Dec 2, 2010

Sách (XXIV) Tình thương nỗi nhớ

Gieo rắc một ít tình thương nỗi nhớ nữa nhá ;p


úi xời ơi vẫn chưa hết


và vẫn chưa hết (đố các bác đoán được cái quyển bọc họa báo hình quảng trường đỏ là quyển gì đấy ;d)


Chơi trò câu đố văn học sử nhá, tôi sẽ đố một câu cực hiểm cho cái bác Goldmund quên khẩn trương chuyện lại trả lời được đi hehe: bài tùy bút "Mơ Hương Cảng" của "hùm xám" Vũ Khắc Khoan (bài chứ không phải cả quyển mang cái tên đó nhé) xuất hiện lần đầu tiên ở đâu? Câu này khó đấy nhá, tôi mới biết có mỗi một bạn sở hữu trọn vẹn được cái đã đăng bài đó, mà bạn ấy có được cũng là nhờ công cò mồi của tôi :)))

Và nữa:

đây

đây

đây

the show must go on, right?

Larbaud


Giờ với Hình Tượng

Valery Larbaud

Tặng Francis Jourdain

---------------

Valery Larbaud (1881-1957) là một trong những nhà văn quan trọng nhất của Pháp đầu thế kỷ XX, thuộc những người chủ chốt của tờ tạp chí Nouvelle Revue Française xung quanh André Gide; tiểu thuyết nổi tiếng nhất của ông mang tên Barnabooth (1913); ông cũng tham gia dịch Ulysses của James Joyce; truyện ngắn dưới đây được rút từ tập Enfantines (1918). Nếu tôi mà có nhà xuất bản riêng, Larbaud sẽ là nhà văn đầu tiên tôi cho vào collection mang tên “Elegance” :d Ở Việt Nam đã in ít nhất một bản dịch tác phẩm của Larbaud, đố các bác một phát nhể ;p

---------------


Buổi chiều đầu tiên đẹp trời đã cắm trại trong vườn và cắt cử một tia nắng leo lên mỗi cửa sổ để canh gác. Có thể hình dung thấy đường viền của má hồng, một cái nhìn xanh biếc, một cô chị gái tóc vàng cúi người xuống trong ánh sáng ngược. Thế nhưng không được quay đầu ra cửa sổ. Không được nhúc nhích. Thậm chí là không được nhấc một ngón tay lên. Cái đồng hồ treo bên trên lò sưởi chỉ năm giờ năm phút. Ông Marcatte đã muộn năm phút; dấu hiệu tốt đây. Giá như mà thêm một lần nữa ông lại bỏ buổi dạy… Hoặc giả giá như năm giờ rưỡi ông mới tới: sẽ chỉ còn phải học nửa giờ ký xướng âm nữa mà thôi. Không được nhúc nhích: một cử động nhỏ nhất cũng có thể làm ông đến: cần phải để cho số phận được toàn quyền: một cử động nhỏ nhất cũng có thể làm lùng bùng một rắc rối ở đâu đó. Cứ ngồi yên trong ghế bành, hướng thẳng mặt vào lò sưởi. Và im lặng. Giống như cây đàn piano mở sẵn và quyển vở khép lại, trên bìa là hình cậu bé Mozart lên dây chiếc đàn violon…

Năm giờ bảy phút… Ôi! nhanh nữa lên nào, Thời gian ơi, nhanh nữa lên nào. Mười ý nghĩ nhỏ bé chạy lên bíu lấy cái kim lớn cố sức làm cho nó đi xuống nhanh hơn một chút về phía cô em gái của nó đang đợi sẵn tít bên dưới, giữa số V và số VI… Khuôn mặt có cặp mắt xanh lơ, và cái bóng má hồng tóc vàng bên cửa sổ, thảy đều bị xóa nhòa; và bầu trời nghiêm nghị của buổi chiều đang tan loãng thành từng mảng trắng trong những cái gương, những cửa kính và những đồ đạc đánh xi bóng. Và một thằng bé con, ngồi trong ghế bành, đợi ông thầy dạy ký xướng âm. (Một cái tủ kêu cọt kẹt.)

