châu Âu lúc nào cũng khủng hoảng
Showing posts with label karl-popper. Show all posts
Showing posts with label karl-popper. Show all posts
Jul 1, 2016
Aug 30, 2012
Hồ Hữu Tường chê sử
nhân quyển đại luận Sự nghèo nàn của thuyết sử luận của Karl Popper vừa in xong (đối tượng mà Popper chống là historicism), tôi chợt nhớ đến thái độ của Hồ Hữu Tường
"Rầy, mắng, chưởi tôi, thì tôi đành chịu. Nhưng đến khi đậy nắp quan tài cho tôi rồi, tôi vẫn không nhận rằng sử học là một khoa học. Đời tôi, tôi chưa hề có dịp "làm sử", song tôi lại có dịp tiếp cận những kẻ mà các sử gia thảy công nhận là "kẻ làm sử". Như trên bình diện quốc tế: Trotsky. Như trên bình diện dân tộc, những Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Tâm, Ngô Đình Nhu,... đối với tôi có gì là xa lạ? Tôi biết những kẻ làm sử ấy bằng một lối, mà tôi rèn ra một danh từ mới để gọi, là "thực chứng pháp"... rồi tôi cũng nghe hay đọc lắm huyền thoại về họ, nghe và đọc cho đến đỗi hóa ngấy đi. Đó là một cái duyên cớ làm cho tôi không tin "sử liệu" do "nhân chứng" chép lại. Rồi luôn đà, tôi không tin nốt cái "biện chứng pháp".
Đỗ Bá Thế, tôi quên là mang bút hiệu gì, trong một hồi ký tiểu thuyết hóa, có nhắc một câu chuyện, tuy ngộ nghĩnh, song không đáng gọi là "giai thoại". Có gì đẹp đẽ cho nhà văn tài hoa, là Nhượng Tống đâu, mà gọi là "giai"? Nên chữa lại là "trào thoại", một câu chuyện kể lại để cười xòa, rồi quên đi, chớ đừng có ác ý chi cả. Lúc ấy Thâu và tôi ra Bắc, toan sang Tàu. Thâu tật nguyền, tay mặt sử dụng không được, phải dắt theo một chàng thanh niên để làm thơ ký riêng và để giúp đỡ: ấy là Thế. Ba chúng tôi tạm trọ nhà ông Văng [Lê Văn Văng], giám đốc nhà xuất bản Tân Việt; và nơi đây, gặp Nhượng Tống đến. Giữa ba điều, bốn chuyện, Thâu có trách các đảng phái quốc gia sao chỉ hoạt động ở địa phương, thêm chẳng tìm [sic] đồng minh nơi các tổ chức cách mạng khác. Nhượng Tống cãi lại hăng hái:
- Có chớ! Có chớ! Chúng tôi có phái người vào Nam mà liên lạc với Tạ Thu Thâu và Hồ Hữu Tường rồi!
- Có kết quả không?
- Kết quả mỹ mãn lắm. Thâu và Tường đều thỏa thuận bắt tay với chúng tôi cả!
Nhượng Tống có dè đâu "người điền chủ mang bịnh bán thân bất toại và tay buôn lậu" ra nghiên cứu thị trường lúa gạo ngoài Bắc lại là Tạ Thu Thâu và Hồ Hữu Tường đang nói chuyện với mình? Nếu Nhượng Tống bằng vào một bản "báo cáo của phái đoàn V.N.Q.D.Đ gởi vào Nam", thì Nhượng Tống đã bị đồng chí của mình bịp: và vài trăm năm sau, một sử gia nào chớp được bản báo cáo ấy, dùng làm sử liệu, thì thật là xa sự thật. Thực chứng một "trào thoại" buồn cười như thế, Thâu và tôi phải nén cười, chờ cho khổ chủ là Nhượng Tống bước ra khỏi nhà, thì cả nhà phá lên cười to. Càng cười ngắt nghẽo [sic] là chị chủ, cả mười phút sau, chị mới nói được:
- Thấy mặt anh năm lớn và anh năm nhỏ làm nghiêm, không đính chánh lại, tôi tức cười muốn chết! Phải chi anh Nhượng Tống rán ở lại thêm ít phút nữa, chắc là tôi nhịn cười hết nổi...
