Showing posts with label tran-dan. Show all posts
Showing posts with label tran-dan. Show all posts

Nov 11, 2018

Bắc (1) Halldór Laxness

Ởkia thông báo về chuỗi mang tên chung "Bắc", và giờ đây chúng ta thực sự bắt đầu:


Apr 7, 2018

Nguyễn Văn Vĩnh là ai

Tiếp tục câu chuyện dịch giả lớn của Việt Nam (xem ở kia). Ở riêng lĩnh vực (khu vực) này có nhiều điều, ít nhất là không ít, ở đây ta hãy chỉ nói một điểm: có những dịch giả giỏi nhưng không lớn (một ví dụ: xem ở kia), hoàn toàn giống thiên tài thì khác tài năng (thậm chí chẳng có gì liên quan): xem ở kia (câu chuyện ấy sẽ được tiếp tục sớm).

Mar 7, 2018

Maiakovski ở Việt Nam

Trước tiên, xem ở kia.

Maiakovski ở Việt Nam thì như thế nào? có thể như thế nào? tôi cũng muốn bắt đầu quy hoạch lại những gì thuộc về "ABC XYZ ở Việt Nam", xem các đường link ở phía dưới cùng.

Tôi thử lược lại một câu chuyện, liên quan chỉ đến một nhân vật, một nhà thơ. Suốt một thời gian dài, dường như Maiakovski chính là nhà thơ nước ngoài có sự hiện diện mạnh mẽ nhất tại Việt Nam, cùng Pablo Neruda.

May 22, 2017

Nguyễn Huy Thiệp: một lần nữa

Tôi đã chờ rất lâu (như đã nói ở kia) vì tôi muốn một ai đó khác chứ không phải tôi nói được chính xác về Nguyễn Huy Thiệp (cũng như văn chương cần đúng chứ không phải hay, phê bình trước hết phải chính xác, trong nhìn nhận, cũng như trong sắp xếp - đây là câu chuyện của giá trị, đây cũng là câu chuyện của ý nghĩa). Một số văn chương không thuộc về lối của tôi (Borges, Nabokov hay Nguyễn Huy Thiệp), tôi giữ khoảng cách với những văn chương ấy và không bao giờ thực sự muốn chạm đến những văn chương ấy.

Nhưng giờ ta sẽ nói đến Nguyễn Huy Thiệp, tôi sẽ chỉ lấy từ Nguyễn Huy Thiệp điều tối thiểu mà tôi cần. Sau khi viết về truyện Không có vua, tôi đã biết là không cần nói thêm nhiều lắm.

Sep 18, 2016

Tiểu luận thứ ba về Tự Lực văn đoàn

Tại sao khi các nhà văn trẻ mãnh liệt nhất muốn chôn vùi một thứ gì đó, nhất định họ chỉ có thể nhìn thấy khả năng chôn Tự Lực văn đoàn?

Tại sao cả Thanh Tâm Tuyền lẫn Trần Dần, vào thời điểm ý chí văn chương của họ bộc phát bùng nổ, đều, từ hai địa điểm, chú mục vào cùng một đối tượng mà họ thấy là nhất thiết phải giết đi: Tự Lực văn đoàn?

Jun 15, 2016

Văn chương miền Nam: 1964

Một trong những nhà văn Việt Nam gây nhiều kinh ngạc nhất cho tôi, khiến tôi phải nhiều lần tự điều chỉnh cách nhìn nhận riêng của tôi: Dương Nghiễm Mậu.

Đây là tác phẩm năm 1964 của Dương Nghiễm Mậu:

Jan 20, 2016

nhưng nữa

nan giải lắm

đọc lại nhiều thứ, thấy rõ là lắm cái

ví dụ của hôm nay là ở đây,
                                            ở đây
                                                  và không chỉ có thế, cả ở đây nữa

và bài viết này:


Bản dịch mới, bản dịch cũ

Apr 6, 2015

Vụ án Roland Barthes

Vì năm nay là năm kỷ niệm thứ một trăm ngày sinh Roland Barthes, ta hãy thử làm một điều gì đó đặc biệt, chẳng hạn như tưởng tượng rằng Roland Barthes chính là Josef K.

