Jan 12, 2011

How to get high baby?

Người chiến thắng luôn luôn là như thế

Dù cho người ta có thực hiện một cuộc siêu giải phẫu thẩm mỹ cho ông tôi, làm cho mặt ông trở nên nhẵn lì mềm mại như cặp mông nhỏ xíu của Ngốc, thì tôi vẫn cứ nhận ra ông giữa đám đông một nghìn người dân của Hành tinh này, ấy là bởi ngay cả khi muốn trốn bằng mọi giá, ông vẫn không thể qua được một bài sát hạch then chốt lúc nào cũng làm ông bị lộ ở giây phút cuối cùng, cái bài sát hạch còn đáng tin hơn cả một vết sẹo bí mật (mà thật ra là ông có):

Bạn bật một cái băng cát xét chơi điệu twist, bạn đứng trước đám người rồi cứ thế mà hồi hộp chờ đợi kết quả thôi. Sẽ luôn luôn có một người vừa nhảy nhót vừa tách ra khỏi đoàn người, nụ cười tươi tắn trên môi và hai tay để ở tư thế đúng như là đang ôm một cô gái vô hình và vô cùng bốc lửa. Cái người ấy sẽ là, không thể sai lệch được, Nicolás Moreno: ông tôi. Ông biết điều ấy, ông còn công khai thừa nhận nữa:

- Cứ nghe thấy một điệu twist là chân ông đã bắt đầu tự nhảy nhót rồi.

Nơi nào có một dàn nhạc, thì bạn cứ yên tâm là chắc chắn có ông tôi. Vài buổi sáng Chủ nhật, ông lén lút cùng Ngốc đi xuống phố. Ông không nói là đi đâu. Mẹ tôi, chắc mẹ là một người bà con xa của James Bond, nói:

- Ông con đang đi đến chỗ mấy tay có con dê đấy.

Mấy tay có con dê, đó là mấy người hay mang một con dê cùng một cái đàn ác-coóc-đê-ông đến chơi các bản twist ở Công viên Cây Treo cổ vào các ngày lễ. Mẹ tôi và tôi ra chỗ cửa sổ, chúng tôi thấy ngay ông đang nhảy, trên tay bế Ngốc. Mẹ nói:

- Không, sao lại thế được cơ chứ!

Thế là bố tôi đáp lời ngay:

- Để bố thoải mái tự nhiên đi, cứ để bố nhảy múa như là bố thích đi.


Một lần, mẹ tôi, một người rất bạo dạn, nhoài hẳn người ra cửa sổ đến mức hai chân nhấc lên khỏi mặt đất, gào thật to:

- Bố ơi, lạy Chúa, bố không biết ngượng à?

- Có con không biết ngượng ấy, Catalina ạ, hàng xóm ai cũng nghe thấy con hét.

- Hàng xóm nghe thấy thì có làm sao: Bốốốốốốốố!

Nhưng ông tôi say sưa với món nhạc twist đến mức không nghe mẹ nữa. Chỉ có Ngốc còn để ý là chúng tôi đang nhìn hai người từ trên nhà, thành thử mỗi vòng nó lại giơ cái ti giả lên vẫy chào chúng tôi. Mẹ tôi hét tiếp, nhưng chẳng ích gì. Tôi thấy rất rõ mỗi lần mẹ dồn sức để hét thì hai chân mẹ lại nhấc lên cao hơn khỏi mặt đất, nhưng vì mẹ không thích bị xen ngang mỗi khi đang mải hành động, nên tôi không nói gì để tránh hậu họa. Thế rồi, thiếu chút nữa tôi đã mất đi một người mẹ. Đột nhiên, mẹ bật ra một tiếng hét kinh hoàng; bố tôi vội nhảy dựng dậy khỏi ghế sofa như một người điên, chạy tới túm lấy hai cổ chân mẹ. Mẹ tôi ngồi phịch xuống đất, mẹ òa khóc vì sợ quá.

- Catalina, em mà còn làm như thế nữa là sẽ có ngày em rơi khỏi cửa sổ, rồi thì anh sẽ chết vì lên cơn nhồi máu đấy.

