Jan 17, 2011

O me, my heart, my rising heart! but, down!

Recommend sách đọc cho các bác nhé: Bí mật của Naoko, Higashino Keigo, Uyên Thiểm-Trương Thùy Lan dịch, Nhã Nam & NXB Thời đại.

Higashino Keigo là tác giả của Phía sau nghi can X, tiểu thuyết trinh thám xuất sắc. Bí mật của Naoko nếu xét về mức độ bất ngờ, lập luận logic, trò chơi trí tuệ thì không bằng Phía sau nghi can X, vì đơn giản là nó không đi theo hướng đó :d Nhưng giọng văn, cách xử lý toàn thể, vân vân và vân vân, thì Bí mật của Naoko hơn đứt Phía sau nghi can X.

Bài của Mr. Nguyễn Chí Hoan về Những ngã tư và những cột đèn

(sau gần nửa thế kỷ từ ngày hoàn thành mới được công bố xuất bản, tiểu thuyết này hiện ra không một chút xa lạ với văn chương tiểu thuyết đương đại, nếu không nói nó vẫn tiếp tục là một bậc thầy vượt trội)

Bài của cùng tác giả, về Phía sau nghi can X, từ ngày xưa ;d

Jan 14, 2011

Xuất bản sách văn học ở Việt Nam

Khậc khậc, đã định giấu nhẹm cái này đi rồi kẻo mang tiếng tiếp tay cho báo Tết nhiều quá ;d



Việt Nam hiện nay hằng năm xuất bản nhiều sách không kém một số nước có ngành xuất bản nổi tiếng và lâu đời, đặc biệt là lượng đầu sách. Điều này không lạ, vì ham muốn hội nhập trong mọi lĩnh vực và nhu cầu thực tế về đọc sách ngày càng tăng lên. Vấn đề của hôm nay không còn là thiếu sách đọc, mà nằm ở các yếu tố tế nhị, khó nhìn hơn: tất nhiên có yếu tố chất lượng sách, yếu tố chọn sách, yếu tố hướng dẫn độc giả giữa rất nhiều sách, và cả một yếu tố còn chìm khuất hơn: trong sự nhiều vẫn lấp ló tính chất thiếu hụt. Điều này liên quan nhiều đến lịch sử.

Dù có là thời nào thì chúng ta cũng thường xuyên nghe những người nhiều ưu tư than phiền ở Việt Nam sách dở thì nhiều sách hay thì ít, sách ái tình nhảm nhí kiếm hiệp ba xu thì thượng phong mà sách khảo cứu, nghiên cứu chuyên sâu thì lạc hậu, bị bỏ bê. Chắc hẳn ai cũng nhìn ra vấn đề trình độ người viết, gu thẩm mỹ và tiếp nhận của người đọc, nhưng đó cũng chỉ mới là một mặt của hiện tượng. Nếu ngay từ đầu các cơ sở xuất bản đã đặt cho mình mục đích mang lại những gì có chất lượng, “đào tạo độc giả” thay vì chỉ “đáp ứng độc giả” thì mọi chuyện có lẽ đã khác.

Và ngay cả ở mảng sách nghiêm túc, tính chất nghiêm túc của nhiều bộ sách cũng rất đáng bàn. Một ví dụ dễ thấy là cuộc tranh luận diễn ra cách đây chưa lâu về các bộ “Toàn tập”: một bộ sách được gọi là “Toàn tập” rất nhiều khi lại không hề toàn tập, vì đơn giản là nó thiếu quá nhiều. Năm 2006 đã xuất hiện Toàn tập Vũ Bằng do nhà văn Triệu Xuân thực hiện gồm bốn tập (NXB Văn học), tổng cộng khoảng 3.500 trang, thế nhưng chỉ vài năm sau, người ta đã thấy có thêm những cuốn sách khác công bố thêm rất nhiều tác phẩm của Vũ Bằng chưa hề xuất hiện trong “Toàn tập”, như Vũ Bằng các tác phẩm mới tìm thấy (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn, NXB Văn hóa Sài Gòn, 2010) hay Hà Nội trong cơn gió lốc (Võ Văn Nhơn sưu tầm và biên soạn, NXB Phụ nữ, 2010). Rõ ràng các bộ sách mệnh danh “Toàn tập” không hề xứng đáng với cái tên mà chúng mang, và hẳn hiện tượng này không chỉ đúng với Vũ Bằng.

Một điều nữa cũng dễ nhìn ra là các bộ sách dày tập hợp nhiều tài liệu lại rất hiếm khi có được một bài dẫn nhập công phu, xác đáng (công việc này thời bao cấp được tiến hành tốt hơn rất nhiều so với hiện nay, tuy cách nhìn nhận của giai đoạn đó vẫn cần bàn nhiều). Lẽ ra đó chính là cơ hội để các chuyên gia về từng mảng hướng dẫn, giải thích và giới thiệu cho người đọc, thì rất thường xuyên những bộ sách vài nghìn trang khổ lớn lại chỉ đơn thuần đi kèm vài trang viết đặt ở đầu, chủ yếu là để “trân trọng giới thiệu với độc giả” và “xin được chỉ giáo để tái bản tốt hơn”. Các nhà biên soạn nhiều khi tự loại trừ năng lực nghiên cứu của mình mà chỉ nắm lấy vai trò sưu tầm đơn thuần.

Lĩnh vực văn học dịch (xuyên suốt lịch sử xuất bản Việt Nam là tính chất trọng dịch thuật) cũng vậy, ta thấy thiếu dù vẫn biết là đã thừa. Một trong những đặc điểm cho thấy mức độ ít nghiêm túc của xuất bản tại Việt Nam là số lượng tác giả thế giới được dịch ra tiếng Việt rất lớn, nhưng rất ít tác giả, kể cả tác giả cổ điển, được dịch tương đối đầy đủ tác phẩm. Không thể tiến hành các nghiên cứu có chất lượng cao ở mảng này một khi sinh viên và học viên cao học, nghiên cứu sinh tiến sĩ sống trong môi trường thiếu hụt tài liệu lại không mấy khi được người hướng dẫn yêu cầu biết ngoại ngữ để đọc tác phẩm trong nguyên bản.

Ngay các tác giả rất lớn của thế giới cũng có sự hiện diện thiếu hụt, xộc xệch: cho đến giờ, chúng ta mới chỉ kể ra được một vài trường hợp đáng mừng hiếm hoi, như bộ Tấn trò đời 16 tập của nhà xuất bản Thế giới (Lê Hồng Sâm chủ biên) với nhiều tác phẩm được dịch trọn vẹn và các tiểu thuyết khác được trích dịch hoặc tóm tắt nội dung, hoặc Trung tâm Đông Tây trước đây từng nỗ lực mang lại Dostoievski ở dạng hoàn chỉnh nhất có thể.

Tolstoi: một trường hợp

Hội thảo “Lev Tolstoi và sự tiếp nhận di sản của ông ở Việt Nam” do Viện Văn học phối hợp với một số cơ quan, tổ chức khác tiến hành hồi tháng trước đã đem lại một cái nhìn tổng kết về dịch thuật và nghiên cứu Tolstoi ở Việt Nam trong suốt lịch sử. Sẽ không có nhà văn nước ngoài thứ hai nào tiêu biểu hơn cho cách thức tiếp cận, dịch và giới thiệu văn học thế giới như Tolstoi, bởi ngay từ đầu, mọi nhân vật chính trị quan trọng thuộc bất kỳ phe phái nào đều tỏ lòng kính phục Tolstoi: Nguyễn Ái Quốc tự coi mình là người học trò nhỏ của Tolstoi, Nguyễn An Ninh viết về Tolstoi, và ngay Phan Khôi cũng có bài viết nổi tiếng “Cái thế lực của nhà văn hào” đăng Đông Pháp thời báo năm 1928 về Tolstoi. Một cái nhìn sâu vào trường hợp Tolstoi sẽ gợi ý rất nhiều cho sự hiểu của chúng ta về dịch thuật tác phẩm thế giới nói chung ở Việt Nam.

