗng của một bộ áo giáp hay loạt tên riêng, chẳng hạn tên các thành phố, nhưng trên cái dữ kiện phi hiện thực này lại phát triển một dạng chủ nghĩa hiện thực hoặc sự giả tạo hiện thực của cách bài trí, của bức tranh, của cái cụ thể. Và chính đó là cái tôi thấy là vô cùng ý vị nơi ông, vả lại điều đó cũng khiến ta nghĩ đến những nhà kể chuyện huyền ảo vĩ đại: một tình huống phi hiện thực ở điểm xuất phát hoàn toàn được siêu vượt và cứ liên tục bị chống đối bởi một thứ chủ nghĩa hiện thực của sự đi tới.

Và rồi còn một điều nữa cần nói, nhưng nó khó nói hơn vì ở đây ta chỉ có những từ khá cổ mà ta luôn luôn do dự không muốn sử dụng - nhưng tại sao lại không? - đó là, trong nghệ thuật của Calvino và trong những gì mà con người ông thể hiện ra trong cái ông viết, có một sự thiết tha [sensibilité] - ta hãy sử dụng từ cổ: đây là một từ của thế kỷ mười tám. Ta cũng có thể nói đến một sự nhân hậu, tôi sẵn sàng nói gần như một lòng tốt, nếu từ này không quá trầm trọng; nghĩa là vào mọi lúc, trong các ghi nhận, đều có một sự mỉa mai không bao giờ gây tổn thương, không bao giờ gây hấn, một khoảng cách, một nụ cười, một sự cảm thông. Một dạng mê hoặc dịu dàng, mê hoặc thanh nhã. Sự tha thiết hợp nhất với một dạng trống rỗng. Chẳng hạn, tôi nghĩ đến đoạn đầu cuốn Hiệp sĩ không hiện hữu, ở đó một sự thiết tha tuyệt diệu biểu lộ còn nhiều hơn nữa nếu ta nghĩ rằng đó là một người trống rỗng, một sự trống rỗng biết nói. Trang viết tuyệt diệu bởi, từ một chủ thể trống rỗng, trống rỗng về mặt vật chất, nó miêu tả sự phức tạp của những mối quan hệ con người, cách thức chủ thể chịu đựng hình ảnh của mình giữa những hình ảnh khác, với một sự tinh luyện xuất chúng. Ở đó có những điều tinh luyện của thứ tình cảm hẳn không xa lạ với thế giới Proust. Có một tấn thảm kịch nhỏ về cuộc sống cộng đồng, về con người giữa những người khác, được diễn dưới vẻ ngoài của một câu chuyện kỳ ảo. Khi ấy, cái trống rỗng không chỉ còn là một dạng mưu mẹo tu từ học. Nó mang một chức năng chiến lược vô cùng mới mẻ và gây rất nhiều say mê, và nó, thêm nữa, lại vang vọng hoàn hảo với số lượng những thứ cùng cảm nhận về nhau, nói với nhau và nghĩ tới nhau. Trên thực tế, qua đó mà văn bản đặt ra một kiểu chu chuyển trong đó ta không bao giờ biết tính nhân quả tâm lý thực sự nằm ở đâu. Và quả thật, không còn tính nhân quả tâm lý nữa, mà có một dạng gương bất tận soi những ngẫu nhiên về mặt tâm thần - các phẩm hạnh.

(Trích từ cuộc phỏng vấn với France Culture, 1978, được đặt làm lời tựa cho tiểu thuyết Hiệp sĩ không hiện hữu thuộc bộ Tổ tiên của chúng ta, ấn bản folio, NXB Gallimard)

Feb 2, 2012

Malaparte, Thượng đế etc.

Đây Malaparte:


Trên là Thượng đế đã chết trong thành phố, bản dịch Nguyễn Quốc Trụ, không còn bìa nhưng trông vẫn Vàng Son lắm :p

Dưới là Mặt trời mù, một tiểu thuyết khác của Malaparte, bên cạnh là nguyên bản tiếng Ý.

