Showing posts with label hilary-mantel. Show all posts
Showing posts with label hilary-mantel. Show all posts
Sep 21, 2016
Nov 22, 2012
Hư cấu
bài thứ ba trong loạt
Trong tập đoàn người bực mình với thế giới, nhiều người đã
nuôi lòng cay đắng mà trở thành nhà văn. Một số người bực mình đến nỗi miêu tả
thế giới đúng như nó vốn có, để chọc quê thế giới (cứ nhìn chăm chăm vào một
cái gì đó mãi thì cái thứ ấy rồi sẽ trở thành rất xấu, hình như Flaubert từng
nói thế). Nhưng những người bực mình nhất thì bịa luôn ra một thế giới khác và
bằng cách đó làm một cử chỉ rất quyết liệt và khá “theo kiểu Effenberg” về phía
thế giới nằm sẵn đó kia.
Lẽ dĩ nhiên, cũng có những nhà văn phởn phơ và nhẹ nhõm lắm,
chẳng nuôi dưỡng mấy bực bội trong lòng, những gì họ viết ra nhiều khi cũng
được đón nhận rộn ràng từ các tâm hồn ngấm ngầm thèm khát sự ve vuốt êm ái.
Nghịch lý (hay đúng hơn, sự tất yếu) nằm ở chỗ dễ nhớ thì dễ quên, dễ nồng đượm
thì dễ chia phôi, dễ trôi vào miệng thì dễ tiêu, đúng như tinh thần của cái câu
quái ác này: “Easy come, easy go”. Tuy nhiên, nếu đẩy tiếp nghịch lý trên con
đường oái oăm và chỉ chăm chăm chơi xỏ của nó, thì lại còn có điều sau đây nữa:
mức độ đau khổ, dù có là tột cùng, không đương nhiên đảm bảo một văn chương lớn
lao.
Trong cái thế giới văn chương nhìn chung chẳng có gì dễ dàng
và đảm bảo này, thời gian vừa rồi người ta bất chợt rất quan tâm đến một món
vốn tồn tại xưa nay nhưng là tồn tại theo một lối khó hình dung tròn trịa sắc
nét: món ấy là “tiểu thuyết lịch sử”. Ở Việt Nam thì có hẳn một cuộc hội thảo
đầy uy tín và một cuốn sách viết về tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh,
tác giả bộ ba tiểu thuyết dày tổng cộng đến ngót hai nghìn trang: “Hồ Quý Ly”,
“Mẫu Thượng ngàn” và “Đội gạo lên chùa”. Còn ở thế giới bên ngoài, giải Man
Booker thuộc hàng uy tín hàng đầu năm châu bốn bể trong vòng ba năm trao tới
hai giải cho Hilary Mantel, tác giả hai cuốn tiểu thuyết lịch sử về một nhân
vật Cromwell danh tiếng (giải thưởng này không được trao chỉ vì Cromwell là một
con người kiệt xuất của lịch sử nước Anh). Hai tiểu thuyết đó lần lượt mang tên
“Wolf Hall” và “Bring Up the Bodies”.
Cả Nguyễn Xuân Khánh lẫn Hilary Mantel đều từng viết tiểu
thuyết không lịch sử nhưng đều thực sự thành danh nhờ tiểu thuyết lịch sử. Căn
cứ vào những gì họ từng viết trước đây thì cả hai đều thuộc vào nhóm người nuôi
nhiều bực mình với thế giới (Nguyễn Xuân Khánh từng viết “Trư cuồng” rất giận
dữ còn Hilary Mantel hồi nhỏ từng có lần đối mặt với quỷ rồi sau này trường kỳ
chống chọi những căn bệnh tâm thần), vậy cơn cớ gì khiến họ không bằng lòng với
với việc “bịa ra một thế giới” để chống lại thế giới sẵn có một cách thoải mái
mà lại buộc mình vào một thể loại rất xa cách với “bịa”, vì Hồ Quý Ly không thể
sống ở thế kỷ XIX và Cromwell khó lòng được mang sang bên kia biển Manche?