Ông ấy sẽ bấm chuông cửa. Đây đang là nửa phút chuẩn bị để đón ông ấy; để từ biệt những suy nghĩ dịu dàng và ấm nóng đến thế, mà ta đang nghe thấy… Năm giờ mười lăm phút. Một góc tù đã trở thành một góc nhọn, và giờ đây cái kim to sẽ phải đi xuống nhanh hơn bởi nó đã có độ nghiêng lớn hơn. Chắc chắn nó sẽ phải đi xuống nhanh hơn rồi (người ta có nghĩ tới điều ấy khi làm ra cái đồng hồ chăng? hoặc giả người ta đã lắp một cái phanh làm kim lớn đi xuống cũng chậm ngang như là khi nó đi ngược lên trên mặt đồng hồ ở bên kia số VI?) Ông ấy có thể đến vào bất cứ giây nào: mười lăm phút muộn giờ thì có là gì; hai mươi phút thì đã nghiêm trọng hơn: khi ấy cơ may có được một tiếng đồng hồ trống rỗng và tự do sẽ tăng lên. Đó là một tiếng đồng hồ bồng bềnh, từ Pornic tới Noirmoutier: năm giờ là bến đã biến mất: năm giờ rưỡi sẽ là giữa biển, nơi một mặt trời trắng lóa vỡ tan ra trên tấm thủy tinh đen phồng lên xẹp xuống, trong khi ý nghĩ cứ tìm cách tóm lấy khoảnh khắc lúc ta đang ở chính giữa cuộc hành trình. Một tiếng tự do, có thể - nhưng trống rỗng: không có trò chơi nào… Không được nhúc nhích: một cử động nhỏ nhất cũng sẽ làm tròng trành con thuyền mà một thằng bé con đang dồn hết sức lực để chèo từ năm giờ đến sáu giờ, trên đại dương thời gian.

Thật may mắn, để chống lại nỗi buồn chán, đã có Hình Tượng. Dễ tìm được nó lắm, nếu mà biết. Nhưng đứa trẻ là người duy nhất biết. Chỉ nó từng nhìn thấy Hình Tượng trong các đường vân đá của lò sưởi: một Hình Tượng dài nghiêm túc và trẻ trung, nhẵn nhụi, cặp mắt thật sâu, trán hẹp, một nửa bị che khuất dưới vành lá. Cái miệng nhỏ màu đen mở hé. Hé nhiều hơn so với lần trước, có lẽ vậy. Giá mà Hình Tượng biết nói! Bằng một giọng thật nhỏ không sao mà tưởng tượng nổi, một “giọng nói của đá”, hẳn là thế. Không, nó chỉ im lặng… Hình Tượng, chúng ta hiểu nhau không cần lời nói. Ta giữ bí mật của người, hỡi ông hoàng thần diệu; ta chưa từng nói cho ai biết là có một Hình Tượng trong những đường vân đá lò sưởi; và ta đã ngăn người khác nhìn về phía người. (Nhưng đám người lớn thì có biết nhìn gì đâu, thật là may.)

Hỡi Hình Tượng cao quý, khi nào thì sự thần diệu của người mới chấm dứt? ngày mai hay có lẽ một tháng nữa, hay một năm nữa. Khi ấy sẽ là đêm, hẳn vậy. Thời gian của người sẽ chấm dứt; người sẽ rời khỏi lò sưởi, và ngày hôm sau, thế vào chỗ của Hình Tượng, sẽ không có gì khác ngoài màu xanh lục thẳm sâu của đá và những đường viền vàng của nó, cái thứ chữ viết mà con người vẫn còn chưa học được cách đọc.

Trong khi chờ đợi, hỡi Hình Tượng, hãy tới ngồi đây trên con thuyền nhỏ của ta. - Đã có người bấm chuông! Cửa sắp mở, và ông Marcatte cùng món ký xướng âm sẽ bước vào cùng mùi thuốc lá và những bàn tay già nua của họ, cả những cái móng tay dày khộp nữa, những móng tay cong lại và ám xỉn vì hút thuốc. Mọi ý nghĩ nhỏ bé đều chạy trốn, và con thuyền thiếu điều thì đảo điên, và Hình Tượng hòa lẫn vào với các đường vân đá… Báo động giả thôi. Cửa đó là cửa dành cho gia nhân.

