Showing posts with label alice-munro. Show all posts
Showing posts with label alice-munro. Show all posts

Oct 21, 2013

Alice Munro trên The New Yorker

Ngay sau khi có thông tin giải Nobel Văn chương 2013, tờ The New Yorker đăng lại truyện ngắn của Alice Munro; truyện này đã đăng vào cuối năm 1999 ở đây.


Apr 27, 2012

10 sách tháng Năm 2012

Một tờ tạp chí nhờ tôi đưa ra danh sách 10 cuốn sách mà tôi thấy là đáng đọc, hai tháng một lần. Danh sách này thuần túy có tính chất cá nhân và nằm trong phạm vi hiểu biết của tôi. Đây là danh sách 10 cuốn in thời gian gần đây.


1. Chết ở Venice, tiểu thuyết, Thomas Mann, Nguyễn Hồng Vân dịch, NXB Trẻ, “Tủ sách Cánh cửa mở rộng”, 149 tr., 56.000 đ.

2. Tôi, Charley và hành trình nước Mỹ, tiểu thuyết, John Steinbeck, Tuấn Việt dịch, NXB Trẻ, “Tủ sách Cánh cửa mở rộng”, 423 tr., 125.000 đ.

3. Trốn chạy, tập truyện ngắn, Alice Munro, Trần Thị Hương Lan dịch, Nhã Nam & NXB Văn học, 450 tr., 90.000 đ.

4. Gối đầu lên cỏ, tiểu thuyết, Natsume Soseki, Lam Anh dịch, Phương Nam & NXB Hội Nhà văn, “Tủ sách Tinh hoa văn học”, 226 tr., 56.000 đ.

5. Độc chiếm hoa khôi (Tam ngôn Nhị phách), tiểu thuyết cổ Trung Hoa, Phạm Thị Hảo dịch, Phương Nam & NXB Hội Nhà văn, “Tủ sách Tinh hoa văn học”, 320 tr., 78.000 đ.

6. Ôn nhu nhất đao, tiểu thuyết kiếm hiệp, Ôn Thụy An, tập đầu của “Thuyết anh hùng thùy thị anh hùng hệ liệt”, Hồ Tiến Huân dịch, Nhã Nam & NXB Văn học, 622 tr., 130.000 đ.

7. Ăn cơm mới, nói chuyện cũ: Hậu Giang-Ba Thắc (chứng tích, nhân vật, đất đai thủy thổ của Miền Nam cũ), tức hồi ký tiếp theo Hơn nửa đời hư, Vương Hồng Sển (di cảo), NXB Trẻ, 315 tr., 110.000 đ.

8. Mưa thu, Ngọc Giao (in lại), Phương Nam & NXB Văn học, 175 tr., 45.000 đ. [đây là một trong những cuốn khó tìm nhất của Ngọc Giao; ngoài đó ra, Ngọc Giao còn có một bản thảo tự đốt không lâu sau 1954]

9. Các quy tắc của phương pháp xã hội học, Émile Durkheim, Đinh Hồng Phúc dịch, Trần Hữu Quang giới thiệu, NXB Tri thức, “Tủ sách Tinh hoa”, 314 tr., 65.000 đ.

10. Theo đuổi tri thức (Học giả, Địa vị & Văn hóa Học thuật), Deborah Rhode, Bùi Thanh Châu dịch, Mai Sơn hiệu đính, Phạm Quốc Lộc giới thiệu, ĐH Hoa Sen & NXB Thời đại, 394 tr., 95.000 đ.

Feb 16, 2012

(ghi chép biên tập) Alice Munro, first time

In sách, gặp những trường hợp như thế này là sung sướng nhất, là khoái cảm của nghề nghiệp :p (Roland Barthes nói đến khoái cảm văn bản, le plaisir du texte, thì cũng có khoái cảm đọc trước hehe). Trường hợp này cụ thể là: những nhà văn không đặc biệt nổi tiếng, không phải nói đến tên một cái là độc giả văn học thông thường thích tìm hiểu biết ngay được là như thế nào, nhưng lại là những nhà văn đặc biệt giỏi, những người viết ra những thứ kinh dị huy hoàng.

Tập truyện ngắn Runaway của Alice Munro có một truyện theo lối suy tư về Shakespeare và bi kịch vô cùng cao thủ, không thể tưởng tượng nổi.

Tại sao người ta có thể viết được truyện ngắn đến mức như thế? Điều này chẳng hiểu nổi. Tôi đã rất cố gắng đọc thật kỹ Con thuyền của Nam Lê, và không thấy nổi tại sao nó lại được "highly acclaimed" như thế. Đó không phải là tài năng, đó là sự khéo léo, sự khôn ngoan trong chọn lựa. Điều đó tôi cũng thấy ở những người như Dao Strom, Monique Truong hay Lê Thị Diễm Thúy. Điều gì làm cho cũng những người qua Iowa như Yiyun Li viết được như thế, mà Nam Lê không được như thế?

Chịu, trong khi chờ đợi thì đọc Alice Munro :p

May 27, 2009

The Eternal Return

+ Bác Pierre Assouline có vẻ rất quan tâm đến vấn đề dịch thuật. Cái billet ngày hôm nay nói đến bản dịch mới một tác phẩm lớn của Alfred Doeblin, Berlin Alexanderplatz. Dịch giả lần này là Olivier Le Lay, sinh năm 1976, một cựu học sinh ENS (rất có thể đồng chí này có cùng tuteur với tôi), từng dịch Handke và Jelinek, nói ngắn gọn là chuyên dịch văn học Áo. Trước đây đã từng có bản dịch quyển này của Zoya Motchane, nhưng cũng như ờ... ờ... nhiều thứ khác, thỉnh thoảng cũng phải dịch lại một số quyển. Trong A Moveable Feast, ở chương về hiệu sách-thư viện của Sylvia Beach và vài chỗ nữa ở các đoạn sau, Hemingway cũng nhắc tới bản dịch Chiến tranh và hòa bình của Constance Garnett, một thời được coi là kinh điển nhưng giờ đây phải làm lại, cùng hoàn cảnh với Alexandre Vialatte dịch Kafka hay Henri Mongault dịch văn học Nga (ref.: số chuyên đề về Gogol của tạp chí Nghiên cứu văn học số 5/2009 :)

+ Đồng chí dịch Thế giới hậu Mỹ làm bay hơi mất câu của Toynbee được tác giả đặt lên làm đề từ: "Growth takes place whenever a challenge evokes a successful response that, in turn, evokes a further and different challenge. We have not found any intrinsic reason why this process should not repeat itself indefinitely, even though a majority of civilisations have failed, as a matter of historical fact." Một câu của Toynbee có thể còn giá trị hơn cả quyển sách của Zakaria lol.

+ Đầu óc nhiều khi thật kỳ lạ, hôm nay nhìn thấy Alice Munro được giải Man Booker International tự nhiên tôi nhớ là đã từng biết một nhân vật tên là May Munro mà nhớ mãi không ra là ai. Đến lúc bỗng xuất hiện một hình ảnh trong đầu: té ra là tên nhân vật trong phim The Specialist, với Sylvester Stallone và Sharon Stone hehehe.

+ Thơ ký Lâm đúng là dồn tớ vào chân tường nhá. Đặt một vấn đề khó không chịu được: How to find good things to say about Stanley in three days? Ặc.

+ Tờ Magazine Littéraire cấu trúc lại khác hết ngày xưa. Bây giờ có cả mục "Le Pastiche", kiểu Proust ngày xưa làm pastiche chẳng hạn như Saint-Simon (à quyển này cũng là Charlotte Mandell dịch sang tiếng Anh :), và một mục mang tên "Archétype" của Augustin Trapenard, lại thêm một nhân vật từ Normal Sup chui ra. Ces normaliens, ils sont vraiment omniprésents. Có lần tôi tức quá vì tờ báo bỏ mất mục "Retour aux classiques" của Linda Lê (đã có lần viết về Alfred Doeblin) tôi đã viết thư cho báo để phản đối. No reply :)

+ Nhiều bạn nhìn cái title chắc tưởng tôi lại viết về Kundera haha. C'est un leurre hihi.