Đời tôi, tôi đã thực chứng hàng tá huyền thoại, tuy không quá buồn cười như chuyện "trào thoại" vừa kể, song cũng xa sự thật không kém. Lúc còn là sanh viên, tôi hay ngốn ngấu thứ văn chương rẻ tiền (vì có tiền đâu mà mua thứ quí?), có lượt tôi đọc được một câu khá hay: "À Saigon on se promène sous les ananas" [chủ thích dưới trang: "Ở Sài-gòn, người ta đi dạo dưới tàng cây thơm". Nhà văn ta, thấy quả thơm to hơn quả táo nhiều, tưởng tượng cây thơm phải to bằng mười lần cây táo ở Âu-châu.] Từ ấy, tôi sanh ra thương hại cho các "sử gia", trích dẫn sách nầy, sách kia, dẫn chứng những "sử liệu", để vặn cổ cái lịch sử đích thật, hầu chứng minh một cái thuyết lập dị nào đó.
Đáng lẽ, cái "sử quan" kỳ quái nầy, tôi ôm ấp trong lòng, và đừng đem ra nói cho người khác nghe, nhứt là viết bằng mực đen trên giấy trắng. Làm như vậy thật mích lòng những sử gia xây dựng uy tín của mình trên tờ a, tờ b. Nhưng chẳng đừng được, tôi phải nói. Từ khi tôi viết bộ Phi Lạc, thì trong dân gian, người nầy truyền cho người kia là "Hồ Hữu Tường nói dóc tổ". Nói dóc, quả tôi có nói dóc, khi nào cần pha trò để cười xòa. Nhưng cũng có khi nói thiệt. Đàng nầy lại ngoại suy, cho bất cứ cái chi tôi nói thảy đều dóc; rồi vài trăm năm sau, một sử gia nào đó, căn cứ vào những tài liệu của "nhân chứng" là kẻ sống một thời với tôi, lại viết vào sử rằng "Hồ Hữu Tường là tay nói dóc tổ" thì có phải thiệt cho vong hồn tôi không? Con cháu tôi, đến ngày kỵ cơm của tôi, bởi xấu hổ vì có một ông vải nói dóc quá, nên không dám "hội lại mà kể công đức" của tôi; té ra bữa kỵ cơm của tôi bị bỏ đi, rồi mãi tôi thành con ma đói!"
(trích bài "Học thiệt", tạp chí Văn số 46, 15/11/1965, tr. 3-5)
-----------
Hồ Hữu Tường có kiểu đầu óc thật giống Phan Khôi, vô cùng ương ngạnh và về bản chất là nhất định không chịu đứng vào phe nào, để rồi cứ thế mất hút trong cái gọi là lịch sử của Việt Nam
thêm về Hồ Hữu Tường
"Rầy, mắng, chưởi tôi, thì tôi đành chịu. Nhưng đến khi đậy nắp quan tài cho tôi rồi, tôi vẫn không nhận rằng sử học là một khoa học. Đời tôi, tôi chưa hề có dịp "làm sử", song tôi lại có dịp tiếp cận những kẻ mà các sử gia thảy công nhận là "kẻ làm sử". Như trên bình diện quốc tế: Trotsky. Như trên bình diện dân tộc, những Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Tâm, Ngô Đình Nhu,... đối với tôi có gì là xa lạ? Tôi biết những kẻ làm sử ấy bằng một lối, mà tôi rèn ra một danh từ mới để gọi, là "thực chứng pháp"... rồi tôi cũng nghe hay đọc lắm huyền thoại về họ, nghe và đọc cho đến đỗi hóa ngấy đi. Đó là một cái duyên cớ làm cho tôi không tin "sử liệu" do "nhân chứng" chép lại. Rồi luôn đà, tôi không tin nốt cái "biện chứng pháp".