Điều này cũng không hẳn là quá phi lý: Roland Barthes có một cuộc đời thực sự phi lý; không một ai khác ngoài Roland Barthes có thể tạo cho phê bình văn học một không gian rộng và quái lạ như thế, kể từ Sainte-Beuve mới lại có một gương mặt nhà phê bình giống như một quái vật khổng lồ như thế, nhưng Sainte-Beuve vẫn cứ là nhà văn, dẫu chỉ là một góc nhỏ trong toàn bộ sự nghiệp, còn Roland Barthes thì chưa bao giờ viết một tác phẩm hư cấu nào. Sự phi lý của Roland Barthes, xét cho cùng, cũng có chút tương tự với sự phi lý ở Kafka: Kafka chẳng bao giờ hoàn thành một tác phẩm nào một cách trọn vẹn. Và với Roland Barthes, phê bình văn học trở thành một vụ án.

Mar 15, 2015

Nguyễn Bính, Trăm Hoa và Nhân văn-Giai phẩm

Theo tôi, Nhân văn-Giai phẩm vừa phức tạp hơn thế vừa đơn giản hơn thế. Xem mọi tổng kết tương đối đáng tin về Nhân văn-Giai phẩm, gần như ta thấy đương nhiên Nguyễn Bính và tờ Trăm Hoa đứng về phía bị trừng phạt, thuộc vào số các nạn nhân của một cuộc thanh trừng văn nghệ nhuốm rất nhiều mùi chính trị. Nhưng hồi ấy phức tạp hơn thế: mối quan hệ đao phủ-nạn nhân xoay vòng vòng không cố định, Hoài Thanh vừa phê Trần Dần xong một thời gian ngắn sau đã xin lỗi, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm hay Nguyễn Hữu Đang khi trước vừa đi chỉnh huấn người khác lúc sau đã trở thành đối tượng bị chỉ trích nặng nề, bị đấu tố. Bản thân "phong trào Nhân văn-Giai phẩm" cũng có lúc lên lúc xuống, có thời điểm thắng thế chứ không bi đát từ đầu đến cuối. Mọi thứ phức tạp hơn mới thoạt nhìn qua.

Ở riêng trường hợp Nguyễn Bính và tờ Trăm Hoa: cũng như bài Trần Lê Văn phê thơ Xuân Diệu ở đây, bài dưới đây thuộc vào đoạn cuối của Trăm Hoa bộ cũ, là mảng tư liệu bất ngờ thiếu vắng trong mọi nghiên cứu về Nhân văn-Giai phẩm cho đến lúc này. Đọc bài này mới thấy rõ, vị trí của Nguyễn Bính không thể nhìn nhận đơn giản; đọc Cát bụi chân ai cũng có thể thấy Tô Hoài ám chỉ Nguyễn Bính có vai trò không hề đơn giản.

Bài tường thuật cực kỳ chi tiết cuộc họp ở Hà Nội để đánh bài "Nhất định thắng" của Trần Dần này xứng đáng được coi là một tài liệu độc đáo; bài viết đăng Trăm Hoa số 22, thứ Bảy 3-3-1956, liên tục trên bốn trang. Bài viết ký tên Hồng Cầu (gần như chắc chắn 100% là bút danh của Nguyễn Bính).


CUỘC HỘI HỌP VĂN NGHỆ SĨ THỦ ĐÔ DO HỘI VĂN NGHỆ VIỆT NAM TRIỆU TẬP TỐI 22-2-56 ĐÃ VẠCH RA

Những sai lầm nghiêm trọng của Trần Dần trong bài thơ “Nhất định thắng”

IN TRONG CUỐN “GIAI PHẨM 1956”

May 10, 2014

Hoàng Cầm và Kiều Loan

Từ nay, 5/5 sẽ là một ngày đáng nhớ, nhưng 6/5 cũng là một ngày rất đáng nhớ, tôi còn rất nhớ ngày 6/5 cách đây bốn năm, vì nhiều sự kiện chỉ liên quan đến tôi, và cả vì ngày hôm đó, Hoàng Cầm qua đời.