Tham luận “Lev Tolstoi trong công cuộc hiện đại hóa văn học Việt Nam (giai đoạn trước 1945)” của PGS. TS Đào Tuấn Ảnh cho biết năm 1939, nhà sách Đông Phương đã in cuốn Tolstoi 147 trang của Nguyễn Phi Hoanh và năm 1942 cũng tác giả này cho ra đời cuốn Văn hóa Tolstoi do nhà Tân Việt ấn hành dày 191 trang. Cùng năm 1942, nhà xuất bản Tân Việt cho ra cuốn Một ngày của Tolstoi của Kiều Thanh Quế kèm Phụ lục là bài viết nhan đề Tự truyện của Stefan Zweig do ông chuyển ngữ. Trước 1945, tiểu thuyết Phục sinh rất được các nhà văn Việt Nam ưa chuộng, và bản dịch An na Kha Lệ Ninh của Vũ Ngọc Phan là một dấu mốc thật đáng ghi nhớ của lịch sử dịch thuật Việt Nam giai đoạn trước 1945 (sau này, nhà sách Khai Trí ở Sài Gòn tái bản An na Kha Lệ Ninh, in từ 1970 đến 1972, ở tên dịch giả ngoài Vũ Ngọc Phan còn có Vũ Minh Thiều). Cũng đã có người chỉ ra sự tương đồng của nhân vật Duy trong Con đường sáng của Hoàng Đạo và Levin trong Anna Karenina.

Thế nhưng mặc dù cả miền Bắc và miền Nam trước 1975 đều cho ra đời không ít bản dịch tác phẩm Tolstoi, tất cả vẫn là những công việc manh mún, nhỏ lẻ. Trong khi các nhà xuất bản nước ngoài thường xuyên tập hợp, hiệu chỉnh các bản dịch, hoặc dịch mới, nhằm đưa ra một phiên bản toàn tập hoặc tuyển tập quan trọng, cơ sở đáng tin cậy cho công việc nghiên cứu, thì ở Việt Nam các bản dịch đều có dấu hiệu tự phát, được đến đâu hay đến đó, có tập hợp lại thì cũng sẽ mất rất nhiều công sức biên soạn.

Đó là Tolstoi, các tác giả khác còn có số phận kém xa. Đặc điểm nổi bật ở Việt Nam là đa số nhà văn nước ngoài nổi tiếng (đặc biệt là nhà văn được giải Nobel) đều có xuất hiện, nhưng thường là lẻ tẻ, không hình thành được một khối lượng dịch thuật tương đối đầy đủ: một hoặc một vài tác phẩm chưa thể nói lên nhiều điều về một sự nghiệp văn chương lớn, đấy là còn chưa nói tới sự thiếu hụt mảng sách tiểu sử, nghiên cứu vô cùng quan trọng luôn luôn đi kèm với các nhà văn lớn tại nhiều nước.

Vẫn sẽ thiếu, tuy đã thừa

Công việc hướng dẫn độc giả định hướng, tìm đến và thưởng thức sách hay không chỉ thuộc về các nhà phê bình và những người làm công việc điểm sách, mà nên và cần được khởi động ngay từ khâu xuất bản. Một trong những công cụ hữu hiệu nhất là các tủ sách. Thế nhưng, nhìn lại lịch sử xuất bản Việt Nam, rất ít tủ sách của các nhà xuất bản có lượng sách phong phú, sức sống lâu dài. Đặc điểm này khiến xuất bản Việt Nam rất khác với các nền xuất bản uy tín trên thế giới: khi mà lượng đầu sách và lượng bản sách ấn hành đã không còn thua kém các nước khác, thì trình độ chuyên sâu và mức độ cam kết của các cơ sở xuất bản Việt Nam (khác với xuất bản từng cuốn sách, việc hình thành và duy trì một tủ sách nghiêm túc cho thấy khả năng định hướng và khả năng hoạt động lâu dài) phải nói là rất thấp, ngày nay cũng như trong lịch sử.

Khi viết lại lịch sử xuất bản Việt Nam, hẳn sẽ rất khó có cái nhìn tổng quát và chi tiết về các tủ sách. Điều này không dễ vì các lý do: các tủ sách thực thụ không có nhiều, không rõ nét, không có các đặc điểm riêng biệt, nhiều tủ sách chỉ lèo tèo dăm đầu sách và hình như chúng cũng không thực sự có ảnh hưởng lớn lên một công chúng độc giả đông đảo. Hơn thế nữa, rất nhiều tủ sách gần như là “tủ sách ma” với lời giới thiệu ban đầu rất hứa hẹn nhưng sau này các đầu sách được liệt kê với lời quảng cáo “sẽ xuất bản” gần như đều không thấy xuất hiện: ví dụ như trước 1945, Nguyễn Mạnh Tường với tủ sách “Construction de l’Orient” (Xây dựng Đông phương) tại NXB của Đông Dương tạp chí và Sài Gòn trước 1975, Phạm Công Thiện với nhà xuất bản Phạm Hoàng của mình tuyên bố sẽ dịch hết tác phẩm của Nietzsche, nhưng kết quả thực tế rất nghèo nàn.

Một số tủ sách có thể kể tên đây đó: “Tủ sách nghệ thuật” của Quốc học thư xã, “Tủ sách biên khảo” của nhà xuất bản Thanh Tân, tủ sách “Những mảnh gương” của NXB Tân Việt, tủ “Sách khảo cứu” của NXB Tân Việt, “Tủ sách Nghiên cứu và phê bình văn học” của NXB Trình Bầy, trong dòng sách dịch nhà Khai Trí có một tủ sách khá đa dạng đặt tên là “Loại gió bốn phương”, trong đó in lại không ít dịch phẩm đã xuất bản trước 1945 (như An na Kha Lệ Ninh đã nói ở trên). Ngoài ra còn có các tủ sách gắn liền với những tờ tạp chí, hoặc chính bản thân tạp chí thực chất cũng là một dạng tủ sách hoàn chỉnh, như trường hợp Phổ Thông bán nguyệt san hoặc Văn Mới của Hàn Thuyên. Trong môi trường xuất bản tư nhân, thậm chí ta còn thấy xuất hiện các tủ sách của riêng một cá nhân, như “Tủ sách sưu khảo Phương Lan” của Phương Lan Bùi Thế Mỹ. Đây là một khía cạnh đặc biệt của lịch sử xuất bản Việt Nam, nhưng chắc chắn còn phải chờ nhiều thời gian nữa mới có những công trình nghiên cứu riêng về nó.

Định hình được các tủ sách và kiên trì theo đuổi chúng cho đến những kết quả lâu dài nên là một cách thức mà các cơ sở xuất bản Việt Nam chọn và áp dụng. Xét cho cùng, những quyển sách hoàn hoàn cũng có thể không trường tồn, vì chỉ những cuốn sách tốt mới có cơ may sở hữu được khả năng kháng cự lại thời gian, và nhiều chưa chắc đã là một dấu hiệu tốt.

Tại sao?

Năm nay tôi làm một việc tày đình: tiếp tay duy trì hủ tục báo Tết ở Việt Ham hic. Không những thế lại còn đi phỏng vấn nữa mới đau :( Nhân vật ở đây là Hoàng Anh Tuấn, người thực hiện quyển Tư liệu Đông Ấn. Năm nay đói kém quá nên phải thế :( nhìn sang đại gia 5xu thấy cũng kiếm tiền bằng báo Tết, tự dưng thấy đỡ tủi thân hẳn há há.