Viễn cảnh khiếp thật; mất cả bố cả mẹ cùng một lúc, ngay trước mũi. Sau đó bố mẹ lại còn bảo được rằng nếu tôi có mơ thấy ác mộng hay lên cơn chập mạch thì đó là vì tôi xem ti vi quá nhiều. Ở nhà tôi, thực tế vượt quá mọi chương trình tin tức đẫm máu nhất.

Chắc bạn cứ tưởng rằng sau sự cố kinh khủng ấy, mẹ tôi đã bình tĩnh lại để mà thôi đứng ở cửa sổ hét gọi ông tôi. Bạn nhầm đấy. Mẹ vẫn tiếp tục hét, nhưng giờ đây mẹ cẩn thận lắm. Mẹ nói với bố:

- Manolo, giữ hộ váy cho em để em hét.

Thế là bố tôi và tôi túm lấy váy mẹ để mẹ hét.

- Con còn muốn gì nữa nào, hả Manolito, bố thà bị lố bịch như thế này còn hơn là để mẹ con tự giết mình.

Cả tôi cũng thà như vậy còn hơn, nói thật lòng.

Bố tôi ủng hộ việc để cho người khác tự do mà sống, còn mẹ tôi ủng hộ việc không để cho ai sống hết. Nhất là giờ đây mẹ ngượng vì người ta bắt đầu đặt biệt danh cho ông tôi là “Travolta của khu Carabanchel”. Mẹ không muốn là con gái của Travolta. Tôi thì ngược lại, tôi vô cùng tự hào. Quá hay luôn. Bạn cũng thấy rồi đấy, trong nhà García Moreno lúc nào sự bất hòa cũng ngự trị.

Tôi đã chuẩn bị trước tinh thần cho bạn rồi nhé, bạn khỏi phải quá ngạc nhiên khi biết rằng vào ngày lễ thánh Pedro, ngày trọng đại của khu Carabanchel, ông tôi, tôi và Ngốc, chúng tôi xuống ngồi ở Công viên Cây Treo cổ, hai tiếng trước khi các nhạc công của Dàn nhạc Lớn Thiên Đường tới nơi, và toàn bộ việc ấy là bởi ông Nicolás của tôi rất thích xem người ta dựng sân khấu. Và đặc biệt ông thích thấy cô ca sĩ trèo lên xe tải để thay quần áo rồi sau đó đi ra, khác hoàn toàn, trong một bộ váy sáng lóng lánh theo tiếng nhạc.

Mẹ tôi đã bảo ông phải đưa chúng tôi về nhà vào lúc mười một giờ.

- Con nói mười một giờ rồi đấy nhé!

- Nhưng vậy là con không tin tưởng vào bố của con phải không, hả Catalina?

- Không!

Mẹ tôi là thế đấy: sự thật được ưu tiên trước hết, ngay cả khi là sự thật đau đớn.

Dù thế nào đi nữa, không thể có chuyện bất kỳ ai làm hỏng đi ngày hội của chúng tôi. Dẫu sao thì ngày hội tuyệt đỉnh thánh Pedro chỉ diễn ra một lần mỗi năm. Bác chủ quán Tropezón đã dựng một quầy bar ngoài trời. Chúng tôi là những người đầu tiên tiến tới chỗ quầy. Ông tôi nói:

- Hai thằng bé này và tôi, lấy đồ như thường lệ.

Hai thằng bé này chính là tôi và Ngốc, bởi tôi cần phải giải thích mọi thứ. Đó chính là những cốc Coca-Cola đầu tiên và ly rượu vang đỏ đầu tiên của buổi tối.

Cho tới khi Dàn nhạc Thiên Đường bắt đầu chơi, ông tôi đã mua cho chúng tôi ít nhất là hai cốc Coca nữa. Tôi không thích uống một mình. Thế là Ngốc và tôi, chúng tôi đã tập trung vào trong bụng mình nhiều ga đến mức chúng tôi chơi được tới năm ván trong cuộc thi đánh rắm lừng danh của mình. Tôi công nhận, ngay cả khi điều này làm tôi bực bội, rằng trong môn nghệ thuật này Ngốc là số một. Tôi sẽ còn nhớ mãi một lời khuyên của ông tôi:

- Trong đời, cần phải biết thua. Về vụ này thì chúng ta, người nhà García Moreno, chúng ta là các chuyên gia.

