Những con số đôi khi không phản ánh được đầy đủ một tình trạng. Người ta có thể nghĩ gì khi biết rằng ở Việt Nam hiện nay văn học dịch áp đảo văn học trong nước về số lượng (và cả chất lượng), và ở Mỹ tổng lượng sách dịch chỉ ở mức vài phần trăm rất nhỏ, thậm chí có nguồn còn nói chưa tới 1% thị trường sách? Rằng Việt Nam không có nền văn học nội địa, và nước Mỹ cố thủ boong-ke không buồn nhìn ra bên ngoài?
Tất nhiên là điều đó không đúng. Văn học Việt Nam có biết bao nhiêu tác phẩm làm say đắm người Việt Nam. Chưa nói gì đến tác phẩm “cao cấp”, thị trường văn học nội địa bình dân lúc nào cũng sôi nổi, các kỷ lục về phát hành trong văn học luôn thuộc về tác phẩm nội chứ không phải tác phẩm dịch. Còn nước Mỹ vẫn có ngành nghiên cứu văn học thế giới, văn học so sánh cực kỳ phát triển.
Jan 11, 2010
Jan 7, 2010
Sách (IV) Nếu lỗi không là tại sách? Thì lỗi tại đâu?
Đợt hiu hiu lạnh này ối người ở cái đất Hà Nội máu lửa đổ đi tìm mua bộ sách Tam Quốc diễn nghĩa 13 tập, một bộ sách đặc biệt tái bản nhân dịp kỷ niệm 50 năm NXB Phổ Thông ở Hà Nội cho in, tức là dịp Bùi Kỷ đã hiệu đính bản dịch của Phan Kế Bính có từ trước đó. Theo Kiều Thanh Quế khi tổng kết về tình hình dịch thuật Việt Nam vào khoảng đầu những năm 1940, Phan Kế Bính trong văn tiểu thuyết Tàu có cỡ như là Trần Trọng Kim trong thơ Tàu (tập Đường thi của Trần Trọng Kim đã ra đời hồi đó, NXB Tân Việt, đẹp lung linh, bìa trông không khác gì tủ sách NRF của Gallimard, chắc cũng có chút ăn cắp ý tưởng).
Hồi này tình thân Việt Nam-Trung Quốc rất đậm đà, thành thử bộ sách ghi rõ đã hiệu đính theo bản tiếng Trung mới nhất tính tới thời điểm ấy, thậm chí còn thân tình hơn, các bạn Trung Hoa đã gửi trước cho Phổ Thông lời giới thiệu rất tỉ mỉ còn đang lên khuôn chưa kịp in vào sách Tàu.
Hồi này tình thân Việt Nam-Trung Quốc rất đậm đà, thành thử bộ sách ghi rõ đã hiệu đính theo bản tiếng Trung mới nhất tính tới thời điểm ấy, thậm chí còn thân tình hơn, các bạn Trung Hoa đã gửi trước cho Phổ Thông lời giới thiệu rất tỉ mỉ còn đang lên khuôn chưa kịp in vào sách Tàu.
Jan 5, 2010
Sách (III) phụ đề: Giết :)
Nghe cũng kinh các bác nhẩy. Toàn văn còn kinh hơn: Giết chết một con chim mốc-kinh. Dĩ nhiên đây chính là bản dịch quyển To Kill a Mockingbird mà nhiều người miền Bắc giờ đã giề từng đọc.
Nhân trên báo đang có tranh luận về phiên âm hay không phiên âm, vì vẫn chưa cho ra đời được cái Phiên âm (II) nên tranh thủ tiện tay có quyển sách mới bới được tôi bèn xuống tay liền hehe. Bìa sách vẽ một cái hình hơi giống bao cao su nhưng thật ra là một người bị trùm đầu kín mít chỉ hở đôi mắt, vẽ cách điệu, phía trên đằng sau là mấy cái chấn song đại diện cho nhà tù. Hình người màu trắng toát, hẳn là có ý tạo tương phản với người da đen là nhân vật được "Lời giới thiệu" cho là trung tâm của cuốn tiểu thuyết.