Tại sao lại là các Công ty Đông Ấn?

Tôi xin trả lời dài dòng một chút. Công việc nghiên cứu của tôi khởi đầu bằng đề tài nghiên cứu ở bậc đại học và cao học về hoạt động thương mại biển của Vương quốc Chămpa thế kỷ VII-X trong bối cảnh quan hệ thương mại và giao lưu văn hóa khu vực. Tiếp sau đó là một cơ duyên: năm 1998, Chính phủ Hà Lan dự định tổ chức đại lễ kỷ niệm 400 năm thành lập Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) vào năm 2002. Họ muốn hoạt động này thực sự có chiều sâu, gắn liền với khoa học và đào tạo, nên đã lập Chương trình TANAP và giao cho Đại hoc Leiden tổ chức đào tạo tiến sĩ cho khoảng 20 nhà nghiên cứu trẻ của các nước phương Đông (nơi VOC từng có quan hệ buôn bán). Tôi may mắn là một trong số những người đó, sang Leiden từ năm 2002 và đến năm 2006 tôi hoàn thành chương trình nghiên cứu sinh. Vì vậy, có thể nói rằng tôi đã mở rộng hướng nghiên cứu hải thương của mình từ người Chăm sang người Việt nói chung, trong mối quan hệ với nước ngoài.

Tại Đàng Ngoài, Hà Lan thành công hơn Anh

Các Công ty Đông Ấn (ngoài Công ty Đông Ấn Hà Lan thành lập năm 1602, tồn tại cho tới năm 1799 còn có Công ty Đông Ấn Anh - EIC - xuất hiện cùng khoảng thời gian) có thể coi là những huyền thoại trong lịch sử châu Âu, nhưng rõ ràng đây là đề tài rất mới đối với giới sử học Việt Nam.

Thành tựu nghiên cứu gắn liền với các Công ty Đông Ấn ở các nước phương Tây rất nổi bật, nhưng đây quả là một hướng đi tương đối mới mẻ tại Việt Nam. Nói tương đối mới mẻ là vì việc đặt nền móng cho hướng nghiên cứu này đã được tiến hành từ những năm 90 của thế kỷ trước. Ngay sau Hội thảo quốc tế về Hội An, vào những năm 1990, GS. Phan Huy Lê và GS. Nguyễn Quang Ngọc đã được Đại học Leiden mời sang nghiên cứu để khảo sát kho tư liệu Hà Lan về Việt Nam. Trong dịp này, hai giáo sư đã thu thập và mang về nước được một số phim chụp về tư liệu VOC, bản đồ cổ… Đặc biệt, GS. Nguyễn Quang Ngọc đã sang tận Thư viện Quốc gia Anh để trao đổi với cố TS. Anthony Farrington về khối tư liệu EIC về Việt Nam. Trên cơ sở những quan hệ hữu hảo đó, vào năm 2002, hai Giáo sư đã giới thiệu để tôi sang Đại học Leiden học tập và nghiên cứu. Đến thời điểm đó, bên cạnh một số bài viết, đã có ít nhất hai công trình nghiên cứu quan trọng liên quan đến VOC-Đại Việt: luận án tiến sĩ Công ty Đông Ấn Hà Lan và Đàng Trong: Mối quan hệ giữa Hà Lan và Annam trong thế kỷ XVII của Wilhelm Buch (1929) và chuyên khảo Công ty Đông Ấn Hà Lan ở Đông Dương cũng do Buch công bố trên tạp chí của Trường Viễn đông Bác cổ (BEFEO, 1936/7).

Thế nhưng, nếu đọc cuốn sách Tư liệu các Công ty Đông Ấn Hà Lan và Anh về Kẻ Chợ - Đàng Ngoài thế kỷ XVII do anh biên soạn vừa được ấn hành (NXB Hà Nội), thì Công ty Đông Ấn Hà Lan có quan hệ chủ yếu với Đàng Ngoài chứ không phải Đàng Trong…

Đúng vậy, cũng không rõ tại sao Buch lại chọn hướng nghiên cứu đó, vì xét về mặt thống kê, tài liệu của VOC liên quan đến Đàng Trong ít hơn nhiều, lại không được liên tục về mặt thời gian. Chúng ta cũng chỉ có thể phỏng đoán về lý do lựa chọn của Buch. Tuy nhiên, như đã nói, trong chuyên luận trên BEFEO, Buch có đề cập đến cả Đàng Ngoài, dù chủ yếu là điểm lại dưới dạng biên niên hoạt động của VOC ở Kẻ Chợ chứ chưa khảo tả và phân tích chi tiết về mặt định lượng. Cuốn sách của Buch cũng từng được các nhà nghiên cứu Việt Nam tham khảo, như trong công trình Về ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ XVII, XVIII và đầu thế kỷ XIX (1961) của Thành Thế Vỹ.

Công ty Đông Ấn Hà Lan và Công ty Đông Ấn Anh đều hoạt động ở Việt Nam trong thế kỷ XVII nhưng người Hà Lan thành công hơn nhiều so với người Anh, tại sao? (Chúng ta biết rằng người Anh lập Công ty Đông Ấn trước người Hà Lan).

Theo tôi, nguyên nhân cần được nhìn rộng hơn mức độ các sự kiện đơn thuần diễn ra trong phạm vi Đại Việt. Khởi đầu của người Hà Lan tại Việt Nam không hề thuận lợi: ở Đàng Trong người Hà Lan thiệt hại cả trăm người và hàng vạn ghin-đơ trong khi ở Đàng Ngoài khó khăn và tổn thất cũng luôn luôn thử thách họ. Thế nhưng họ lại nhanh chóng thiết lập được thương điếm, duy trì quan hệ với Đàng Ngoài suốt 64 năm và có được những thành công không nhỏ, mặc dù Đàng Ngoài là một trong những xứ khó buôn bán bậc nhất ở phương Đông, do đặc điểm của hệ thống quan liêu, cũng như tổ chức xã hội có nhiều đặc thù phức tạp. Tất nhiên, nhu cầu của Phủ Chúa về tiền bạc và vũ khí trong thời gian nội chiến đóng một vai trò quan trọng nhưng trong nghiên cứu lịch sử thương mại, rất nhiều yếu tố cần phải tính đến. Người Hà Lan biết tổ chức một mạng lưới buôn bán liên hoàn. Người Hà Lan lại rất chặt chẽ, kỷ luật, kiên nhẫn và khôn ngoan, trong khi người Anh tổ chức công việc buôn bán ở phương Đông tương đối lỏng lẻo. Hơn nữa, chiến lược thương mại của mỗi bên cũng khác nhau; ở quãng thời gian đó, tiềm lực của Anh tại khu vực Đông Nam Á nhỏ hơn so với Hà Lan.

Người Hà Lan thậm chí còn thành công đến mức Carel Hartsinck (giám đốc thương điếm Đàng Ngoài từ 1637 đến 1641) còn được chúa Trịnh Tráng nhận làm con nuôi, một câu chuyện hiếm thấy.