Trong bài báo quan trọng mang tên “The Dead Are Real, Hilary
Mantel’s Imagination” (Những người chết đều có thực, trí tưởng tượng của Hilary
Mantel) trên tờ “The New Yorker” số 15/10/2012, Larissa MacFarquhar cho rằng
Hilary Mantel, hay người viết tiểu thuyết lịch sử nói chung, tự “làm khó” mình
ở chỗ họ viết những gì mình tưởng tượng nhưng lại phải dẫn tới một kết cục biết
trước: toàn truyện người ta biết rồi nhưng nhà văn phải tự buộc mình thực sự
cảm nhận rằng nhân vật dưới ngòi bút của họ kia đang hành động một cách mù
quáng, không biết gì hoặc gần như không hay biết hành động của mình sẽ dẫn tới
kết cục ra sao, phải thực sự hình dung được cái dẫn dắt sự kiện là lịch sử hay
câu chuyện, chứ không phải định mệnh. Thoát khỏi “định mệnh thuyết” trong viết
lịch sử là một việc rất khó nhưng là cốt tử để tiểu thuyết lịch sử đúng là tiểu
thuyết lịch sử; điều này Hilary Mantel đã làm được một cách tuyệt vời, còn
Nguyễn Xuân Khánh làm được đến chừng nào thì phải bàn - điều này hình như đã
không được bàn đến trong kỳ hội thảo và in ấn liên quan đến mấy bộ tiểu thuyết
của ông vừa rồi.
Và tại sao nhà văn lại thôi tra tấn thế giới bằng cách dùng một
cái nhìn khác, ở một nơi mọi điều là có thể, tha hồ cho nhân vật lên rừng xuống
biển hoặc làm những chuyện điên rồ, để mà chuyển sang tra tấn lịch sử, đụng vào
cái thứ tưởng chừng như trăm nghìn pho sách sử đã trình bày cho người ta đầy đủ
lắm rồi? Câu trả lời có thể là: giống như thế giới, lịch sử có thể cũng rất
thiếu sót, và hơn thế nữa, cũng như thế giới, lịch sử cũng có thể chán ngắt.
Nhị Linh
Nov 4, 2012
Julian Barnes luận phụ nữ
Dưới đây là trích đoạn từ Đoạn kết đã thấy, tiểu thuyết của Julian Barnes (The Sense of an Ending), Nghiêm Quỳnh Trang dịch. Cũng như Philip Roth khi về già, lúc đã già Julian Barnes thật là hiểm hóc ở mức độ ý tưởng trong một hình thức không thể giản dị hơn. Nhà văn già thật là ghê gớm :)
Quyển Booker 2011 này sẽ ra trước quyển Booker 2010. Thêm một điều khiến cho mọi sự còn loạn lên nữa: Booker 2012 lại rơi vào tay Hilary Mantel tức là người đã giành Booker năm 2010 (tiểu thuyết Wolf Hall về Cromwell) và Bring Up the Bodies của năm nay là phần hai của Wolf Hall, rồi lại sẽ rất sớm có thêm một quyển nữa cho đủ bộ ba, một trilogy hoàn chỉnh. Đùa chứ chạy theo đúng là tướt bơ :p
Bộ sách của Hilary Mantel tạo ra một sự chú ý hiếm thấy của giới phê bình văn học thế giới về tiểu thuyết lịch sử. Trên The New Yorker, một số gần đây, có một bài quan trọng của Larissa MacFarquhar, "The Dead Are Real, Hilary Mantel's Imagination" chỉ ra tiểu thuyết lịch sử là một kẻ đỏng đảnh giữa lịch sử và hư cấu, người viết tiểu thuyết lịch sử phải chấp nhận những người chết vẫn còn sống, vẫn rất thực, vẫn gây phiền nhiễu. Và thêm điều này nữa: một cuốn tiểu thuyết lịch sử viết đúng y hệt lịch sử không chỉ là một cuốn tiểu thuyết kém, tiểu thuyết thất bại, mà còn nói dối. Thế mới phiền.
Nhà văn đúng nghĩa bịa ra một thế giới, còn nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử đúng nghĩa bịa ra một lịch sử.