Đỗ Bá Thế, tôi quên là mang bút hiệu gì, trong một hồi ký tiểu thuyết hóa, có nhắc một câu chuyện, tuy ngộ nghĩnh, song không đáng gọi là "giai thoại". Có gì đẹp đẽ cho nhà văn tài hoa, là Nhượng Tống đâu, mà gọi là "giai"? Nên chữa lại là "trào thoại", một câu chuyện kể lại để cười xòa, rồi quên đi, chớ đừng có ác ý chi cả. Lúc ấy Thâu và tôi ra Bắc, toan sang Tàu. Thâu tật nguyền, tay mặt sử dụng không được, phải dắt theo một chàng thanh niên để làm thơ ký riêng và để giúp đỡ: ấy là Thế. Ba chúng tôi tạm trọ nhà ông Văng [Lê Văn Văng], giám đốc nhà xuất bản Tân Việt; và nơi đây, gặp Nhượng Tống đến. Giữa ba điều, bốn chuyện, Thâu có trách các đảng phái quốc gia sao chỉ hoạt động ở địa phương, thêm chẳng tìm [sic] đồng minh nơi các tổ chức cách mạng khác. Nhượng Tống cãi lại hăng hái:
- Có chớ! Có chớ! Chúng tôi có phái người vào Nam mà liên lạc với Tạ Thu Thâu và Hồ Hữu Tường rồi!
- Có kết quả không?
- Kết quả mỹ mãn lắm. Thâu và Tường đều thỏa thuận bắt tay với chúng tôi cả!
Nhượng Tống có dè đâu "người điền chủ mang bịnh bán thân bất toại và tay buôn lậu" ra nghiên cứu thị trường lúa gạo ngoài Bắc lại là Tạ Thu Thâu và Hồ Hữu Tường đang nói chuyện với mình? Nếu Nhượng Tống bằng vào một bản "báo cáo của phái đoàn V.N.Q.D.Đ gởi vào Nam", thì Nhượng Tống đã bị đồng chí của mình bịp: và vài trăm năm sau, một sử gia nào chớp được bản báo cáo ấy, dùng làm sử liệu, thì thật là xa sự thật. Thực chứng một "trào thoại" buồn cười như thế, Thâu và tôi phải nén cười, chờ cho khổ chủ là Nhượng Tống bước ra khỏi nhà, thì cả nhà phá lên cười to. Càng cười ngắt nghẽo [sic] là chị chủ, cả mười phút sau, chị mới nói được:
- Thấy mặt anh năm lớn và anh năm nhỏ làm nghiêm, không đính chánh lại, tôi tức cười muốn chết! Phải chi anh Nhượng Tống rán ở lại thêm ít phút nữa, chắc là tôi nhịn cười hết nổi...
Đời tôi, tôi đã thực chứng hàng tá huyền thoại, tuy không quá buồn cười như chuyện "trào thoại" vừa kể, song cũng xa sự thật không kém. Lúc còn là sanh viên, tôi hay ngốn ngấu thứ văn chương rẻ tiền (vì có tiền đâu mà mua thứ quí?), có lượt tôi đọc được một câu khá hay: "À Saigon on se promène sous les ananas" [chủ thích dưới trang: "Ở Sài-gòn, người ta đi dạo dưới tàng cây thơm". Nhà văn ta, thấy quả thơm to hơn quả táo nhiều, tưởng tượng cây thơm phải to bằng mười lần cây táo ở Âu-châu.] Từ ấy, tôi sanh ra thương hại cho các "sử gia", trích dẫn sách nầy, sách kia, dẫn chứng những "sử liệu", để vặn cổ cái lịch sử đích thật, hầu chứng minh một cái thuyết lập dị nào đó.