Đây tất nhiên là một câu chuyện thú vị, cho thấy sự cởi mở nhất định của họ Trịnh (các chúa Nguyễn ở Đàng Trong còn cởi mở hơn thế). Tuy nhiên, đây cũng có thể chỉ nên được coi là một cử chỉ ngoại giao, bằng chứng là mối quan hệ giữa ông con nuôi và ông bố nuôi chẳng mấy suôn sẻ. Điều đáng để suy nghĩ ở đây là: các nghiên cứu theo hướng này khiến chúng ta cần nhìn lại định kiến về sự “co cụm”, “đóng cửa”, “yếm thế”… của Việt Nam trong lịch sử thương mại và bang giao khu vực. Thêm nữa, vị trí và vai trò của Việt Nam trong hệ thống thương mại khu vực và quốc tế hồi đó không đơn thuần là một sự may mắn, mà có sự chủ động nhất định từ phía chính quyền. Cấu trúc thương mại về cung-cầu ở khu vực cũng luôn luôn cần được tính tới: chẳng hạn như Nhật Bản có nhu cầu lớn về lụa trong khi sản lượng tơ lụa Trung Quốc lại sụt giảm do thay đổi triều chính Minh-Thanh nên Việt Nam có điều kiện trở thành nhà cung cấp tơ lụa lớn. Việt Nam cần được đặt vào bức tranh chung: muốn nghiên cứu thương mại của nước ta gắn liền với VOC thì nhất thiết phải đồng thời nghiên cứu hoạt động của VOC tại đại bản doanh Batavia, Nhật Bản, Đài Loan, xa hơn là biến động chính trị tại Trung Quốc, thay đổi thương phẩm tại Bengal (Ấn Độ), thay đổi sở thích của người Anh ở London và người Hà Lan ở Amsterdam… và rộng hơn là đặt Đại Việt trong cấu trúc thương mại toàn cầu ở thời kỳ này.

Nghiên cứu lịch sử thuộc địa không thể bỏ qua lĩnh vực thương mại

Rõ ràng các nguồn tư liệu mới đã đánh động nhận thức của chúng ta về lịch sử thuộc địa: khi thành tố thương mại được thêm vào bên cạnh những thành tố đã được nghiên cứu rất nhiều như chính trị, quân sự, tôn giáo, ngôn ngữ, mối quan hệ thực dân-thuộc địa đã không còn thuần túy là những cuộc xâm chiếm, mà phức tạp và tế nhị hơn thế. Rồi thương mại lại dẫn tới chính trị và quân sự, như chúng ta đã thấy Phủ Chúa rất muốn xây dựng một liên minh quân sự với VOC…

Ở đây có lẽ nên nhắc tới những quan điểm tương đối đa chiều trong giới nghiên cứu cả trong và ngoài nước. Không ít người cho rằng khi tới phương Đông, người phương Tây đã sẵn có trong đầu mưu đồ thực dân. Tuy nhiên, nếu nhìn vào lịch sử thương mại gắn liền với các Công ty Đông Ấn, thì có thể chắc chắn rằng ít nhất cho tới nửa đầu thế kỷ XVIII khó có thể nói đến mưu đồ thực dân như cách hiểu hiện đại sau này. Mối quan hệ thương mại có thể đi trước mọi thứ khác. Giới nghiên cứu gần đây cũng tranh luận nhiều về cách hiểu từ “soldat” (lính) trong cách dùng của Cố Alexandre de Rhodes: các nhà truyền giáo tới Việt Nam tự coi mình là những “người lính” theo nghĩa đen hay thực chất cần phải hiểu từ này theo nghĩa ẩn dụ? Tôi thiên về cách hiểu thứ hai hơn. Điều nên tránh là để cho mối quan hệ thương mại-thực dân bị chi phối bởi “tình cảm dân tộc”.

Nghiên cứu lịch sử theo hướng thương mại có bị “chán” không, khi mà ở mảng này hình như vai trò của các cá nhân khá là mờ nhạt, ta hiếm khi thấy những nhân vật nổi bật như ở lĩnh vực chính trị hoặc quân sự?

Cũng có những nhân vật hấp dẫn đấy. Một ví dụ tiêu biểu là trường hợp nhân vật Hoàng Nhân Dũng (người Hà Lan gọi là Ongiatule: Ông già Tư Lễ), một hoạn quan hồi thế kỷ XVII, đã tìm cách “lobby” Phủ Chúa hòng thâu tóm, lũng đoạn toàn bộ hoạt động xuất nhập khẩu của người Hà Lan ở Kẻ Chợ. Thậm chí ông ta còn dựa vào thế lực của thế tử và phối hợp với thương nhân Nhật Bản Resimon để thực hiện mưu đồ của mình.

“Hết tơ lụa thì chuyển sang gốm sứ, hết gốm sứ thì chuyển sang xạ hương…”

Dù sao thì ngành nghiên cứu của anh cũng rất mới mẻ và hứa hẹn.

Tôi đã thực hiện thống kê và nhận thấy rằng trong 50 năm (1954-2004), tạp chí Nghiên cứu Lịch sử rất mỏng ở lĩnh vực thương mại, bang giao ở giai đoạn người châu Âu bắt đầu xuất hiện. Tôi gọi đây là một khoảng lặng, tạo nên một sự mất cân đối khá nghiêm trọng nếu so với mảng nghiên cứu về ruộng đất, thể chế, quân sự… Nguyên do chính là thiếu tài liệu nước ngoài, bởi các bộ thông sử ghi chép rất ít về thương mại, nhất là ngoại thương, trong khi việc tiếp cận tư liệu phương Tây lại hết sức khó khăn trong thời điểm đó. Nguồn tài liệu từ nước ngoài, đặc biệt là tư liệu phương Tây, vì vậy trở nên đặc biệt quan trọng và cần được khai thác triệt để hơn nữa.

Nhưng làm thế nào để hợp tác có hiệu quả với nước ngoài trong nghiên cứu lịch sử?

Các đơn vị nghiên cứu nước ngoài đã hỗ trợ rất lớn cho công việc đào tạo và tiếp cận tư liệu trong khoảng mười năm qua. Hiện nay, Khoa chúng tôi vẫn còn ba cán bộ đang học tiến sĩ và thạc sĩ tại Đại học Leiden (Hà Lan) và hứa hẹn sẽ bổ trợ cho hướng nghiên cứu này. Tuy nhiên, phải nói một cách khách quan rằng không thể chỉ dựa vào hỗ trợ của nước ngoài. Phía bạn có thể hỗ trợ đào tạo và nghiên cứu ngắn hạn. Các nghiên cứu mang tính trường quy và quy mô lớn dựa trên việc khai thác tư liệu phương Tây vẫn rất cần có sự đầu tư kinh phí tương xứng từ trong nước. Có như vậy chúng ta mới có thể khai thác được triệt để nguồn tư liệu quý đó để soi sáng nhiều khía cạnh của lịch sử dân tộc thời kỳ này.

Nhìn vào con đường nghiên cứu khoa học của anh, có thể thấy rất rõ là anh đi chuyên sâu hoàn toàn vào một chủ đề. Ngay cả khi dịch sách, anh cũng chọn các tác phẩm của William Dampier (Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688, NXB Thế giới, 2007) và Samuel Baron (Mô tả vương quốc Đàng Ngoài, 1683, NXB Hà Nội, 2010) là những nhân vật có liên quan nhiều đến các Công ty Đông Ấn Anh và Hà Lan.

Có lẽ cá nhân tôi phần nào chịu ảnh hưởng của “trường phái Leiden” vốn đề cao việc khai thác các nguồn sử liệu gốc để tập trung tìm hiểu sâu một lĩnh vực cụ thể, sau đó mới bắt đầu nhìn rộng ra một chút để tìm hiểu các mối liên hệ đa chiều ở phạm vi khu vực hoặc rộng hơn nữa là hệ thống toàn cầu.

Đã đi một chặng đường dài với các Công ty Đông Ấn, anh có nghĩ đến việc quay trở lại với Chămpa thế kỷ VII-X, đề tài nghiên cứu ban đầu của anh không?