Về cơ bản, cách nhìn nhận của tôi đối với các nhân vật của Nhân Văn-Giai Phẩm là: chỉ Trần Dần và Hoàng Cầm không cần Nhân Văn-Giai Phẩm vẫn là nhà thơ lớn, và hai con người ấy, một cứng một mềm, một sừng sững im lặng một linh hoạt ảo diệu, là hai cực, hai cực đó bao trùm tất cả, quãng giữa có cũng được không có cũng được.


Oct 2, 2013

Đà Linh Nguyễn Đức Hùng

Ở trong ngành xuất bản Việt Nam rất lâu năm và có một vị thế đặc biệt, anh Đà Linh Nguyễn Đức Hùng liên quan đến nhiều quyển sách, liên quan đến không ít bước thăng trầm của ngành xuất bản nói chung.

Anh lại là một con người mạnh mẽ, sự mạnh mẽ mà ngay một người không có quá nhiều tiếp xúc với anh như tôi cũng nhận thấy. Tôi gặp anh Nguyễn Đức Hùng lần đầu tiên cách đây gần chục năm, có một lần cuối 2006-đầu 2007 ngồi ăn đêm với anh ở chợ Hàng Da, còn những lần gặp khác chủ yếu đều có đông người, ít "riêng tư" hơn nhiều. Góc Hàng Da-Đường Thành có lẽ là một nơi mà anh Nguyễn Đức Hùng gắn bó ở đất Hà Nội. Tuy không thực sự gần gũi, nhưng tôi cũng có thể biết anh là một người mạnh mẽ, và rất khôn ngoan. Anh cũng gặp nhiều, rất nhiều sóng gió, nhất là ở những thời điểm không yên tĩnh của ngành xuất bản Việt Nam.

May 1, 2013

Dịch thuật Việt Nam: Trần Dần đã dịch những tác phẩm nào?

Như đã nói, Trần Dần còn là một dịch giả có lượng dịch phẩm không thể coi nhẹ, góp thêm vào tổng sự nghiệp của ông. Như tôi cũng đã nói, trong di cảo của Trần Dần, có các bản dịch.

Về câu chuyện Trần Dần dịch sách, cũng từng có người đi tìm hiểu, ví dụ như bài viết ở đây.

Nhưng rõ ràng, cần đẩy vấn đề đi xa hơn nữa: Trần Dần đã thực sự dịch những tác phẩm nào? Liệu ta có thể thống kê đầy đủ những gì Trần Dần từng dịch in thành sách không?

Tôi đã đeo đuổi hướng tìm kiếm này từ nhiều năm, và đến giờ tạm có thể kết luận mình đã biết được đầy đủ phương diện "Trần Dần dịch giả".

Thứ nhất: ở các bản dịch của mình, Trần Dần ký tên gì? Tổng cộng có bốn cái tên: 1) Trọng Kha 2) Vũ Văn Kha 3) không ký tên 4) Trần Dần (ở các bản dịch in lại sau này, kể cả khi Trần Dần còn sống lẫn sau đó).

Tình hình các dịch phẩm cụ thể thì như sau:

Hai bản dịch được nhắc đến nhiều nhất là Những người chân đất và bộ sách của Jules Vallès.


Dịch thuật Việt Nam: Trần Dần dịch giả

Sưu tầm sách mảng dịch thuật khó ngang với hai "ngạch" khác: sưu tầm báo tạp chí và sưu tầm truyện tranh. Nhiều bộ tạp chí có khi mất nhiều năm không sao bổ sung nổi vài ba số còn thiếu, và dân ghiền truyện tranh có thể phát điên phát rồ vì thiếu mất mấy tập truyện.

Ví dụ, tôi muốn biết Bonjour tristesse của F. Sagan từng có bao nhiêu bản dịch tiếng Việt. Thế thì phải đi tìm, phải tự tìm, hỏi thêm nhiều người. Đến nay tôi tạm có kết quả là từng có bốn bản dịch tiếng Việt. Thứ nhất là bản của Nguyễn Vỹ, thứ hai là bản của Lê Huy Oanh, sau 1975 thì có bản Quang Vinh và bản Vũ Đình Bình. Bản Nguyễn Vỹ có vẻ chưa bao giờ in thành sách, chỉ đăng dài kỳ trên tờ tạp chí Phổ thông. Bốn bản dịch này chưa hẳn đã chắc là đủ được, vẫn có thể có thêm một/một vài bản nữa xuất hiện theo một cách thức khó kiểm soát hơn, mà đấy là tôi đã "vét trí nhớ" của vài chuyên gia có thẩm quyền rồi.