Đáng lẽ, cái "sử quan" kỳ quái nầy, tôi ôm ấp trong lòng, và đừng đem ra nói cho người khác nghe, nhứt là viết bằng mực đen trên giấy trắng. Làm như vậy thật mích lòng những sử gia xây dựng uy tín của mình trên tờ a, tờ b. Nhưng chẳng đừng được, tôi phải nói. Từ khi tôi viết bộ Phi Lạc, thì trong dân gian, người nầy truyền cho người kia là "Hồ Hữu Tường nói dóc tổ". Nói dóc, quả tôi có nói dóc, khi nào cần pha trò để cười xòa. Nhưng cũng có khi nói thiệt. Đàng nầy lại ngoại suy, cho bất cứ cái chi tôi nói thảy đều dóc; rồi vài trăm năm sau, một sử gia nào đó, căn cứ vào những tài liệu của "nhân chứng" là kẻ sống một thời với tôi, lại viết vào sử rằng "Hồ Hữu Tường là tay nói dóc tổ" thì có phải thiệt cho vong hồn tôi không? Con cháu tôi, đến ngày kỵ cơm của tôi, bởi xấu hổ vì có một ông vải nói dóc quá, nên không dám "hội lại mà kể công đức" của tôi; té ra bữa kỵ cơm của tôi bị bỏ đi, rồi mãi tôi thành con ma đói!"
(trích bài "Học thiệt", tạp chí Văn số 46, 15/11/1965, tr. 3-5)
-----------
Hồ Hữu Tường có kiểu đầu óc thật giống Phan Khôi, vô cùng ương ngạnh và về bản chất là nhất định không chịu đứng vào phe nào, để rồi cứ thế mất hút trong cái gọi là lịch sử của Việt Nam
thêm về Hồ Hữu Tường
May 10, 2009
Còn hết cuối tuần thì...
... thì khác tí teo :))
* Đọc Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học, Thomas S. Kuhn, Chu Lan Đình dịch, NXB Tri Thức, “Tủ sách Tinh hoa”, 2008
Quyển sách lớn của Thomas Kuhn, Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học (The Structrure of Scientific Revolutions, 1962), mặc dù mang rất nhiều yếu tố kỹ thuật gắn liền với các bộ môn thuộc ngành vật lý, vẫn rất có ích cho ngay cả những ai thuần túy coi những cái tên như Bernoulli, Boyle hay Coulomb là những ám ảnh đáng sợ và xưa cũ của nhà trường phổ thông.
Trước hết và hơn hết là vì nó đề nghị điều vừa quyến rũ nhất vừa gây sợ hãi nhất trong khoa học và không chỉ khoa học: sự thay đổi. Sự thay đổi đó xuất phát từ chính bản thân Kuhn: theo như ông kể lại trong “Lời nói đầu”, tuy được đào tạo về vật lý (tại đại học Harvard), nhưng ông nhanh chóng chuyển sang nghiên cứu lịch sử khoa học và sự nghiệp xuất sắc đã khiến ông được xếp vào các triết gia về khoa học lớn nhất của thế kỷ XX, cùng Lakatos, Popper, Feyerabend (bạn của ông) hay Heilbron (học trò của ông). Mục đích ban đầu của Kuhn là “thúc đẩy một sự thay đổi trong cách nhìn nhận và đánh giá các dữ liệu quen thuộc” (tr. 26), bởi ông sớm nhận ra những khiếm khuyết lớn ở các “bức tranh khoa học” theo lối biên niên như vẫn được thể hiện ở sách vở kinh điển và sách giáo khoa: chúng hoàn toàn không có ích lợi gì cho việc hiểu biết về hoạt động nghiên cứu đã đẻ ra chúng.