Những người đầu tiên của cả khu Carabanchel bắt đầu nhảy múa là ông tôi, tôi và Ngốc. Tôi làm việc này một phần cũng là vì cô ca sĩ: thật buồn khi chẳng ai chịu nhảy khi cô hát cả. Thật may mắn, ở bài hát thứ ba, mọi người cũng bắt đầu nhúc nhích; tôi đã có thể quay trở lại quầy bar Tropezón để tiếp tục uống Coca-Cola với Tai To, cái thằng này thì lúc nào cũng dính chặt lấy quầy bar. Thỉnh thoảng ông tôi và Ngốc rời khỏi chỗ nhảy để rồi quay lại đó ngay, như thường lệ. Tôi cũng không biết là bao nhiêu chuyến đi-về nữa. Theo một số phiên bản thì là mười, theo một số phiên bản khác thì là mười hai… Và chuyện cứ thế, mặc cho lệnh cấm ngặt nghèo của mẹ cùng đội ngũ bác sĩ nhi của mẹ, cấm Ngốc uống Coca-Cola, bởi uống vào rồi nó sẽ như bị điện giật, rồi thì chúng tôi sẽ phải lấy dây trói nó vào thanh chắn của cái nôi để nó chịu nằm im mà ngủ.

Nghe này, điều tôi vừa nói với bạn, rằng chúng tôi trói Ngốc vào các thanh chắn, không phải là thật đâu đấy. Chỉ thiếu mỗi một điều là bạn tin như thế để rồi đi tố cáo ở chỗ sở cảnh sát gần nhất nữa thôi.

Có thể nói rằng ông tôi và Ngốc là những ông vua của bữa tiệc. Tai To và tôi thì ở chỗ quầy bar mà nhìn hai người nhảy: một bài hát của The Beatles, một điệu salsa, một điệu twist. Đôi khi Ngốc nhảy phắt lên, những lúc khác nó lại đòi được bế, thế là mọi người truyền nó qua tay nhau hoặc tung bổng nó lên không trung. Nó thích thế lắm: được làm ngôi sao. Nhưng vẫn còn chưa sinh ra ở trên đời cái người có khả năng đứng được đến mắt cá chân Travolta của khu Carabanchel những lúc ông ở đỉnh cao phong độ, và vào buổi tối ấy Travolta có phong độ kinh khiếp lắm.

Chuyện xảy ra sau đó, người ta vẫn còn nhớ mãi trong mọi quán bar và trên mọi đường phố của Carabanchel. Cô ca sĩ bắt đầu hát La Chica yeyé. Ông tôi, sau khi viếng thăm quầy bar trong chốc lát để rót cho đầy kho trữ đồ uống của ông, như lời chính ông nói, dần tiến lại gần chỗ mọi người đang nhảy. Người ta rẽ ra cho ông tiến lên, không một ai cả gan đối đầu với con người phàm tục nhưng được các vị thần truyền cảm hứng này. Họ tạo thành một vòng tròn xung quanh ông và bắt đầu vỗ tay. Ông tôi ném cái mũ bê-rê lên trời và oằn mình trông hệt như một nghệ sĩ uốn dẻo người Trung Quốc mà người ta có thể nhìn thấy trên ti vi.

Tai To bảo tôi:

- Ông cậu mà biểu diễn trong một bài hát của Michael Jackson thì chắc là sẽ tuyệt lắm.

Đúng rồi; nhưng làm sao để nói được điều này với Michael Jackson đây? Tôi không có địa chỉ lẫn số điện thoại của anh, còn anh thì lại không có thói quen đến Carabanchel.