Nhân Mr. Tin Văn nhắc tới Dieu est né en exil (Thượng đế sinh ra nơi lưu đày) của Horia, nhớ ra tôi từng nói đến nó, search mãi thì ra cái này, viết ngày 29 tháng Năm 2007. Kỳ quặc là đoạn này được viết nhân nói đến Màn của Kundera :p



Tại sao Le Rideau là một cuốn sách không tốt? Là bởi vì so với Kundera nhà viết tiểu luận (Kundera l’essayiste: đề phòng các nhà văn viết tiểu luận nhé. Đặc biệt là giọng điệu áp đặt. Tất nhiên là họ có quyền. Quyền của tài năng, phủ nhận làm sao được. Các trường hợp thuộc dạng này: Nabokov, Calvino, Nguyễn Huy Thiệp) của trước đây Kundera của Le Rideau khác lắm rồi. Nó phản ánh rất chính xác cái vị thế mà một nhà văn không được vinh hạnh chết trẻ nhưng nổi danh từ rất trẻ phải lâm vào (cứ nghĩ Vũ Trọng Phụng 28 tuổi đã kịp làm cả việc rất khó là chết!): đến cuối đời ông ta trở thành một kiểu bù nhìn cho những vinh quang trước đó giật dây. Kundera về cơ bản là không có gì thay đổi trong suốt cả đời (đời này là cái đời tính từ sau khi chàng kịp trốn được thoát khỏi cái danh hiệu nhà thơ ca ngợi Stalin. Bọn phê bình Pháp đểu lắm: khi không chịu đựng nổi mấy cái nhân vật từ xa đến cứ tưởng là chễm chệ ở đó một thời gian ngắn thôi thì hóa ra là cứ đàng hoàng tiên chỉ suốt mãi, chúng nó sẽ chơi thôi. Mới gần đây là hồ sơ chơi gọn cả ba đồng chí Rumani: Cioran, Ioncesco và Eliade, tất tật đều dính dáng đến Đoàn thanh niên Quốc xã ngày xưa. Trong những gì liên quan đến Kundera cũng thế: một luận án tiến sĩ làm ở Thụy Sỹ của Martin Rizek xuất bản mấy năm trước đã lôi tuốt tuột những thứ bị chàng giấu kín tưởng mất tăm mất tích. Hehe, bây giờ mà lục ra được những bài thơ ngày xưa Phạm Thị Hoài viết trong công cuộc chịu sự đào tạo để trở thành Trần Đăng Khoa thứ hai nhể. Những người may mắn không rơi vào trường hợp đó đều là những người có thời gian sống không lâu ở chốn phồn hoa đô hội không thể nào không nhắc đến đó (reference: Hemingway: Paris est une fête. Quel con de fêtard!) Đó là những ai: Tourgueniev, Witord Gombrowicz (đồng chí này sau Ba Lan sống một thời gian dài ở Buenos Aires rồi cuối đời mới sang Paris. Bao giờ Paris cũng cần mấy gương mặt rợ di man mọi cho nó nổi bật. Vua Đồng Khánh như một con khỉ nhé, công chúa Brancovan từ xứ Lỗ Ma Ni nhé. Milosz nhà thơ may mà không sang ở hẳn đó, chứ còn ông anh của đồng chí, cũng nhà thơ – Oskar thì phải – đời có ra gì đâu. Chính Gombrowicz một thời là khuôn mặt Trung Âu nổi bật nhất của Paris, sau khi đã tàn lụi những Kournofski, Maiakovski vân vân và vân vân. Một dạng đại sứ thiện chí/văn hóa của khối các nước láng giềng nhưng xa xa. Khi Kundera lừa lừa chạy khỏi Tiệp mang tiếng sang Rennes dạy học rồi ở lại luôn thì người ta vẫn thích, vì có một người thay thế Gombrowicz. Nhưng thay thì thay cho nó nhanh nhanh chóng chóng, ngờ đâu chàng ở lại luôn một mạch kể từ năm 1981 cho đến giờ, nghĩa là 26 năm phéng nó rồi, thời gian đúng là như bóng câu, không những thế còn lăng nhăng cả lên mấy cái tạp chí như L’Atelier du roman, kết bè kéo cánh đủ mọi loại, và không những thế còn định vươn lên làm nhà văn lớn của tiếng Pháp. Thành ra ba quyển tiểu thuyết gần đây nhất, La Lenteur, L’IdentitéL’Ignorance giới phê bình Pháp mang ra bổ cho một trận, quy cho cái tội dốt tiếng Pháp. Mà thật ra tiếng Pháp của Kundera đâu có tồi. Mặc dù nói thì kinh khủng, không thể hiểu đồng chí nói