Phản đối khái niệm “phát triển bằng tích lũy”, Kuhn tìm đến một lối hình dung khác về tiến trình phát triển của khoa học. Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học đưa ra một suy tư độc đáo về lịch sử khoa học và kể từ đó mô hình mà nó đề nghị đã trở thành kinh điển, với các khái niệm xương sống: “cách mạng khoa học”, “paradigm” (trong bản dịch là “mẫu hình”, còn có thể dịch là “hệ hình” hay “phạm thức”) và cặp từ đối nghĩa “normal science” (trong bản dịch là “khoa học chuẩn định”, còn có thể hiểu là khoa học ở trạng thái bình thường) và “extraordinary science” (trong bản dịch là “khoa học phi chuẩn định”, ở đây nên hiểu là “khoa học bất thường”). Lịch sử của khoa học (tự nhiên) đi qua các mẫu hình khác nhau, mỗi mẫu hình chi phối, quyết định, dự đoán và thậm chí tiên liệu sự diệt vong của chính mình. Cách hình dung này khá tương đồng với Michel Foucault khi bàn về sự phát triển của tri thức. Thay đổi mẫu hình là điều kiện tiên quyết cho khả năng về một cuộc cách mạng khoa học: “Cách mạng khoa học chính là quá trình chuyển sang một mẫu hình mới” (tr. 189). Một điểm quan trọng nữa là Kuhn hoàn toàn không bỏ qua khía cạnh xã hội của phát triển khoa học.
Kuhn đặt mẫu hình, tức “thành tựu khoa học cụ thể” (tr. 51), quan trọng hơn các khái niệm, định luật, lý thuyết và quan điểm đã dẫn tới thành tựu đó vì ông cho rằng đó là đơn vị cơ bản dùng để nghiên cứu sự phát triển của khoa học. Cách mạng, theo Kuhn, chính là “kiểu phát triển thông thường của một khoa học trưởng thành” (tr. 53), nhưng lại không đặc trưng cho thời kỳ trước Newton; đây là một khái niệm khá muộn, nhưng có hiệu quả đặc biệt, vì nó bỏ bớt cho nhà khoa học gánh nặng luôn phải trình bày lại từ đầu những vấn đề cơ bản nhất trong lĩnh vực nghiên cứu của mình do không có sẵn một chuẩn mực chung được toàn bộ giới khoa học cùng thời đồng thuận. Cũng thông qua cách mạng mà chúng ta có thể nói đến sự tiến bộ.
Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học chắc chắn sẽ thu hút độc giả quan tâm đến các phát minh lớn trong khoa học và những cuộc đối đầu của trí tuệ đỉnh cao (với những cái tên như Aristotle, Newton, Lavoisier, Boyle hay Einstein), nhưng ở một khía cạnh khác nó còn có khả năng lớn lao trong việc khích lệ công việc nghiên cứu của các nhà khoa học trẻ, khi Kuhn bàn rất hay đến ý nghĩa của khoa học (ở các chương III và IV), dù cho ông khẳng định ở môi trường bình thường với sự thống trị của một mẫu hình thực thụ, công việc chủ yếu của nhà khoa học là “vun đắp” chứ không hẳn là tìm ra cái mới, thậm chí nhà khoa học còn dị ứng với những cái dị biệt và lý thuyết mới. Mặt khác, ông cũng khẳng định: “Có một điều nên lưu ý: hầu như bao giờ cũng vậy, những người có các phát minh cơ bản về một mẫu hình mới là những người hoặc rất trẻ hoặc là mới bước vào lĩnh vực mà họ làm thay đổi mẫu hình” (tr. 188).