Cái gì cũng phải tham khảo chuyên gia. Những người hay lên báo nói chuyện dịch thuật ở Việt Nam đều không phải chuyên gia. Ví dụ, muốn biết Steinbeck từng được dịch ở Việt Nam như thế nào, nhanh nhất là hỏi bạn NTT, bạn NTT chỉ cần cung cấp một bức ảnh này là xong luôn, vì bạn NTT mới là chuyên gia.



Jan 11, 2012

Một năm sách vở

báo Tết :d

Lại thêm một lần nữa, khi năm sắp kết thúc, giới xuất bản có cảm giác u ám vì những khó khăn gặp phải, còn độc giả thì thở dài vì hình như trong năm, tình hình vẫn là sách in ra thì nhiều nhưng đại đa số là sách dán mác best-seller.

Khó khăn chung thì vẫn muôn thuở: kinh tế khủng hoảng, cạnh tranh khốc liệt, sách lậu hiện ra ở mọi ngõ ngách, thêm cả một điều mới mẻ bắt đầu xuất hiện sau chừng dăm bảy năm ngành xuất bản thực sự đi theo một hướng mới: có vẻ như số lượng sách in ra đã đạt tới mức bão hòa, độc giả thể hiện một sự thờ ơ nhất định với cả những mảng sách theo truyền thống rất được quan tâm.

Như một “triệu chứng”, ngay đầu năm 2011 cuốn tiểu thuyết những ngã tư và những ngọn đèn (Trần Dần) được in ra, số phận tác phẩm của nhà thơ tự nhận mình “được cái hoạn nạn” này như thể tương ứng với một năm nhiều sự kiện mang tính chất hoạn nạn của ngành xuất bản, cũng như vẽ ra những ngã tư vô hình cho các hướng đi của sách vở.

Mar 4, 2011

Trần Dần và Dostoevsky

Mở đoạn đầu và đoạn cuối cuốn tiểu thuyết những ngã tư và những cột đèn (Trần Dần, Nhã Nam & NXB Hội Nhà văn, 2011), mà ở giữa là vô số đoạn văn như những “ô ruộng đầy chữ”, ấn tượng thị giác Trần Dần muốn tạo ra, ta thấy một sự dịch chuyển không gian vô cùng nhỏ bé: ở đầu chương I thì: “Bên này cửa sổ tôi tím: có nhật kí và bản sao nhật kí, có lọ mực tím và bản thảo lem nhem mực tím. Bên kia cửa sổ tôi xanh: có sáu cây bàng lá xanh và nhiều căm nhông xanh quân sự đậu, có tháng sáu vắng và phố thời chiến vắng lặng” (tr. 13), còn ở cuối chương XVI: “Sáng nay, tôi ra phố lúc 6 giờ. Để ở lại hồi lâu trên hè, mà nhìn về cửa sổ. Bên này cửa số tôi xanh, có sáu cây bàng lá xanh, lá bàng che cửa sổ. Có nhiều căm nhông xanh quân sự đậu, mui chạm tán bàng. Bên kia cửa sổ tôi tím, có lọ mực tím, và bản thảo lem nhem mực tím. Có nhật kí, và bản sao nhật kí” (tr. 336). Nhân vật như thể vừa đi qua rất nhiều biến động, cả những lần súng nổ và rất nhiều tội ác, âm mưu, nhưng lại vừa cũng chỉ đi từ bên này sang bên kia một bức tường.

Một năm tròn (từ tháng Sáu 1965 đến tháng Sáu 1966) chứng kiến cả hai loại chuyển động ấy trong một không gian được cấu tạo phức tạp hơn không gian thông thường, với khung cảnh dường như không hề thay đổi, màu sắc cũng giữ nguyên. Sau không gian, thời gian của những ngã tư và những cột đèn cũng không thuần nhất: nhà văn nói tới “đường tuyến tính của thời gian”, “chạy về hai nhà ga vô định”, nhưng cũng liên tục nhắc tới cảm thức “bên ngoài thời gian”, hay “một ngày không thời gian”. Nhân vật tiểu thuyết của Trần Dần mắc kẹt trong thời gian, nhiều khi không thực sự còn có ý thức về thời gian, có những lúc với họ thời gian không trôi đi nữa, mà đứng yên, bất động.