Nhân trên báo đang có tranh luận về phiên âm hay không phiên âm, vì vẫn chưa cho ra đời được cái Phiên âm (II) nên tranh thủ tiện tay có quyển sách mới bới được tôi bèn xuống tay liền hehe. Bìa sách vẽ một cái hình hơi giống bao cao su nhưng thật ra là một người bị trùm đầu kín mít chỉ hở đôi mắt, vẽ cách điệu, phía trên đằng sau là mấy cái chấn song đại diện cho nhà tù. Hình người màu trắng toát, hẳn là có ý tạo tương phản với người da đen là nhân vật được "Lời giới thiệu" cho là trung tâm của cuốn tiểu thuyết.
Dec 31, 2009
Mấy cuộc trở lại
+ Cuối năm, thêm một bài bị out báo không cho đăng.
Năm 2009, văn học Việt Nam nếu có sôi động thì cũng chủ yếu là vì một số vụ việc mang lại buồn nhiều hơn vui. Trong một năm có rất ít tác phẩm mới đáng chú ý, thì sự trở lại của những gương mặt thời trước cũng như việc tái bản sách của vài nhà văn trước đây ít được phổ biến tác phẩm thực sự góp phần rất quan trọng cho một đời sống văn chương lành mạnh.
Trước hết là Trần Dần. Trường ca (mà Trần Dần gọi là “hùng ca-lụa”) Đi! Đây Việt Bắc có một hành trình gian khổ đúng như hành trình sáng tạo của tác giả. Sau hơn năm mươi năm, Đi! Đây Việt Bắc mới lần đầu tiên xuất hiện ở dạng nguyên vẹn (Nhã Nam và NXB Hội Nhà văn). Mặc dù đã từng được xuất bản một cách chính thống vào năm 1990 dưới nhan đề Bài thơ Việt Bắc, chương II và chương cuối bài thơ hùng tráng này đến nay mới được trả về chỗ của chúng.
Con đường đi của Đi! Đây Việt Bắc đã được nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân vạch lại kỹ lưỡng ở lời bạt cho cuốn sách. Trích đoạn “Hãy đi mãi” (tức chương cuối) đã in trên báo Văn năm 1957 và nhiều trích đoạn khác in trên một số ấn phẩm sau này, nhưng rõ ràng là với một tác phẩm có tầm vóc như thế này, nếu không có toàn bộ văn bản thì ý nghĩa nghiên cứu sẽ mất đi rất nhiều.
Năm 2009, văn học Việt Nam nếu có sôi động thì cũng chủ yếu là vì một số vụ việc mang lại buồn nhiều hơn vui. Trong một năm có rất ít tác phẩm mới đáng chú ý, thì sự trở lại của những gương mặt thời trước cũng như việc tái bản sách của vài nhà văn trước đây ít được phổ biến tác phẩm thực sự góp phần rất quan trọng cho một đời sống văn chương lành mạnh.
Trước hết là Trần Dần. Trường ca (mà Trần Dần gọi là “hùng ca-lụa”) Đi! Đây Việt Bắc có một hành trình gian khổ đúng như hành trình sáng tạo của tác giả. Sau hơn năm mươi năm, Đi! Đây Việt Bắc mới lần đầu tiên xuất hiện ở dạng nguyên vẹn (Nhã Nam và NXB Hội Nhà văn). Mặc dù đã từng được xuất bản một cách chính thống vào năm 1990 dưới nhan đề Bài thơ Việt Bắc, chương II và chương cuối bài thơ hùng tráng này đến nay mới được trả về chỗ của chúng.
Con đường đi của Đi! Đây Việt Bắc đã được nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân vạch lại kỹ lưỡng ở lời bạt cho cuốn sách. Trích đoạn “Hãy đi mãi” (tức chương cuối) đã in trên báo Văn năm 1957 và nhiều trích đoạn khác in trên một số ấn phẩm sau này, nhưng rõ ràng là với một tác phẩm có tầm vóc như thế này, nếu không có toàn bộ văn bản thì ý nghĩa nghiên cứu sẽ mất đi rất nhiều.