Hình Tượng, quay trở lại đi; nào ta cùng nhau đi dạo trong rừng. (Thật là lạ, cái quyền năng tưởng tượng ra khu rừng, như thể là ta đang ở đó, trong khi vẫn còn ở đây, trong ghế bành; cần phải để tâm tới điều này, dõi theo ý nghĩ này. Nhưng các lối đi trong rừng thì vui hơn nhiều. Thế là một ý nghĩ nhỏ bé vụt đến, như một chú ong, bay vo ve ở ngay cửa tổ; tìm thấy lối vào đang đóng; rồi bay tới chỗ những bông hoa.) Một con tàu làm bằng ý nghĩ đi đến đất nước tên là khu rừng, mang theo Hình Tượng cao quý đội vành hoa trong một cái rương thật quý làm bằng ý nghĩ.

Đến nơi rồi; ta phải hỏi lối vào bến cảng của những tán lá; ta phải vạch những cành cây đầu tiên; ta dấn sâu vào màu đen lục biếc. Ta gặp một ánh nắng đơn côi. Ta đi theo lối mòn chứa cả nghìn bí mật. Ta đi ngang qua con đường lúp xúp bụi cây nơi chỉ nhìn thấy được những lá và lá, và bên trên những chiếc lá, một con đường màu xanh lơ giống hệt con đường màu hồng của khu rừng, và đó chính là con đường màu xanh lơ của bầu trời. Không gì nhúc nhích trong làn ánh sáng bất động, ngoại trừ, nơi xa xa kia, cây dương nhỏ bé lên cơn rùng mình ngay giữa trưa - hay đó là để ra dấu hiệu, biết đâu? Thêm một lần nữa ta lại lặn sâu vào bóng tối và dưới những cành cây nơi mặt đất khô, bên dưới đám cỏ nóng, vẫn trung thành lưu giữ các dấu vết xưa của bánh xe, từ mãi năm nảo năm nào hồi người ta đốn cây (khi ấy người ta đã nhìn ra được hình dạng ngọn đồi). Và đột nhiên ta đã ở dưới những cây thông, đội vệ binh hoàng gia của rừng, bất động và cao vút, với những cờ xí màu đỏ và vàng.

Nhưng đã tới rồi cái lối đi mà chưa từng bao giờ ta cả gan đi cho đến tận cùng, cái lối đi sẽ dẫn tới, ngay đoạn ngoặt âm u nhất, một dòng suối gần như bị bỏ quên và không có tên, thứ nước màu nâu chảy lững lờ dưới một tấm mái lá cây đan kết chằng chịt, được nó buồn bã soi bóng phản chiếu. Xa hơn nữa ta bắt gặp một lối đi có lẽ là dẫn sang một quãng trống nằm dưới quyền chiếm giữ của một quốc gia cúc gai khổng lồ khủng khiếp. Rồi tiếp đó là một cánh đồng có cái đầm ven bờ bắc hai tấm ván cho các bà các cô giặt quần áo. Sau nữa, là khoảng cây cao nơi sinh sống của duy nhất một con chim lớn buồn thảm đột nhiên cất cánh với tiếng ồn giống hệt cánh cửa tủ mở ra! Và ngay gần đó, một bữa nọ, ta nhìn thấy một cái rương sắt đan, cạnh một cái bẫy sói, và khi cúi mình xuống cái rương, ta thấy một con mèo ghi mắt xanh như mắt trẻ con chạy tới chạy lui. Rồi đột ngột ta đã ở rìa khu rừng, bên bờ con suối lớn, bờ bên kia là đã bắt đầu cánh đồng cỏ và mặt trời, và ta nhận ra nếp gấp của ngọn đồi, và ta thấy trên cao kia một góc mái của ngôi nhà. Lối đi dẫn xuống dưới, mở rộng ra, lại xuống nữa trong khi một cành cây cuối cùng vẫn cố níu giữ ta lại; chừng nào đi qua được cây cầu gỗ nhỏ, là coi như chúng ta đã thoát ra khỏi Vương quốc Cây cối.