gì, giống kiểu mấy anh dân tộc Tà Lù trên miền núi nói người Kinh chúng ta hiểu làm sao cho nổi bây giờ. Nói đi cũng phải nói lại: mấy quyển đó Kundera khôn kinh, viết toàn câu đơn, mỗi câu như một mệnh đề, từ vựng quanh quẩn, nói chung là giống như trẻ con học sắp xong Abitur viết, nhưng có một cái trí tưởng tượng và lập luận của một ông già. Cũng chính vì hiện tượng kiểu đó một phần nên mới có sự di chuyển tích cực của ba nhân vật kiệt xuất nhất: James Joyce, Elias Canetti và Wladimir Nabokov). Vị thế của Kundera giống như là lưng dựa vào chân tường: nói đi nói lại những điều đã cũ để đỡ mang tiếng nhà văn nhớn mà không mở nổi miệng. Lại còn phải tích cực theo dõi tình hình tendency xem cái gì trendy thì theo ngay. Mà theo không phải lối nghiên cứu tích cực tìm tòi ý tưởng mới mẻ lần tìm về tận nguồn mà cứ búa bổ nói như phán bảo, như rút từ một quyển từ điển bách khoa toàn thư tầm vũ trụ ra. Thời gian ngay trước khi Le Rideau ra đời ở Pháp đang có phong trào theo lối sách của Pascale Casanova, La République mondiale des Lettres, các khoa văn học so sánh Sorbonne đang tìm đến một tầm khái quát hóa cao độ, văn chương thế giới etc. Thế nên có Weltliteratur. Goethe lại được phục sinh. Phía sau bức tường của các nghiên cứu hàn lâm người ta bắt đầu sờ đến các vấn đề như là bắt đầu và kết thúc của văn bản, của tác phẩm, và của văn chương. Thế nên Rimbaud ngóc đầu dậy. Thế là chàng cũng… Vấn đề là những cái kia mấy ai biết, còn Kundera đã viết thì nhiều người đọc. Một mẻ lưới chàng lười của chúng ta quơ được không biết bao nhiêu cá. Kundera là một người đầy chiến lược. Phải theo dõi từng bước cuộc đời của đồng chí mới có thể thấy được. Dĩ nhiên là Kundera đầy tài năng, đầy năng lực, và đầy sự tò mò trí thức. Nhưng nhiều cái chàng có được là nhờ tính toán chính xác. Kundera đang ở chỗ đó: một nhà văn già trở nên bảo thủ và hay nói lại những gì đã nói, nhưng vẫn cố gắng tạo ra một thứ mà anh giai ác khẩu Frédéric Badré (chính ra tôi rất quý đồng chí này) gọi là “chủ nghĩa phản chính thống thời thượng” (trong bản dịch tiếng Việt dịch ra một cách hết sức nhố nhăng là “chủ nghĩa theo thời phái sinh” hốc hốc). Một trong những quyển gần đây nhất tôi có xem qua, Les Revenances de l’histoire của Hamel (mấy đồng chí chuyên nghiệp chú ý: đây là quyển sách chứng minh một cách hết sức chặt chẽ rằng các thứ lý thuyết rất hot cho đến tận bây giờ, và sẽ còn hot ở Việt Nam trong thời gian tới, cho đến khi các nhà nghiên cứu của chúng ta bẽ bàng nhận ra là mình lại chậm chân mất rồi, đã xong rồi, và cũng đã kịp sai rồi. Tất nhiên sai đúng cần phải hiểu đừng chân phương quá. Các thứ tiểu tự sự bây giờ không còn ở trung tâm nữa, nó quay trở về chỗ vốn có của nó: bên lề. Và tiếp tục rình rình đến lúc nào đó sự buồn chán của người ta lên đến cao độ thì lại nhảy vào. Nhìn chung mọi thứ sẽ cứ như thế thôi. Cái giỏi của người theo dõi là biết được lúc nào là lúc nào. Yes. Còn không thì đến giờ vẫn cứ xưng tụng Bakhtine là thánh nhân. Tôi chả có gì nghi ngờ sự hâm mộ thực sự một số người đặt vào một số chỗ, và ý nghĩa dài lâu của một số học thuyết, nhưng hâm mộ thì cũng phải biết được thực sự là chúng nó đang ở đâu) nói đến một ý thế này: người nào cũng ra sức phát ra những diễn ngôn theo kiểu tôi ở ngoài lề tôi hẻo lánh lắm… Vấn đề này cần suy nghĩ thêm, giờ chỉ làm reference thế thôi.

