Bỏ qua mối quan hệ phim-truyện thì bản thân bộ phim Rừng Na Uy đã dở. Trước đây (tất nhiên trước cả I Come with the Rain, vì I Come with the Rain cũng vô cùng tệ, và Trần Anh Hùng cũng giải thích vì suốt ngày phải ra tòa etc.) phim của Trần Anh Hùng đẹp trong một sự kháng cự rơi vào kitsch, lúc nào cũng ở bên bờ kitsch nhưng không rơi vào, sự ngấp nghé đó làm nên điểm đặc biệt của Trần Anh Hùng. Nhưng Rừng Na Uy thì thản nhiên rơi vào kitsch. Cảnh ăn chơi trong phòng, camera chầm chậm lướt qua những cây cột gương thật là ớn. Watanabe đến gặp Naoko thì phải hoặc là nền mưa hoặc là nền tuyết ngoài cửa sổ. Còn đặt thêm vào mối quan hệ phim-truyện (kiểu gì cũng không bỏ qua được), thì chắc trong số những người xem Rừng Na Uy hôm ấy, ngoài tôi ra (nhận luôn cho thành khẩn :d) thì người ít hiểu tiểu thuyết Rừng Na Uy nhất là Trần Anh Hùng. Chỉ riêng đoạn cuối (có một bạn nói không khác gì xem gì Discovery Channel, thật là chuẩn xác) đã lệch hẳn khỏi khả năng diễn biến tâm lý của một người như Watanabe Toru.
Phim chán thì chỉ cần nói đến thế thôi :p
Khi nghe lại bài "Norwegian Wood" tôi bỗng thấy liên hệ giữa "And when I awoke, I was alone, this bird had flown" và Kurt Wallander trong Người đàn ông lo âu.
Ở tập cuối của xê ri Wallander này, ngoài việc tạo ra một cuộc điều tra, Henning Mankell còn phải hướng tới một mục đích nữa: đóng lại cả loạt truyện, tìm ra một đoạn kết. Tôi chỉ có thể nói rằng đoạn kết này rất buồn :(
Nhưng trước khi rất buồn, Người đàn ông lo âu cũng được mở ra bằng việc Linda sinh con gái (Klara), như vậy là Wallander đã có cháu. Mankell để cho hai người phụ nữ của cuộc đời Wallander xuất hiện trở lại - đều rất thoáng qua nhưng đều đau đớn. Mona và Baiba mỗi người theo một cách đẩy Wallander nhanh hơn đến kết cục. Vì quy định của nghề nghiệp :p tôi sẽ không để cho bị cậy răng tiết lộ cốt truyện, nhưng có thể nói được là với một người, Wallander đã trải qua experience của "When I awoke...", và có một trong hai người chết.
Cũng như ở phần lớn những cuốn tiểu thuyết khác của loạt Wallander, Mankell thể hiện một năng lực dẫn dắt bậc thầy, quản lý chi tiết vô cùng giỏi, nhưng đoạn kết thường xuyên yếu, nhiều lúc có những lỗ hổng về lập luận đáng ngạc nhiên. Những người thông minh (chẳng hạn như bạn today20 :d) không thích cách giải quyết vấn đề của Mankell. Tôi cũng không thích hehe. Người đàn ông lo âu lấy lại gần như toàn bộ sơ đồ lập luận của Bầy chó Riga, là sơ đồ lập luận kém hấp dẫn nhất trong toàn bộ loạt truyện. Đây cũng là lần Mankell hướng cái nhìn vào chính trị ở cấp cao, hoàn toàn không phải sở trường của ông. Sở trường của ông là những xung năng chết chóc, tội phạm ở những con người vô cùng bình thường, tầm thường, nhỏ bé, những người tỉnh lẻ. Một khi bối cảnh truyện đã chuyển sang thủ đô :d (như Riga, và lần này là Stockholm), tức thì overhyped ngay. Nhưng nếu thích Olof Palme Thủ tướng bị ám sát của Thụy Điển, Rosenbad tức Phủ Thủ tướng Thụy Điển, rồi những cái tàu ngầm, bí mật quốc gia, gián điệp etc. thì đọc cũng được.
Tôi thì quan tâm đến việc Mankell kết thúc cho Wallander như thế nào. Chắc là vì tôi có cái nhìn apocalyptic :) Giờ đây đã hết cả loạt Wallander chín quyển, có thể thấy rằng chuỗi ba quyển đầu tiên, Những kẻ sát nhân vô diện, Bầy chó Riga và Sư tử trắng (thật ra là sư tử cái đấy) vừa non tay vừa chưa tìm ra được hình thức sau này sẽ được ấn định cho gần như mọi tập khác: 40 chương, đúng đến chương 20 một sự kiện hoặc một nhận thức mới xuất hiện, dẫn tới một nửa thứ hai đổ dốc, nhiều khi là với tốc độ chóng mặt. Trong cả loạt Wallander có hai kiệt tác: ngoài Chậm một bước (One Step Behind/Les Morts de la Saint-Jean) còn Người đàn bà thứ năm (The Fifth Woman/ La cinquième femme).