-----------
Có hai điều khác cô ấy từng nói trong những năm tháng ấy: rằng có những
phụ nữ chẳng bí ẩn một tí tẹo nào, mà chỉ trở thành như thế do đàn ông bất lực
trong việc hiểu được họ. Và như thế, theo cách nhìn của cô ấy, những miếng bánh
hoa quả nên bị đóng kín trong những hộp sắt có hình khuôn mặt Nữ hoàng trên nắp.
Đáng lẽ tôi cũng nên kể cho cô ấy chi tiết này trong phần đời Bristol của tôi nữa mới phải.
Quyển Booker 2011 này sẽ ra trước quyển Booker 2010. Thêm một điều khiến cho mọi sự còn loạn lên nữa: Booker 2012 lại rơi vào tay Hilary Mantel tức là người đã giành Booker năm 2010 (tiểu thuyết Wolf Hall về Cromwell) và Bring Up the Bodies của năm nay là phần hai của Wolf Hall, rồi lại sẽ rất sớm có thêm một quyển nữa cho đủ bộ ba, một trilogy hoàn chỉnh. Đùa chứ chạy theo đúng là tướt bơ :p
Bộ sách của Hilary Mantel tạo ra một sự chú ý hiếm thấy của giới phê bình văn học thế giới về tiểu thuyết lịch sử. Trên The New Yorker, một số gần đây, có một bài quan trọng của Larissa MacFarquhar, "The Dead Are Real, Hilary Mantel's Imagination" chỉ ra tiểu thuyết lịch sử là một kẻ đỏng đảnh giữa lịch sử và hư cấu, người viết tiểu thuyết lịch sử phải chấp nhận những người chết vẫn còn sống, vẫn rất thực, vẫn gây phiền nhiễu. Và thêm điều này nữa: một cuốn tiểu thuyết lịch sử viết đúng y hệt lịch sử không chỉ là một cuốn tiểu thuyết kém, tiểu thuyết thất bại, mà còn nói dối. Thế mới phiền.
Nhà văn đúng nghĩa bịa ra một thế giới, còn nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử đúng nghĩa bịa ra một lịch sử.
-----------
Margaret hay nói rằng có hai loại đàn bà:
một loại rõ ràng, một loại bí ẩn. Và đấy là điều đầu tiên một người đàn ông cảm
nhận được, cũng là điều đầu tiên hấp dẫn anh ta, hoặc không. Có những người đàn
ông bị hút hồn vào một loại, có những người vào loại kia. Margaret - bạn chẳng
cần tôi phải kể cũng biết - là loại rõ ràng, nhưng đôi khi cô ấy cũng ghen tị với
loại sẵn có, hoặc tạo ra được một dáng vẻ bí ẩn.
“Anh thích em đúng như con người em,” có
lần tôi nói với cô ấy.
“Nhưng bây giờ anh biết em quá rõ rồi còn
gì,” cô ấy đáp. Chúng tôi đã cưới nhau sáu hay bảy năm rồi. “Chẳng phải anh vẫn
thích hơn nếu em… khó đoán biết hơn một chút sao?”
“Anh không muốn em là một người đàn bà bí
ẩn. Anh nghĩ anh sẽ ghét chuyện đó. Dù cho đấy chỉ là một bề ngoài, một trò chơi,
một kỹ thuật để bẫy đàn ông, hay người phụ nữ bí ẩn ấy là một bí ẩn thậm chí đối
với chính cô ta đi nữa, mà cái đó là tệ nhất đấy.”
“Tony, anh nói nghe như một người đàn ông
đích thực trên đời vậy.”
“Ờ thì, anh không phải như thế,” tôi nói
- mặc dù ý thức được, tất nhiên, rằng cô ấy đang trêu mình. “Anh chưa được biết
nhiều phụ nữ đến thế trong đời đâu.”
“‘Anh không biết mấy về phụ nữ, nhưng anh
biết anh thích gì’?”
“Anh có nói thế đâu, mà cũng không có ý
đó. Nhưng anh nghĩ đấy là vì anh biết tương đối ít nên anh biết anh nghĩ về họ
thế nào. Và anh thích gì ở họ. Nếu biết nhiều hơn, anh sẽ bị bối rối hơn.”