Dec 29, 2009
Nhức đầu cuối năm
Cho các bác nào tết nhất mà thui thủi ở nhà này:
http://bibliobs.nouvelobs.com/20091217/16522/finkielkraut-badiou-le-face-a-face
Cuộc tranh luận kéo dài tới năm trang, giữa hai triết gia thuộc hàng danh tiếng nhất của nước Pháp hiện nay, và cũng gây nhiều điều tiếng hơn cả: Alain Finkielkraut, cuốn sách mới nhất mang tên Un coeur intelligent, người cách đây mấy năm bị vô số báo kết án là "phản động" trong đợt tranh cãi liên quan tới Israel, và Alain Badiou, được coi là triết gia "dogmatique" nhất.
Các vấn đề trong cuộc tranh luận: căn cước quốc gia, chính sách của Sarkozy và Israel. Nảy lửa lắm đấy.
Cũng có thể coi là X vs ENS nhỉ :)
Bác nào chịu khó tóm tắt nội dung cho mọi người biết thì xin cảm tạ.
http://bibliobs.nouvelobs.com/20091217/16522/finkielkraut-badiou-le-face-a-face
Cuộc tranh luận kéo dài tới năm trang, giữa hai triết gia thuộc hàng danh tiếng nhất của nước Pháp hiện nay, và cũng gây nhiều điều tiếng hơn cả: Alain Finkielkraut, cuốn sách mới nhất mang tên Un coeur intelligent, người cách đây mấy năm bị vô số báo kết án là "phản động" trong đợt tranh cãi liên quan tới Israel, và Alain Badiou, được coi là triết gia "dogmatique" nhất.
Các vấn đề trong cuộc tranh luận: căn cước quốc gia, chính sách của Sarkozy và Israel. Nảy lửa lắm đấy.
Cũng có thể coi là X vs ENS nhỉ :)
Bác nào chịu khó tóm tắt nội dung cho mọi người biết thì xin cảm tạ.
Dec 24, 2009
Tại sao nhiệt đới lại buồn?
“Nhiệt đới buồn” (Claude Lévi-Strauss, Ngô Bình Lâm dịch, Nguyên Ngọc hiệu đính, NXB Tri Thức, 2009), nếu coi là một hồi ký, thì nó đúng là một hồi ký rất dở và rất gở: chẳng có cuốn hồi ký nào lại được viết ra để rồi tác giả mãi hơn nửa thế kỷ sau mới qua đời. Nếu coi là một cuốn tiểu thuyết, thì tác phẩm in lần đầu năm 1955 này (về phần mình, tác giả mới mất cách đây vài tháng) vẫn quá cỡ kể cả so với một trường giang tiểu thuyết; nó có quá nhiều câu chuyện, quá nhiều cảm giác, và quá nhiều miêu tả tinh tế, tới mức người ta đâm ra ngờ vực ngay chính bản thân khái niệm tiểu thuyết, và Viện Hàn lâm Goncourt năm ấy đã có lý khi ngậm ngùi mà thôi không trao giải cho cuốn sách. Còn nếu coi “Nhiệt đới buồn” là một chuyên khảo khoa học, thì biết lý giải sao đây sự xuất hiện của câu mở đầu: “Tôi ghét du hành và các nhà thám hiểm” và hình ảnh kết thúc: “một con mèo”?
Hẳn ý thức được tính chất “không thể xếp hạng” tuyệt đối của của cuốn sách này, nên mặc dù nó được đọc rất nhiều trong hơn năm chục năm qua bởi vô số người thuộc đủ mọi giới, bài báo chính của chuyên đề Claude Lévi-Strauss của “Magazine Littéraire” (tháng Năm 2008) đã tìm cách né tránh vấn đề bằng cách đặt tít “Cuộc phiêu lưu vĩ đại của trí tuệ” và chú trọng miêu tả một nhà khoa học khi tuổi trẻ thực sự không biết phải làm gì với cuộc đời mình. Khi là một cuộc phiêu lưu, thì tập tục hôn nhân ở các xã hội “nguyên thủy”, đời sống trí thức Paris, các dải núi non Nam Mỹ, tất tật đều có thể là những điều bất ngờ vĩnh viễn, làm người ta quên đi, hay lờ đi, những câu hỏi gây bực mình về thể loại hay là gì gì nữa.