Ta hãy quay trở lại với chuyện nhảy nhót. Tai To và tôi, chúng tôi đứng trên một cái ghế đẩu, nhưng dù cho có làm như vậy thì tôi vẫn chỉ nhìn thấy thấp thoáng ông tôi, vì nhiều người vây quanh ông quá. Không thể nghi ngờ gì nữa: đó là một khoảnh khắc vĩ đại trong cuộc đời ông Nicolás Moreno, ông tôi. Nhưng lúc nào cũng phải có ai đó tới phá hỏng những giây phút hạnh phúc trong cuộc đời chúng tôi. Đột nhiên tôi nhìn thấy một người phụ nữ, người không xa lạ gì với tôi hết, dùng những cú huých cùi chỏ rẽ một lối đi giữa đám đông đang vây quanh ngôi sao. Người phụ nữ này không xa lạ gì với tôi bởi đó là… mẹ tôi! Mẹ không túm lấy tai ông mà vặn, nhưng cũng gần như thế. Bác Luisa và mẹ mỗi người giữ một cánh tay của ông, như áp giải một tù nhân, còn hai người ấy là cảnh binh. Ông tôi chống trả:

- Xin con đấy, Catalina, con gái yêu, bố xin con đấy: bố chưa bao giờ rời khỏi một bữa tiệc mà chưa nhảy bài La Española cuando besa


Mọi người ai ai cũng biết rằng không có ông bữa tiệc sẽ không còn giống như trước nữa. Tai To, tôi và Ngốc đi theo cặp nữ cảnh binh với tư cách nhân chứng. Ông tôi ngoái đầu lại thì thầm vào tai tôi:

- Manolito, chàng trai của ông, cháu cố tìm cho ông bộ răng giả nhé, chắc là nó đã rơi trong khi ông nhảy, cháu biết rõ là ông không muốn chết mà thiếu nó rồi đấy.

Trông ông thật là nhợt nhạt, ông làm tôi lo lắm. Mẹ tôi giận đến nỗi còn không nhận ra là tôi vẫn ở lại trong công viên.

Tôi chui vào giữa đám đông để tìm bộ răng giả, nhưng người ta cứ không ngừng giẫm lên người tôi. Tôi nói chuyện ấy với bác Ezequiel, chủ quán Tropezón, bác là người có nhiều uy quyền nhất mà tôi biết. Bác nắm lấy tay tôi, rồi chúng tôi cùng trèo lên bục sân khấu của các nhạc công. Nhạc ngừng lại và bác Ezequiel nói:

- Các bạn hàng xóm thân mến: trong các bữa tiệc của khu phố chúng ta đã có nhiều nhẫn, hoa tai, kính áp tròng bị mất… nhưng lần đầu tiên trong lịch sử của chúng ta có người bị mất một bộ rằng giả. Tôi đề nghị các bạn tìm ở dưới đất nụ cười của Travolta khu Carabanchel.

Tôi sẽ không bao giờ quên cảnh tượng mà tôi nhìn thấy từ trên sân khấu: mọi người cúi xuống tìm kiếm nụ cười của ông tôi.

Đột nhiên, Tai To hét lên:

- Cháu tìm thấy rồi, cháu tìm thấy rồi!

Mọi người vỗ tay hoan hô rần rần. Tôi không thích lắm. Thật không dễ dàng gì cái việc ăn mừng chiến thắng của người bạn thân nhất của mình.

Tai To đưa bộ răng giả và bác Ezequiel nói thêm:

- Với tư cách là tổ trưởng tổ dân phố, tôi nghĩ sẽ là đúng đắn nếu hàng xóm của chúng ta, ngài Nicolás Moreno, được nhận một huy chương marathon vì tất cả những gì ông ấy đã làm trong buổi tối hôm nay và vì tất cả những gì đang chờ đợi ông ấy ở nhà.

Tôi đi về trước tòa nhà của chúng tôi với bộ răng giả và tấm huy chương trong túi. Tôi gọi vào điện thoại nội bộ, mẹ tôi đáp:

- Con làm gì ở đó thế, con chưa đi ngủ à?

Thật khó tin. Họ chẳng nhớ gì đến tôi hết cả. Có những khoảnh khắc trong đời bạn không biết nên cười hay nên khóc nữa.

Ông tôi chưa chết, ông chỉ cần không khí để thở. Tôi tin là ông bất tử.

Sau khi cho ông uống hai tách cà phê và mấy viên thuốc, bố mẹ tôi đi ngủ, còn tôi rút bộ răng giả ra khỏi túi, tôi thổi thổi một chút để bớt đất bám vào rồi bỏ nó vào cốc đựng dung dịch rửa răng giả. Sau đó tôi nâng đầu ông lên, đeo cho ông tấm huy chương, rồi tôi chui vào giường nằm bên cạnh ông.