Để củng cố cho hệ không-thời gian đầy tính chất bất định đó là vai trò của hai tính từ liên tục trở đi trở lại không ngừng: “láo nháo” và “bàng hoàng”; đặc biệt, mọi thứ trong mắt nhân vật chính tên Dưỡng, cựu ngụy binh thời Pháp, đều có thể “láo nháo”: “láo nháo cột đèn”, “láo nháo khói”, thậm chí đến “gió đông bắc” cũng láo nháo nốt. Đây là tâm trạng của một người thường trực bất an trong cảnh trốn chui trốn lủi, lại không biết tương lai sẽ như thế nào: “Tương lai có hủi không. Dĩ vãng thì hủi quá rồi” (tr. 24); đây đồng thời cũng có thể coi là cảm giác về một quãng thời gian khó khăn giữa hai cuộc chiến tranh, khi chiến tranh còn chưa xa, hòa bình chưa chắc chắn (“chiến tranh chuyển sang hòa bình” - tr. 49), một cuộc chiến tranh khác đã lại ló dạng ở phía trước: “Giữa hai cuộc chiến tranh, là nhật kí” (tr. 14).

Bên cạnh một mô tả không gian và thời gian đặc biệt và chênh vênh như vậy, bản thân cách viết của những ngã tư và những cột đèn cũng đa dạng: cuốn nhật ký của Dưỡng được đưa vào trong tiểu thuyết làm xuất hiện một “hình thức viết” bên trong bộ khung cuốn sách nói chung. Rồi lại thêm một bước ngoặt hiếm thấy trong hình thức tiểu thuyết Việt Nam: dạng tiểu thuyết trinh thám, gián điệp được nhấn mạnh không chỉ ở trong cốt truyện, mà còn ở sở thích của nhân vật Dưỡng, đặc biệt là chương V. Dưỡng đã “đọc vài ngàn cuốn sách (trinh thám)” (tr. 44), đều bằng tiếng Pháp. Dưỡng cho biết: “Tôi thuộc lòng hàng trăm cuốn trinh thám, có thể nối cuốn nọ vào cuốn kia, thành một bộ phim khổng lồ. Đêm nay một cuốn truyện mới bắt đầu […] Rủi ro nhất là đến cuốn truyện này, tôi chơi vai chính, nhưng không có kịch bản. Tôi biết rồi nó cũng sẽ là một cuốn trinh thám, có cảnh sát đi tìm thủ phạm, để coòng tay đem đi, vào một ngày sáng trời” (tr. 59). Cách suy nghĩ của Dưỡng cũng “rất trinh thám”: ở cuối truyện, Dưỡng phát hiện ngay một chi tiết không hợp lý trong bản báo cáo về vụ bắt tên nhọn cằm của công an.

Và điều đặc biệt hơn cả ở đây là trong những ngã tư và những cột đèn, Trần Dần đã “huy động” tối đa các lĩnh vực của mình: có Trần Dần nhà văn xuôi (tất nhiên), Trần Dần nhà thơ (thể hiện ở cách tạo lập hình ảnh, nhiều lặp lại, không ít màu sắc), và cả một vai trò ít được biết đến hơn: Trần Dần nhà dịch thuật. Cũng ở đây ta thấy xuất hiện dấu ấn của Dostoevsky, một cách xuất hiện rất lạ thường.

Nhân vật Dưỡng đọc Tội ác và hình phạt mà cứ ngỡ mình đang đọc một cuốn tiểu thuyết trinh thám bình thường nào đó: “mấy buổi chiều, tôi vùi đầu trong một cuốn sách cũ, có lẽ là trinh thám Nga, đã đọc mấy năm trước” (tr. 104). Cuốn sách lôi cuốn Dưỡng đến mức anh ta “đọc lại cuốn sách từ trang một, 3 buổi chiều thì tới phần kết”. Tội ác và hình phạt (mà trong những ngã tư và những cột đèn, nhân vật nhà văn không có tên gọi là Tội ác và trừng phạt) cứu rỗi cho tâm hồn dằn vặt của Dưỡng: cuốn sách “làm tôi quên cả cuộc chạy trốn của thằng nhọn cằm, cùng chiếc mùi soa của Lily” (tr. 105).