Đẩy xa hơn suy tư của mình, Kuhn đặt các cuộc cách mạng khoa học vào sự đối sánh với các cuộc cách mạng chính trị và tìm ra nhiều điểm tương đồng giữa chúng. Cả hai loại đều khởi đầu bằng một cảm giác bất ổn chung của cộng đồng, tiếp đến là giai đoạn khủng hoảng bắt buộc trước khi dẫn đến quá độ và thay thế về mẫu hình (ở điểm này Kuhn khác với Popper, người cho rằng sẽ có thay đổi mẫu hình khi một mẫu hình cũ bị vứt bỏ; Kuhn lại khẳng định phải đến khi một mẫu hình mới thay thế xong xuôi một mẫu hình cũ thì quá trình này mới thực sự được hoàn thành). Gần gũi với cách mạng chính trị (đó cũng chính là lý do khiến Kuhn chọn từ “cách mạng”), “việc lựa chọn giữa các mẫu hình cạnh tranh nhau cũng là một sự lựa chọn giữa những lối sống không tương thích nhau của cộng đồng” (tr. 194).
Và toàn bộ quá trình đó cứ liên tục diễn ra, dù các cộng đồng có muốn hay không, bởi vì sự thay đổi không chỉ là một thuộc tính của thế giới, mà thế giới còn thuộc về sự thay đổi.
* Đọc Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học, Thomas S. Kuhn, Chu Lan Đình dịch, NXB Tri Thức, “Tủ sách Tinh hoa”, 2008
Quyển sách lớn của Thomas Kuhn, Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học (The Structrure of Scientific Revolutions, 1962), mặc dù mang rất nhiều yếu tố kỹ thuật gắn liền với các bộ môn thuộc ngành vật lý, vẫn rất có ích cho ngay cả những ai thuần túy coi những cái tên như Bernoulli, Boyle hay Coulomb là những ám ảnh đáng sợ và xưa cũ của nhà trường phổ thông.
Trước hết và hơn hết là vì nó đề nghị điều vừa quyến rũ nhất vừa gây sợ hãi nhất trong khoa học và không chỉ khoa học: sự thay đổi. Sự thay đổi đó xuất phát từ chính bản thân Kuhn: theo như ông kể lại trong “Lời nói đầu”, tuy được đào tạo về vật lý (tại đại học Harvard), nhưng ông nhanh chóng chuyển sang nghiên cứu lịch sử khoa học và sự nghiệp xuất sắc đã khiến ông được xếp vào các triết gia về khoa học lớn nhất của thế kỷ XX, cùng Lakatos, Popper, Feyerabend (bạn của ông) hay Heilbron (học trò của ông). Mục đích ban đầu của Kuhn là “thúc đẩy một sự thay đổi trong cách nhìn nhận và đánh giá các dữ liệu quen thuộc” (tr. 26), bởi ông sớm nhận ra những khiếm khuyết lớn ở các “bức tranh khoa học” theo lối biên niên như vẫn được thể hiện ở sách vở kinh điển và sách giáo khoa: chúng hoàn toàn không có ích lợi gì cho việc hiểu biết về hoạt động nghiên cứu đã đẻ ra chúng.
Phản đối khái niệm “phát triển bằng tích lũy”, Kuhn tìm đến một lối hình dung khác về tiến trình phát triển của khoa học. Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học đưa ra một suy tư độc đáo về lịch sử khoa học và kể từ đó mô hình mà nó đề nghị đã trở thành kinh điển, với các khái niệm xương sống: “cách mạng khoa học”, “paradigm” (trong bản dịch là “mẫu hình”, còn có thể dịch là “hệ hình” hay “phạm thức”) và cặp từ đối nghĩa “normal science” (trong bản dịch là “khoa học chuẩn định”, còn có thể hiểu là khoa học ở trạng thái bình thường) và “extraordinary science” (trong bản dịch là “khoa học phi chuẩn định”, ở đây nên hiểu là “khoa học bất thường”). Lịch sử của khoa học (tự nhiên) đi qua các mẫu hình khác nhau, mỗi mẫu hình chi phối, quyết định, dự đoán và thậm chí tiên liệu sự diệt vong của chính mình. Cách hình dung này khá tương đồng với Michel Foucault khi bàn về sự phát triển của tri thức. Thay đổi mẫu hình là điều kiện tiên quyết cho khả năng về một cuộc cách mạng khoa học: “Cách mạng khoa học chính là quá trình chuyển sang một mẫu hình mới” (tr. 189). Một điểm quan trọng nữa là Kuhn hoàn toàn không bỏ qua khía cạnh xã hội của phát triển khoa học.