Hình Tượng, Hình Tượng cao quý, trong khi chờ đến giờ khắc được giải thoát, ta hãy cùng nhau làm một cuộc hành trình khác vào trong những lục địa của mặt trời đang lặn: cái bầu trời bên trên khu vườn giống như là bản đồ một thế giới khác hẳn, màu xanh lơ điểm sắc vàng…

Sáu giờ kém mười - thoát rồi! Ông Marcatte sẽ không đến. Giờ thì đã có thể nhúc nhích: mang con thuyền xuống; nháy mắt thật khẽ chào tạm biệt Hình Tượng vẫn ở nguyên trong đá, hơi buồn và một chút sững sờ, cái miệng he hé mở; và lặng im đặt con thuyền trong suy tưởng vào cái cảng cuối cùng cũng tới được… Giờ đây chúng ta đã ở bên ngoài bóng tối và bên ngoài hiểm nguy. Một con chim nhạn rỉa bộ lông sau vòng lượn…

Nhưng ở tận sâu của đá, Hình Tượng vẫn chờ lúc kết thúc sự thần diệu của mình. Nó sẽ còn chờ nữa chừng nào chúng ta hai mươi tuổi; và những đứa trẻ sau chúng ta rồi cũng sẽ phát hiện ra nó.

Dec 1, 2010

Brand New Ones: Enrique Vila-Matas

"Paris không bao giờ kết thúc"

“Nếu bạn may mắn được sống ở Paris trong tuổi thanh xuân, thì cho dù có đi đâu trong suốt đường đời còn lại, Paris vẫn ở trong bạn”, Hemingway đã viết như vậy; điều này đã được nhiều người công nhận, trong số đó có nhà văn Tây Ban Nha Enrique Vila-Matas.


Sức tưởng tượng mãnh liệt của một số nhà văn khiến cho độc giả của họ buộc phải xen lẫn niềm sung sướng phấn khích của sự đọc với niềm bối rối vì thường bị đặt ở điểm hội tụ chênh vênh giữa sự thật và hư cấu. Tiểu thuyết Paris không bao giờ kết thúc (Paris no se acaba nunca) của Enrique Vila-Matas mở ra với sự kiện nhân vật xưng “tôi” đến Key West, Florida, để tham gia cuộc thi chọn người giống Hemingway nhất. Và Ernest Hemingway ngay lập tức được miêu tả như là thần tượng thời tuổi trẻ của một nhà văn mới vào nghề, cũng sống ở Paris. Rất nhiều đoạn trong hồi ký Hội hè miên man của Hemingway được Vila-Matas trích dẫn thẳng vào tác phẩm của mình - đến nhan đề Paris không bao giờ kết thúc cũng lấy cảm hứng từ tên cuốn hồi ký của Hemingway (ở Pháp, cuốn sách được đặt tên là Paris est une fête, có nghĩa Paris là một bữa tiệc).

Thế nhưng trò chơi văn chương của Vila-Matas trong cuốn tiểu thuyết chưa dày tới 300 trang này phức tạp hơn một sự sùng kính đơn thuần. Lồng vào cốt truyện thời tuổi trẻ là một cuộc hội thảo mà nhân vật chính về già đang chuẩn bị, đề tài là sự mỉa mai; Hemingway sẽ đến lúc bị phê phán, nhà văn lớn bị so sánh với một kịch sĩ giỏi, làm người ta vui sướng hân thưởng các màn diễn khi đang có mặt trên sân khấu, nhưng chỉ cần khán giả đi ra ngoài hút một điếu thuốc xong là mọi quyến rũ tan biến. Thêm nữa, mặc dù nhiều sự kiện tiểu sử là có thật, như việc Vila-Matas hồi ở Paris trong những năm đầu thập niên 1970 thuê căn gác xép của Marguerite Duras để sống, nhưng những câu nói của Duras rõ ràng là đi theo một sơ đồ mà Vila-Matas tạo lập chứ không thể chắc là có thật.