Margaret nói, “Bây giờ em chẳng biết là
phải vui hay không nữa.”
Chuyện này xảy
ra trước khi cuộc hôn nhân của chúng tôi sa lầy, tất nhiên. Nhưng chắc nó sẽ chẳng
bền lâu hơn nếu Margaret bí ẩn hơn, tôi có thể chắc chắn với bạn - và với cô ấy
- về chuyện đó.
[…]
Khi người ta nói, “Cô ấy là là một phụ nữ
ưa nhìn,” người ta thường có ý, “Cô ấy từng là một người phụ nữ ưa nhìn.” Nhưng
khi nói như vậy về Margaret, tôi có ý đó thật. Cô ấy nghĩ - cô ấy biết - rằng
mình đã thay đổi, và cô ấy có thay đổi thật; nhưng với tôi thì cô ấy thay đổi
ít hơn với bất cứ ai khác. Tự nhiên thôi, tôi chẳng thể nói thay cho tay chủ
quán ăn được. Nhưng tôi sẽ nói thế này: cô ấy chỉ nhìn thấy những gì đã mất,
còn tôi chỉ nhìn thấy những gì vẫn còn như trước. Tóc cô ấy không còn ngang
lưng hay cuốn cao lên thành búi kiểu Pháp nữa; giờ đây nó ngắn sát đầu và tóc bạc
lộ ra. Những cái váy thụng quê mùa cô ấy vẫn mặc đã nhường chỗ cho áo thun len
và quần cắt rất khéo. Mấy cái tàn nhang tôi vẫn yêu giờ đã gần với đồi mồi.
Nhưng đó vẫn là đôi mắt ta soi vào, chẳng phải sao? Ta đã nhận ra nửa kia của
mình trong đó, và giờ vẫn thấy. Vẫn đôi mắt ấy trên khuôn mặt ấy lần đầu chúng
tôi gặp nhau, khi ngủ với nhau, khi cưới, khi đi trăng mật, khi chung khoản vay
thế chấp mua nhà, khi đi chợ, khi nấu ăn và đi nghỉ, yêu nhau và có con với
nhau. Và cũng vẫn thế cả khi đã chia tay.
Nhưng không chỉ có đôi mắt. Cấu trúc
xương vẫn vậy, cũng như những cử chỉ bản năng, rất nhiều cách khác nhau để cô ấy
vẫn là chính mình. Và cái kiểu cô ở bên tôi ấy, dù sau bao lâu và bao xa cách.
“Thế tất cả chuyện này là thế nào, Tony?”
Tôi cười to. Chúng tôi chỉ vừa xem thực
đơn xong, nhưng tôi không thấy câu hỏi ấy hấp tấp. Margaret là như thế. Khi anh
nói anh không chắc về chuyện có thêm con thứ hai, có phải ý anh là không chắc về
chuyện có con nữa với em không? Sao anh lại nghĩ ly dị nghĩa chẳng qua là đổ lỗi?
Anh định làm gì với phần đời còn lại của anh bây giờ? Nếu anh thực sự muốn đi
nghỉ với em, thì đã đi đặt mấy cái vé ấy rồi chứ? Và thế tất cả chuyện này là
thế nào, Tony?
Có những người thấy bất an về những người
tình cũ của nửa kia của mình, như thể họ vẫn còn đe dọa vậy. Margaret và tôi được
miễn chuyện đó. Không có nghĩa là trong trường hợp của tôi có một đoàn lũ lượt
bạn gái cũ xếp hàng nào cả. Và giả như cô ấy có tự cho phép đặt tên nhạo cho họ,
thì cũng là quyền của cô ấy, chẳng phải sao?
“Thực ra, chẳng phải ai, ngoài Veronica
Ford.”
“Bánh hoa quả á?” Tôi biết ngay cô ấy sẽ
nói vậy, nên cũng chẳng cau mày. “Có phải cô ta trở lại, sau chừng ấy năm? Anh
không còn dính dáng gì tới chuyện đó
nữa rồi, Tony.”