Tại sao Le Rideau là không tốt (sẽ còn quay trở lại sâu hơn để đi vào văn bản một cách chính danh. Bây giờ lười đứng lên lấy sách trên giá quá. Thật ra là không rõ nó nằm ở đâu nữa. Sách này tôi đọc vài ngày sau khi in. Sau này còn nhìn thấy một quyển có chữ ký tặng của đồng chí Kundera. Ghét nhất là cái thói huyền thoại hóa vô thức thể hiện qua lối gọi tên: Kun, Che…)

Giờ thì chỉ tạm thời thế này thôi. Thêm bonus một cái cuối cùng: trước đây người ta quý Kundera còn ở chỗ đồng chí khai quật mấy Broch, Musil (Kafka thì khỏi kể, trong những năm 50, trước khi Kundera kịp nhớn để thoát khỏi cái bóng của Stalin, Alexandre Vialatte đã có những bản dịch kinh điển, và sau đó Marthe Robert, rồi Roland Barthes đã kịp chiêu tuyết nặng đô cho Kafka rồi). Tôi còn bị lừa, đâm đầu đọc Les Somnambules của Broch, chán suýt ngất. Chính ra cái hay chắc phải là La Mort de Virgile. Đến đây lại là chiều ngược lại của sự dịch chuyển các nhân vật kiệt xuất của Đông và Trung Âu sang Tây Âu (nhớ lại chi tiết “xuất khẩu các nhà thơ trữ tình” từ Tiệp ra nước ngoài nhé): các đồng chí ở các chốn hẻo lánh (có ai biết quê của Cioran, Sibiu, là nằm ở đâu không?) rất hay quan tâm đến các ông lớn ở các chốn trung tâm: ngoài Broch viết La Mort de Virgile như vừa nói còn có Horia, một Lỗ Ma Ni nhân, viết Le dieu est né en exile về đời Horace (đồng chí đại thi sĩ này bị hoàng đế nào đày đi ấy nhỉ, Claude à?) Hoặc gần đây là Hồ Anh Thái với cả Đức Phật, nàng Savitri và tôi (sẽ có entry riêng về cái vụ vui vẻ này).

-----------
Tôi vẫn muốn có quyển này, vẫn chờ được tặng hehe.

Bonus: