- Một quả kinh điển:
H. G. Wells, Chiến tranh giữa các thế giới, Phạm Văn dịch, Nhã Nam & NXB Lao động, 262tr., 62.000đ.
Người trái đất phải oánh nhau với người sao Hỏa rất là ghê gớm có vũ khí đặc biệt là Tia Nhiệt: câu chuyện bắt đầu một cách đe dọa: "Vào những năm cuối thế kỷ mười chín, không ai tin rằng thế giới này đang bị theo dõi sát sao và chặt chẽ bởi những kẻ thông minh hơn loài người rất nhiều tuy họ cũng tử sinh như chúng ta."
Wells hay Verne là những tác giả mà không đứa bé nào, nhất là con trai, có thể bỏ qua không đọc trong quá trình tự khám phá thế giới ^^ trước đây, đã có Máy thời gian và Người vô hình (chắc còn có thêm nữa) của Wells được dịch ra tiếng Việt.
Showing posts with label vuong-hong-sen. Show all posts
Showing posts with label vuong-hong-sen. Show all posts
Apr 12, 2015
May 13, 2014
Sách tháng Tư 2014
Như lần trước tôi đã nói, Hội sách Sài Gòn là một cơn lũ sách mới. Phải chụp quả ảnh kiểu này để miêu tả chút chút những gì chúng ta đang phải đối mặt :p
(mà đây là vẫn còn thiếu khoảng gần chục quyển nữa, đang đọc dở vứt lung tung ngại tìm)
(mà đây là vẫn còn thiếu khoảng gần chục quyển nữa, đang đọc dở vứt lung tung ngại tìm)
Feb 9, 2013
Năm cùng tháng tận
Già rồi, giờ chỉ cần thế này là vui:
Quyển đỏ là bản đầu, còn quyển vàng là bản vừa in lại gần đây.
"Nàng là một bô-tê, vì chữ hoa-khôi chưa có."
Tâm trạng ngày Tết:
"Khi trẻ, ham Tết bao nhiêu, đêm không ngủ chờ mau được chơi pháo, và khi già, sợ Tết bấy nhiêu, không phải sợ cái chết đâu, nhưng vẫn sợ: sợ trách nhiệm thi phải được đỗ, sợ bổn phận làm Người, làm chồng, làm vợ, làm cha, làm mẹ, đến khi già cúp hàm thiếc, lại sợ không tiền lì xì cho cháu."
Đọc Vương Hồng Sển, thỉnh thoảng lại mắc những từ không luận được, ví dụ:
"một bạn trẻ chơi đồ cổ, bị mắc còng li tiếc"
Nghĩa là bị còng tay bắt giam, nhưng "li tiếc" có thể là phiên âm của từ gì nhỉ? Như "bô-tê" trên kia thì dễ, là "beauté" mà ra.
Quyển đỏ là bản đầu, còn quyển vàng là bản vừa in lại gần đây.
"Nàng là một bô-tê, vì chữ hoa-khôi chưa có."
Tâm trạng ngày Tết:
"Khi trẻ, ham Tết bao nhiêu, đêm không ngủ chờ mau được chơi pháo, và khi già, sợ Tết bấy nhiêu, không phải sợ cái chết đâu, nhưng vẫn sợ: sợ trách nhiệm thi phải được đỗ, sợ bổn phận làm Người, làm chồng, làm vợ, làm cha, làm mẹ, đến khi già cúp hàm thiếc, lại sợ không tiền lì xì cho cháu."
Đọc Vương Hồng Sển, thỉnh thoảng lại mắc những từ không luận được, ví dụ:
"một bạn trẻ chơi đồ cổ, bị mắc còng li tiếc"
Nghĩa là bị còng tay bắt giam, nhưng "li tiếc" có thể là phiên âm của từ gì nhỉ? Như "bô-tê" trên kia thì dễ, là "beauté" mà ra.
Apr 27, 2012
10 sách tháng Năm 2012
Một tờ tạp chí nhờ tôi đưa ra danh sách 10 cuốn sách mà tôi thấy là đáng đọc, hai tháng một lần. Danh sách này thuần túy có tính chất cá nhân và nằm trong phạm vi hiểu biết của tôi. Đây là danh sách 10 cuốn in thời gian gần đây.
1. Chết ở Venice, tiểu
thuyết, Thomas Mann, Nguyễn Hồng Vân dịch, NXB Trẻ, “Tủ sách Cánh cửa mở rộng”,
149 tr., 56.000 đ.
2. Tôi, Charley và
hành trình nước Mỹ, tiểu thuyết, John Steinbeck, Tuấn Việt dịch, NXB Trẻ,
“Tủ sách Cánh cửa mở rộng”, 423 tr., 125.000 đ.
3. Trốn chạy, tập
truyện ngắn, Alice Munro, Trần Thị Hương Lan dịch, Nhã Nam & NXB Văn học, 450
tr., 90.000 đ.
4. Gối đầu lên cỏ,
tiểu thuyết, Natsume Soseki, Lam Anh dịch, Phương Nam & NXB Hội Nhà văn,
“Tủ sách Tinh hoa văn học”, 226 tr., 56.000 đ.
5. Độc chiếm hoa khôi
(Tam ngôn Nhị phách), tiểu thuyết cổ Trung Hoa, Phạm Thị Hảo dịch, Phương Nam
& NXB Hội Nhà văn, “Tủ sách Tinh hoa văn học”, 320 tr., 78.000 đ.
6. Ôn nhu nhất đao,
tiểu thuyết kiếm hiệp, Ôn Thụy An, tập đầu của “Thuyết anh hùng thùy thị anh
hùng hệ liệt”, Hồ Tiến Huân dịch, Nhã Nam & NXB Văn học, 622 tr., 130.000
đ.
7. Ăn cơm mới, nói
chuyện cũ: Hậu Giang-Ba Thắc (chứng tích, nhân vật, đất đai thủy thổ của Miền Nam
cũ), tức hồi ký tiếp theo Hơn nửa đời
hư, Vương Hồng Sển (di cảo), NXB Trẻ, 315 tr., 110.000 đ.
8. Mưa thu, Ngọc
Giao (in lại), Phương Nam & NXB Văn học, 175 tr., 45.000 đ. [đây là một trong những cuốn khó tìm nhất của Ngọc Giao; ngoài đó ra, Ngọc Giao còn có một bản thảo tự đốt không lâu sau 1954]
9. Các quy tắc của
phương pháp xã hội học, Émile Durkheim, Đinh Hồng Phúc dịch, Trần Hữu Quang
giới thiệu, NXB Tri thức, “Tủ sách Tinh hoa”, 314 tr., 65.000 đ.
10. Theo đuổi
tri thức (Học giả, Địa vị & Văn hóa Học thuật), Deborah Rhode, Bùi
Thanh Châu dịch, Mai Sơn hiệu đính, Phạm Quốc Lộc giới thiệu, ĐH Hoa Sen &
NXB Thời đại, 394 tr., 95.000 đ.
Mar 9, 2012
Sách (LIV) Chữ ký
Có được sách từng ở trong tủ nhà Vương Hồng Sển là một niềm vinh hạnh. Ví dụ như thế này:
Cám ơn chuyên gia về Vương Hồng Sển :p
Còn sách ký tặng nhau giữa các nhân vật cũng là một mảng kỳ thú:
Cám ơn chuyên gia về Vương Hồng Sển :p
Còn sách ký tặng nhau giữa các nhân vật cũng là một mảng kỳ thú:
Jan 12, 2012
Mấy chuyện nhỏ quanh quyển sách
báo Tết nữa :p
Trước tiên là chuyện giấy.
Quyển sách gồm có hai mặt: mặt vật chất và mặt phi vật chất. Xưa nay người ta nhấn mạnh vào khía cạnh phi vật chất của sách vở, vào nội dung của sách, và dường như tập hợp nội dung những quyển sách tạo nên một thế giới có cái gì đó xa cách, âm u, nghiêm trọng, với những con người sống ở trong đó rất thường xuyên hiện lên như những bóng hình khắc kỷ, nhiều lúc không có gì chung với đời thực. Văn chương và cả cuộc đời đã có không biết bao nhiêu nhân vật gàn dở, cô độc bởi quá gắn liền với sách vở, đến mức không thoát ra ngoài được.
Tính chất lưu giữ tri thức, truyền đạt những điều thâm viễn của sách dĩ nhiên là hết sức quan trọng, nhưng quyển sách còn một sự tồn tại nữa với tư cách chính nó, ở mặt vật chất. Và ở đây phát sinh một dạng người dính dáng tới sách vở theo một cách khác: không hẳn là những con người chăm chú vào sách, miệt mài đọc, ghi chép, viết lách, vừa bảo tồn, lưu trữ quá khứ vừa mang lại đóng góp mới cho kho tàng chung, mà giờ đây là những người tiếp xúc với sách từ mặt vật chất của nó.
Dec 22, 2011
(9) Vài tủ sách Việt Nam nổi tiếng
Trích từ tạp chí Văn hữu, mục “Lượm lặt”
Vài tủ sách Việt-Nam nổi tiếng
Trong số các tay chơi sách nổi tiếng ở Việt-Nam gần đây, đáng kể có tủ sách của các học giả Phạm-Quỳnh, Đào-Duy-Anh, Vương-Hồng-Sển, Lê-ngọc-Trụ, tủ sách của cựu thượng thư Phạm-Liệu, bác sĩ Dương-Tấn-Tươi.
Cuộc chiến tranh vừa qua đã thiêu hủy một phần lớn các tủ sách quí giá trên đây. Cả tủ sách Phạm-Quỳnh tập trung ở biệt thự riêng trên bờ sông An-Cựu (Huế) đã bị đám cán bộ V. M. tịch thu phá tán. Hàng vạn pho sách cổ kim đông tây, đóng da, mạ vàng của ông cựu chủ nhiệm Nam Phong và thượng thư triều đình Huế, hồi 1945, có người đánh giá hàng mấy triệu bạc, sau ngày Phạm-Quỳnh bị bắt đã theo khói lửa chiến tranh mà tiêu tán.
Tủ sách của nhà soạn từ điển Đào-Duy-Anh chở tản cư trên ba va gông đôi từ Hà-nội chuyển vào Thanh-Hóa, trong đêm 19 tháng chạp năm 1946, đã dùng làm chiến lũy và mồi ngon cho lửa đạn. Sau đó người ta thấy dấu vết bao nhiêu sách quý của Đào-Quân như những xác người nằm đầy khắp cả Ga Hàng-Cỏ.
Tủ sách của cựu thượng thư Phạm-Liệu ở Quảng-Nam, công trình mấy mươi năm sưu tập sách, tạp chí giá trị đông tây, gồm hàng vạn quyển, sau thời kỳ khởi nghĩa, đều bị cán bộ V. M. địa phương ra lệnh thiêu đốt, cho sách chữ hán là tàn tích phong kiến, sách tây là sản phẩm của đế quốc thực dân!
Tủ sách của bác sĩ Dương-Tấn-Tươi, ở Mỹ-Tho phần nhiều gồm những sách quí lạ, đóng bìa bằng sừng ở ngoại quốc, cùng các bản thảo của văn thi sĩ Việt-Nam, trong đó có một bản chữ nôm Kiều của Nguyễn-Du, sau ngày kháng chiến ở miền Nam nổ bùng, đã bị quân viễn chinh Pháp đốt sạch. Lửa cháy tủ sách này luôn mấy ngày đêm, dâng khói khét lẹt mùi sừng và da bìa sách đen ngòm cả một góc châu thành Mỹ-Tho.
Tủ sách của nhà khảo cổ Vương-Hồng-Sển được chở cả xuống mấy chiếc ghe bầu lớn tản cư ở hậu giang, trôi nổi theo chủ nhân, sau bao phen hiểm nghèo, suýt tiêu ma giữa hai lằn đạn, may mắn được toàn vẹn với đầu óc bạc trắng vì ngày đêm lo mất sách của họ Vương. Vương quân vẫn thường cho là kiếp trước mình khéo tu và còn nặng nợ với sách nên chúng không nỡ lìa cố chủ. Tủ sách của vị phó giám đốc viện Bảo Tàng Quốc gia hiện ngự trị ở một ngôi nhà cổ kính tại ngoại ô Sàigòn, là nơi gặp gỡ của các tài tử chơi sách, các nhà nghiên cứu muốn tìm xem tài liệu cổ, tác phẩm hiếm quí.
Người chơi sách thứ hai được may mắn giữ gìn nguyên vẹn cả tủ sách đồ sộ qua khói lửa chiến tranh vừa rồi là học giả Lê-Ngọc-Trụ, hiện đang giảng dạy Việt ngữ ở Văn Khoa Đại Học và trông nom Thư Viện Quốc Gia. Lê Tiên Sinh nhờ ở một nơi yên tĩnh không xa Sàigòn mấy có thể đóng kín cửa nhà chứa gia tài tinh thần khổng lồ của mình mà không bị giặc cướp hay quân chê chữ nghĩa, ghét sách vở đến phá hoại. Có thể nói rằng trong bao nhiêu tủ sách, thư viện tan nát vì chiến tranh vừa qua, hai học giả họ Vương và họ Lê là thiểu số được diễm phúc lớn lao tránh khỏi cảnh “thử hận miên miên vô tuyệt kỳ” của hạng tài tử chơi sách ở đời, mình còn sống mà tủ sách của mình đã tiêu ma.
(Văn hữu, số 5, tháng Năm, 1960, tr. 55-56)
-----------
-----------
Lê Ngọc Trụ đây:
À mà Đại Nam quấc âm tự vị (Huình Tịnh Của) rồi Chánh tả tự vị: tại sao lại "tự vị"? Hì hì, ở đây liên quan đến một lỗi lầm của Phạm Quỳnh: Phạm Quỳnh do đọc sai "vị" thành "vựng" nên chúng ta có "tự vựng", "từ vựng" dùng thoải mái luôn, vì sức mạnh của Nam Phong quá lớn :p Về vụ này Phạm Quỳnh đã bị phê bét nhè chè đỗ đen: Hồ Hữu Tường, Nguyễn Hiến Lê, Trương Văn Chình, hình như cả Lê Ngọc Trụ, và rất nhiều người khác nữa.
Dec 19, 2011
Cụ Vương và Khám lớn Sài Gòn
Cụ Vương Hồng Sển, sau cuộc đời rất dài của mình (cụ sống thọ 94 tuổi, qua đời vào năm 1996) đã để lại một số di cảo, làm dày thêm khối lượng trước tác vô cùng phong phú của cụ. Khối lượng tác phẩm ấy lại càng thêm phần trọng lượng (mặc dù cụ từng khiêm tốn mà nói, xưa kia, rằng cụ tự coi mình là “tiểu thuyền” không dám mong đương nổi “trọng tải”) bởi những gì cụ chạm tới đều có một độ nặng thời gian trĩu xuống. Tác phẩm Vương Hồng Sển còn dày thêm một lớp nữa đầy sang trọng với một cuộc đời đã sống ăm ắp giao du, sự kiện và chi tiết, mà cụ tích tụ lại rồi từ đó tạo thành những sách vở rất hiếm người trên đời có khả năng viết nổi.
Sau “Cuốn sách và tôi”, tập di cảo mà NXB Trẻ in hồi năm ngoái, chủ yếu nói về sách vốn là một mảng quan trọng làm nên sự nghiệp và tên tuổi của Vương Hồng Sển, mới đây một di cảo mới của cụ Vương đã được in, và lần này đi vào một chủ đề khác hẳn: đó là tập “Khám lớn Sài Gòn” (Nhã Nam & NXB Văn hóa-Văn nghệ TP Hồ Chí Minh). Vương Hồng Sển hoàn thành cuốn sách này chỉ vài tháng trước khi qua đời.
Oct 19, 2011
Sách (XLVII) Tiểu di
Những quyển như Người lính thuộc địa Nam Kỳ thú vị nhất là nhẩn nha đọc mà nhâm nhi các chi tiết nhỏ xíu, vì ta đã có một độ lùi thời gian rất đáng kể với chủ đề, không bị cái gì thúc vào đít để mà phải đề khí lướt nhanh như Thần Hành Thái Bảo Đới (Đái) Tung kịp đưa một bức thư đóng dấu tuyệt mật nữa, và cũng vì Tạ Chí Đại Trường là một tác giả đặc biệt nhiều chi tiết. Rất nhiều khi đọc Tạ Chí Đại Trường có cảm giác ông nghịch các chi tiết, thích thú và ân cần. Sức mạnh của một sử gia kiểu Tạ Chí Đại Trường (nói "kiểu" cũng không hẳn đúng vì hình như trong ngành sử Việt Nam chẳng ai tỉ mẩn như thế - chuyên gia về các vấn đề tiền cổ thì tỉ mẩn kinh người - mà tỉ mẩn tương đương chắc phải kể đến chỉ một người, là Vương Hồng Sển) là sức mạnh của cái nhìn xuất phát từ vi mô. Độc giả miền Bắc quen lối viết sử của Viện Sử học top down chắc ngạc nhiên và cũng không dễ theo dõi cách bottom up như thế này. Tạ Chí Đại Trường lại còn có một giọng văn riêng, cái đó các sử gia quan phương vĩnh viễn không bao giờ có được.
Tạ Chí Đại Trường thuộc thế hệ vừa tạm xong học hành thì xảy đến 75. Người lính thuộc địa Nam Kỳ là luận án tiến sĩ của ông, nếu xét vào mạch chung thì cũng chung thái độ và mối quan tâm của những người tương đối cùng thời như Nguyễn Thế Anh hay Phan Khoang, nhưng đi thẳng vào chỉ vấn đề lính tráng, lính tập, lính khố xanh, lính mã tà như thế này thì hình như rất khác. Người ta thường quan tâm đến Trương (Công) Định, Võ Duy Dương chứ không quan tâm đến lính tráng của họ, quan tâm đến đối thủ cầm đầu của họ chứ không làm rõ ràng trong đám quân ở phía bên kia có bao phần trăm lính mộ từ mỗi địa phương và các tệ lậu cụ thể như thế nào. Nhìn từ khía cạnh này, câu chuyện của Tạ Chí Đại Trường không xoay quanh Trương Định, Võ Duy Dương nữa, mà lại xoay quanh Trần Bá Lộc hay Đỗ Hữu Phương, những người đắc lực giúp cho người Pháp đàn áp các cuộc nổi dậy của dân bản xứ, những câu chuyện này ít được biết đến hơn nhiều, mặc dù hình như tên họ vẫn còn được đặt cho một số con kênh.
Trong một chú thích tôi đọc thấy khi người Pháp bắt đầu tổ chức hệ thống lính mới (một phần dựa trên kiểu cơ cấu của thời Đàng cựu nhưng có cải tiến), công văn giấy tờ về huấn luyện lính hay xuất hiện từ "théorie", thế là các thư lại bản xứ nghĩ ra một từ để trỏ cái đó, gọi là "tiểu di" :p
Một chú thích khác đặt ra nghi vấn con của Trương Định là con trai hay con gái, và một giả thiết của Tạ Chí Đại Trường: phải chăng đó là một "người-lại-cái". Vấn đề đó sau này có ai nghiên cứu thêm không nhỉ, bác nào biết không?
-----------
Giở Sát thủ đầu mưng mủ ra xem một lèo hết luôn. Hehe, thế là tôi bị chậm chân rồi, tôi có cả kho thành ngữ tự chế í. Mấy ví dụ nhá:
- Răng hô môi hở vì ăn nhầm bột nở.
- Đời rất dở nhưng vẫn phải niềm nở, đời rất chó nhưng thôi đừng nhăn nhó.
- Yếu thì đừng ra gió, non tơ chớ rờ chỗ hiểm.
Hê hê.
Một bài về Gỗ mun.
Tạ Chí Đại Trường thuộc thế hệ vừa tạm xong học hành thì xảy đến 75. Người lính thuộc địa Nam Kỳ là luận án tiến sĩ của ông, nếu xét vào mạch chung thì cũng chung thái độ và mối quan tâm của những người tương đối cùng thời như Nguyễn Thế Anh hay Phan Khoang, nhưng đi thẳng vào chỉ vấn đề lính tráng, lính tập, lính khố xanh, lính mã tà như thế này thì hình như rất khác. Người ta thường quan tâm đến Trương (Công) Định, Võ Duy Dương chứ không quan tâm đến lính tráng của họ, quan tâm đến đối thủ cầm đầu của họ chứ không làm rõ ràng trong đám quân ở phía bên kia có bao phần trăm lính mộ từ mỗi địa phương và các tệ lậu cụ thể như thế nào. Nhìn từ khía cạnh này, câu chuyện của Tạ Chí Đại Trường không xoay quanh Trương Định, Võ Duy Dương nữa, mà lại xoay quanh Trần Bá Lộc hay Đỗ Hữu Phương, những người đắc lực giúp cho người Pháp đàn áp các cuộc nổi dậy của dân bản xứ, những câu chuyện này ít được biết đến hơn nhiều, mặc dù hình như tên họ vẫn còn được đặt cho một số con kênh.
Trong một chú thích tôi đọc thấy khi người Pháp bắt đầu tổ chức hệ thống lính mới (một phần dựa trên kiểu cơ cấu của thời Đàng cựu nhưng có cải tiến), công văn giấy tờ về huấn luyện lính hay xuất hiện từ "théorie", thế là các thư lại bản xứ nghĩ ra một từ để trỏ cái đó, gọi là "tiểu di" :p
Một chú thích khác đặt ra nghi vấn con của Trương Định là con trai hay con gái, và một giả thiết của Tạ Chí Đại Trường: phải chăng đó là một "người-lại-cái". Vấn đề đó sau này có ai nghiên cứu thêm không nhỉ, bác nào biết không?
-----------
Giở Sát thủ đầu mưng mủ ra xem một lèo hết luôn. Hehe, thế là tôi bị chậm chân rồi, tôi có cả kho thành ngữ tự chế í. Mấy ví dụ nhá:
- Răng hô môi hở vì ăn nhầm bột nở.
- Đời rất dở nhưng vẫn phải niềm nở, đời rất chó nhưng thôi đừng nhăn nhó.
- Yếu thì đừng ra gió, non tơ chớ rờ chỗ hiểm.
Hê hê.
Một bài về Gỗ mun.
Dec 16, 2009
Sách (I)
Lẩn tần mần kiếm lại và đọc lại quyển sách thánh kinh của dân ghiền sách Việt Nam, Thú chơi sách của Vương Hồng Sển, lại nhớ quyển Thú đọc truyện Tàu cũng của Vương Hồng Sển được một bạn gửi tặng đợt trước, bản in đầu, thích thú với tiểu thuyền làm sao đương trọng tải, lại nhớ trong một quyển sách Viên Linh viết để chiêu tuyết văn thi sĩ miền Nam, kể chuyện mấy người gồm có Vương Hồng Sển, Vũ Hoàng Chương, Viên Linh và thêm ai đó quên mất rồi ngồi ở đâu đó một cái gò rồi Vương Hồng Sển bất giác quơ tay chỉ chỗ nầy chỗ nầy xưa kia Nguyễn Ánh chạy Tây Sơn đã nhảy qua con lạch kia con lạch kìa. Trong Thú chơi sách, Vương Hồng Sển kể hồi nhỏ đọc Lục Vân Tiên theo lệnh của gia nghiêm, hàng xóm xúm đến nghe, nghe thú quá bỗng một bà bật dậy chạy đi một lúc, khi trở lại có thêm gánh cháo gà khao cả xóm, vì bà sướng quá, nghe đọc thơ sướng quá, không biết thể hiện như thế nào ngoài cách chiêu đãi cháo gà.
Subscribe to:
Posts (Atom)