- Mọi người đều vỗ tay hoan hô ông, ông ạ, mẹ sẽ phải im lặng khi nhìn thấy ông đã giành được huy chương. Bằng đồng thật đấy.

- Chiến thắng bao giờ cũng là như vậy, Manol…

Đầu ông rơi bịch sang bên cạnh, chui sâu vào giữa hai vai. Một người nào đó khác hẳn sẽ nghĩ là ông đã chết; nhưng tôi thì tôi biết rõ hơn bất kỳ ai mọi tiếng động và cử chỉ của ông tôi, chiều nào tôi cũng nhìn thấy ông kéo cưa trước tivi, tôi biết là ông đã ngủ.

Brand New Ones: Mathias Enard

Những người bất tử đầy thù hận


Làm nhà văn ở Pháp không dễ. Nhất là nhà văn trẻ lớn lên trong sự thống trị của Tiểu thuyết mới và trong bầu không khí xã hội tiêu dùng cùng ảnh hưởng rõ rệt của “lối sống Mỹ”. Thế nhưng một thế hệ mới của những người sinh trong những năm 1960 và 1970 đang đưa văn chương Pháp khỏi cái vòng nhỏ hẹp hay được gọi là “quẩn quanh lỗ rốn” của những tự thuật tràn ngập bản thân, dù là cái bản thân bị yêu thái quá hay được hưởng sự phân tích đầy căm ghét cũng thái quá.

Năm nay, Claro (sinh năm 1962) xuất bản cuốn tiểu thuyết CosmoZ được tờ Le Matricule des anges đánh giá là “một trong những cuốn sách gây choáng váng nhất trong những năm gần đây, sản phẩm của cả một cuộc đời cống hiến cho văn chương”. Claro đã viết rất nhiều sách, dịch còn nhiều hơn. Người ta chưa thể quên Những kẻ thiện tâm của Jonathan Littell (sinh năm 1967) in năm 2006 đã lôi cả thế giới vào một cuộc tranh luận lớn về lịch sử Đức Quốc xã. Một nhân vật trẻ tuổi hơn Claro và Littell cũng đã góp phần to lớn đưa văn chương Pháp trở lại quỹ đạo của những tác phẩm tầm vóc là Mathias Enard (sinh năm 1972).

2008 là năm xuất hiện cuốn tiểu thuyết kỳ lạ của Enard được giới phê bình Pháp đón chào nồng nhiệt: Zone, chỉ gồm một câu văn duy nhất dài hơn 500 trang, với đề tài chiến tranh (giải thưởng Tháng Chạp 2008 và giải thưởng Inter 2009). Những kẻ thiện tâmZone thể hiện tham vọng rất lớn của các nhà văn trẻ có một tiểu sử khá gần nhau như Littell và Enard: Littell từng có chín năm đi các điểm nóng trên thế giới trong các chương trình nhân đạo, còn Enard là chuyên gia tiếng Arập, nhiều năm sống ở Trung Đông. Tiểu thuyết của Littell thì học theo cấu trúc âm nhạc của Bach, còn tác phẩm của Enard lại là các “khúc ca” mô phỏng Iliade của Homère.

Giống như Jonathan Littell, Mathias Enard hiện sống ở Barcelona. Sau trường giang tiểu thuyết Những kẻ thiện tâm, Littell trình làng toàn tác phẩm rất ngắn, trong đó có Le Sec et l’Humide (Khô và ẩm) về nhân vật Léon Degrelle từng xuất hiện trong Những kẻ thiện tâm, En pièces (Thành nhiều mảnh) và sắp cho in một cuốn tiểu luận về tác phẩm hội họa của Francis Bacon. Gần như đi theo bước Littell, tác phẩm mới nhất của Enard cũng ngắn hơn hẳn tiểu thuyết đầu tay: Parle-leur de batailles, de rois et d’éléphants (Hãy nói cho họ về những trận đánh, các ông vua và lũ voi, Actes Sud, 2010) chỉ dày quãng 150 trang khổ nhỏ. Sau khi có những câu và đoạn rất dài trong Những kẻ thiện tâm, câu văn của Littell ngắn hẳn lại, còn ở trường hợp Enard, đã bỏ lại sau lưng “câu văn bất hủ” dài 500 trang, Hãy nói… chủ yếu gồm những câu văn ngắn và thường xuyên giản dị hết mức (mặc dù nhan đề đặc biệt dài). Có vẻ như đã thoải mái hơn hẳn sau khi cho ra đời được những biệt lệ về hình thức, sau những cơn sáng tạo có phần cuồng loạn và vô cùng tập trung, các nhà văn trẻ mặc sức thử nghiệm những gì mới mẻ với chính họ, trong khi chuẩn bị cho những cuộc sáng tạo lớn mới.