Đặc biệt, đến trang 110, nhân vật nhà văn trích dẫn một đoạn trong Tội ác và hình phạt, mở thêm một kết nối ở tầng sâu giữa cuốn tiểu thuyết này và nhà văn Nga. Trước đó, Dưỡng “mở lại cuốn truyện, vì muốn biết anh sinh viên mà nói tiếng Việt, thì sẽ hay thế nào” (tr. 106). Câu văn tưởng chừng thoáng qua này, trên thực tế lại không phải là một điều tình cờ. Chúng ta đã biết Trần Dần ở vai trò dịch giả đã dịch các tác phẩm của Jules Vallès, rồi những tiểu thuyết như Những người chân đất, Chàng Mê-mét mảnh khảnh hay Cái chết là nghề của tôi, nhưng lẽ ra danh mục dịch phẩm của Trần Dần phải dài hơn, vì trong di cảo ông để lại có bản dịch tương đối hoàn chỉnh chính tác phẩm Tội ác và hình phạt.

Bản thảo viết tay của bản dịch gồm ba quyển vở dày, khổ lớn, trong đó ở đầu quyển thứ ba Trần Dần đã tự tay vẽ minh họa bằng bút mực một bìa sách mà ông tưởng tượng ra. Theo quy cách xuất bản hồi đó, nếu bản thảo vẫn còn thì có nghĩa là sách chưa được xuất bản, vì thường các bản thảo chỉ tồn tại ở dạng độc bản (cũng nhờ Sở Công an trả lại bản thảo cho Trần Dần mà ngày nay chúng ta mới có những ngã tư và những cột đèn). Rất tiếc là tập bản thảo này đã bị hư hại, nhiều trang bị mất góc, công việc “phục chế” (nếu có) hẳn sẽ mất rất nhiều công sức. Nhưng sự hiện diện của bản thảo này trong di cảo Trần Dần đã chỉ ra một mối liên hệ quan trọng, một điểm quy chiếu mà ta có thể nghĩ tới khi đọc và nghiên cứu văn xuôi Trần Dần.

Trong những ngã tư và những cột đèn, qua phát ngôn của Dưỡng, Trần Dần bàn về tác phẩm của Dostoevsky, coi nó là “một thương xót kì quặc, một từ bi trần tục, hết sức trần tục mà khắp gầm cầu, không đâu có. Một cứu vớt sâu thẳm” (tr. 104). Có thể nói rằng Trần Dần đã mở rộng một chút cho quan niệm tội ác và sự trừng phạt ở Dostoevsky: còn có một khía cạnh tâm lý nữa ở kẻ phạm tội: Dưỡng cho rằng: “tôi có uất, có đau thật, nhưng không chỉ có thế. Tôi lại thấy mình oai oai, cũng có khi thấy khoái”, rồi “tôi cười toe toét, trong cuộc họp. I như đứa trẻ bị bố đánh đòn: nó cười toe toét, vì nó coi như xong” (tr. 109). Sự nghiêm túc của tội ác như thể được cộng thêm một kích thước xộc xệch, nực cười của những người lửng lơ trong cuộc đời như Dưỡng và các bạn của anh ta.

Nhờ đọc Tội ác và hình phạt mà Dưỡng một phần thoát ra khỏi tình cảnh ngõ cụt của “đời không ngã tư”, còn Trần Dần thì suy tư về những vấn đề Dostoevsky đặt ra. Ông đi sâu vào tư tưởng và tác phẩm của nhà văn Nga ở mức độ dịch một tiểu thuyết lớn, cuốn tiểu thuyết cũng xuất hiện ở vị trí nhiều ý nghĩa trong tiểu thuyết của ông. Nếu Trần Dần nhà thơ có Maiakovsky là một bậc thầy (ít nhất ở một giai đoạn), thì hẳn Trần Dần văn xuôi có Dostoevsky là vị “thánh bảo trợ” cho mình.