Thật là tiếc vì ở đây có quá ít người thích và đọc Wallander và Mankell. Hậu quả là sẽ lại có thêm một project phải dang dở. Hic. Đời thật dang dở nhưng vẫn phải bột nở.
+ Mấy hôm vừa rồi nhận nhiều mail chúc mừng Giáng sinh, một số người viết thêm câu "Vinh danh Thiên chúa trên trời/Bình an dưới thế cho người thiện tâm". Tôi nhớ trong những năm 1970 giới Công giáo Việt Nam đã từng có tranh luận về hai câu này, và có một chiều hướng là đổi câu thứ hai thành "Bình an dưới thế cho người Chúa yêu". Vì người tốt đẹp thì ai yêu mà chẳng được, cần gì đến Chúa :p
Dec 25, 2010
Dec 23, 2010
Rừng Na Uy
lâu lắm rồi tôi mới được xem một bộ phim dở như thế này, dở đồng loạt, nhưng ngày mai đọc báo mình chắc chắn các bạn nhà báo bắn pháo hoa ăn mừng Murakami mặc áo Trần Anh Hùng
ngủ gật hai nhát, kỷ lục từ khởi thủy của thời gian :p mà các bác yên tâm, truyện mình chỉ nhớ độc chi tiết ăn ốc sên và chi tiết Nagasawa hay cái gì bảo Watanabe mày đọc Gatsby thì xứng đáng chơi với tao, nên chả có tí so sánh nào hết cả đâu nhá
tệ hại hơn cả là Trần Anh Hùng cứ cố phải đặt dấu ấn cá nhân trong khi không nghĩ ra được một ý tưởng nào, đành biến tấu Mùa hè chiều thẳng đứng lúc Ngô Quang Hải và Trần Nữ Yên Khê chạy đuổi nhau trong tiếng nhạc Lou Reed, vào phim này thì thành hai đoạn, Watanabe và Midori cứ đi theo nhau mà nói chuyện trong nhà Midori, rồi đoạn Watanabe và Naoko rượt nhau trên đồng cỏ mà nói chuyện về Kizuki, vì sao lại không thể làm tình được, tôi tuyệt đối không thể hiểu tại sao không thể ngồi mà nói, hoặc thậm chí là nằm :d
rồi lại còn ôm đàn guitar hát Norwegian Wood mà vẫn nghe như hát Trịnh Công Sơn, lạy trời
đoạn đang ngủ gà gật bỗng dưng choàng tỉnh vì lồng quả nhạc cứ nồng nỗng "I love you I love you"
nói tóm lại là khó tả lắm, thôi mình đi ngủ, gật được hai nhát làm tiền đề rồi giờ làm nhát quyết định :)
ngủ gật hai nhát, kỷ lục từ khởi thủy của thời gian :p mà các bác yên tâm, truyện mình chỉ nhớ độc chi tiết ăn ốc sên và chi tiết Nagasawa hay cái gì bảo Watanabe mày đọc Gatsby thì xứng đáng chơi với tao, nên chả có tí so sánh nào hết cả đâu nhá
tệ hại hơn cả là Trần Anh Hùng cứ cố phải đặt dấu ấn cá nhân trong khi không nghĩ ra được một ý tưởng nào, đành biến tấu Mùa hè chiều thẳng đứng lúc Ngô Quang Hải và Trần Nữ Yên Khê chạy đuổi nhau trong tiếng nhạc Lou Reed, vào phim này thì thành hai đoạn, Watanabe và Midori cứ đi theo nhau mà nói chuyện trong nhà Midori, rồi đoạn Watanabe và Naoko rượt nhau trên đồng cỏ mà nói chuyện về Kizuki, vì sao lại không thể làm tình được, tôi tuyệt đối không thể hiểu tại sao không thể ngồi mà nói, hoặc thậm chí là nằm :d
rồi lại còn ôm đàn guitar hát Norwegian Wood mà vẫn nghe như hát Trịnh Công Sơn, lạy trời
đoạn đang ngủ gà gật bỗng dưng choàng tỉnh vì lồng quả nhạc cứ nồng nỗng "I love you I love you"
nói tóm lại là khó tả lắm, thôi mình đi ngủ, gật được hai nhát làm tiền đề rồi giờ làm nhát quyết định :)
Dec 20, 2010
Tình và rác
Nếu chở người yêu bằng xe máy đi trên phố nhỏ Hà Nội ngay sau một cái xe rác chạy chậm rề rề trước mặt, bạn sẽ hiểu sự kết hợp của tình yêu với rác rưởi là một điều có thể, dù cho nó có kỳ cục đến đâu. Nhưng nói thế nào đi nữa, “Tình và rác” (Ivan Klíma, Bạch Phương dịch, Bách Việt & NXB Văn học) vẫn cứ là một nhan đề không bình thường cho một cuốn tiểu thuyết. Nhìn thấy một cái nhan đề như thế này, hẳn người ta nhanh chóng hiểu ra rằng đây ắt không phải là một câu chuyện tình đơn thuần.