Chắc là không thể, cho dù tôi vẫn luôn luôn quan tâm đến Chămpa nhưng ở giai đoạn muộn hơn (thế kỷ XVI-XVIII) vì tài liệu của Anh và Hà Lan cũng có đề cập không ít tới Chămpa trong bối cảnh của các mối quan hệ chính trị và thương mại đa chiều khu vực Đông Nam Á lục địa. Con đường đi của tôi sẽ nhất quán như vậy: hết tơ lụa thì chuyển sang gốm sứ, hết gốm sứ thì chuyển sang xạ hương hoặc quế… Tôi quan niệm rằng sự chuyên sâu không loại trừ khả năng nhìn rộng bởi những nghiên cứu cụ thể luôn cần được đặt trong quan điểm so sánh khu vực và thế giới, chừng nào chúng ta còn có thể sử dụng các nguồn sử liệu gốc phong phú và cập nhật được các thành tựu nghiên cứu của sử học khu vực và quốc tế.


Đọc nốt Don DeLillo

Bác PA25 vừa cho biết một tin động trời: lần đầu tiên có quyển tiểu sử Malaparte: Malaparte, vies et légendes (Maurizio Serra, Grasset, 608 trang, 22,5 euros). Nhà hảo tâm nào bên Pháp ơi :ppp

Jan 12, 2011

How to get high baby?

Người chiến thắng luôn luôn là như thế

Dù cho người ta có thực hiện một cuộc siêu giải phẫu thẩm mỹ cho ông tôi, làm cho mặt ông trở nên nhẵn lì mềm mại như cặp mông nhỏ xíu của Ngốc, thì tôi vẫn cứ nhận ra ông giữa đám đông một nghìn người dân của Hành tinh này, ấy là bởi ngay cả khi muốn trốn bằng mọi giá, ông vẫn không thể qua được một bài sát hạch then chốt lúc nào cũng làm ông bị lộ ở giây phút cuối cùng, cái bài sát hạch còn đáng tin hơn cả một vết sẹo bí mật (mà thật ra là ông có):

Bạn bật một cái băng cát xét chơi điệu twist, bạn đứng trước đám người rồi cứ thế mà hồi hộp chờ đợi kết quả thôi. Sẽ luôn luôn có một người vừa nhảy nhót vừa tách ra khỏi đoàn người, nụ cười tươi tắn trên môi và hai tay để ở tư thế đúng như là đang ôm một cô gái vô hình và vô cùng bốc lửa. Cái người ấy sẽ là, không thể sai lệch được, Nicolás Moreno: ông tôi. Ông biết điều ấy, ông còn công khai thừa nhận nữa:

- Cứ nghe thấy một điệu twist là chân ông đã bắt đầu tự nhảy nhót rồi.

Nơi nào có một dàn nhạc, thì bạn cứ yên tâm là chắc chắn có ông tôi. Vài buổi sáng Chủ nhật, ông lén lút cùng Ngốc đi xuống phố. Ông không nói là đi đâu. Mẹ tôi, chắc mẹ là một người bà con xa của James Bond, nói:

- Ông con đang đi đến chỗ mấy tay có con dê đấy.

Mấy tay có con dê, đó là mấy người hay mang một con dê cùng một cái đàn ác-coóc-đê-ông đến chơi các bản twist ở Công viên Cây Treo cổ vào các ngày lễ. Mẹ tôi và tôi ra chỗ cửa sổ, chúng tôi thấy ngay ông đang nhảy, trên tay bế Ngốc. Mẹ nói:

- Không, sao lại thế được cơ chứ!

Thế là bố tôi đáp lời ngay:

- Để bố thoải mái tự nhiên đi, cứ để bố nhảy múa như là bố thích đi.


Một lần, mẹ tôi, một người rất bạo dạn, nhoài hẳn người ra cửa sổ đến mức hai chân nhấc lên khỏi mặt đất, gào thật to:

- Bố ơi, lạy Chúa, bố không biết ngượng à?

- Có con không biết ngượng ấy, Catalina ạ, hàng xóm ai cũng nghe thấy con hét.

- Hàng xóm nghe thấy thì có làm sao: Bốốốốốốốố!

Nhưng ông tôi say sưa với món nhạc twist đến mức không nghe mẹ nữa. Chỉ có Ngốc còn để ý là chúng tôi đang nhìn hai người từ trên nhà, thành thử mỗi vòng nó lại giơ cái ti giả lên vẫy chào chúng tôi. Mẹ tôi hét tiếp, nhưng chẳng ích gì. Tôi thấy rất rõ mỗi lần mẹ dồn sức để hét thì hai chân mẹ lại nhấc lên cao hơn khỏi mặt đất, nhưng vì mẹ không thích bị xen ngang mỗi khi đang mải hành động, nên tôi không nói gì để tránh hậu họa. Thế rồi, thiếu chút nữa tôi đã mất đi một người mẹ. Đột nhiên, mẹ bật ra một tiếng hét kinh hoàng; bố tôi vội nhảy dựng dậy khỏi ghế sofa như một người điên, chạy tới túm lấy hai cổ chân mẹ. Mẹ tôi ngồi phịch xuống đất, mẹ òa khóc vì sợ quá.

- Catalina, em mà còn làm như thế nữa là sẽ có ngày em rơi khỏi cửa sổ, rồi thì anh sẽ chết vì lên cơn nhồi máu đấy.

Viễn cảnh khiếp thật; mất cả bố cả mẹ cùng một lúc, ngay trước mũi. Sau đó bố mẹ lại còn bảo được rằng nếu tôi có mơ thấy ác mộng hay lên cơn chập mạch thì đó là vì tôi xem ti vi quá nhiều. Ở nhà tôi, thực tế vượt quá mọi chương trình tin tức đẫm máu nhất.

Chắc bạn cứ tưởng rằng sau sự cố kinh khủng ấy, mẹ tôi đã bình tĩnh lại để mà thôi đứng ở cửa sổ hét gọi ông tôi. Bạn nhầm đấy. Mẹ vẫn tiếp tục hét, nhưng giờ đây mẹ cẩn thận lắm. Mẹ nói với bố:

- Manolo, giữ hộ váy cho em để em hét.

Thế là bố tôi và tôi túm lấy váy mẹ để mẹ hét.

- Con còn muốn gì nữa nào, hả Manolito, bố thà bị lố bịch như thế này còn hơn là để mẹ con tự giết mình.

Cả tôi cũng thà như vậy còn hơn, nói thật lòng.

Bố tôi ủng hộ việc để cho người khác tự do mà sống, còn mẹ tôi ủng hộ việc không để cho ai sống hết. Nhất là giờ đây mẹ ngượng vì người ta bắt đầu đặt biệt danh cho ông tôi là “Travolta của khu Carabanchel”. Mẹ không muốn là con gái của Travolta. Tôi thì ngược lại, tôi vô cùng tự hào. Quá hay luôn. Bạn cũng thấy rồi đấy, trong nhà García Moreno lúc nào sự bất hòa cũng ngự trị.

Tôi đã chuẩn bị trước tinh thần cho bạn rồi nhé, bạn khỏi phải quá ngạc nhiên khi biết rằng vào ngày lễ thánh Pedro, ngày trọng đại của khu Carabanchel, ông tôi, tôi và Ngốc, chúng tôi xuống ngồi ở Công viên Cây Treo cổ, hai tiếng trước khi các nhạc công của Dàn nhạc Lớn Thiên Đường tới nơi, và toàn bộ việc ấy là bởi ông Nicolás của tôi rất thích xem người ta dựng sân khấu. Và đặc biệt ông thích thấy cô ca sĩ trèo lên xe tải để thay quần áo rồi sau đó đi ra, khác hoàn toàn, trong một bộ váy sáng lóng lánh theo tiếng nhạc.