Hãy nói… cũng có một đề tài không ít tham vọng: lịch sử thời Phục hưng nhìn từ một góc độ khác, qua một con người cụ thể. Nhưng con người ấy không phải là bất kỳ ai, bởi đó chính là Michelangelo thiên tài ở thời điểm vừa ngoài ba mươi tuổi (và đã có bức tượng David lừng danh), bất bình với sự keo kiệt của Giáo hoàng Jules II. Vừa đúng thời điểm nhận được lời mời của vị sultan Thổ Nhĩ Kỳ Bajazet II, Michelangelo quyết định bỏ sang phương Đông. Sultan muốn mời Michelangelo sang để vẽ và tổ chức xây dựng một cây cầu; trước đó vị chúa này đã từ chối các bản vẽ của Leonardo da Vinci. Ở Constantinople (tháng Năm 1506), Michelangelo chỉ lo vẽ ngựa và vẽ voi, cũng như ngập ngừng tham gia cuộc sống nơi đây, những thú vui xác thịt cũng như phong cảnh lạ lùng.

Hãy nói… là một điều bất ngờ trong mùa tiểu thuyết năm vừa rồi tại Pháp. Nó đã nhận được giải Goncourt hạng mục do học sinh trung học bầu chọn. Cuốn tiểu thuyết được khen ngợi vì một câu chuyện lịch sử nuột nà, hấp dẫn và cái nhìn tinh tế. Nó cũng không ngần ngại đưa ra một phiên bản tâm hồn không mấy tốt đẹp về những con người bất tử: Michelangelo không chỉ chất chứa thù hận vì cách đối xử của Jules II mà còn nuôi dưỡng cái nhìn không đẹp đẽ về những người bất tử khác cùng thời, với Michelangelo của Mathias Enard, da Vinci là một lão già không hiểu giá trị của điêu khắc, “Bramante tay kiến trúc sư chỉ là một thằng đần và Raphaël tay họa sĩ là một kẻ cao ngạo”. Những góc khuất của nội tâm này, chỉ văn chương mới đủ khả năng soi rọi được.

Jan 11, 2011

Sách (XXV) Đã có hoa

Hà Nội đang lạnh kiểu như thế này này: có hai người đi bộ gặp nhau ngoài đường, một người hỏi: "Dạo này khỏe không bác?" Người kia lúi húi tháo găng tay len mua ở chợ Đông Kinh thọc vào túi áo ba đờ xuy một lúc rồi mới nói: "Bác nói gì? Rét quá tôi tháo tai cất vào túi, nếu cứ để đó thế nào cũng rụng vì lạnh". Sợ chưa? Có thơm quắt tai (bún chả) thì cũng có lạnh rụng tai.

Hôm qua bad mood cho đến lúc cà phê về đến phòng, thấy ngay trên bàn làm việc đã để sẵn cái này:


Đùa chứ chỉ mất công than phiền một câu trên blog mà đã được ngay quả này, đúng là mình ở hiền gặp lành nhiều người thương miến (câu này là irony đấy) :p Sau rồi mình cũng biết thủ phạm í lộn hung thủ í vẫn lộn tác giả hành động thiện tâm này là ai, thank you nhá. Thế là đỡ bad mood hẳn, từ quả irony của Lennon đã chuyển sang cái khác liền: "Nhưng thôi em ơi đấy chỉ là lời ru trong giấc ngủ/Anh thương em đây anh lại êm đềm/Làm con ong vàng đến ngủ giữa tóc em/Con ong xanh có đôi mắt đen/Con ong trắng là con ong thương nhớ/Con ong đỏ chính niềm tin ấp ủ/Còn hạnh phúc cuối cùng là tiếng hát chú ong nâu".