Tình yêu bất khả trong “Tình và rác” đẹp như mọi tình yêu bất khả. Nữ ca sĩ nổi tiếng Patricia Kaas từng tuyên ngôn: “Amour impossible, quoi de plus terrible” (Tình bất khả, còn có gì khủng khiếp hơn đây). Nhân vật chính của “Tình và rác”, một nhà văn, có với Daria, cô nghệ sĩ thích linh hồn lẩn quất trong những thứ đồ vật vô tri, một mối tình trên những căn gác xép, mối tình của những chia tay góc phố và những câu nói rợn người vì buồn bã: “Anh có nghĩ là mọi tình yêu đều ham mê những hy vọng ngang trái hay không?” (tr. 44), ấy là câu Daria hỏi người tình. Câu hỏi này, hẳn không một người đàn ông nào ở hoàn cảnh như Người Tình của Daria dám trả lời.
Sự buồn bã này cứ kéo lê thê suốt cuốn sách, kể cả trong những cuộc trò chuyện bông phèng giữa những người cùng đội dọn rác với nhân vật chính, lẽ ra phải là những con người đầy sinh lực, như các nhà văn thường tạo ra - thì ít nhất cũng nên có một đối cực nào đó trước sự thê lương của rác và những kỷ niệm đau lòng cứ đan cài, xen kẽ với nhau. Người đọc của “Tình và rác” không thể mặc sức thả mình vào một đoạn về mối tình ngang trái nhưng đẹp kia, vì biết chắc rằng chỉ vài dòng nữa thôi họ sẽ quay trở về với phố phường Praha từ điểm nhìn của những con người cả ngày tiếp xúc với bẩn thỉu. Sự buồn bã này có lẽ chính là “màu” đặc trưng của văn chương Trung Âu nói chung, của vùng Bohemia nói riêng, nhất là văn chương của những nhà văn có chung kinh nghiệm trải qua thời kỳ Đức Quốc xã rồi tiếp nối ngay vào một thời kỳ cũng đen tối không kém. Bầu không khí này ta cũng bắt gặp ở trong những cuốn tiểu thuyết mỏng của Kertész Imre khi ông miêu tả đời sống Hungari trong những năm 1970.
Ivan Klíma mang trong mình một quá khứ xa giống với rất nhiều nhà văn thành danh ở châu Âu sau Thế chiến thứ hai: quá khứ của người Do Thái đeo ngôi sao David, trại tập trung, sự sống sót thần kỳ, và niềm tuyệt vọng tiếp theo. Cả bố mẹ lẫn Ivan Klíma đều thoát khỏi trại tập trung (với Klíma đó cụ thể là trại Terezín, đúng ra là một trại trung chuyển tù nhân Do Thái, nhưng cũng không phải là một nơi kém nguy hiểm tính mạng), nhưng sang đến chế độ mới, bố Klíma lại bị bỏ tù. Những nét tiểu sử này được Klíma đưa vào “Tình và rác”, đi kèm với những nhận xét cay đắng: “Ở đất nước chúng tôi, tất cả mọi thứ đều đang vĩnh viễn được tái chế: niềm tin, những tòa nhà và cả tên của những con phố” (tr. 89).
Vậy là thêm một đại biểu xuất sắc nữa của văn chương Séc đã đến Việt Nam, sau những người xuất chúng như Bohumil Hrabal của những truyện hài hước không thể không bật cười và Milan Kundera sâu cay chua chát như màu một bức tường cũ Praha. Dĩ nhiên, còn có một nhà văn nữa rất gắn bó với Praha, tuy không bao giờ viết bằng tiếng Séc: Kafka. Kafka có một vị trí đặc biệt quan trọng trong tâm hồn nhà văn nhân vật chính của “Tình và rác”: sau khi được “khai tâm” về văn chương bằng “Chiến tranh và hòa bình” của Tolstoy, người đã khích lệ con đường văn chương của anh ta là Kafka, mặc dù thật khó hình dung văn chương của Kafka có thể thực sự hỗ trợ tinh thần theo hướng tích cực cho bất kỳ một ai. Với nhân vật chính của “Tình và rác”, tác phẩm của Kafka bị cấm lưu hành tại Séc là vì ông đã quá trung thực. Chắc hẳn vì muốn noi theo tấm gương ấy mà nhà văn của “Tình và rác” đã kết hợp hai thứ đó với nhau ở tác phẩm của mình; trong một bầu không khí dị hợm - và bất khả - mọi kết hợp kỳ cục đều là có thể.
Nhị Linh
Dec 18, 2010
Disquiet
Không phải là về The Book of Disquiet (Livro do Desassossego) của Pessoa, quyển sách đang trở thành mốt thời gian này đâu đấy nhé :)
Mà là một quyển khác: L'Homme inquiet (Den orolige mannen) của Henning Mankell, trên bìa bản tiếng Pháp (của Anna Gibson, như mọi khi - NXB Seuil, tủ sách "Policiers") ghi: "La dernière enquête de Wallander" (Cuộc điều tra cuối cùng của Wallander). "L'Homme inquiet" có nghĩa "Người đàn ông lo âu". Kurt Wallander đã về già, quãng lục tuần, mua được nhà nông thôn để rời căn hộ Mariagatan như đúng sở nguyện từ rất lâu (cái gì ở Kurt Wallander cũng chậm đến khó tin: một chiếc Peugeot mới mà phải mất vài tập liền Wallander mới mua nổi - vấn đề không phải là thiếu tiền, mặc dù thu nhập của Wallander không cao; chắc bạn hiểu tôi muốn nói gì, cái đó thuộc về bản tính rồi). Ở ngôi nhà mới, Wallander cuối cùng đã có một con chó, một labrador tên là Jussi (hic, là tên một ca sĩ giọng tenor Thụy Điển đấy).
Wallander sẽ không còn điều tra các vụ án nữa. Theo dõi suốt các tập của bộ Kurt Wallander, ý định rời bỏ ngành cảnh sát chưa bao giờ rời bỏ ông, nhưng lúc nào Wallander rồi cũng sẽ "quay trở lại làm cớm", chỉ là sự quay trở lại đó nhọc nhằn ở các mức khác nhau ở những lần. Giờ đây khi việc đó thực sự đến, nó cũng giống như là ta sắp chia tay một người bạn lâu năm, như Wallander từng chia tay Sten Widén người nuôi ngựa đua ở một tâp nào đó, hình như là Chậm một bước. Như là "nhìn những mùa thu đi".
Ở cuối Tường lửa, con gái Linda của Wallander thông báo mình quyết định trở thành cảnh sát. Kể từ đó Linda đã kịp học xong, về Ystad làm cùng sở với bố. Đến L'Homme inquiet Linda sinh một đứa con gái, với Hans von Enke. Và cũng chính là liên quan tới gia đình quý tộc kiêm sĩ quan quân đội cao cấp von Enke mà mọi chuyện xảy ra.
L'Homme inquiet khởi động chậm chạp như mọi cuộc điều tra mà Kurt Wallander từng tiến hành. Lần này còn chậm hơn nữa, hình như là vì nó liên quan đến những cái tàu ngầm, cái thứ chậm rì, nặng nề và phản tự nhiên nhất mà tôi có thể tưởng tượng ra. Câu chuyện thực sự bắt đầu bằng một vụ mất tích. Truyện trinh thám thật ra không có nhiều lựa chọn: tuyệt đại đa số phải bắt đầu bằng một cái chết, hoặc một vụ mất tích. Truyện ma quái (xem phim Polanski thì biết) thì lúc nào cũng tìm cách thu hẹp không gian đến mức tối thiểu: nhân vật chính chỉ nhìn thấy một vài khuôn mặt, không thoát ra được một không gian cực tiểu (để lợi dụng những ám ảnh của chứng claustrophobia?), thế giới rộng lớn bên ngoài, nắng và những đám đông chỉ là các ảo ảnh xa vời, những đích đến tưởng chừng không bao giờ đạt tới được.
Đọc L'Homme inquiet thật là nhọc nhằn, nhất là mấy chục trang đầu. Cũng có thể lý do là vì tôi ghét bọn tàu ngầm ;p
Ở đoạn đầu, Kurt Wallander mắc phải một vụ rắc rối cá nhân liên quan tới công việc. Mọi thứ xuất phát từ một cơn suy sụp tinh thần vì cô đơn và hoảng loạn khó biết nguyên do. Đây luôn luôn là đề tài yêu thích của Mankell, hơn rất nhiều so với những chi tiết vụ án:
"Tuy nhiên, khi về đến Loderup, sau khi đi dạo một vòng với Jussi, sự bấn loạn nội tâm đã chụp lên ông. Thỉnh thoảng ông thấy mình ngập chìm trong một cảm giác bị bỏ rơi, trong ngôi nhà cô độc giữa cánh đồng của ông. Như một xác tàu đắm, ông đã nghĩ. Mình bị đắm xuống ở đây, vào lớp đất dày. Thường thì cơn bấn loạn chỉ kéo dài một quãng thời gian. Nhưng tối hôm ấy, nó cứ dai dẳng mãi. Ông ngồi ở bàn bếp, giở một tờ báo cũ ra và bắt tay lau chùi khẩu súng. Công việc xong xuôi khi mới tám giờ. Sự thúc giục đó từ đâu đến? Ông hoàn toàn không biết, nhưng ông đã quyết định xong. Ông thay quần áo, lấy xe quay trở lại Ystad. Vào mùa đông, thành phố gần như hoang vắng, nhất là vào các buổi tối trong tuần. Tổng cộng chỉ có hai hay ba quán bar và quán ăn còn mở. Đỗ xe lại, ông bước vào một quán ăn trên quảng trường trung tâm. Rất vắng khách. Ông chọn một cái bàn ở góc, gọi món khai vị và một chai rượu vang. Nhưng trước tiên, ông nốc cạn một cốc rượu khai vị. Rồi cốc thứ hai. Nốc cạn, đó là từ chuẩn - ông rót rượu vào nội tạng của mình, hy vọng dìm đi nỗi lo âu. Khi đồ ăn được mang tới, người phục vụ rót đầy rượu vang vào cốc cho ông, thì ông đã say rồi.
- Chẳng có ai nhỉ, Wallander cất lời bình luận. Họ đi đâu cả rồi?
- Dù có đi đâu thì cũng không phải là tới đây. Chúc ông ngon miệng.
Wallander uể oải ăn những gì để trên đĩa. Ngược lại, ông uống hết chai rượu trong vòng chưa tới nửa giờ đồng hồ. Ông lấy điện thoại di động ra, xem tất cả các số lưu trong bộ nhớ. Ông muốn nói chuyện với ai đó, nhưng ai bây giờ? Rồi ông nhét điện thoại lại vào túi, nghĩ rằng ông không muốn cho người khác biết mình đang say khướt. Chai rượu đã cạn, ông đã có khá đủ liều lượng. Nhưng khi người phục vụ tới nói quán sắp đóng cửa, ông vẫn gọi tiếp một tách cà phê và một ly cognac. Khi đứng dậy, thiếu điều thì ông vấp ngã. Người phục vụ quan sát ông, vẻ mệt mỏi.
- Taxi, Wallander nói.
Người phục vụ đi gọi điện thoại - một máy điện thoại gắn trên tường, bên cạnh quầy bar. Wallander lắc lư tại chỗ. Người phục vụ dập máy, gật đầu về phía ông.
Wallander đứng trên vỉa hè trong cơn gió lạnh. Taxi tới, ông leo lên ghế sau. Khi xe phanh lại trước cửa nhà, ông đã sắp ngủ. Ông vứt quần áo xuống sàn rồi thiếp đi ngay sau khi lên giường nằm."
Mà là một quyển khác: L'Homme inquiet (Den orolige mannen) của Henning Mankell, trên bìa bản tiếng Pháp (của Anna Gibson, như mọi khi - NXB Seuil, tủ sách "Policiers") ghi: "La dernière enquête de Wallander" (Cuộc điều tra cuối cùng của Wallander). "L'Homme inquiet" có nghĩa "Người đàn ông lo âu". Kurt Wallander đã về già, quãng lục tuần, mua được nhà nông thôn để rời căn hộ Mariagatan như đúng sở nguyện từ rất lâu (cái gì ở Kurt Wallander cũng chậm đến khó tin: một chiếc Peugeot mới mà phải mất vài tập liền Wallander mới mua nổi - vấn đề không phải là thiếu tiền, mặc dù thu nhập của Wallander không cao; chắc bạn hiểu tôi muốn nói gì, cái đó thuộc về bản tính rồi). Ở ngôi nhà mới, Wallander cuối cùng đã có một con chó, một labrador tên là Jussi (hic, là tên một ca sĩ giọng tenor Thụy Điển đấy).
Wallander sẽ không còn điều tra các vụ án nữa. Theo dõi suốt các tập của bộ Kurt Wallander, ý định rời bỏ ngành cảnh sát chưa bao giờ rời bỏ ông, nhưng lúc nào Wallander rồi cũng sẽ "quay trở lại làm cớm", chỉ là sự quay trở lại đó nhọc nhằn ở các mức khác nhau ở những lần. Giờ đây khi việc đó thực sự đến, nó cũng giống như là ta sắp chia tay một người bạn lâu năm, như Wallander từng chia tay Sten Widén người nuôi ngựa đua ở một tâp nào đó, hình như là Chậm một bước. Như là "nhìn những mùa thu đi".
Ở cuối Tường lửa, con gái Linda của Wallander thông báo mình quyết định trở thành cảnh sát. Kể từ đó Linda đã kịp học xong, về Ystad làm cùng sở với bố. Đến L'Homme inquiet Linda sinh một đứa con gái, với Hans von Enke. Và cũng chính là liên quan tới gia đình quý tộc kiêm sĩ quan quân đội cao cấp von Enke mà mọi chuyện xảy ra.
L'Homme inquiet khởi động chậm chạp như mọi cuộc điều tra mà Kurt Wallander từng tiến hành. Lần này còn chậm hơn nữa, hình như là vì nó liên quan đến những cái tàu ngầm, cái thứ chậm rì, nặng nề và phản tự nhiên nhất mà tôi có thể tưởng tượng ra. Câu chuyện thực sự bắt đầu bằng một vụ mất tích. Truyện trinh thám thật ra không có nhiều lựa chọn: tuyệt đại đa số phải bắt đầu bằng một cái chết, hoặc một vụ mất tích. Truyện ma quái (xem phim Polanski thì biết) thì lúc nào cũng tìm cách thu hẹp không gian đến mức tối thiểu: nhân vật chính chỉ nhìn thấy một vài khuôn mặt, không thoát ra được một không gian cực tiểu (để lợi dụng những ám ảnh của chứng claustrophobia?), thế giới rộng lớn bên ngoài, nắng và những đám đông chỉ là các ảo ảnh xa vời, những đích đến tưởng chừng không bao giờ đạt tới được.