Trò chơi hòa quyện sự thật và hư cấu này lên tới đỉnh điểm ở tiểu thuyết mới nhất của Vita-Matas, Dublinesca (2010), khi nhân vật chính, một nhà xuất bản văn học kiệt sức và chán chường với một thế giới coi thường văn chương đích thực, gặp gỡ và giao thiệp với hết nhà văn lớn này đến nhà văn lớn khác. Chỉ sức mạnh của ngôn từ và nét đặc biệt của tài năng văn chương mới thuyết phục được độc giả đi theo một mạch truyện lắt léo, thường trực qua lại giữa câu chuyện và những trích dẫn tác phẩm văn học, nhất là từ Ulysses của James Joyce. Ngay từ một trong những tác phẩm sớm sủa, cuốn tiểu thuyết Cái đọc sát nhân (La asesina ilustrada, 1977), Vila-Matas đã bộc lộ một khuynh hướng “fantastic” đượm mùi cay đắng và châm biếm.

Enrique Vila-Matas, theo tôi, cùng một nhà văn khác cũng sinh năm 1948, Alberto Manguel (gốc Argentina, quốc tịch Canada), đang chứng tỏ cho độc giả cả thế giới thấy rằng những cuộc phiêu lưu ngôn từ và phiêu lưu xuyên qua những cuốn sách của nhiều thế kỷ có thể kỳ thú đến thế nào, và văn chương hiểu theo nghĩa nguyên khối, toàn vẹn vẫn tồn tại đầy sức sống. Với số lượng tác phẩm đồ sộ (The Dictionary of Imaginary Places - Từ điển địa danh tưởng tượng, nhất là A History of Reading - Một lịch sử về đọcThe Library at Night - Thư viện ban đêm), Manguel đang tiếp sức cho Jorge Luis Borges (mà ông từng đọc sách cho nghe trong giai đoạn Borges bị mù) ở một cuộc chơi kỳ khu - nơi sách vở lớn hơn cuộc đời.

Tôi nghĩ rằng trong văn chương các nước phương Tây luôn luôn có những nhà văn thực hiện công việc nối kết lịch sử với thời sự, quá khứ với hiện tại, và sự kết nối ấy còn là xuyên biên giới, trong một nền hư cấu đậm đặc tính chất đan cài, truyền thừa. Enrique Vila-Matas là một nhà văn như thế, và lớn tuổi hơn ông một chút thì có những người như Italo Calvino, Claudio Magris ở Ý hay cùng độ tuổi với ông thì Julian Barnes ở Anh và Alberto Manguel. Họ làm cho văn chương xuất chúng “không bao giờ kết thúc”.

Rác rưởi là thứ bất diệt

Văn chương, ngoài các chức năng như là giáo dục, thẩm mỹ, với cả cái gì nữa trong tam giác vàng chúng ta vẫn học thời thiếu sinh quân í nhỉ mình quên béng nó mất rồi, chữ thầy (Túc) lại trả chữ thầy (Túc) hic, rồi các chức năng như là hổn hển nhễ nhại, đánh bóng mạ kền, ỏn ẻn thảo mai, tuổi xanh tuổi hồng, còn có một chức năng nữa: nói ra chân lý. Nhiều nhà văn viết ra nhiều chân lý đến mức ngạt cả thở. Điều này, nếu muốn tìm hiểu kỹ, thì phải đọc lại Virginia Woolf, nhưng tôi tìm mãi mà không thấy cái quyển tập VI của bộ Selected Essays của bà ấy, rất chi là khó tìm ra cái gì in this big mess :)

Văn chương thở ra các thứ chân lý như là "mùa hè thì nóng, mùa đông thì lạnh", "phượng hoàng tái sinh từ đống tro tàn" hay "cuộc đời vui lắm buồn sao nổi" (hí hí), hoặc như thế này (tác giả là Ivan Klíma): "Rác rưởi là thứ bất diệt". Ở đây nói nốt í nhỏ này: mỗi lần nghe thấy cái tên Ivan là mình lại muốn lăn ra cười. Hình như ngày xưa có bác gì tên là Ivan Cudơnhétxốp rất được lòng chị em Việt Nam suốt một thời thì phải.