“Anh biết,” tôi đáp. Có khả năng là khi rốt
cuộc đã tìm cách kể được cho Margaret về Veronica rồi, tôi đã lợi dụng chuyện
đó một chút, làm mình nghe có vẻ hơn cả một kẻ bị lừa, và Veronica có vẻ mất
cân bằng hơn nàng hồi đó. Nhưng chính vì tôi mà đâm ra có cái tên nhạo này, tôi
chẳng thể dễ dàng phản đối nó được. Tất cả những gì tôi có thể làm là không tự
mình dùng nó thôi.
Tôi kể cho cô ấy đầu đuôi câu chuyện, tôi
đã làm gì rồi, tôi đã tiếp cận mọi thứ thế nào. Như tôi nói, có cái gì đó ở
Margaret đã lây sang tôi dần qua năm tháng, có lẽ vì thế mà cô ấy gật đầu đồng
tình hoặc động viên đôi chỗ.
“Anh nghĩ vì sao mẹ Bánh hoa quả lại để
cho anh 500 bảng?”
“Anh chẳng mảy may nghĩ ra cái gì.”
“Thế anh nghĩ ông anh trai chỉ dắt mũi
anh thôi?”
“Ừ. Hoặc ít nhất, thì cũng chẳng tự nhiên
gì với anh.”
“Nhưng anh có quen anh ta tí nào đâu, phải
không?”
“Anh chỉ gặp anh ta có một lần, đúng thế.
Anh đoán hẳn là anh nghi vấn cả cái gia đình ấy.”
“Thế anh nghĩ tại sao bà mẹ rốt cuộc lại
có cuốn nhật ký?”
“Anh không nghĩ ra.”
“Có lẽ Adrian để lại cho bà ấy bởi cậu ấy không tin
Bánh hoa quả?”
“Cái đó vô lý.”
Có một khoảng lặng. Chúng tôi ăn. Rồi
Margaret gõ dao của cô ấy lên đĩa của tôi.
“Và nếu quý cô giả sử vẫn-chưa-chồng
Veronica Ford thế nào mà lại đi vào quán cà phê này và ngồi xuống bàn ta, thì
quý ông ly-dị-đã-lâu Anthony Webster sẽ phản ứng ra sao?”
Cô ấy vẫn luôn biết đích xác chuyện này,
chẳng phải sao?
“Anh không nghĩ là anh sẽ đặc biệt sung
sướng nếu gặp cô ta.”
Cái gì đó trong cái giọng nghi thức của
tôi khiến Margaret mỉm cười. “Rối trí rồi hả? Bắt đầu xắn tay áo và tháo đồng hồ
ra?”
Tôi đỏ mặt. Bạn chưa thấy một ông hói độ
trên sáu mươi đỏ mặt sao? Ôi, chuyện đó có đấy, cũng như với một cậu mặt tàn
nhang rậm tóc tuổi mười lăm thôi. Và bởi vì hiếm hoi hơn, nó đưa người đỏ mặt lộn
nhào lại cái thời mà cuộc đời cảm giác như chẳng hơn gì một chuỗi những ngượng
nghịu xấu hổ.
“Anh ước là giá mà chưa kể với em.”
Cô ấy xiên một dĩa đầy xa lát cải và cà
chua.
“Anh chắc là không còn… ngọn lửa nào chưa
được dội nước trong ngực anh đấy chứ, ông Webster?”
“Anh khá là chắc chắn.”
“Thế thì, trừ phi cô ta vẫn giữ liên lạc
với anh, em sẽ bỏ qua. Rút tiền đi, đưa em đi nghỉ một kỳ vừa túi tiền, và quên
đi. Hai trăm năm mươi mỗi người là chúng mình có thể đến tuốt tận đảo Channel ấy.”
“Anh thích khi nào em trêu anh đấy,” tôi
nói. “Dù là sau ngần ấy năm.”
Cô ấy nghiêng qua và vỗ nhẹ vào tay tôi.
“Thật hay khi chúng mình vẫn còn yêu quý nhau. Và thật hay khi em biết là anh sẽ
chẳng bao giờ làm được cái việc đặt trước cho cái kỳ nghỉ ấy cả.”