Đọc L'Homme inquiet thật là nhọc nhằn, nhất là mấy chục trang đầu. Cũng có thể lý do là vì tôi ghét bọn tàu ngầm ;p
Ở đoạn đầu, Kurt Wallander mắc phải một vụ rắc rối cá nhân liên quan tới công việc. Mọi thứ xuất phát từ một cơn suy sụp tinh thần vì cô đơn và hoảng loạn khó biết nguyên do. Đây luôn luôn là đề tài yêu thích của Mankell, hơn rất nhiều so với những chi tiết vụ án:
"Tuy nhiên, khi về đến Loderup, sau khi đi dạo một vòng với Jussi, sự bấn loạn nội tâm đã chụp lên ông. Thỉnh thoảng ông thấy mình ngập chìm trong một cảm giác bị bỏ rơi, trong ngôi nhà cô độc giữa cánh đồng của ông. Như một xác tàu đắm, ông đã nghĩ. Mình bị đắm xuống ở đây, vào lớp đất dày. Thường thì cơn bấn loạn chỉ kéo dài một quãng thời gian. Nhưng tối hôm ấy, nó cứ dai dẳng mãi. Ông ngồi ở bàn bếp, giở một tờ báo cũ ra và bắt tay lau chùi khẩu súng. Công việc xong xuôi khi mới tám giờ. Sự thúc giục đó từ đâu đến? Ông hoàn toàn không biết, nhưng ông đã quyết định xong. Ông thay quần áo, lấy xe quay trở lại Ystad. Vào mùa đông, thành phố gần như hoang vắng, nhất là vào các buổi tối trong tuần. Tổng cộng chỉ có hai hay ba quán bar và quán ăn còn mở. Đỗ xe lại, ông bước vào một quán ăn trên quảng trường trung tâm. Rất vắng khách. Ông chọn một cái bàn ở góc, gọi món khai vị và một chai rượu vang. Nhưng trước tiên, ông nốc cạn một cốc rượu khai vị. Rồi cốc thứ hai. Nốc cạn, đó là từ chuẩn - ông rót rượu vào nội tạng của mình, hy vọng dìm đi nỗi lo âu. Khi đồ ăn được mang tới, người phục vụ rót đầy rượu vang vào cốc cho ông, thì ông đã say rồi.
- Chẳng có ai nhỉ, Wallander cất lời bình luận. Họ đi đâu cả rồi?
- Dù có đi đâu thì cũng không phải là tới đây. Chúc ông ngon miệng.
Wallander uể oải ăn những gì để trên đĩa. Ngược lại, ông uống hết chai rượu trong vòng chưa tới nửa giờ đồng hồ. Ông lấy điện thoại di động ra, xem tất cả các số lưu trong bộ nhớ. Ông muốn nói chuyện với ai đó, nhưng ai bây giờ? Rồi ông nhét điện thoại lại vào túi, nghĩ rằng ông không muốn cho người khác biết mình đang say khướt. Chai rượu đã cạn, ông đã có khá đủ liều lượng. Nhưng khi người phục vụ tới nói quán sắp đóng cửa, ông vẫn gọi tiếp một tách cà phê và một ly cognac. Khi đứng dậy, thiếu điều thì ông vấp ngã. Người phục vụ quan sát ông, vẻ mệt mỏi.
- Taxi, Wallander nói.
Người phục vụ đi gọi điện thoại - một máy điện thoại gắn trên tường, bên cạnh quầy bar. Wallander lắc lư tại chỗ. Người phục vụ dập máy, gật đầu về phía ông.
Wallander đứng trên vỉa hè trong cơn gió lạnh. Taxi tới, ông leo lên ghế sau. Khi xe phanh lại trước cửa nhà, ông đã sắp ngủ. Ông vứt quần áo xuống sàn rồi thiếp đi ngay sau khi lên giường nằm."
Dec 14, 2010
Khởi động cho kế hoạch năm năm lần thứ hai
Trông tôi thế này thôi ;p nhưng hơi bị nhiều kế hoạch các thứ, lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch, hoàn thành kế hoạch, đời viết không biết bao nhiêu là báo cáo rồi :)
Đợt trước mưa rộn ràng thì ngồi nghĩ về đóng góp cộng đồng, kỳ này mưa dầm lê thê mê mải thì nghĩ kế hoạch cuộc đời. Kế hoạch năm năm lần thứ nhất có một đặc điểm chói ngời, là rất chi lộn xộn. Rút kinh nghiệm, lần này tôi làm khác. Thôi làm đơn xin rút khỏi Thanh Niên Cao Vọng Đảng, từ bỏ lãnh tụ Nguyễn An Ninh chuyển sang lãnh tụ mới, tên là Trần Bất An ;d
Kỳ kế hoạch năm năm trước lặp đúng sai lầm của Liên Xô Trung Quốc là quá tập trung vào các ngành công nghiệp nặng đòi hỏi nhiều tài nguyên ;p, lần này khôn ra rồi, khi xưa kế hoạch 100% chỉ đạt được 40%, nay các mục tiêu hạ xuống hết thật là thấp, thế quái nào cũng phải đạt được trên 80%, vớ vẩn còn trên 100%, tha hồ mà báo cáo hehe.