Chi tiết duy nhất hơi ấy ấy là quyển Mrs Dalloway tôi bị mất là bản tiếng Pháp, nay quá lãi, thu ngay được bản tiếng Anh há há, ở trong tủ sách "Film Classics" tức là những quyển tiểu thuyết được chuyển thể thành phim (nhân tiện, ở đây đã có bác nào xem hết cả The Hour lẫn hai phim Mrs Dalloway chưa nhể?), trong tủ sách này cũng có A Clockwork Orange của Anthony Burgess.

Hôm qua lại thêm một ngày được mùa sách vở, tối đến vợt ngay thêm được Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam (1857-1914), thuộc loại sách không hiếm lắm nhưng chẳng hiểu sao bao nhiêu lần tôi nhìn thấy đều vợt trượt hết cả. Rồi lại có một bạn gọi điện, thế là nhiều khả năng lại có thêm một Ba Tê nữa :)

Còn sách mới hẳn vừa thổi vừa xoa (mùa đông rất cần mấy cái này, cũng như cần ngoài phố mùa đông đôi m. em là đốm lửa hồng hehe): Lịch sử tôn giáo Nhật Bản, Sueki Fumihiko, Phạm Thu Giang dịch, Phạm Hồng Thái hiệu đính, Alphabooks & NXB Thế giới.

Một đoạn Todorov viết về trinh thám nhá:

"Kiệt tác văn chương thường lệ, theo một nghĩa nào đó, không nằm trong bất kỳ thể loại nào nếu không phải là thể loại của chính nó; nhưng kiệt tác của văn học quần chúng lại chính là cuốn sách phù hợp nhất với thể loại mình. Tiểu thuyết trinh thám có những chuẩn mực của nó; làm "tốt hơn" những gì mà các chuẩn mực ấy đòi hỏi, là đồng thời làm "kém đi": người nào muốn làm cho tiểu thuyết trinh thám "hay hơn", là người đó đang làm "văn chương", chứ không phải tiểu thuyết trinh thám. Tiểu thuyết trinh thám tuyệt nhất không phải là cuốn tiểu thuyết vi phạm các quy tắc của thể loại, mà là cuốn tiểu thuyết tuân theo những quy tắc này"

("Loại hình của tiểu thuyết trinh thám" trong Thi pháp văn xuôi, Đặng Anh Đào và Lê Hồng Sâm dịch, NXB Đại học Sư phạm, 2004)

Ý Todorov là đánh giá văn học thông thường và văn học bình dân phải khác nhau: kiệt tác văn học nói chung vừa vi phạm thể loại của nó vừa lập ra một thể loại mới, trong khi trinh thám muốn là kiệt tác thì điều tiên quyết là không được phép vi phạm thể loại.

Jan 10, 2011

Everything is clear in my heart



Raymond Chandler nối tiếp Dashiell Hammett (nhất là The Maltese Falcon) trong dòng trinh thám hard-boiled, dòng trinh thám đi lệch khỏi trinh thám truyền thống (Poe và Doyle) có một vụ giết người cho trước và nhiệm vụ của thám tử (Holmes) là tìm ra kẻ giết người đó. Trinh thám của Hammett, Chandler và rất nhiều người sau này (tuy có nhiều biến thể nhưng trinh thám của Mankell cũng thuộc dạng này) không coi việc tìm ra thủ phạm là một cái đích, mà chỉ là một cái cớ.

Trinh thám truyền thống theo Calwelti kiểu gì cũng phải có 1) giới thiệu thám tử 2) tội ác và các manh mối 3) điều tra 4) thông báo và giải pháp 5) giải thích và giải pháp 6) gỡ nút. Không truyện trinh thám nào thiếu được các yếu tố cơ bản này, dù cho có cực ngắn hay dài đến như Thung lũng khủng khiếp.