“Chỉ bởi vì anh biết em không có ý vậy
đâu.”
Cô ấy mỉm cười. Và trong một thời khắc,
cô ấy trông gần như khó hiểu. Nhưng Margaret không thể tỏ ra khó hiểu được, đó
là bước đầu để trở thành loại Phụ nữ Bí ẩn. Nếu cô ấy muốn tôi trả tiền kỳ nghỉ
cho cả hai, cô ấy sẽ nói. Vâng, tôi nhận ra đó chính xác là điều cô ấy đã nói, nhưng…
Nhưng dẫu có vậy. “Cô ta lấy cắp đồ của
anh,” tôi nói, có lẽ là hơi cao giọng than thở.
“Làm sao anh biết anh muốn thứ đó?”
“Đấy là nhật ký của Adrian. Cậu ấy là bạn anh. Cậu ấy từng là bạn
anh. Nó là của anh.”
“Nếu bạn anh muốn anh có nhật ký của cậu ấy,
cậu ấy hẳn phải để lại cho anh bốn mươi năm trước rồi, và bỏ qua ông trung
gian. Hoặc bà trung gian.”
“Đúng.”
“Anh nghĩ trong đó có gì?”
“Anh không biết. Nó vẫn là của anh.” Lúc
đó tôi nhận ra một lý do khác khiến tôi quả quyết như vậy. Cuốn nhật ký là bằng
chứng; đó là - có thể lắm - là chứng thực. Nó có thể phá tan cái lặp đi lặp lại
tầm thường của ký ức. Nó có thể khởi động điều gì đó - dù tôi không rõ là gì.
“Ờ thì, anh luôn có thể tìm ra nơi Bánh
hoa quả ở mà. Họp mặt Bạn cũ, danh bạ điện thoại, thám tử tư. Đến, bấm chuông cửa,
đòi cái thứ của anh.”
“Không.”
“Vì thế mà có một vụ đột nhập,” cô ấy hào
hứng gợi ý.
“Em đùa à.”
“Thế thì bỏ qua đi. Trừ phi anh có, như
người ta nói, các vấn đề từ quá khứ mà anh cần phải đối diện để còn có thể sống
tiếp được. Nhưng như thế không giống anh mấy, phải không Tony?”
“Không, anh không nghĩ thế,” tôi trả lời,
khá thận trọng. Bởi một phần trong tôi tự vấn, bỏ qua chuyện huyên thuyên về tâm
thần học, liệu có chút sự thật nào trong đó hay không. Một khoảng lặng. Đĩa của
chúng tôi đều hết. Margaret đọc vị tôi chẳng khó khăn gì.
“Thật cảm động khi anh cứng đầu đến thế.
Em cho đấy là một cách thức nhằm theo kịp thời cuộc khi ta đã đến tuổi này rồi.”
“Anh không nghĩ hồi cách đây hai mươi năm
anh sẽ phản ứng khác.”
“Hẳn là không.” Cô ấy vẫy tay gọi thanh
toán. “Nhưng để em kể anh nghe một chuyện về Caroline. Không, anh không biết cô
bạn này. Đấy là bạn em sau khi ta đã chia tay. Bạn ấy có một ông chồng, hai đứa
con nhỏ và một cô giúp việc mà bạn ấy thấy không yên tâm lắm. Bạn ấy chẳng có
nghi ngờ gì kinh khủng cả. Cô bé chủ yếu rất lịch sự, bọn trẻ con không kêu ca
gì. Chỉ có điều Caroline cảm thấy bạn ấy không thực sự rõ là mình để bọn trẻ
con lại cho ai. Thế là bạn ấy hỏi một người bạn - bạn gái - không, không phải
em đâu - xem cô ta có lời khuyên gì không. ‘Xem qua đồ đạc của nó,’ cô ta nói.