Hẳn ý thức được tính chất “không thể xếp hạng” tuyệt đối của của cuốn sách này, nên mặc dù nó được đọc rất nhiều trong hơn năm chục năm qua bởi vô số người thuộc đủ mọi giới, bài báo chính của chuyên đề Claude Lévi-Strauss của “Magazine Littéraire” (tháng Năm 2008) đã tìm cách né tránh vấn đề bằng cách đặt tít “Cuộc phiêu lưu vĩ đại của trí tuệ” và chú trọng miêu tả một nhà khoa học khi tuổi trẻ thực sự không biết phải làm gì với cuộc đời mình. Khi là một cuộc phiêu lưu, thì tập tục hôn nhân ở các xã hội “nguyên thủy”, đời sống trí thức Paris, các dải núi non Nam Mỹ, tất tật đều có thể là những điều bất ngờ vĩnh viễn, làm người ta quên đi, hay lờ đi, những câu hỏi gây bực mình về thể loại hay là gì gì nữa.
Dec 21, 2009
Nhiệm vụ của dịch giả
+ Bài này Walter Benjamin viết năm 1923, giai đoạn sung sức, cũng vì thiếu tiền, không chỗ làm ổn định nên bị thúc ép. Tên nguyên gốc của nó là "Die Aufgabe des Übersetzers". Tôi rất hận vì đã không chịu cố gắng học tiếng Đức giỏi hơn, đành phải dịch từ bản tiếng Pháp, “La tâche du traducteur”, trong Walter Benjamin, Oeuvres I, Maurice de Gandillac, Rainer Rochlitz và Pierre Rusch d., Gallimard 2009, tr. 244-262, đối chiếu với bản tiếng Anh, “The Task of the Translator, an Introduction to the Translation of Baudelaire’s Tableaux parisiens” trong Illuminations, essays and reflections, Harry Zohn d., Hannah Arendt bs., Schocken Books, New York, 2007, tr. 69-82. Rất mong có bạn nào giỏi tiếng Đức sau này xem hộ. Bản tiếng Anh đọc dễ hiểu hơn, nhưng theo tôi thiên về diễn giải nhiều.
-------------------
Trong bất kỳ trường hợp nào, trước một tác phẩm nghệ thuật hoặc một hình thức nghệ thuật, việc dẫn chiếu tới người đón nhận cũng không mang lại lợi ích gì cho sự nhận biết tác phẩm hoặc hình thức đó. Không chỉ là chuyện mọi liên hệ với một công chúng xác định hay các đại diện của nó đều dẫn đến sai lầm, mà ngay bản thân khái niệm về một người đón nhận “lý tưởng” cũng gây hại cho mọi thuyết lý về nghệ thuật, bởi điều này chỉ làm một việc là đặt tiền giả định cho sự tồn tại và bản chất con người nói chung. Cũng như vậy, nghệ thuật tiền giả định về bản chất thực thể và tinh thần của con người, nhưng nó lại không hề tiền giả định sự chú tâm của mình, trong bất kỳ tác phẩm nào. Bởi không bài thơ nào hướng tới độc giả, không bức tranh nào hướng tới người xem, không bản giao hưởng nào hướng tới thính giả.