+ Còn đây là bài của Madame Nhã Thuyên :)


+ Bối cảnh chung: Giời mưa, mưa trên đất Bắc, kiếp giang hồ không bến đợi hehe.

Dec 31, 2010

những ngã tư và những cột đèn

"Giữa hai cuộc chiến tranh, là nhật kí": câu cuối cùng của đoạn mở đầu tiểu thuyết những ngã tư và những cột đèn. Cuốn tiểu thuyết của Trần Dần, in xong đúng vào ngày hết năm. Năm cùng tháng tận. Số phận vẫn luôn luôn gây kinh ngạc.

Bản thảo cuốn tiểu thuyết này xong xuôi vào năm 1966. Năm đó, Trần Dần được Sở Công an Hà Nội cấp giấy phép ra vào trại giam gặp gỡ ngụy binh cũ thời Pháp thuộc (để lấy tư liệu). Bản thảo viết xong, bản duy nhất, được gửi lên Sở Công an. Năm 1988 bản thảo được Sở Công an trả lại cho Trần Dần, cùng bản chép tay Cổng tỉnh.

Khi đọc bản thảo cuốn tiểu thuyết này, tôi nghĩ: những gì là cách tân, hiện đại của tiểu thuyết Việt Nam hiện nay, Trần Dần đã làm từ năm 1966. Với một sức mạnh cuồn cuộn của ý tưởng và câu văn. Có khi đọc một cuốn tiểu thuyết ta thấy như đang nói chuyện với một binh nhì, lại có khi thấy như đang nói chuyện với một vị tướng. Cuốn tiểu thuyết này, tôi thấy như cả một đạo quân tinh nhuệ cùng một lúc. Với mọi kỹ thuật và nghệ thuật của đánh trận.

"Tháng sáu 1965. Tôi ngồi một ngày không rõ thứ hai hay chủ nhật. Những xê dịch lủng củng, lỉnh kỉnh, của các con số, làm sao giúp tôi luôn luôn 37o không lên cơn sốt? Bên này cửa sổ tôi tím: có nhật kí và bản sao nhật kí, có lọ mực tím và bản thảo lem nhem mực tím. Bên kia cửa sổ tôi xanh: có sáu cây bàng lá xanh và nhiều căm nhông xanh quân sự đậu, có tháng sáu vắng và phố thời chiến vắng lặng. Tôi không tìm được, ở đâu trong nhật kí, trang cuối một cuộc chiến tranh, và ở đâu, trang đầu một cuộc chiến tranh nữa. Nhưng tôi biết, một buổi chiều bình thường, bỗng dưng ngoảnh lại, đã thấy những đám khói sau lưng. Một buổi chiều khác, đã thấy chiến tranh bao vây mọi phía, lấp kín mọi lối đi về. [...] Giữa hai cuộc chiến tranh, là nhật kí."

"Tôi qua ngã tư Cửa Nam. Ngã tư Cửa Nam đầy khói. Để không thể đếm bao nhiêu nốt chân trên ngã tư. Ai đếm bao nhiêu nốt chân khôn dại. Bao nhiêu nốt chân vui buồn? Ai đếm những ngã tư đời láo nháo nốt chân. Láo nháo cột đèn láo nháo đèn? Đời tôi đã rẽ rồi. Như đã hạ nước cờ không sao đi lại được. Nhưng tại sao tôi cứ ám ảnh: cái ngã tư tại sao ấy. Tôi quên không được. Đi đi không được. Tôi ngồi bệt lề đường. Tôi là đàn ông: tôi không đau khổ. Nhưng tôi muốn khóc. Tôi là đàn ông: tôi không khóc. Nhưng tôi đau khổ lắm. Tôi ngồi bệt mà nhìn láo nháo cột đèn. Láo nháo khói. Láo nháo hàng cây bên đường lá rụng."

Vậy là giữ đúng lời hứa. Quyển này cũng như quyển của Đỗ Lai Thúy: Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy. Tư tưởng phê bình văn học Việt Nam, một cái nhìn lịch sử.