Mẹ tôi đã bảo ông phải đưa chúng tôi về nhà vào lúc mười một giờ.

- Con nói mười một giờ rồi đấy nhé!

- Nhưng vậy là con không tin tưởng vào bố của con phải không, hả Catalina?

- Không!

Mẹ tôi là thế đấy: sự thật được ưu tiên trước hết, ngay cả khi là sự thật đau đớn.

Dù thế nào đi nữa, không thể có chuyện bất kỳ ai làm hỏng đi ngày hội của chúng tôi. Dẫu sao thì ngày hội tuyệt đỉnh thánh Pedro chỉ diễn ra một lần mỗi năm. Bác chủ quán Tropezón đã dựng một quầy bar ngoài trời. Chúng tôi là những người đầu tiên tiến tới chỗ quầy. Ông tôi nói:

- Hai thằng bé này và tôi, lấy đồ như thường lệ.

Hai thằng bé này chính là tôi và Ngốc, bởi tôi cần phải giải thích mọi thứ. Đó chính là những cốc Coca-Cola đầu tiên và ly rượu vang đỏ đầu tiên của buổi tối.

Cho tới khi Dàn nhạc Thiên Đường bắt đầu chơi, ông tôi đã mua cho chúng tôi ít nhất là hai cốc Coca nữa. Tôi không thích uống một mình. Thế là Ngốc và tôi, chúng tôi đã tập trung vào trong bụng mình nhiều ga đến mức chúng tôi chơi được tới năm ván trong cuộc thi đánh rắm lừng danh của mình. Tôi công nhận, ngay cả khi điều này làm tôi bực bội, rằng trong môn nghệ thuật này Ngốc là số một. Tôi sẽ còn nhớ mãi một lời khuyên của ông tôi:

- Trong đời, cần phải biết thua. Về vụ này thì chúng ta, người nhà García Moreno, chúng ta là các chuyên gia.

Những người đầu tiên của cả khu Carabanchel bắt đầu nhảy múa là ông tôi, tôi và Ngốc. Tôi làm việc này một phần cũng là vì cô ca sĩ: thật buồn khi chẳng ai chịu nhảy khi cô hát cả. Thật may mắn, ở bài hát thứ ba, mọi người cũng bắt đầu nhúc nhích; tôi đã có thể quay trở lại quầy bar Tropezón để tiếp tục uống Coca-Cola với Tai To, cái thằng này thì lúc nào cũng dính chặt lấy quầy bar. Thỉnh thoảng ông tôi và Ngốc rời khỏi chỗ nhảy để rồi quay lại đó ngay, như thường lệ. Tôi cũng không biết là bao nhiêu chuyến đi-về nữa. Theo một số phiên bản thì là mười, theo một số phiên bản khác thì là mười hai… Và chuyện cứ thế, mặc cho lệnh cấm ngặt nghèo của mẹ cùng đội ngũ bác sĩ nhi của mẹ, cấm Ngốc uống Coca-Cola, bởi uống vào rồi nó sẽ như bị điện giật, rồi thì chúng tôi sẽ phải lấy dây trói nó vào thanh chắn của cái nôi để nó chịu nằm im mà ngủ.

Nghe này, điều tôi vừa nói với bạn, rằng chúng tôi trói Ngốc vào các thanh chắn, không phải là thật đâu đấy. Chỉ thiếu mỗi một điều là bạn tin như thế để rồi đi tố cáo ở chỗ sở cảnh sát gần nhất nữa thôi.

Có thể nói rằng ông tôi và Ngốc là những ông vua của bữa tiệc. Tai To và tôi thì ở chỗ quầy bar mà nhìn hai người nhảy: một bài hát của The Beatles, một điệu salsa, một điệu twist. Đôi khi Ngốc nhảy phắt lên, những lúc khác nó lại đòi được bế, thế là mọi người truyền nó qua tay nhau hoặc tung bổng nó lên không trung. Nó thích thế lắm: được làm ngôi sao. Nhưng vẫn còn chưa sinh ra ở trên đời cái người có khả năng đứng được đến mắt cá chân Travolta của khu Carabanchel những lúc ông ở đỉnh cao phong độ, và vào buổi tối ấy Travolta có phong độ kinh khiếp lắm.

Chuyện xảy ra sau đó, người ta vẫn còn nhớ mãi trong mọi quán bar và trên mọi đường phố của Carabanchel. Cô ca sĩ bắt đầu hát La Chica yeyé. Ông tôi, sau khi viếng thăm quầy bar trong chốc lát để rót cho đầy kho trữ đồ uống của ông, như lời chính ông nói, dần tiến lại gần chỗ mọi người đang nhảy. Người ta rẽ ra cho ông tiến lên, không một ai cả gan đối đầu với con người phàm tục nhưng được các vị thần truyền cảm hứng này. Họ tạo thành một vòng tròn xung quanh ông và bắt đầu vỗ tay. Ông tôi ném cái mũ bê-rê lên trời và oằn mình trông hệt như một nghệ sĩ uốn dẻo người Trung Quốc mà người ta có thể nhìn thấy trên ti vi.

Tai To bảo tôi:

- Ông cậu mà biểu diễn trong một bài hát của Michael Jackson thì chắc là sẽ tuyệt lắm.

Đúng rồi; nhưng làm sao để nói được điều này với Michael Jackson đây? Tôi không có địa chỉ lẫn số điện thoại của anh, còn anh thì lại không có thói quen đến Carabanchel.

Ta hãy quay trở lại với chuyện nhảy nhót. Tai To và tôi, chúng tôi đứng trên một cái ghế đẩu, nhưng dù cho có làm như vậy thì tôi vẫn chỉ nhìn thấy thấp thoáng ông tôi, vì nhiều người vây quanh ông quá. Không thể nghi ngờ gì nữa: đó là một khoảnh khắc vĩ đại trong cuộc đời ông Nicolás Moreno, ông tôi. Nhưng lúc nào cũng phải có ai đó tới phá hỏng những giây phút hạnh phúc trong cuộc đời chúng tôi. Đột nhiên tôi nhìn thấy một người phụ nữ, người không xa lạ gì với tôi hết, dùng những cú huých cùi chỏ rẽ một lối đi giữa đám đông đang vây quanh ngôi sao. Người phụ nữ này không xa lạ gì với tôi bởi đó là… mẹ tôi! Mẹ không túm lấy tai ông mà vặn, nhưng cũng gần như thế. Bác Luisa và mẹ mỗi người giữ một cánh tay của ông, như áp giải một tù nhân, còn hai người ấy là cảnh binh. Ông tôi chống trả:

- Xin con đấy, Catalina, con gái yêu, bố xin con đấy: bố chưa bao giờ rời khỏi một bữa tiệc mà chưa nhảy bài La Española cuando besa


Mọi người ai ai cũng biết rằng không có ông bữa tiệc sẽ không còn giống như trước nữa. Tai To, tôi và Ngốc đi theo cặp nữ cảnh binh với tư cách nhân chứng. Ông tôi ngoái đầu lại thì thầm vào tai tôi:

- Manolito, chàng trai của ông, cháu cố tìm cho ông bộ răng giả nhé, chắc là nó đã rơi trong khi ông nhảy, cháu biết rõ là ông không muốn chết mà thiếu nó rồi đấy.

Trông ông thật là nhợt nhạt, ông làm tôi lo lắm. Mẹ tôi giận đến nỗi còn không nhận ra là tôi vẫn ở lại trong công viên.