Kuhn đặt mẫu hình, tức “thành tựu khoa học cụ thể” (tr. 51), quan trọng hơn các khái niệm, định luật, lý thuyết và quan điểm đã dẫn tới thành tựu đó vì ông cho rằng đó là đơn vị cơ bản dùng để nghiên cứu sự phát triển của khoa học. Cách mạng, theo Kuhn, chính là “kiểu phát triển thông thường của một khoa học trưởng thành” (tr. 53), nhưng lại không đặc trưng cho thời kỳ trước Newton; đây là một khái niệm khá muộn, nhưng có hiệu quả đặc biệt, vì nó bỏ bớt cho nhà khoa học gánh nặng luôn phải trình bày lại từ đầu những vấn đề cơ bản nhất trong lĩnh vực nghiên cứu của mình do không có sẵn một chuẩn mực chung được toàn bộ giới khoa học cùng thời đồng thuận. Cũng thông qua cách mạng mà chúng ta có thể nói đến sự tiến bộ.
Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học chắc chắn sẽ thu hút độc giả quan tâm đến các phát minh lớn trong khoa học và những cuộc đối đầu của trí tuệ đỉnh cao (với những cái tên như Aristotle, Newton, Lavoisier, Boyle hay Einstein), nhưng ở một khía cạnh khác nó còn có khả năng lớn lao trong việc khích lệ công việc nghiên cứu của các nhà khoa học trẻ, khi Kuhn bàn rất hay đến ý nghĩa của khoa học (ở các chương III và IV), dù cho ông khẳng định ở môi trường bình thường với sự thống trị của một mẫu hình thực thụ, công việc chủ yếu của nhà khoa học là “vun đắp” chứ không hẳn là tìm ra cái mới, thậm chí nhà khoa học còn dị ứng với những cái dị biệt và lý thuyết mới. Mặt khác, ông cũng khẳng định: “Có một điều nên lưu ý: hầu như bao giờ cũng vậy, những người có các phát minh cơ bản về một mẫu hình mới là những người hoặc rất trẻ hoặc là mới bước vào lĩnh vực mà họ làm thay đổi mẫu hình” (tr. 188).
Đẩy xa hơn suy tư của mình, Kuhn đặt các cuộc cách mạng khoa học vào sự đối sánh với các cuộc cách mạng chính trị và tìm ra nhiều điểm tương đồng giữa chúng. Cả hai loại đều khởi đầu bằng một cảm giác bất ổn chung của cộng đồng, tiếp đến là giai đoạn khủng hoảng bắt buộc trước khi dẫn đến quá độ và thay thế về mẫu hình (ở điểm này Kuhn khác với Popper, người cho rằng sẽ có thay đổi mẫu hình khi một mẫu hình cũ bị vứt bỏ; Kuhn lại khẳng định phải đến khi một mẫu hình mới thay thế xong xuôi một mẫu hình cũ thì quá trình này mới thực sự được hoàn thành). Gần gũi với cách mạng chính trị (đó cũng chính là lý do khiến Kuhn chọn từ “cách mạng”), “việc lựa chọn giữa các mẫu hình cạnh tranh nhau cũng là một sự lựa chọn giữa những lối sống không tương thích nhau của cộng đồng” (tr. 194).
Và toàn bộ quá trình đó cứ liên tục diễn ra, dù các cộng đồng có muốn hay không, bởi vì sự thay đổi không chỉ là một thuộc tính của thế giới, mà thế giới còn thuộc về sự thay đổi.
Subscribe to:
Posts (Atom)