----------------

Sang đến Don DeLillo:


Từ bốn thập kỷ nay, nhà văn Mỹ chiếu tia X vào những mảng tối tăm của đất nước ông. Một nghệ thuật thấu thị? Dẫu không phải thế thì cũng là mang tính chất thị giác một cách sâu sắc, điều càng được chứng tỏ rõ hơn với cuốn sách mới nhất của ông, Point Omega.

Ở tuổi 73, Don DeLillo vừa nhận giải Pen/Saul Bellow cho toàn bộ tác phẩm của ông: mười sáu tiểu thuyết, một kịch bản phim cùng một ít truyện ngắn, tiểu luận và kịch. Tác giả của LibraFalling Man có được một vị thế rất khác biệt trong bức tranh chung của văn chương Mỹ vì lý do số lượng tác phẩm dồi dào ít hơn vì lý do từ gần bốn mươi năm nay ông khám phá cùng những vùng tối, những cơn loạn tâm và những nỗi sợ có tính chất cổ mẫu của người sống cùng thời, vừa làm như vậy vừa xây đắp cho sự im lặng và bí mật. Với rất nhiều cuộc mưu phản chống lại những khốn cùng của sự tiêu dùng đồng thời với các hành động tàn phá hình ảnh, dần dần ông tự ấn định mình thành một chứng nhân và lý thuyết gia của những “hình thức hiện đại của hãi hùng”. Nhưng những lần trả lời phỏng vấn và xuất hiện trước công chúng của ông chỉ có thể đếm được trên đầu ngón tay. Và các tiểu thuyết mênh mông của giai đoạn đầu đã dần dần nhường chỗ, từ khoảng chục năm nay, cho những văn bản ngắn hơn và kiệm lời (ê-líp-tích) hơn. Cũng như vậy ở cuốn sách gần đây nhất, Point Omega, cái nhan đề hơi có chút huyền bí, có hình thức gây rối trí và những mạng lưới hình ảnh không hề bị che giấu. Cuộc gặp gỡ, trong sa mạc Arizona, giữa một đạo diễn trẻ và một tay tân bảo thủ, nhân viên Lầu Năm Góc về hưu và bộ não của cuộc chiến tranh Irak. Một cuộc gặp biến thành tiểu thuyết noir khi con gái ông già mất tích, cũng bí ẩn như khi xuất hiện. Một cuộc gặp được lồng khung trong hai cảnh bí ẩn ở bảo tàng nơi người ta chiếu tác phẩm video của Douglas Gordon, 24 Hour Psycho, đặt vấn đề về tri giác thời gian bằng cách chiếu đi chiếu lại bộ phim Psycho của Hitchcock suốt một ngày. Bất khả xâm nhập, bí ẩn, lo sao cho mỗi độc giả có được cách diễn giải riêng về cuốn tiểu thuyết, Don DeLillo thích nhấn mạnh vào vai trò người nghệ sĩ và các nguồn cơn không ngờ tới của nghệ thuật nhằm nói ra cái thực. Dù thế nào đi nữa, người vẫn được cho là có khả năng thấu thị vì đã “dự đoán” thảm họa 11 tháng Chín ngay từ cuối những năm 1970, trước hết lại không phải là một nghệ sĩ thị giác ư?


Mar 5, 2010

Một cái êm rất xóc

Viết báo chán thật. Ván nào anh cũng ăn gian.
-----------------

Di cảo Trần Dần cho chúng ta biết ông không chỉ viết thơ, mà còn viết văn xuôi (tiểu thuyết, truyện ngắn) và rất nhiều trang nhật ký. Trần Dần còn là một dịch giả, dịch nhiều bài thơ của Bertolt Brecht hay Maiakovski cùng nhiều tiểu thuyết, trong đó một số đã được in, không đề tên dịch giả hoặc đề tên Vũ Văn Kha, Trọng Kha, sau này khi in lại một số tác phẩm đã được đề tên dịch giả Trần Dần. Trong khi chờ đợi kho di cảo này được khai thác trong tương lai, chúng ta có thể quay trở lại với bản “hùng ca-lụa” mang tên Đi! Đây Việt Bắc! mới xuất hiện ở dạng toàn vẹn (Nhã Nam & NXB Hội Nhà văn, 2009).