Có phải một bản dịch được tạo ra cho các độc giả không hiểu được bản gốc? Có vẻ như điều này đã là đủ để giải thích sự khác biệt giữa một bản dịch và bản gốc ở cấp độ nghệ thuật. Ngoài ra dường như đó cũng là lý do duy nhất có thể có cho việc nói lại “cùng một điều”. Nhưng một tác phẩm văn chương “nói” cái gì? Nó truyền đạt cái gì? Rất ít, với người hiểu văn chương. Cái cốt yếu mà nó sở hữu không phải sự truyền đạt, không phải thông điệp. Tuy nhiên một bản dịch, cái tìm cách truyền lại, sẽ chỉ có thể truyền lại sự truyền đạt, và do đó là một cái gì đó rất không cốt yếu. Mặt khác đây cũng chính là một trong các dấu hiệu của một bản dịch tồi. Nhưng những gì một tác phẩm văn chương chứa đựng bên ngoài sự truyền đạt - và ngay cả dịch giả tồi cũng sẽ nhất trí đó là cái cốt yếu - không phải thường xuyên được cho là cái không thể nắm bắt, cái bí hiểm, cái “tính thơ” ư? Thế nên để đưa lại được những điều ấy dịch giả chỉ có thể tự mình cũng làm công việc của nhà thơ? Rồi từ đây lại có dấu hiệu thứ hai đặc trưng cho bản dịch tồi, theo những gì đã nói ở trên thì có thể gọi tên là một sự truyền lại không chính xác một nội dung không cốt yếu. Điều này sẽ luôn đúng khi bản dịch cứ khăng khăng phục vụ độc giả. Tuy nhiên, nếu nó được dành cho độc giả, thì bản gốc cũng phải dành cho độc giả. Nếu đó không phải lẽ tồn tại của bản gốc, thì làm sao chúng ta hiểu nổi bản dịch khi xuất phát từ mối liên quan ấy?
-------------------
Trong bất kỳ trường hợp nào, trước một tác phẩm nghệ thuật hoặc một hình thức nghệ thuật, việc dẫn chiếu tới người đón nhận cũng không mang lại lợi ích gì cho sự nhận biết tác phẩm hoặc hình thức đó. Không chỉ là chuyện mọi liên hệ với một công chúng xác định hay các đại diện của nó đều dẫn đến sai lầm, mà ngay bản thân khái niệm về một người đón nhận “lý tưởng” cũng gây hại cho mọi thuyết lý về nghệ thuật, bởi điều này chỉ làm một việc là đặt tiền giả định cho sự tồn tại và bản chất con người nói chung. Cũng như vậy, nghệ thuật tiền giả định về bản chất thực thể và tinh thần của con người, nhưng nó lại không hề tiền giả định sự chú tâm của mình, trong bất kỳ tác phẩm nào. Bởi không bài thơ nào hướng tới độc giả, không bức tranh nào hướng tới người xem, không bản giao hưởng nào hướng tới thính giả.
Có phải một bản dịch được tạo ra cho các độc giả không hiểu được bản gốc? Có vẻ như điều này đã là đủ để giải thích sự khác biệt giữa một bản dịch và bản gốc ở cấp độ nghệ thuật. Ngoài ra dường như đó cũng là lý do duy nhất có thể có cho việc nói lại “cùng một điều”. Nhưng một tác phẩm văn chương “nói” cái gì? Nó truyền đạt cái gì? Rất ít, với người hiểu văn chương. Cái cốt yếu mà nó sở hữu không phải sự truyền đạt, không phải thông điệp. Tuy nhiên một bản dịch, cái tìm cách truyền lại, sẽ chỉ có thể truyền lại sự truyền đạt, và do đó là một cái gì đó rất không cốt yếu. Mặt khác đây cũng chính là một trong các dấu hiệu của một bản dịch tồi. Nhưng những gì một tác phẩm văn chương chứa đựng bên ngoài sự truyền đạt - và ngay cả dịch giả tồi cũng sẽ nhất trí đó là cái cốt yếu - không phải thường xuyên được cho là cái không thể nắm bắt, cái bí hiểm, cái “tính thơ” ư? Thế nên để đưa lại được những điều ấy dịch giả chỉ có thể tự mình cũng làm công việc của nhà thơ? Rồi từ đây lại có dấu hiệu thứ hai đặc trưng cho bản dịch tồi, theo những gì đã nói ở trên thì có thể gọi tên là một sự truyền lại không chính xác một nội dung không cốt yếu. Điều này sẽ luôn đúng khi bản dịch cứ khăng khăng phục vụ độc giả. Tuy nhiên, nếu nó được dành cho độc giả, thì bản gốc cũng phải dành cho độc giả. Nếu đó không phải lẽ tồn tại của bản gốc, thì làm sao chúng ta hiểu nổi bản dịch khi xuất phát từ mối liên quan ấy?
Subscribe to:
Posts (Atom)