‘Gì cơ?’ ‘Ờ thì, cậu rõ ràng là đang bị quay cuồng vì chuyện này mà. Đợi đến tối
con bé được nghỉ, ngó qua phòng nó, đọc thư từ của nó xem. Mình thì mình sẽ làm
vậy.’ Thế là lần sau lúc cô giúp việc được nghỉ, Caroline xem qua đồ đạc của
con bé. Và tìm thấy nhật ký của nó. Và bạn ấy đọc. Và có đầy những câu lăng mạ,
như là “Mình đang làm việc cho một mụ bò thực sự” và ‘Tay
chồng cũng khá - đã bắt gặp hắn đang nhìn mông mình rồi - nhưng mụ vợ thì đúng
là đồ ngu ngốc.’ Và ‘Liệu mụ ta có biết là mụ đang làm gì bọn trẻ tội nghiệp
không nhỉ?’ Có những thứ thực sự, thực sự
khó nuốt trong đó.”
“Thế rồi chuyện gì xảy ra?” tôi hỏi. “Bạn
em có đuổi con bé giúp việc không?”
“Tony,” vợ cũ của tôi đáp, “đấy không phải
là ý nghĩa của câu chuyện đâu.”
Tôi gật đầu. Margaret xem hóa đơn, rà góc
thẻ tín dụng xuống qua từng món.
Oct 27, 2009
Mùa thu lá bay
Mùa thu, chắc chắc như vậy, là mùa của văn chương. Không phải vì rất nhiều lá vàng rơi tạo hậu phương vững chắc củng cố hình ảnh đầy nguy hại về thi nhân văn sĩ: “mắt đếm lá chân đá ống bơ”, cũng không chỉ vì thời tiết mang màu sắc đồng đội ủng hộ cho việc hưởng thụ một tách trà ấm bên trang sách. Mùa thu còn là thời điểm tập trung chú ý, nảy nở hy vọng và tràn lan tham vọng với các giải thưởng văn chương được trao đồng loạt khắp thế giới, kể cả ở Việt Nam. Đây không chỉ là chuyện thị trường, đây còn là chuyện ứng xử và, một phần không nhỏ, chuyện vinh dự và danh dự.
Khi sắp qua đời, người còn lại trong hai anh em Goncourt (tức Edmond; Jules de Goncourt, người em trai thân thiết của Edmond, cũng là người đầu tiên có ý tưởng về một giải thưởng văn chương không sa vào tật phiến diện như giải thưởng của Viện Hàn lâm Pháp, đã yểu mệnh qua đời vào năm 1870) đã di chúc để lại tài sản của mình cho một Viện Hàn lâm Goncourt với chức năng chính là mỗi năm trao giải thưởng cho một nhà văn có triển vọng. Di chúc này vừa được thực hiện đầy trách nhiệm (vì kể từ đầu thế kỷ XX năm nào cũng có giải thưởng, đều đặn như Rolland Garros) nhưng cũng vẫn là một “di chúc bị phản bội” phần nào (vì đã nhiều lần trao giải cho những người rất già, hoặc trao kiểu vuốt đuôi: khi Marguerite Duras còn trẻ thì không trao, đến khi tóc bà bạc phơ tuy vẫn có người tình, thì mới trao).
Khi sắp qua đời, người còn lại trong hai anh em Goncourt (tức Edmond; Jules de Goncourt, người em trai thân thiết của Edmond, cũng là người đầu tiên có ý tưởng về một giải thưởng văn chương không sa vào tật phiến diện như giải thưởng của Viện Hàn lâm Pháp, đã yểu mệnh qua đời vào năm 1870) đã di chúc để lại tài sản của mình cho một Viện Hàn lâm Goncourt với chức năng chính là mỗi năm trao giải thưởng cho một nhà văn có triển vọng. Di chúc này vừa được thực hiện đầy trách nhiệm (vì kể từ đầu thế kỷ XX năm nào cũng có giải thưởng, đều đặn như Rolland Garros) nhưng cũng vẫn là một “di chúc bị phản bội” phần nào (vì đã nhiều lần trao giải cho những người rất già, hoặc trao kiểu vuốt đuôi: khi Marguerite Duras còn trẻ thì không trao, đến khi tóc bà bạc phơ tuy vẫn có người tình, thì mới trao).
Subscribe to:
Posts (Atom)