Tôi chui vào giữa đám đông để tìm bộ răng giả, nhưng người ta cứ không ngừng giẫm lên người tôi. Tôi nói chuyện ấy với bác Ezequiel, chủ quán Tropezón, bác là người có nhiều uy quyền nhất mà tôi biết. Bác nắm lấy tay tôi, rồi chúng tôi cùng trèo lên bục sân khấu của các nhạc công. Nhạc ngừng lại và bác Ezequiel nói:

- Các bạn hàng xóm thân mến: trong các bữa tiệc của khu phố chúng ta đã có nhiều nhẫn, hoa tai, kính áp tròng bị mất… nhưng lần đầu tiên trong lịch sử của chúng ta có người bị mất một bộ rằng giả. Tôi đề nghị các bạn tìm ở dưới đất nụ cười của Travolta khu Carabanchel.

Tôi sẽ không bao giờ quên cảnh tượng mà tôi nhìn thấy từ trên sân khấu: mọi người cúi xuống tìm kiếm nụ cười của ông tôi.

Đột nhiên, Tai To hét lên:

- Cháu tìm thấy rồi, cháu tìm thấy rồi!

Mọi người vỗ tay hoan hô rần rần. Tôi không thích lắm. Thật không dễ dàng gì cái việc ăn mừng chiến thắng của người bạn thân nhất của mình.

Tai To đưa bộ răng giả và bác Ezequiel nói thêm:

- Với tư cách là tổ trưởng tổ dân phố, tôi nghĩ sẽ là đúng đắn nếu hàng xóm của chúng ta, ngài Nicolás Moreno, được nhận một huy chương marathon vì tất cả những gì ông ấy đã làm trong buổi tối hôm nay và vì tất cả những gì đang chờ đợi ông ấy ở nhà.

Tôi đi về trước tòa nhà của chúng tôi với bộ răng giả và tấm huy chương trong túi. Tôi gọi vào điện thoại nội bộ, mẹ tôi đáp:

- Con làm gì ở đó thế, con chưa đi ngủ à?

Thật khó tin. Họ chẳng nhớ gì đến tôi hết cả. Có những khoảnh khắc trong đời bạn không biết nên cười hay nên khóc nữa.

Ông tôi chưa chết, ông chỉ cần không khí để thở. Tôi tin là ông bất tử.

Sau khi cho ông uống hai tách cà phê và mấy viên thuốc, bố mẹ tôi đi ngủ, còn tôi rút bộ răng giả ra khỏi túi, tôi thổi thổi một chút để bớt đất bám vào rồi bỏ nó vào cốc đựng dung dịch rửa răng giả. Sau đó tôi nâng đầu ông lên, đeo cho ông tấm huy chương, rồi tôi chui vào giường nằm bên cạnh ông.

- Mọi người đều vỗ tay hoan hô ông, ông ạ, mẹ sẽ phải im lặng khi nhìn thấy ông đã giành được huy chương. Bằng đồng thật đấy.

- Chiến thắng bao giờ cũng là như vậy, Manol…

Đầu ông rơi bịch sang bên cạnh, chui sâu vào giữa hai vai. Một người nào đó khác hẳn sẽ nghĩ là ông đã chết; nhưng tôi thì tôi biết rõ hơn bất kỳ ai mọi tiếng động và cử chỉ của ông tôi, chiều nào tôi cũng nhìn thấy ông kéo cưa trước tivi, tôi biết là ông đã ngủ.

Brand New Ones: Mathias Enard

Những người bất tử đầy thù hận


Làm nhà văn ở Pháp không dễ. Nhất là nhà văn trẻ lớn lên trong sự thống trị của Tiểu thuyết mới và trong bầu không khí xã hội tiêu dùng cùng ảnh hưởng rõ rệt của “lối sống Mỹ”. Thế nhưng một thế hệ mới của những người sinh trong những năm 1960 và 1970 đang đưa văn chương Pháp khỏi cái vòng nhỏ hẹp hay được gọi là “quẩn quanh lỗ rốn” của những tự thuật tràn ngập bản thân, dù là cái bản thân bị yêu thái quá hay được hưởng sự phân tích đầy căm ghét cũng thái quá.

Năm nay, Claro (sinh năm 1962) xuất bản cuốn tiểu thuyết CosmoZ được tờ Le Matricule des anges đánh giá là “một trong những cuốn sách gây choáng váng nhất trong những năm gần đây, sản phẩm của cả một cuộc đời cống hiến cho văn chương”. Claro đã viết rất nhiều sách, dịch còn nhiều hơn. Người ta chưa thể quên Những kẻ thiện tâm của Jonathan Littell (sinh năm 1967) in năm 2006 đã lôi cả thế giới vào một cuộc tranh luận lớn về lịch sử Đức Quốc xã. Một nhân vật trẻ tuổi hơn Claro và Littell cũng đã góp phần to lớn đưa văn chương Pháp trở lại quỹ đạo của những tác phẩm tầm vóc là Mathias Enard (sinh năm 1972).

2008 là năm xuất hiện cuốn tiểu thuyết kỳ lạ của Enard được giới phê bình Pháp đón chào nồng nhiệt: Zone, chỉ gồm một câu văn duy nhất dài hơn 500 trang, với đề tài chiến tranh (giải thưởng Tháng Chạp 2008 và giải thưởng Inter 2009). Những kẻ thiện tâmZone thể hiện tham vọng rất lớn của các nhà văn trẻ có một tiểu sử khá gần nhau như Littell và Enard: Littell từng có chín năm đi các điểm nóng trên thế giới trong các chương trình nhân đạo, còn Enard là chuyên gia tiếng Arập, nhiều năm sống ở Trung Đông. Tiểu thuyết của Littell thì học theo cấu trúc âm nhạc của Bach, còn tác phẩm của Enard lại là các “khúc ca” mô phỏng Iliade của Homère.

Giống như Jonathan Littell, Mathias Enard hiện sống ở Barcelona. Sau trường giang tiểu thuyết Những kẻ thiện tâm, Littell trình làng toàn tác phẩm rất ngắn, trong đó có Le Sec et l’Humide (Khô và ẩm) về nhân vật Léon Degrelle từng xuất hiện trong Những kẻ thiện tâm, En pièces (Thành nhiều mảnh) và sắp cho in một cuốn tiểu luận về tác phẩm hội họa của Francis Bacon. Gần như đi theo bước Littell, tác phẩm mới nhất của Enard cũng ngắn hơn hẳn tiểu thuyết đầu tay: Parle-leur de batailles, de rois et d’éléphants (Hãy nói cho họ về những trận đánh, các ông vua và lũ voi, Actes Sud, 2010) chỉ dày quãng 150 trang khổ nhỏ. Sau khi có những câu và đoạn rất dài trong Những kẻ thiện tâm, câu văn của Littell ngắn hẳn lại, còn ở trường hợp Enard, đã bỏ lại sau lưng “câu văn bất hủ” dài 500 trang, Hãy nói… chủ yếu gồm những câu văn ngắn và thường xuyên giản dị hết mức (mặc dù nhan đề đặc biệt dài). Có vẻ như đã thoải mái hơn hẳn sau khi cho ra đời được những biệt lệ về hình thức, sau những cơn sáng tạo có phần cuồng loạn và vô cùng tập trung, các nhà văn trẻ mặc sức thử nghiệm những gì mới mẻ với chính họ, trong khi chuẩn bị cho những cuộc sáng tạo lớn mới.