PS. trong quãng thời gian đã qua, tôi bỏ qua cho rất nhiều người về rất nhiều việc, thực sự là bỏ qua, giờ chỉ còn muốn nói với mấy cái bọn dở hơi (định nói là dở hơi mọi rợ nhưng đến giây cuối cùng thì đổi ý, khoảnh khắc bất ngờ hiền) thích nói năng cái kiểu "sẽ còn nhiều điều bất ngờ": ừa, sẽ bất ngờ đấy ;ppp
giờ đi ăn trưa hoành tráng hihi
Đợt trước mưa rộn ràng thì ngồi nghĩ về đóng góp cộng đồng, kỳ này mưa dầm lê thê mê mải thì nghĩ kế hoạch cuộc đời. Kế hoạch năm năm lần thứ nhất có một đặc điểm chói ngời, là rất chi lộn xộn. Rút kinh nghiệm, lần này tôi làm khác. Thôi làm đơn xin rút khỏi Thanh Niên Cao Vọng Đảng, từ bỏ lãnh tụ Nguyễn An Ninh chuyển sang lãnh tụ mới, tên là Trần Bất An ;d
Kỳ kế hoạch năm năm trước lặp đúng sai lầm của Liên Xô Trung Quốc là quá tập trung vào các ngành công nghiệp nặng đòi hỏi nhiều tài nguyên ;p, lần này khôn ra rồi, khi xưa kế hoạch 100% chỉ đạt được 40%, nay các mục tiêu hạ xuống hết thật là thấp, thế quái nào cũng phải đạt được trên 80%, vớ vẩn còn trên 100%, tha hồ mà báo cáo hehe.
PS. trong quãng thời gian đã qua, tôi bỏ qua cho rất nhiều người về rất nhiều việc, thực sự là bỏ qua, giờ chỉ còn muốn nói với mấy cái bọn dở hơi (định nói là dở hơi mọi rợ nhưng đến giây cuối cùng thì đổi ý, khoảnh khắc bất ngờ hiền) thích nói năng cái kiểu "sẽ còn nhiều điều bất ngờ": ừa, sẽ bất ngờ đấy ;ppp
giờ đi ăn trưa hoành tráng hihi
Dec 13, 2010
Sách (XXV) Đây rồi ;p
Rình mãi mới túm được bạn này đây, quả này đừng hòng chạy thoát hehe, trắng trẻo nuột nà đen nháy ở những chỗ cần đen, lại còn có mấy đoạn phơn phớt hồng cực kỳ thanh nhã, kiều mỵ thướt tha và vô cùng nóng bỏng:
Tư liệu các công ty Đông Ấn Hà Lan và Anh về Kẻ Chợ - Đàng Ngoài thế kỷ XVII
Hoàng Anh Tuấn (biên soạn)
Nhà xuất bản Hà Nội
Cái "Tủ sách Thăng Long 1000 năm" mãi rồi cũng phải ra được vài nhát có giá trị :) Đây là thành tựu bước đầu của việc khai thác kho 9.000 trang tài liệu lưu trữ của Công ty Đông Ấn Hà Lan và Đông Ấn Anh. Phần rất quan trọng là nhật ký của các thương điếm Anh tại Phố Hiến và Kẻ Chợ, bên cạnh phần chính là tài liệu của các thương điếm Hà Lan tại Kẻ Chợ. Kiểu tài liệu này sẽ làm cho cái nhìn lịch sử khác đi đáng kể, không bị đóng khung vào cái nhìn truyền thống kiểu vòng 1 vòng 2 vòng 3 nữa, mà đã có thể chi tiết hơn hẳn về vụ những nốt ruồi nằm ở đâu có tính chất thế nào, mấp mô dài ngắn cụ thể ra sao và ra sao.
Tha hồ mà ấy nhá ;p
+ người thoát tục như tôi mà vẫn cầm lòng không đậu; mà vụ thoát tục cũng dễ bị nhầm lắm í, sáng nay ra đến sân, đồng nghiệp vừa nhìn thấy mặt đã hỏi ngay, sao trông buồn ngủ thế, thế mới đau :)
Tư liệu các công ty Đông Ấn Hà Lan và Anh về Kẻ Chợ - Đàng Ngoài thế kỷ XVII
Hoàng Anh Tuấn (biên soạn)
Nhà xuất bản Hà Nội
Cái "Tủ sách Thăng Long 1000 năm" mãi rồi cũng phải ra được vài nhát có giá trị :) Đây là thành tựu bước đầu của việc khai thác kho 9.000 trang tài liệu lưu trữ của Công ty Đông Ấn Hà Lan và Đông Ấn Anh. Phần rất quan trọng là nhật ký của các thương điếm Anh tại Phố Hiến và Kẻ Chợ, bên cạnh phần chính là tài liệu của các thương điếm Hà Lan tại Kẻ Chợ. Kiểu tài liệu này sẽ làm cho cái nhìn lịch sử khác đi đáng kể, không bị đóng khung vào cái nhìn truyền thống kiểu vòng 1 vòng 2 vòng 3 nữa, mà đã có thể chi tiết hơn hẳn về vụ những nốt ruồi nằm ở đâu có tính chất thế nào, mấp mô dài ngắn cụ thể ra sao và ra sao.