Như vậy là Tình và rác của Ivan Klíma đã in xong (Bạch Phương dịch, Bách Việt & NXB Văn học). Chờ mãi đấy, thật là may vì đợt trước lười quá mới chỉ đọc Judge on Trial. Các bác để yên cho mình đọc truyện lấy tí therapy nhá :)

Sau đận này khéo mà thành nhà văn thì chết dở chứ chả chơi. Hic công bao nhiêu năm tu luyện để cưỡng lại khéo mà thành công cốc.

Nhưng các bác cứ yên tâm, sẽ rất nhiều sex :pp

Nov 26, 2010

dịu dàng quá dịu dàng

nhìn tập thơ to, đẹp, trắng của Olga Berggoltz mới in, mỗi trang lại in nền hình cây gì như là cây bu lô (giới thạo tin đã biết tôi định nói quyển gì rồi nên thôi chẳng phải chi tiết mà làm gì), lòng tôi chợt bồi hồi khó tả

bao nhiêu là bài thơ bà ấy từng làm, chắc đến giờ người ta vẫn nhớ nhất, hoặc chỉ nhớ, cái bài có câu "tránh đừng đụng vào em mùa (...) rụng" :d

xời, bao nhiêu năm khốn khổ vì cái bài thơ ấy, các cô gái nhiều tâm hồn cô nào cô nấy đều "những đàn sếu bay qua sương mù và khói tỏa", mà sếu với cả khói, có bao giờ nhìn thấy tận mắt đâu cơ chứ, chỉ toàn fantasy là fantasy

mãi bây giờ già rồi mình mới hiểu, bà Olga Berggoltz ấy, bà ấy nói đúng lắm chứ không phải đùa, nhưng phải phân khúc ra, mỗi độ tuổi hiểu được một phần thôi

ngày xưa thì hiểu được "dịu dàng quá dịu dàng"

còn bây giờ thì phải hiểu được "không chịu nổi"

;ddd

cơn vớ vẩn đã qua rồi, bây giờ chào mừng bạn đến với cơn dịu dàng

Nov 24, 2010

Joseph gì

đợt trước một tờ tạp chí gọi điện thoại bảo có chuyên mục này cái bác đang giữ không viết nữa, nhờ tôi tiếp sức, tất nhiên là tôi từ chối, chủ yếu là vì lười, chẳng muốn làm gì, nhưng cũng vì tôi chẳng biết chẳng thiết viết cái gì về cõi đời ô trọc :) sau đó người cầm mục đó là Joseph Ruelle, tức Joe, tức Dâu Tây

hồi tôi còn chưa trẻ bằng bây giờ, chỉ có một Joseph được thân thương gọi là "Giâu", cứ "Giâu" thì tức là Joseph ấy, không thể trật được, "Giâu" ấy là Joseph McIntyre của New Kids On The Block, "Please Don't Go Girl"

giờ lại có một "Giâu", chả biết có đẹp giai như Joseph McIntyre không nhưng mà cũng cụt ngủn lắm

rồi đồng chí "Giâu" này bàn chuyện tên phim Cánh đồng bất tận, bảo sao lại để tên tiếng Anh là Floating Lives, mà lại không Endless Fields

đùa chứ nói thật đã endless thì phải Endless Love, mà đã fields thì phải Strawberry Fields Forever, chứ thiệt tình quá đi, thấy cái tên phim Endless Fields chắc tôi khỏi đi xem luôn

mà đã suy luận theo kiểu ấy, tôi cũng thấy lạ tại làm sao tên đồng chí ấy là Joseph Ruelle mà trong tiếng Việt cứ gọi là Dâu Tây nhỉ, dịch gì mà sái thế

Joseph Ruelle phải là Joseph Hủm chứ

Cronos

kiên quyết không buông tha :))