Quyển Farewell My Lovely này vừa tìm được ở Nhà sách Nguyễn Huệ :p

John Lennon trông thế thôi mà cũng có khi mỉa mai ra phết: "Oh my love for the first time in my life/My eyes are wide open/Oh my lover for the first time in my life/My eyes can see/I see the wind/Oh I see the trees/Everything is clear in my heart/I see the clouds/Oh I see the sky/Everything is clear in our world/Oh my love for the first time in my life/My mind is wide open/Oh my lover for the first time in my life/My mind can feel/I feel the sorrow/Oh I feel dreams/Everything is clear in my heart/Everything is clear in our world/I feel the life/Oh I feel love".

Oh My Love

Jan 9, 2011

Một góc văn học sử

Đây là bông hoa :)


Không có giáo sư linh mục Thanh Lãng thì chắc giờ nhiều vấn đề văn học sử vẫn chưa biết phải làm như thế nào.

Đây cũng lại là hoa, Phạm Thế Ngũ, một ông thầy giáo khác:



Hai vị này thì rất độc đáo, chính là người bị Thanh Lãng tố giác cọp pi ăn trộm tài liệu trong Phê bình văn học thế hệ 1932. Bộ Thi nhân Việt Nam thế hệ 1954-1973 này có nhiều bài thơ chán đến kinh hoàng ;d

Và một vài quyển lẻ nữa. Tất tật mới chỉ là một góc cực nhỏ mà ngành văn học sử từng sản xuất ra:

Jan 8, 2011

Lo-Lee-Ta

Hồi ký của Nabokov, bản tiếng Pháp (Yvonne Davet, Mirèse Akar và Maurice Couturier) và nguyên bản tiếng Anh:


Quyển Autres rivages (Những bến bờ khác) vẫn ghi rõ ngày mua: 10 tháng Chín 2002, tại boulevard de l'Hôpital, còn Speak, Memory (Ký ức, nói đi; ban đầu Nabokov định đặt tên sách là Speak, Mnemosyne theo tên nữ thần Hy Lạp, nhưng nhà xuất bản ở Anh can, vì các "little lady" chắc chắn sẽ không mua sách có nhan đề không thể đánh vần được :p) thì mua ở... Hà Nội :)

Ada or Ardor và Sebastian Knight lại là những sự vụ kiểu khác:


Và đây, Lolita, bản tiếng Pháp của Kahane:


"Lolita, ánh sáng của đời tôi, ngọn lửa nơi hạ bộ của tôi. Tội lỗi của tôi, tâm hồn của tôi. Lo-lee-ta: đầu lưỡi lướt xuống ba bước nhỏ dọc vòm miệng, khẽ đập vào răng ba tiếng, Lo, Li, Ta.

Buổi sáng, em là Lo, ngắn gọn là Lo thôi, đứng thẳng cao một mét bốn mươi sáu, chân đi độc một chiếc tất. Mặc quần thụng trong nhà, em là Lola. Ở trường học, em là Dolly. Trên dòng kẻ bằng những dấu chấm, em là Dolores. Nhưng trong vòng tay tôi, bao giờ em cũng là Lolita."

Thêm Woolf này, hai bản dịch tiếng Pháp:


Orlando có vị trí trong chuyên ngành lesbian tương đương với Corydon của Gide bên chuyên ngành gay :d

Mất Mrs. Dalloway tự đi mua hoa cho mình rồi :(

To the Lighthouse

Jan 6, 2011

Ouf Woolf

Làm tí minh họa nhỉ :)


Nhìn chung nghiên cứu tiểu sử Woolf thì quyển của Quentin Bell (con trai Clive Bell và Vanessa Bell, tức gọi Virginia Woolf là dì ruột) là đầy đủ. Quentin Bell được coi là người chép biên niên về "Bloomsbury" (trong Tới ngọn hải đăng ở "Giới thiệu" của dịch giả cứ một mực ghi thành "Bloomsburry", quái thế).

Moments of Being là các tác phẩm tự thuật. The Waves thì là tiểu thuyết. The Essays of Virginia Woolf thì là các essay ;p Hai quyển tiếng Việt thì nhiều người biết rồi.

Bonus ảnh nhá:


Có đề tặng, chữ ký của dịch giả nhá :d

Hic thông cảm ảnh xấu quá, Hà Nội đợt này thời tiết không thuận lợi cho bộ môn nhiếp ảnh, lạnh khắm khú.