Tha hồ mà ấy nhá ;p
+ người thoát tục như tôi mà vẫn cầm lòng không đậu; mà vụ thoát tục cũng dễ bị nhầm lắm í, sáng nay ra đến sân, đồng nghiệp vừa nhìn thấy mặt đã hỏi ngay, sao trông buồn ngủ thế, thế mới đau :)
Dec 9, 2010
Marijuana il est bien (Manu Chao - Clandestino)
Một người như Michel Houellebecq có thể có vai trò như thế nào trong lịch sử văn chương Pháp? Một kẻ tầm phào, vớ vẩn, thời thượng, kích động, ưa khiêu khích (và khiêu dâm :d), thỉnh thoảng viết một câu buồn cười (thậm chí rất buồn cười), văn phong phẳng dẹt và đến cuối cùng lúc nào cũng u ám, có lúc còn nổ bùm một cái chết luôn (Plateforme), quanh quẩn những đề tài siêu thị du lịch lập trình thiếu tình yêu thế giới động vật etc. Thế nhưng đó là một cái nhìn đơn giản quá mức.
Tôi không hâm mộ văn học Pháp lắm đâu, các bác đừng tưởng bở í lộn tưởng nhầm :d Người ta hâm mộ, hình như thế, những gì ít biết. Ví dụ như tôi hâm mộ Cyrus Miles Hannah Montana Miles To Go mặc dù biết cả đời sẽ không nghe một bài hát nào của con bé ấy :) nhưng đó là nền văn chương (duy nhất, chắc vậy) có một khả năng kinh hoàng về tự gây trắc trở cho mình, cũng như năng lực luôn luôn controversial một cách thành thực.
Tại làm sao văn chương Pháp có nhiều gương mặt nhân văn sáng chói đến thế, trong suốt lịch sử? Voltaire, vầng, Hugo, vâng, Camus, dạ? Câu trả lời của tôi sẽ làm khối bác nhăn tít mặt suốt một tuần hehe: vì có những người như Michel Houellebecq đấy.
Mọi thứ chỉ nổi bật, sáng chói nếu có một cái nền đen tuyền, đen tuyệt, đen tuyệt vọng. Cách mạng à? thì đã có Joseph de Maistre phản cách mạng. Tiến bộ tri thức à? thì đã có Julien Benda phản tiến bộ. Alain Finkielkraut mà tôi mới nói tới trong mục Brand New Ones đó, cũng vậy luôn - người ta đã bắt đầu gọi Finkielkraut là một mécontemporain, giống như trước đây Finkielkraut từng gọi Charles Péguy là một mécontemporain, còn mécontemporain là gì thì các bác tự tìm hiểu nhá :) thóc đâu mà đãi gà rừng hihi.
Và Michel Houellebecq chính là Céline của thời hiện tại. Trong bài trả lời phỏng vấn vừa xong với Magazine Littéraire, Houellebecq đã khẳng định điều tôi nghĩ từ lâu (chắc trước đây Houellebecq cũng đã nói rồi, hoặc có người đã nói rồi, nhưng tôi chưa thấy), về sự kết nối tinh thần với Baudelaire. Baudelaire, Céline, rồi Houellebecq, các nhà văn s’en foutrent, đó là những cái nền đen tuyền để nổi bật lên Hugo, Camus, và Le Clézio (;p) (nhân tiện: trong một bài phỏng vấn khác, khi được hỏi về Le Clézio, Houellebecq đã rất táo tợn thẳng thừng: đọc chán chết, chưa bao giờ đọc hết nổi quyển nào của tay ấy cả).
Vấn đề này, một lần nữa, lại quay về cuốn sách lớn của Antoine Compagnon mang tên Les Antimodernes, khảo về một dòng âm tính của nước Pháp từ Joseph de Maistre cho tới… à… Roland Barthes :d Quyền năng âm bản hành hạ chúng ta, nhưng biết đi đâu để tránh? Chạy trời không khỏi nắng hic.
NB1. Đợt tới tôi định phân tích quá trình xâm nhập của văn chương Nga vào nước Pháp hồi cuối thế kỷ XIX: tại làm sao văn chương Pháp lại tiêu hóa nổi những Gogol, Tourguenev, Dostoievski và Tolstoi, những người thuộc một nền văn hóa mới trước đó không lâu còn là barbarian trong mắt “những người Pháp thoát thai từ La Mã vinh quang”?
NB2. Có một câu nói ác, bảo Camus là triết gia của học sinh cấp ba, và Cioran bảo văn chương Camus là thứ văn chương tỉnh lẻ :p (đồng thời Sartre chẳng có gì đáng quan tâm cả). Cioran cũng là một cục đen hiểm ác, cực hiểm ác.
Subscribe to:
Posts (Atom)