---------------------

Cronos

của Linda Lê

Christian Bourgois, 168 trang, 16 euros

Cronos mở ra bằng một cảnh bạo lực: một tên lính đánh đập rồi bắn chết một người đàn ông phạm tội quên mất giờ giới nghiêm, đắm chìm vào một quyển sách đang đọc. Một hành động đáng ghê tởm nhưng lại rất thường gặp ở Zaroffcity, nằm trong tay sự cầm quyền chuyên chế của "Người Hướng Đạo Vĩ Đại" Zaroff và Bộ trưởng Nội vụ kiêm Tư pháp của hắn, Karaci, kẻ có đầu óc biến thái và lo sợ mọi thứ. Người kể chuyện chính, Una, bị bắt phải lấy Karaci để cứu tính mạng cha mình. Quá chán nản và đau đớn, cô bước ra khỏi sự bất động trây ì của mình để nhận thức về sai lầm đã phạm phải: "Đây là một nơi trao đổi những lừa gạt, bởi tôi đã nhét ngón tay vào trong cỗ máy của quy phục". Câu chuyện ngụ ngôn đen này, nằm bên ngoài thời gian, miêu tả thật chân xác những quá đà rất thực của quyền lực: sự thô thiển của những kẻ cầm quyền, những tài sản mù mờ về nguồn gốc, tội ác không bị trừng phạt, bầu không khí của đổ vấy cho nhau, chủ nghĩa cá nhân bị dập vùi. Chúng ta cứ tin rằng Linda Lê, người thừa nhận là mình quan sát nhiều hơn là tranh đấu, không tìm cách viết một tác phẩm đả kích. Thế nhưng một câu như câu "(Karaci) đã đánh bả chuột thành phố: chúng ta bị đồng hóa với những con vật chuyên gặm nhấm sinh sôi nảy nở vô chừng cần phải tận diệt" có một tiếng vọng gây bối rối tới thời của chúng ta. Đó là bởi từ ngữ và cách sử dụng chúng nằm ở trung tâm cuốn tiểu thuyết này. Una có "một sự nhất quán nội tâm nào đó" là nhờ ở từ ngữ, những từ trong các tác phẩm mà người anh trai lưu đày của cô viết ra, những từ của những người chống đối lẻn lút, "những người không tưởng" trong đó có X, người sẽ làm đảo lộn cuộc đời cô. Sử dụng một từ vựng giản dị, những cách nói thông thường thậm chí là cũ mòn, Linda Lê đề xuất: sự đồng phục hóa lời lẽ dẫn tới sự mất phẩm giá của suy tư, và cả nữa: điều cốt tử diễn ra trong trọng tải từ ngữ, sức mạnh phát ngôn của chúng, chứ không phải là trong tính chất độc đáo của các biện pháp tu từ.

Cuối cùng, chúng ta hãy dừng lại ở hai dẫn chiếu nhiều ý nghĩa: Zaroff, gợi nhớ tới bộ phim trong đó vị bá tước này tổ chức tại hòn đảo của mình những cuộc đi săn xa đích, con mồi là con người; Cronos, vị thần Hy Lạp ("tâm tính méo mó" theo Iliade) ăn thịt con mình để tránh bị truất ngôi. Một cái nhìn méo mó về gia đình, trái ngược với cái nhìn của Una, người sống nhờ vào tình yêu dành cho cha mình, cho người anh trai và cho một chàng trai đầy sức sống mà cô coi như một người thân. Cùng họ, Linda Lê biến chuyển câu chuyện tượng trưng này thành hiện thân của truyện kể, truyền cho huyền thoại của nó các tình cảm và sức sống.

Pascal Jourdana
(Le Matricule des anges numéro 116, 9/2010)


---------------------

nhiều lúc ngồi nghĩ lẩn thẩn, nếu như mọi chuyện có chút xíu thay đổi, thì giờ này mình đang ngồi uống cà phê viết những bài như bài này, để chúng nó dịch ra :d thôi tự an ủi là giờ này mình cũng đang uống cà phê há há

+ Paris ne finit jamais