Hãy nói… cũng có một đề tài không ít tham vọng: lịch sử thời Phục hưng nhìn từ một góc độ khác, qua một con người cụ thể. Nhưng con người ấy không phải là bất kỳ ai, bởi đó chính là Michelangelo thiên tài ở thời điểm vừa ngoài ba mươi tuổi (và đã có bức tượng David lừng danh), bất bình với sự keo kiệt của Giáo hoàng Jules II. Vừa đúng thời điểm nhận được lời mời của vị sultan Thổ Nhĩ Kỳ Bajazet II, Michelangelo quyết định bỏ sang phương Đông. Sultan muốn mời Michelangelo sang để vẽ và tổ chức xây dựng một cây cầu; trước đó vị chúa này đã từ chối các bản vẽ của Leonardo da Vinci. Ở Constantinople (tháng Năm 1506), Michelangelo chỉ lo vẽ ngựa và vẽ voi, cũng như ngập ngừng tham gia cuộc sống nơi đây, những thú vui xác thịt cũng như phong cảnh lạ lùng.

Hãy nói… là một điều bất ngờ trong mùa tiểu thuyết năm vừa rồi tại Pháp. Nó đã nhận được giải Goncourt hạng mục do học sinh trung học bầu chọn. Cuốn tiểu thuyết được khen ngợi vì một câu chuyện lịch sử nuột nà, hấp dẫn và cái nhìn tinh tế. Nó cũng không ngần ngại đưa ra một phiên bản tâm hồn không mấy tốt đẹp về những con người bất tử: Michelangelo không chỉ chất chứa thù hận vì cách đối xử của Jules II mà còn nuôi dưỡng cái nhìn không đẹp đẽ về những người bất tử khác cùng thời, với Michelangelo của Mathias Enard, da Vinci là một lão già không hiểu giá trị của điêu khắc, “Bramante tay kiến trúc sư chỉ là một thằng đần và Raphaël tay họa sĩ là một kẻ cao ngạo”. Những góc khuất của nội tâm này, chỉ văn chương mới đủ khả năng soi rọi được.

Jan 11, 2011

Sách (XXV) Đã có hoa

Hà Nội đang lạnh kiểu như thế này này: có hai người đi bộ gặp nhau ngoài đường, một người hỏi: "Dạo này khỏe không bác?" Người kia lúi húi tháo găng tay len mua ở chợ Đông Kinh thọc vào túi áo ba đờ xuy một lúc rồi mới nói: "Bác nói gì? Rét quá tôi tháo tai cất vào túi, nếu cứ để đó thế nào cũng rụng vì lạnh". Sợ chưa? Có thơm quắt tai (bún chả) thì cũng có lạnh rụng tai.

Hôm qua bad mood cho đến lúc cà phê về đến phòng, thấy ngay trên bàn làm việc đã để sẵn cái này:


Đùa chứ chỉ mất công than phiền một câu trên blog mà đã được ngay quả này, đúng là mình ở hiền gặp lành nhiều người thương miến (câu này là irony đấy) :p Sau rồi mình cũng biết thủ phạm í lộn hung thủ í vẫn lộn tác giả hành động thiện tâm này là ai, thank you nhá. Thế là đỡ bad mood hẳn, từ quả irony của Lennon đã chuyển sang cái khác liền: "Nhưng thôi em ơi đấy chỉ là lời ru trong giấc ngủ/Anh thương em đây anh lại êm đềm/Làm con ong vàng đến ngủ giữa tóc em/Con ong xanh có đôi mắt đen/Con ong trắng là con ong thương nhớ/Con ong đỏ chính niềm tin ấp ủ/Còn hạnh phúc cuối cùng là tiếng hát chú ong nâu".

Chi tiết duy nhất hơi ấy ấy là quyển Mrs Dalloway tôi bị mất là bản tiếng Pháp, nay quá lãi, thu ngay được bản tiếng Anh há há, ở trong tủ sách "Film Classics" tức là những quyển tiểu thuyết được chuyển thể thành phim (nhân tiện, ở đây đã có bác nào xem hết cả The Hour lẫn hai phim Mrs Dalloway chưa nhể?), trong tủ sách này cũng có A Clockwork Orange của Anthony Burgess.

Hôm qua lại thêm một ngày được mùa sách vở, tối đến vợt ngay thêm được Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam (1857-1914), thuộc loại sách không hiếm lắm nhưng chẳng hiểu sao bao nhiêu lần tôi nhìn thấy đều vợt trượt hết cả. Rồi lại có một bạn gọi điện, thế là nhiều khả năng lại có thêm một Ba Tê nữa :)

Còn sách mới hẳn vừa thổi vừa xoa (mùa đông rất cần mấy cái này, cũng như cần ngoài phố mùa đông đôi m. em là đốm lửa hồng hehe): Lịch sử tôn giáo Nhật Bản, Sueki Fumihiko, Phạm Thu Giang dịch, Phạm Hồng Thái hiệu đính, Alphabooks & NXB Thế giới.

Một đoạn Todorov viết về trinh thám nhá:

"Kiệt tác văn chương thường lệ, theo một nghĩa nào đó, không nằm trong bất kỳ thể loại nào nếu không phải là thể loại của chính nó; nhưng kiệt tác của văn học quần chúng lại chính là cuốn sách phù hợp nhất với thể loại mình. Tiểu thuyết trinh thám có những chuẩn mực của nó; làm "tốt hơn" những gì mà các chuẩn mực ấy đòi hỏi, là đồng thời làm "kém đi": người nào muốn làm cho tiểu thuyết trinh thám "hay hơn", là người đó đang làm "văn chương", chứ không phải tiểu thuyết trinh thám. Tiểu thuyết trinh thám tuyệt nhất không phải là cuốn tiểu thuyết vi phạm các quy tắc của thể loại, mà là cuốn tiểu thuyết tuân theo những quy tắc này"

("Loại hình của tiểu thuyết trinh thám" trong Thi pháp văn xuôi, Đặng Anh Đào và Lê Hồng Sâm dịch, NXB Đại học Sư phạm, 2004)

Ý Todorov là đánh giá văn học thông thường và văn học bình dân phải khác nhau: kiệt tác văn học nói chung vừa vi phạm thể loại của nó vừa lập ra một thể loại mới, trong khi trinh thám muốn là kiệt tác thì điều tiên quyết là không được phép vi phạm thể loại.

Jan 10, 2011

Everything is clear in my heart



Raymond Chandler nối tiếp Dashiell Hammett (nhất là The Maltese Falcon) trong dòng trinh thám hard-boiled, dòng trinh thám đi lệch khỏi trinh thám truyền thống (Poe và Doyle) có một vụ giết người cho trước và nhiệm vụ của thám tử (Holmes) là tìm ra kẻ giết người đó. Trinh thám của Hammett, Chandler và rất nhiều người sau này (tuy có nhiều biến thể nhưng trinh thám của Mankell cũng thuộc dạng này) không coi việc tìm ra thủ phạm là một cái đích, mà chỉ là một cái cớ.

Trinh thám truyền thống theo Calwelti kiểu gì cũng phải có 1) giới thiệu thám tử 2) tội ác và các manh mối 3) điều tra 4) thông báo và giải pháp 5) giải thích và giải pháp 6) gỡ nút. Không truyện trinh thám nào thiếu được các yếu tố cơ bản này, dù cho có cực ngắn hay dài đến như Thung lũng khủng khiếp.

Quyển Farewell My Lovely này vừa tìm được ở Nhà sách Nguyễn Huệ :p

John Lennon trông thế thôi mà cũng có khi mỉa mai ra phết: "Oh my love for the first time in my life/My eyes are wide open/Oh my lover for the first time in my life/My eyes can see/I see the wind/Oh I see the trees/Everything is clear in my heart/I see the clouds/Oh I see the sky/Everything is clear in our world/Oh my love for the first time in my life/My mind is wide open/Oh my lover for the first time in my life/My mind can feel/I feel the sorrow/Oh I feel dreams/Everything is clear in my heart/Everything is clear in our world/I feel the life/Oh I feel love".

Oh My Love